1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Hoàn thiên hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH 1 thành viên Lâm nghiệp Sài Gòn

159 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 159
Dung lượng 3,69 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu chính của đề tài là đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty Forimex để có thể đáp ứng tốt hơn với môi trường cạnh tranh mới. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết.

Trang 2

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Người hướng dẫn khoa học: TS PHẠM NGỌC TOÀN

TP Hồ Chí Minh - năm 2014

-

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi

Kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác

Hoàng Thị Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

Trang Trang phụ bìa

Lời cam đoan

Mục lục

Danh mục các chữ viết tắt

Danh mục các bảng

Danh mục các hình vẽ, sơ đồ

PHẦN MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH NGHIỆP 7

1.1 Tổng quan về hệ thống kế toán trách nhiệm 7

1.1.1 Khái niệm hệ thống kế toán trách nhiệm 8

1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kế toán trách nhiệm 10

1.1.2.1 Cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm các cấp bậc quản lý 10

1.1.2.2 Cung cấp cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp giữa các quyết định bộ phận với mục tiêu chung 10

1.1.2.3 Đảm bảo sử dụng hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực của tổ chức 10

1.1.3 Chức năng 11

1.1.3.1 Chức năng thông tin 11

1.1.3.2 Chức năng xác định trách nhiệm 11

1.1.4 Vai trò của hệ thống kế toán trách nhiệm trong doanh nghiệp 11

1.1.4.1 Hỗ trợ nhà quản trị thực hiện chức năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp 11 1.1.4.2 Cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát quản lý và kiểm soát tài chính của doanh nghiệp 12

1.1.4.3 Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức 12

1.2 Nội dung tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệms 12

1.2.1 Phân cấp quản lý và xác lập các trung tâm trách nhiệm 12

Trang 5

1.2.1.1 Phân cấp quản lý 12

1.2.1.2 Xác định các trung tâm trách nhiệm 14

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường đánh giá các trung tâm trách nhiệm 16

1.2.2.1 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm chi phí 16

1.2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm doanh thu 17

1.2.2.3 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm lợi nhuận 18

1.2.2.4 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm đầu tư 18

1.2.3 Báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm 19

1.2.3.1 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm chi phí 20

1.2.3.2 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm doanh thu 20

1.2.3.3 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm lợi nhuận 20

1.2.3.4 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm đầu tư 21

1.2.4 Các công cụ đo lường và đánh giá trách nhiệm khác 21

1.2.4.1 Dự toán và vai trò dự toán trong kế toán trách nhiệm 21

1.2.4.2 Phân loại chi phí 21

1.2.4.3 Phân bổ chi phí cho các báo cáo bộ phận 23

1.2.4.4 Kỹ thuật phân tích chênh lệch 23

1.2.4.5 Định giá sản phẩm chuyển giao 24

1.3 Tổ chức kế toán trách nhiệm ở một số quốc gia và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 26

1.3.1 Tổ chức kế toán trách nhiệm ở Mỹ 26

1.3.2 Tổ chức kế toán trách nhiệm ở các nước Châu Âu 27

1.3.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và cho Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn nói riêng 28

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 30

CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY TNHH 1TV LÂM NGHIỆP SÀI GÒN 31

2.1 Khái quát chung về Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn 31

2.1.1 Lịch sử hình thành, phát triển của công ty 31

Trang 6

2.1.2 Quy mô hoạt động 31

2.1.3 Chức năng, nhiệm vụ của công ty 33

2.1.3.1 Chức năng 33

2.1.3.2 Nhiệm vụ 33

2.1.4 Thuận lợi, khó khăn và phương hướng hoạt động của công ty 34

2.1.4.1 Thuận lợi 34

2.1.4.2 Khó khăn 34

2.1.4.3 Phương hướng phát triển 35

2.1.5 Tổ chức bộ máy quản lý tại công ty 35

2.1.5.1 Sơ đồ bộ máy quản lý 35

2.1.5.2 Chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của từng bộ phận 35

2.1.6 Tổ chức công tác kế toán tại công ty 36

2.1.6.1 Sơ đồ bộ máy kế toán 36

2.1.6.2 Trách nhiệm và quyền hạn từng phần hành kế toán 36

2.1.6.3 Chế độ, chính sách kế toán áp dụng 38

2.2 Đặc điểm hoạt động của Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn tác động đến hệ thống kế toán trách nhiệm 39

