b "Trao đổi dữ liệu điện tử" EDI là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn đã được thoả thuận để
Trang 1PHỤ LỤC
1 Giới thiệu Blog
¾ Blog là gì?
Blog là từ viết tắt của Web log Blog là nhật ký (tạp chí hàng ngày)
có sẵn trên web, và thường được tổ chức theo thứ tự thời gian với các đầu
vào gần nhất ở trên Blog là web site dễ dùng, mà chúng ta có thể đưa
những suy nghĩ của chúng ta lên đó nhanh, tương tác với mọi người và
nhiều hơn nữa
Blog là một nhật ký cá nhân Một nơi chia sẻ cảm xúc, quan niệm và vui buồn trong công việc hàng ngày Một không gian cộng tác Một nơi diễn
thuyết chính trị Một đài phát thanh tin tức quan trọng Một tập hợp các liên
kết Các suy nghĩ riêng tư của chúng ta Các sổ lưu niệm cho thế giới
Blog là bất kỳ cái gì mà bạn muốn nó trở thành Có hàng triệu thứ ở tất cả các dạng hình dạng, kích thước và thực sự không có luật lệ
Blog là một web site, mà bạn có thể viết những câu chuyện đang diễn ra Câu chuyện mới sẽ trình bày ở trên để người đọc có thể đọc được
những gì mới nhất Sau đó, họ bình luận về điều đó, hoặc liên kết đến nó,
hoặc gởi thư điện tử cho bạn hoặc không gởi thư
¾ So sánh blog và trang web
Bạn có thể có một blog trên một trang web (http://www.amendmentone.org) Bạn có thể có một trang web chỉ là một
blog lớn (http://www.houseoftomorrow.com)
* Giống nhau
o Công bố thông tin và dữ liệu trực tuyến
o Bất kỳ ai cũng có thể bắt đầu với blog và trang web
o Có URL mà bất kỳ ai kết nối với Internet đều có thể truy xuất được
* Khác nhau
o Blog được cập nhật thường xuyên hơn
o Blog được cập nhật bằng thư (post) không bằng trang
o Dễ dàng cập nhật blog mà không cần có kỹ năng lập trình hoặc có ít kỹ năng lập trình
o Blog xây dựng nên các cộng đồng
¾ Tại sao có blog?
Có nhiều loại người cũng như có nhiều loại blog (chia sẻ kiến thức
và quản lý kiến thức, dịch vụ khách hàng, giao tiếp, tiếp thị và tự thể hiện
mình, tổ chức buổi họp mặt, xây dựng cộng đồng, kể truyện, …), nhưng
Trang 2chỉ có 3 mục tiêu chính: chia sẻ thông tin, xây dựng tiếng tăm, và diễn đạt ý
kiến cá nhân
Blog không chỉ đưa suy nghĩ của bạn lên web, mà còn nghe lại phản hồi và liên lạc với những người có cùng ý nghĩ Bạn cho phép người đọc
trên khắp thế giới thêm những lời bình luận, nhằm phản hồi lại những gì
bạn chia sẻ trên blog Bạn có thể chọn cho phép hoặc không cho phép
người sử dụng thêm các lời bình luận vào phần cơ bản của từng thư (post)
(và bạn có thể xóa bất cứ cái gì mà bạn không thích) Bạn có nhiều quyền
hơn cho những cố gắng công bố của bạn
¾ Các loại blog
Blog cá nhân (Personal blogs) là nhật ký mà người chủ blog viết về
các trãi nghiệm hàng ngày
Blog theo chủ đề (Topical blogs) tập trung vào một lĩnh vực cụ thể
Blog theo sự quan tâm (Thoughtful blogs) khác nhau về các vấn đề
có xu hướng tránh đề cập đến đời sống cá nhân Họ thảo luận các vấn đề theo chủ đề khác nhau
Blog bạn bè (Friend blogs) thường có một nhóm bạn có sở thích
tương tự soạn các thư ngắn và được cập nhật thường xuyên Tất
cả các blog được liên kết để nếu bạn đưa thư vào blog, thì nó cũng
sẽ xuất hiện trên blog của những người khác
Blog cộng tác (Collaborative blogs) được viết bởi một nhóm người
về một chủ đề cụ thể
Blog chính trị (Political blogs) thường kết nối với các trang web tin
tức và đưa ra lời bình luận cá nhân về vấn đề chính trị
Blog thư mục (Directory blogs) thu thập thông tin từ các trang web
khác nhau, ví dụ Slashdot.org
Blog theo định dạng (Format blogs) chuyên về một loại giới thiệu cụ
thể, như chụp hình hoặc trang chuyện tranh vui
2 Ẩn danh khi lướt web
(Nguồn : Báo Tuổi Trẻ, thứ Năm, 30/03/2006, 04:12 (GMT+7) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=130008&ChannelID=16 )
TT - Ẩn danh khi lướt web và biết kết hợp với các proxy là một biện pháp hữu hiệu để bảo vệ mình trước mọi hiểm họa trên Internet Hide IP
Platinum được xem là một công cụ siêu hiệu quả để thực hiện việc ẩn
mình trên mạng này
Sau khi cài đặt và đăng ký thành công, Hide IP Platinum sẽ cung cấp cho bạn một giao diện chẳng có gì, ngoài việc liệt kê phiên bản Hide
IP Platinum hiện tại, trang web của nhà cung cấp và số IP máy tính của
bạn cộng với số IP của máy chủ proxy nếu bạn có sử dụng
Trang 3Khi hoạt động, công cụ này chỉ hiển thị dưới dạng một quả địa cầu nhỏ màu xanh đang quay và nằm ở khay đồng hồ ở góc phải dưới cùng
màn hình Muốn sử dụng các tính năng của nó, bạn cần nhấp chuột phải
một lần vào biểu tượng của Hide IP Platinum để hiện ra menu sử dụng
chính
Ngoài tính năng làm ẩn IP máy tính tuyệt hảo, tính năng được cho là
“độc chiêu” nhất của công cụ này chính là “Change proxy” Nếu bạn muốn
thay đổi proxy đang lướt web hiện tại thì chỉ việc nhấp vào nút này, Hide IP
Platinum sẽ thay đổi proxy xoành xoạch, nhanh như chớp, nhảy từ proxy
đang ở Mỹ, xuống Colombia, rồi lại vọt qua Trung Quốc
Hiện Công ty RegNow đang bán bản Hide IP Platinum 2.5 với giá 35 USD cho người dùng lẻ Người dùng có thể vào địa chỉ
http://www.soft32.com/download_102515.html để tải về bản dùng thử hoặc
tìm mua tại các cửa hàng phần mềm ở TP.HCM
HOÀNG KIM ANH
3 Đầu cơ tên miền
(Nguồn : Báo Tuổi Trẻ, thứ Hai, 13/02/2006, 05:18 (GMT+7) http://www.tuoitre.com.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=122595&ChannelID=16 )
TT - Chỉ cần bỏ ra chưa tới 1 triệu đồng để đăng ký và duy trì tên miền (TM) trong một năm, nếu gặp khách, số tiền bán lại TM (nếu là TM
đẹp) sẽ lên đến con số hàng tỉ đồng
Tài nguyên quốc gia đang được rao bán công khai và làm giàu cho nhiều cá nhân nhưng Trung tâm Internet VN (VNNIC) - đơn vị được Bộ
Bưu chính - viễn thông giao cấp phát TM - lại cho rằng rất khó phát hiện
tình trạng đầu cơ, buôn bán TM Thực tế thì sao?
Không mấy khó khăn để truy ra những TM đang bị rao bán Chỉ cần vào trang tìm kiếm www.google.com.vn và gõ cụm từ “bán TM” là có thể
tìm được hàng loạt website rao bán TM Tại địa chỉ
www.raobandomain.com, có tới 2.490 TM được rao bán, gồm cả những
TM VN (“đuôi” vn) và các TM quốc tế Qua một hồi tìm kiếm, chúng tôi có
trong tay 50 TM của VN do VNNIC cấp phát đang bị rao bán
¾ Những TM tiền tỉ
150.000 USD (khoảng 2,38 tỉ đồng) là giá TM 365.com.vn được rao bán trên trang web www.raobandomain.com.vn Không dám chắc đây là
TM VN đắt giá nhất nhưng đó là TM có giá bán cao nhất trong số 50 TM
chúng tôi tìm thấy Theo thông tin cung cấp từ website của VNNIC
(www.vnnic.net.vn), TM này thuộc chủ sở hữu là Công ty cổ phần Cung
cấp dịch vụ thông tin (ISSC)
TM 365.com.vn hiện chỉ hoạt động dưới một website sơ sài thông báo nội dung chương trình nhắn tin trúng thưởng xe BMW do ISSC tổ
chức Người rao bán 365.com.vn ghi tên Nguyen Hoang Long, điện thoại
liên lạc là 0904.286xxx TM này được chủ nhân quảng cáo là “vô cùng phù
Trang 4hợp với trang tin tức hoặc mọi trang về thương mại điện tử Chắc chắn hay
hơn http://www.24h.com.vn vì một năm có 365 ngày liên tục, liên tục, liên
tục”
Bấm điện thoại gọi vào số máy trên, người nhấc máy xưng tên Linh (?) nhưng thừa
nhận mình đang rao bán TM 365.com.vn Linh
cho biết đã có một số người liên hệ và trả giá
120.000 USD nhưng anh chưa đồng ý bán
Anh này cũng nói chủ thể đăng ký TM này là
ISSC nhưng đưa rao bán thì không thể đăng