2.3 Thực trạng áp dụng hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn 41

2.3.1 Mục tiêu, nội dung, đối tượng, phạm vi và phương pháp khảo sát 41

2.3.2 Kết quả khảo sát 42

2.3.2.1 Tình hình tổ chức và quan điểm của nhà quản lý về kế toán quản trị nói chung và kế toán trách nhiệm nói riêng 42

2.3.2.2 Về phân cấp quản lý và xác lập các trung tâm trách nhiệm 42

2.3.2.3 Các chỉ tiêu và báo cáo đánh giá thành quả tại các trung tâm 45

2.3.2.4 Thực trạng về các công cụ đo lường và đánh giá trách nhiệm khác 50

2.4 Đánh giá thực trạng hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn 52

2.4.1 Ưu điểm 52

Trang 7

2.4.2 Nhược điểm 54

2.4.3 Nguyên nhân những hạn của hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty 58

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 60

CHƯƠNG 3 HOÀN THIỆN HỆ THỐNG KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TẠI CÔNG TY TNHH 1TV LÂM NGHIỆP SÀI GÒN 61

3.1 Quan điểm hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm 61

3.1.1 Phù hợp mô hình tổ chức quản lý của công ty 61

3.1.2 Phù hợp với yêu cầu và trình độ quản lý của công ty 61

3.1.3 Tính phù hợp và hài hòa giữa chi phí và lợi ích 61

3.1.4 Kế thừa kinh nghiệm các đơn vị áp dụng thành công 62

3.2 Những nội dung hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn 62

3.2.1 Hoàn thiện một số nội dung công tác kế toán phục vụ kế toán trách nhiệm 62

3.2.1.1 Tổ chức bộ máy vận hành hệ thống kế toán 62

3.2.1.2 Xây dựng chứng từ 63

3.2.1.3 Xây dựng tài khoản 64

3.2.2 Hoàn thiện về phân cấp quản lý và xác lập các trung tâm trách nhiệm 65

3.2.2.1 Trung tâm chi phí 65

3.2.2.2 Trung tâm doanh thu 66

3.2.2.3 Trung tâm lợi nhuận 66

3.2.2.4 Trung tâm đầu tư 66

3.2.3 Hoàn thiện về hệ thống chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm trách nhiệm 66

3.2.3.1 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm chi phí 67

3.2.3.2 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm doanh thu 67

3.2.3.3 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm lợi nhuận 68

3.2.3.4 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm đầu tư 68

3.2.4 Hoàn thiện về báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm 68

3.2.4.1 Tại trung tâm chi phí 68

3.2.4.2 Tại trung tâm doanh thu 69

Trang 8

3.2.4.3 Tại trung tâm lợi nhuận 70

3.2.4.4 Tại trung tâm đầu tư 70

3.2.5 Hoàn thiện về các công cụ đo lường và đánh giá trách nhiệm khác 70

3.2.5.1 Dự toán 70

3.2.5.2 Phân loại chi phí 74

3.2.5.3 Phân bổ chi phí cho các báo cáo bộ phận 75

3.2.5.4 Kỹ thuật phân tích chênh lệch 75

3.2.5.5 Định giá sản phẩm chuyển giao 75

3.3 Một số kiến nghị và giải pháp hỗ trợ thực hiện các giải pháp hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn 75

3.3.1 Những giải pháp hỗ trợ đối với công ty 75

3.3.1.1 Nâng cao nhận thức và sự đồng thuận của các cấp quản lý trong việc vận dụng, hoàn thiện hệ thống kế toán trách nhiệm tại công ty 75

3.3.1.2 Đào tạo và chuẩn bị nguồn nhân lực thực hiện công tác KTTN 76

3.3.1.3 Đầu tư và ứng dụng công nghệ thông tin thực hiện hoàn thiện KTTN 77

3.3.2 Những kiến nghị với cơ quan chức năng 77

3.3.3 Những kiến nghị các cơ sở đào tạo 78

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 79

KẾT LUẬN CHUNG 80 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC PHỤ LỤC

Trang 9

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

Phần Tiếng Việt:

BGD : Ban Giám đốc

BHTN : Bảo hiểm thất nghiệp

BHXH : Bảo hiểm xã hội

BHYT :Bảo hiểm y tế

NVLTT : Nguyên vật liệu trực tiếp

TNDN : Thu nhập doanh nghiệp

TNHH 1TV : Trách nhiệm hữu hạn một thành viên TTTN : Trung tâm trách nhiệm

Trang 10

Phần Tiếng Nước ngoài:

NOPAT : Net Operating Profit After Tax

RI : Residual Income

ROI : Return On Investment

Trang 11

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng số lao động bình quân, doanh thu và lợi nhuận thực hiện

qua các năm 32

Trang 12

DANH MỤC CÁC HÌNH, SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy quản lý công ty 36

Sơ đồ 2.2: Sơ đồ tổ chức bộ máy kế toán văn phòng công ty 38

Trang 13

PHẦN MỞ ĐẦU

Tính cấp thiết của đề tài

Hội nhập là xu thế tất yếu của bất kỳ quốc gia nào Đối với Việt Nam cũng vậy, trong những năm qua Việt Nam đã thực hiện rất nhiều đàm phám và ký kết nhiều hiệp định Hiện tại Việt Nam cũng đang và sẽ tích cực tham gia đàm phán nhằm đi đến ký kết nhiều hiệp định quan trọng khác Trong số đó hiệp định đối tác kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương (viết tắt TPP) được đánh giá là một trong những hiệp định quan trọng trong chiến lược hội nhập và phát triển của Việt Nam Theo đánh giá của các chuyên gia trong nước và quốc tế, khi tham gia TPP, các doanh nghiệp Việt Nam sẽ đứng trước những cơ hội thuận lợi để phát triển mở rộng thị trường, tạo chỗ đứng trong chuỗi liên kết,… Bên cạnh đó, khi tham gia vào hiệp định này, sẽ có không ít những khó khăn và thách thức mà các doanh nghiệp phải đối mặt

Đứng trước thực trạng đó, các doanh nghiệp Việt Nam cần phải tự mình cải tiến

và có những bước đi thích hợp nhằm tận dụng tối đa các cơ hội, những thế mạnh nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh, chủ động trước khó khăn và thách thức,… Để làm được điều này, doanh nghiệp phải quan tâm thích đáng đến việc đổi mới tư duy

và cải tiến các phương pháp quản trị doanh nghiệp Đổi mới quản trị doanh nghiệp đóng vai trò hết sức quan trọng quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Một trong những vấn đề nổi bật trong việc đổi mới hệ thống quản trị doanh nghiệp

là cải tiến và hoàn thiện hệ thống kế toán quản trị mà đặc biệt là hệ thống KTTN trong các doanh nghiệp Hệ thống KTTN dùng để kiểm tra các quá trình hoạt động

và đánh giá thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong một tổ chức và nó được xem

là một công cụ hữu hiệu giúp nhà quản trị doanh nghiệp có thể đánh giá, quản lý, điều hành hiệu quả các bộ phận, các hoạt động SXKD, phát huy tối đa nguồn lực

và từ đó góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp

Trong bối cảnh như vậy, Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn (gọi tắt là Công ty Forimex), một doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trực thuộc Tổng công ty Nông Nghiệp Sài Gòn, cũng cần thiết phải có những sự đổi mới nói chung và đổi

Trang 14

mới hệ thống KTTN nói riêng để có thể đứng vững và phát triển ngay khi Việt Nam chính thức tham gia TPP Sau thời gian tìm hiểu và nghiên cứu cụ thể tại Công ty Forimex, tôi nhận thấy rằng công ty đã bước đầu xây dựng hệ thống KTTN Tuy nhiên, hệ thống này tại công ty vẫn còn nhiều hạn chế, cần được hoàn thiện và cải tiến hơn để đánh giá tốt hơn trách nhiệm quản lý Do đó, trên cơ sở hệ thống lý thuyết về hệ thống KTTN và phân tích tình hình thực tế của công ty, tác giả đã chọn