tên công ty Khi chúng tôi ngỏ ý muốn mua TM
này, Linh nói giá bán có thể hạ so với giá rao
nhưng không thể thấp hơn 120.000 USD
Linh còn nói nếu có ý định mua thì mail vào địa chỉ nhadautu@gmail.com chứ không
nên gọi điện thoại vì “nội dung câu chuyện của
chúng ta hôm nay, chỉ cần lệnh của công an,
họ có thể in ra giấy và chúng ta nói với nhau
những gì thì không cãi được nữa Mua bán TM nguy hiểm lắm nhưng khéo
một tí là được”
Tại VN, qui định về quản
lý và sử dụng tài nguyên Internet (bao gồm TM) ghi
rõ “nghiêm cấm việc chuyển nhượng, cho thuê, bán lại tài nguyên Internet dưới bấy kỳ hình thức nào” Giải thích về điều này, ông Phạm Hồng Hải, vụ trưởng Vụ Viễn thông (Bộ Bưu chính - viễn thông), cho biết do
TM là tài nguyên quốc gia nên việc kinh doanh TM
bị coi là trái pháp luật
Ngoài 365.com.vn, còn có trangtinvietnam.com.vn được rao bán với giá 150.000 USD Người rao là Nguyễn Việt Dũng, Trung tâm giải pháp
mạng và khắc phục nhanh sự cố máy tính Protect, điện thoại 04.7870xxx
và 0983.081xxx TM này, theo đăng ký tại VNNIC, do Công ty Quảng cáo
chuyên nghiệp đứng tên Ngoài ra, trong số 50 TM chúng tôi ghi lại, có một
số TM khác được rao bán với giá cao như TM lafarge.com.vn (120.000
USD) do bà Phạm Thị Ngọc Hân là chủ thể đăng ký nhưng người rao bán
là Phung
DS (email liên lạc là han.pham@vnn.vn); TM showbiz.com.vn (100.000 USD) do ông Nguyễn Ngọc Vũ đăng ký, người rao bán không nói
tên, chỉ ghi ABC, nhưng cho số điện thoại liên lạc là 0904.438xxx Một số
TM có giá dưới 100.000 USD gồm hopcho.com.vn (50.000 USD, người rao
bán: Pham Sanh Tai, điện thoại: 0905.217xxx), muavang.net.vn (30.000
USD, Vinh Do, 0989.989xxx), myphamonline.com.vn (20.000 USD, Đỗ Huy
Cảnh, 04 8464xxx), 7eleven.com.vn (15.000 USD, Nguyễn Anh Vũ, 0912
009xxx), vienthong.com.vn (10.000 USD, Do Hoang Diep, 0904 307xxx)…
¾ Đăng ký để đầu cơ
Xem qua danh sách những TM bị rao bán có thể thấy rất nhiều TM
do một người rao bán và nhiều TM được đăng ký trùng với tên các công ty,
các tổ chức hoặc các ngành nghề kinh doanh, thể hiện rõ chủ đích đầu cơ
của người đăng ký Thậm chí trên tin rao bán, chủ nhân TM lafarge.com.vn
không giấu giếm ý định bán lại TM này cho Tập đoàn vật liệu xây dựng
Lafarge khi thẳng thừng tuyên bố họ biết Lafarge đang xây dựng các nhà
máy ximăng tại Nhơn Trạch (Đồng Nai)
Lê Vũ Hoàng (hoang.le@vnsi4h.com) là chủ sở hữu bốn TM rao bán, trong đó có ba TM được rao bán dưới tên Trịnh Hải Ngọc
(098.996xxx) gồm boeing.com.vn (2.000 USD, dành cho hãng máy bay),
Trang 5kaspersky.com.vn (1.000 USD, dành cho Công ty bảo mật Kapspersky nổi
tiếng thế giới), zonelabs.com.vn (1.000 USD, dành cho một công ty bảo
mật khác là Zonelabs) và mcafee.com.vn (700 USD, dành cho một hãng
diệt virus)
Nguyen The Phu (0989.112xxx) rao bán TM tuanchau.com.vn (500 USD) cho người có nhu cầu xây dựng web quảng bá du lịch về Tuần Châu
(Quảng Ninh) Đoàn Hải Anh (0903.229xxx) rao bán TM dnhanam.com.vn
(10.000 USD) và quảng cáo đây là website của Hội Doanh nghiệp tỉnh Hà
kinh doanh điện thoại di động Khi chúng tôi thắc mắc về việc tại sao rao
bán những TM chưa được đăng ký ở VNNIC, Nguyễn Trường Minh (điện
thoại: 0918.501xxx), người rao bán bốn TM trên, khẳng định đó là những
TM đã đăng ký, đồng thời nói sẽ kiểm tra lại thông tin tại VNNIC
Chúng tôi cũng phát hiện TM eoffice.com.vn của Trung tâm An ninh mạng (Đại học Bách khoa Hà Nội) bị rao bán với giá 1.000 USD Hỏi chủ
rao bán là Nguyễn Thành Biên (điện thoại: 0904.140xxx) mới biết TM đó
đã được bán cho Trung tâm An ninh mạng với giá 500 USD hồi cuối năm
ngoái nhưng tin rao bán chưa được gỡ xuống!
Tài nguyên quốc gia đang làm lợi cho những kẻ đầu cơ Nhưng VNNIC - cơ quan được giao nhiệm vụ quản lý, giám sát, thúc đẩy, hỗ trợ
việc sử dụng tài nguyên Internet tại VN - lại đang làm ngơ trước tình trạng
này
KHIẾT HƯNG
4 Một số văn bản pháp lý về TMĐT
Ðạo luật mẫu về Thương mại điện tử của
Uỷ ban Liên hiệp quốc về luật thương mại quốc tế (UNCITRAL)
Phần một: Thương mại điện tử nói chung Chương I: Các quy định chung
Ðiều 1 Phạm vi điều chỉnh
Ðạo luật này có hiệu lực áp dụng đối với mọi loại thông tin dưới dạng một thông điệp dữ
liệu trong khuôn khổ các hoạt động thương mại
Ðiều 2 Các định nghĩa
Trong đạo luật này, các từ ngữ được hiểu như sau:
(a) "Thông điệp dữ liệu" là thông tin được tạo ra, gửi đi, tiếp nhận hoặc lưu trữ bằng
phương tiện điện tử, quang học hoặc các phương tiện tương tự, và bao gồm, nhưng
không phải chỉ bao gồm, trao đổi dữ liệu điện tử (EDI), thư điện tử, điện tín, điện báo
hoặc FAX;
Trang 6(b) "Trao đổi dữ liệu điện tử" (EDI) là việc chuyển giao thông tin từ máy tính điện tử
này sang máy tính điện tử khác bằng phương tiện điện tử mà sử dụng một tiêu chuẩn
đã được thoả thuận để cấu trúc thông tin;
(c) "Người khởi phát" một thông điệp dữ liệu là người hoặc nhân danh người ấy, gửi
hoặc tạo ra thông điệp dữ liệu ấy trước khi nó được lưu trữ, nếu có, nhưng không bao
gồm người đứng làm trung gian đối với thông điệp dữ liệu đó;
(d) "Người tiếp thụ" một thông điệp dữ liệu là người mà người khởi phát chủ định sẽ
tiếp nhận thông điệp dữ liệu đó, nhưng không bao gồm người đứng làm trung gian đối
với thông điệp dữ liệu đó;
(e) "Người trung gian" đối với một thông điệp dữ liệu cụ thể, là người nhân danh một
người khác mà gửi, nhận hoặc lưu trữ thông điệp dữ liệu đó hoặc cung ứng các dịch vụ
liên quan tới thông điệp dữ liệu đó;
(f) "Hệ thống thông tin" là một hệ thống tạo ra, gửi đi, tiếp nhận, lưu trữ, hoặc xử lý
bằng cách khác các thông điệp dữ liệu;
Ðiều 3: Diễn giải
(1) Khi diễn giải Ðạo luật này, phải tham chiếu tới nguồn gốc quốc tế của nó và tới nhu
cầu thúc đẩy tính thống nhất trong khi áp dụng nó, và tới việc tôn trọng sự ngay tình
(2) Các vấn đề liên quan tới các tình huống được điều chỉnh bưỏi Ðạo luật này mà
không được giải quyết phù hợp với các nguyên tắc chung mà Ðạo luật này lấy làm cơ
sở
Ðiều 4: Sai biến theo thoả thuận
(1) Trong quan hệ giữa các bên tham dự vào việc tạo ra, gửi, nhận, lưu trữ hoặc xử lý
bằng cách khác các thông điệp điện tử, các điều khoản của chương III có thể được sửa
đổi theo thoả thuận, trừ trường hợp có quy định khác
(2) Ðoạn (1) không ảnh hưởng tới bất kỳ quyền nào mà có thể đã có về việc sửa đổi
theo thoả thuận, bất kỳ quy tắc pháp lý nào được đề cập tại chương III
Chương II: Các điều kiện luật định đối với các thông điệp dữ liệu
Ðiều 5 Công nhận pháp lý các thông điệp dữ liệu
Hiệu lực pháp lý, tính giá trị hoặc hiệu lực thi hành của thông tin không thể bị phủ nhận
chỉ vì lý do thông tin ấy được thể hiện dưới dạng một thông điệp dữ liệu
Ðiều 6 Văn bản viết
(1) Trong trường hợp pháp luật đòi hỏi thông tin phải thể hiện bằng văn bản viết, thì
một thông điệp dữ liệu được coi là thoả mãn đòi hỏi ấy nếu thông tin hàm chứa trong
đó là có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham chiếu sau này; và
(2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đòi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt
buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ qủa pháp lý đối với thông tin
không thể hiện dưới dạng văn viết
(3) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt)
Ðiều 7 Chữ ký
(1) Trong trường hợp pháp luật đòi hỏi phải có chữ ký của một trong người nào đó, thì
một thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy nếu:
(a) có sử dụng một phương pháp nào đó để xác minh được người ấy và chứng tỏ được
sự phê chuẩn của người ấy đối thông tin hàm chứa trong thông điệp dữ liệu đó; và
Trang 7(b) phương pháp ấy là đủ tin cậy với nghĩa là thích hợp cho mục đích mà theo đó thông
điệp dữ liệu ấy đã được tạo ra và truyền đi, tính đến tất cả các cảnh huống, bao gồm cả
các thoả thuận bất kỳ có liên quan
(2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đỏi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt
buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ quả pháp lý đối với sự thiếu chữ
ký
(3) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt)
Ðiều 8 Bản gốc
(1) Trong trường hợp luật pháp đòi hỏi thông tịn phải được xuất trình hoặc lưu trữ dưới
dạng bản gốc, thì một thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy nếu:
(a) có sự đảm bảo đủ tin cậy về tính toàn vẹn của thông tin kể từ lúc nó lần đầu được
tạo ra dưới dạng hoàn chỉnh như một thông điệp dữ liệu hoặc theo cách khác; và
(b) khi có đòi hỏi thông tin ấy phải được xuất trình, thì thông tin có khả năng được
hiển thị ra cho người mà nó phải hiển thị
(2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đòi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt
buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ quả pháp lý đối với thông tin
không được xuất trình hoặc lưu trữ dưới dạng văn bản gốc
(3) Để đáp ứng phân đoạn (a) của đoạn (1):
(a) các tiêu chuẩn thẩm định tính toàn vẹn là thông tin vẫn còn hoàn chỉnh và không bị
thay đổi, không kể các bổ sung do bất kỳ lần ký hậu nào và bất kỳ sự thay đổi nào phát
sinh ra trong tiến trình bình thường của việc truyền gửi lưu trữ và hiển thị: và
(b) tiêu chuẩn tính đủ tin cậy theo dõi đòi hỏi phải được đánh giá căn cứ vào mục đích
mà theo đó thông tin đã được tạo ra, tính tất cả các cảnh huống có liên quan
(4) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt)
Ðiều 9 Tính khả dung và giá trị chứng cứ của các thông điệp dữ liệu:
(1) Trong bất kỳ thủ tục pháp lý nào, đều không được viện dẫn bất cứ hiệu lực áp dụng
nào của các quy định về chứng cứ để bác bỏ tính khả dung như chứng cứ của một
thông điệp dữ liệu:
(a) chỉ vì lý do duy nhất rằng nó là một thông điệp dữ liệu: hoặc
(b) lấy lý do nó không ở dạng bản gốc mà không chấp nhận nó là chứng cứ có giá trị
nhất mà người viện dẫn nó có thể có được
(2) Thông tin dưới dạng một thông điệp dữ liệu phải được hưởng giá trị bằng chứng
xứng đáng Khi thẩm định giá trị chứng cứ của một thông điệp dữ liệu, phải tham chiếu
tới tính đáng tin cậy của cách thức mà thông điệp dữ liệu ấy được tạo ra, lưu trữ hoặc
truyền gửi, tới tính đáng tin cậy của cách thức mà tính toàn vẹn của thông tin được duy
trì, tới cách thức minh xác người khởi phát nó, và tới bất kỳ nhân tố có liên quan nào
khác
Ðiều 10 Lưu giữ các thông điệp dữ liệu
(1) Trong trường hợp luật pháp đòi hỏi rằng các chứng từ, hồ sơ hoặc thông tin nào đó
phải được lưu giữ, thì việc lưu giữ các thông điệp dữ liệu được coi là đáp ứng đòi hỏi ấy,
miễn là thoả mãn các điều kiện sau đây:
(a) thông tin hàm chứa trong đó là có thể truy cập được để sử dụng cho mục đích tham
chiếu sau này; và
(b) thông điệp dữ liệu ấy được lưu giữ trong khuôn dạng mà nó đã được tạo ra, gửi đi,
hoặc tiếp nhận, hoặc trong khuôn dạng mà nó có thể phô diễn để thể hiện chính xác
thông tin đã được tạo ra, gửi đi hoặc tiếp nhận; và
Trang 8(c) thông tin như thế, nếu có, được lưu giữ sao cho có thể xác minh được xuất xứ và
đích đến của một thông điệp dữ liệu và ngày giờ gửi đi hoặc đích tiếp nhân
(2) Nghĩa vụ lưu giữ chứng từ, hồ sơ hoặc thông tin phù hợp với đoạn (1) không mở
rộng tới bất kỳ thông tin nào mà mục đích duy nhất chỉ là tạo điều kiện cho thông điệp
gửi đi hoặc được tiếp nhận
(3) Một người có thể thoả mãn đòi hỏi đã nêu tại đoạn (1) bằng cách sử dụng các dịch
vụ của một người khác, miễn là các điều kiện nêu ra tại các phân đoạn (a), (b) và (c)
được đáp ứng
Chương III: Truyền gửi các thông điệp dữ liệu
Ðiều 11 Sự hình thành và giá trị của các hợp đồng
(1) Trong khuôn khổ hình thành hợp đồng, trừ trường hợp các bên có thoả thuận khác,
một chào hàng và chấp nhận một chào hàng được phép thể hiện bằng phương tiện các
thông điệp dữ liệu Khi một thông điệp dữ liệu được sử dụng trong việc hình thành một
hợp đồng, thì giá trị và hiệu lực thi hành của hợp đồng đó không thể bị phủ nhận chỉ với
lý do rằng một thông điệp dữ liệu đã được dùng vào mục đích ấy
(2) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt)
Ðiều 12 Sự công nhận của các bên đối với thông điệp dữ liệu
(1) Trong quan hệ giữa người khởi phát và người tiếp thụ một thông điệp dữ liệu, giá trị
và hiệu lực thi hành của một sự bầy tỏ ý chí hoặc một tuyên bố nào khác sẽ không thể
bị phủ nhận chỉ với lý do rằng nó ở dạng một thông điệp dữ liệu
(2) Các quy định tại điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt)
Ðiều 13 Quy thuộc các thông điệp dữ liệu
(1) Một thông điệp dữ liệu là một thông điệp dữ liệu của người khởi phát nếu nó được
chính người khởi phát gửi đi
(2) Trong quan hệ giữa ngưòi khởi phát và người tiếp thụ, một thông điệp dữ liệu được
suy đoán là thông điệp dữ liệu của người khởi phát nếu nó được gửi:
(a) bởi một người mà đối với thông điệp dữ liệu ấy thì có thẩm quyền nhân danh người
khởi phát; hoặc
(b) bởi một hệ thống thông tin do người khởi phát, hoặc người nhân danh người khởi
phát, lập chương trình cho hoạt động tự động
(3) Trong mối quan hệ giữa người khởi phát và người tiếp thụ, người tiếp thụ được
quyền coi một thông điệp dữ liệu là thông điệp dữ liệu của người khởi phát, và hành
động xuất phát từ đoán định đó, nếu:
(a) để minh xác có phải thông điệp đó là của người khởi phát hay không, người tiếp thụ
đã áp dụng một thủ tục đã được người khởi phát thoả thuận từ trước cho mục đích này;
hoặc
(b) thông điệp dữ liệu như người tiếp thụ nhận được phát sinh ra từ các hành vi của
một người mà bằng quan hệ người khởi phát hoặc với bất kỳ đại lý nào của người khởi
phát đã thâm nhập được vào một phương pháp mà người khởi phát sử dụng để nhận ra
các thông điệp dữ liệu là của mình
(4) Ðoạn (3) không áp dụng
(a) khi người tiếp thụ đã nhận được thông báo của người khởi phát rằng thông điệp dữ
liệu đó không phải là của người khởi phát, đồng thời đã có đủ thời gian hợp lý để có
hành động thích ứng; hoặc
Trang 9(b) trong trường hợp quy định tại đoạn (3)(b), khi người tiếp thụ đã biết, hay lẽ ra đã
phải biết nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất lỳ thủ tục đã
thoả thuận nào, rằng thông điệp dữ liệu đó không phải là thông điệp dữ liệu của người
khởi phát
(5) Trong trường hợp một thông điệp dữ liệu là thông điệp dữ liệu của người khỏi phát
hoặc được suy đoán là của người khởi phát, hoặc người tiếp thụ có quyền hành động
trên cơ sở đoán định ấy, thì, người tiếp thụ được quyền coi thông điệp dữ liệu nhận
được chính là cái mà người khởi phát chủ định gửi, và hành động trên cơ sở đoán định
đó Người tiếp thụ không được quyền đó khi người ấy biết, hoặc lẽ ra đã phải biết nếu
như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất kỳ thủ tục đã thoả thuận nào,
rằng việc truyền gửi đã gây ra sai lệch bất kỳ nào đó trong thông điệp dữ liệu nhận
được
(6) Người tiếp thụ được quyền coi mỗi thông điệp dữ liệu nhận được như một thông
điệp dữ liệu riêng rẽ và hành động trên cơ sở đoán định ấy, ngoại trừ trường hợp thông
điệp ấy là sự lặp lại một thông điệp dữ liệu khác mà người biết hoặc lẽ ra đã phải biết
nếu như người đó đã cẩn thận đúng mức hoặc đã sử dụng bất kỳ thủ tục đã thoả thuận
nào, rằng thông điệp dữ liệu ấy chỉ là một thông điệp lặp lại
Ðiều 14 Xác nhận đã nhận được
(1) Các đoạn (2) và (4) của điều này được áp dụng trong trường hợp vào lúc hoặc trước
lúc gửi một thông điệp dữ liệu đi, hoặc bằng chính thông điệp dữ liệu ấy, người khởi
phát đã yêu cầu hoặc đã thoả thuận với người tiếp thụ rằng cần có xác nhận đã nhận
được thông điệp
(2) Trong trường hợp người khởi phát chưa thoả thuận với người tiếp thụ rằng xác nhận
phải được thể hiện ở một khuôn dạng đặc thù nào đó, hoặc bằng một phương pháp đặc
thù nào đó, thì xác nhận có thể thể hiện bằng
(a) bất kỳ liên lạc nào do người tiếp thụ mà đủ để chứng tỏ với người khởi phát rằng đã
nhận được thông điệp dữ liệu đó
(3) Trong trường hợp người khởi phát đã tuyên bố rằng thông điệp dữ liệu ấy chỉ có giá
trị khi nhận được xác nhận đã nhận được, và người khởi phát chưa nhận được xác nhận
trong thời gian đã ấn định hoặc đã thoả thuận hoặc, nếu chưa có ấn định hay thoả
thuận về thời gian, thì trong phạm vi một thời gian hợp lý, thì:
(a) người khởi phát có thể thông báo với người tiếp thụ rằng chưa nhận được xác nhận
đồng thời ấn định một thời gian hợp lý mà xác nhận phải tới người khởi phát; và
(b) nếu xác nhận không tới trong phạm vi thời gian đã ấn định tại phân đoạn (a), thì,
cho tới lúc thông báo cho người tiếp thụ, người khởi phát có thể coi thông điệp dữ liệu
ấy như chưa hề được gửi đi, hoặc thực hiện bất cứ quyền nào khác mà mình có thể có
được
(5) Trong trường hợp người khởi phát nhận được xác nhận đã nhận được của người tiếp
thụ, thì thông điệp dữ liệu có liên quan được suy đoán là đã được người tiếp thụ nhận
được Ðiều suy đoán này không hàm nghĩa rằng thông điệp dữ liệu ấy tương hợp với
bản thông điệp đã nhận được
(6) Trong trường hợp xác nhận đã nhận được nói rằng bản thông điệp dữ liệu có liên
quan đáp ứng các đòi hỏi kỹ thuật đã thoả thuận hoặc đã quy định trong tiêu chuẩn
được áp dụng, thì các đòi hỏi ấy được suy đoán là đã được đáp ứng
(7) Trừ trường hợp có liên quan tới việc gửi hoặc nhận thông điệp dữ liệu đó, điều này
không nhằm áp dụng để xử lý các hệ quả pháp lý có thể phát sinh ra từ thông điệp dữ
liệu đó hoặc từ bản xác nhận đã nhận được thông điệp đó
Trang 10Ðiều 15 Thời điểm và địa điểm gửi và nhận các thông điệp dữ liệu
(1) Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người khởi phát và người tiếp thụ, việc gửi
một thông điệp dữ liệu được coi là phát sinh khi nó nhập vào một hệ thống thông tin
nằm ngoài sự khống chế của người khởi phát hoặc của người nhân danh người khởi phát
mà gủi thông điệp dữ liệu đó đi
(2) Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người khởi phát và người tiếp thụ, thời
điểm nhận được một thông điệp dữ liệu được xác định như sau:
(a) nếu người tiếp thụ đã chỉ định một hệ thống thông tin để nhận các thông điệp dữ
liệu, thì sự nhận được coi là phát sinh:
(i) vào thời điểm thông điệp dữ liệu ấy nhập vào hệ thống thông tin đã chỉ định; hoặc
(ii) vào thời điểm thông điệp dữ liệu ấy được người tiếp thụ truy cập, nếu thông điệp dữ
liệu ấy được gửi tới một hệ thống thông tin của người tiếp thụ mà không phải là hệ
thống thông tin đã được chỉ định;
(b) nếu người tiếp thụ chưa chỉ định một hệ thống thông tin, thì sự nhận được được coi
là phát sinh khi thông điệp dữ liệu ấy nhập vào hệ thống thông tin của người tiếp thụ
(3) Ðoạn (2) được áp dụng ngay cả trong trường hợp địa điểm đặt hệ thống thông tin
ấy có thể khác với địa điểm mà thông điệp dữ liệu ấy được suy đoán là sẽ được gửi tới
được quy định tại đoạn (4)
(4) Trừ trường hợp có thoả thuận khác giữa người khởi phát và người tiếp thụ, một
thông điệp dữ liệu được suy đoán là sẽ được gửi tới địa điểm mà người khởi phát đặt trụ
sở kinh doanh của mình, và được suy đoán là sẽ được nhận tại địa điểm mà người tiếp
thụ đặt trụ sở kinh doanh của mình Theo quy định tại đoạn này:
(a) nếu người khởi phát hoặc người tiếp thụ có nhiều hơn một trụ sở kinh doanh, thì trụ
sở kinh doanh là trụ sở có liên quan mật thiết nhất với cuộc giao dịch ngầm định hoặc,
trong trường hợp không có giao dịch ngầm định nào, thì trụ sở kinh doanh chính:
(b) nếu người khởi phát hoặc người tiếp nhận không có trụ sở kinh doanh, thì phải tham
chiếu vào nơi thường trú của người đó
(5) Các quy định của điều này không áp dụng cho các trường hợp sau đây: (lược bớt)
Phần Hai: Thương mại điện tử trong các lĩnh vực cụ thể Chương I: Vận chuyển hàng
Ðiều 16 Các hành vi liên quan tới các hợp đồng vận chuyển hàng
Không trái với các quy định tại Phần Một của Ðạo luật này, chương này áp dụng cho
mọi hành vi liên quan tới, hoặc nhằm thực hiện, một hợp đồng vận chuyển hàng, bao
gồm cả, nhưng không chỉ bao gồm:
(a) (i) thông báo ký mã hiệu, số lượng, khối lượng hoặc trọng lượng hàng;
(ii) nói rõ hoặc khai báo chủng loại hoặc giá trị hàng;
(iii) xuất biên lai hàng;
(iv) xác nhận hàng đã được xếp;
(b) (i) thông báo cho một người nào đó về các điều kiện của hợp đồng đó;
(ii) ra chỉ thị cho một người vận chuyển;
(c) (i) yêu cầu giao hàng;
(ii) cho phép xuất hàng;
(iii) thông báo tổn thất hàng, hoặc hư hại hàng;
(d) bất cứ thông báo hoặc tuyên bố nào khác liên quan tới việc thực hiện hợp đồng;
(e) đảm nhận giao hàng tới một người đã được định danh hoặc một người đã được uỷ
quyền yêu cầu giao hàng;
Trang 11(f) trao, thụ đắc, từ bỏ, khước từ, chuyển nhượng hoặc thương lượng các quyền đối với
khách hàng;
(g) thụ đắc hoặc chuyển nhượng các quyền và nghĩa vụ theo hợp đồng đó
Ðiều 17 Chứng từ vận tải
(1) Tuân thủ đoạn (3) là đoạn chỉ rõ luật pháp đòi hỏi rằng bất kỳ hành vi nào nói đến
tại điều 16 đều phải được thực hiện bằng văn bản viết hoặc sử dụng một chứng từ bằng
giấy, thì đòi hỏi đó được coi là được đáp ứng nếu hành vi ấy được thực hiện bằng cách
sử dụng một hoặc nhiều hơn các thông điệp dữ liệu
(2) Ðoạn (1) được áp dụng dù đỏi hỏi hàm chứa trong nó là dưới dạng một nghĩa vụ bắt
buộc hay chỉ đơn thuần vì luật pháp có quy định các hệ quả pháp lý đối với việc thực
hiện hành vi mà không bằng văn bản viết hoặc không bằng cách sử dụng một chứng từ
bằng giấy
(3) Nếu một quyền phải được trao cho, hoặc một nghĩa vụ phải được thực hiện bởi, một
người duy nhất nào đó mà không phải là một người khác, và nếu luật pháp quy định
rằng, để thực hiện điều đó, thì quyền hoặc nghĩa vụ ấy phải được chuyển đạt đến
đương sự bằng cách chuyển giao, hoặc sử dụng, một chứng từ trên giấy, thì đòi hỏi ấy
được coi là được đáp ứng nếu quyền hoặc nghĩa vụ đó được chuyển đạt bằng cách sử
dụng một hoặc nhiều hơn các thông điệp dữ liệu, miễn là dùng một phương pháp đủ tin
cậy để khiến cho thông điệp hoặc các thông điệp dữ liệu như thế là đơn nghĩa
(4) Theo quy định tại đoạn (3), tiêu chuẩn của tính tín cậy cần có sẽ được thẩm định
căn cứ vào mục đích chuyển đạt quyền hoặc nghĩa vụ đó và căn cứ vào mọi cảnh
huống, bao gồm cả các thoả thuận hữu quan bất kỳ
(5) Trong trường hợp sử dụng một hay nhiều hơn các thông điệp dữ liệu để thực hiện
một hành vi bất kỳ tại các phân đoạn (f) và (g) của điều 16, không chứng từ bằng giấy
nào dùng để thực hiện hành vi đó được coi là có giá trị trừ khi việc sử dụng các thông
điệp dữ liệu đã kết thúc và đã được thay thế bằng việc sử dụng các chứng từ bằng giấy
Một chứng từ bằng giấy ban hành ra trong cảnh huống ấy phải hàm chứa một tuyên bố
rằng việc sử dụng các thông điệp dữ liệu đã kết thúc Việc thay thế các thông điệp dữ
liệu bằng các chứng từ bằng giấy không ảnh hưởng tới các quyền và các nghĩa vụ của
các bên hữu quan
(6) Nếu một quy định pháp lý nào đó là bắt buộc phải áp dụng cho một hợp đồng vận
chuyển hàng hoá mà hợp đồng này được thể hiện hoặc được chứng thực bằng một
chứng từ bằng giấy, thì quy định ấy sẽ không bị coi là vô hiệu lực đối với một hợp đồng
vận chuyển hàng hoá như vậy nhưng được chứng thực bởi một hoặc nhiều hơn các
thông điệp dữ liệu vì lý do rằng hợp đồng đó được chứng thực bởi một thông điệp dữ
liệu hoặc bởi các thông điệp dữ liệu như thế, mà không phải bởi một chứng từ bằng
Nhìn nhận rằng thương mại điện tử có tiềm năng to lớn giúp mở rộng các cơ hội kinh
doanh, giảm bớt chi phí, gia tăng hiệu quả, cải thiện chất lượng cuộc sống, và tạo thuận
lợi cho các doanh nghiệp nhỏ tham gia nhiều hơn vào thương mại toàn cầu;