đề tài:

“Hoàn thiện hệ thống KTTN tại Công ty TNHH 1TV Lâm nghiệp Sài Gòn”

làm đề tài luận văn thạc sỹ kinh tế

1 Tổng quan về tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

Thuật ngữ KTTN (responbility accounting) được đề cập lần đầu tiên vào năm

1950 trong tác phẩm “Basic organizational planning to tie in with responsibility accounting" của Ailman (1950) [19] Kể từ đó đến nay, về mặt lý thuyết, KTTN đã được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau trên thế giới: Robert N Anthony (1956) [13], M N Kellogg (1962) [17], N J Gorden (1963) [18] …

Bên cạnh các nghiên cứu về lý thuyết, các nghiên cứu thực nghiệm về KTTN cũng dần dần được triển khai, ứng dụng Chẳng hạn, trong năm 1998, thông qua công trình nghiên cứu của mình, R Antle và J S Demski (1998) [20] đã làm sáng

tỏ nguyên tắc có thể kiểm soát được trong KTTN Năm 2009, Emma I Okoye đã trình bày những nghiên cứu về mối quan hệ giữa KTTN và thành quả quản lý trong các doanh nghiệp SX; KTTN là công cụ để đánh giá trách nhiệm quản lý E I Okoye (2009) [16]

Như vậy, KTTN là một công cụ kiểm soát hiệu quả và đã được nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau cả về mặt lý thuyết lẫn ứng dụng bởi các tác giả ngoài nước Việc tiếp thu và vận dụng những kết quả đã có trong điều kiện thực tiễn ở các doanh nghiệp Việt Nam là cần thiết Đây cũng là một vấn đề mà những các nhà nghiên cứu trong nước đã quan tâm, tiếp tục khai thác và đẩy mạnh Đã có một số công trình được công bố trên sách, báo, tạp chí… Tuy nhiên mảng đề tài KTTN

Trang 15

hiện nay trong nước có rất ít tài liệu cũng như tác giả nghiên cứu, trình bày Một số luận án, luận văn nghiên cứu nội dung này gần đây như sau:

Luận án của Tiến sĩ Trần Văn Tùng (2010) [11] “Xây dựng hệ thống báo cáo

đánh giá trách nhiệm quản trị trong công ty niêm yết ở Việt Nam” đã trình bày

những nghiên cứu về mặt lý luận của hệ thống báo cáo KTTN; những đặc thù và mô hình tổ chức KTTN trong các công ty cổ phần của một số nước phát triển trên thế giới; những đặc trưng công tác kế toán, hệ thống báo cáo KTTN trong công ty niêm yết ở Việt Nam và đưa ra mô hình cơ cấu tổ chức phổ biến trong công ty niêm yết với cơ chế quản lý theo mô hình tổng công ty, hoạt động trong lĩnh vực SX Từ đó tác giả xây dựng hệ thống báo cáo trách nhiệm cho tổng công ty Ngoài ra, luận án cũng đã đưa ra được một số điều kiện để thực hiện quy trình xây dựng hệ thống báo cáo trách nhiệm trong các công ty niêm yết như: công ty phải xây dựng rõ mục tiêu chung; lựa chọn mô hình tổ chức quản lý phù hợp, phân cấp quản lý rõ ràng, trên cơ

sở đó để xác lập cơ chế quản lý thành những TTTN cụ thể; xây dựng hệ thống định mức (hoặc tiêu chuẩn) liên quan đến các chỉ tiêu của các báo cáo trách nhiệm; xác lập các phương pháp phân bổ chi phí gián tiếp và phân tích các báo cáo bộ phận; định giá sản phẩm- dịch vụ chuyển giao và các giải pháp hỗ trợ triển khai thực hiện…

Năm 2014, Luận án “Tổ chức KTTN trong các tổng công ty xây dựng thuộc Bộ

Giao Thông Vận Tải” của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phú [9] đã nghiên cứu việc tổ chức

hệ thống KTTN nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản trị đánh giá hiệu quả kinh doanh và trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong đặc thù trong các tổng công ty xây dựng thuộc Bộ Giao Thông Vận Tải tại Việt Nam Đây là một trong những tài liệu có giá trị về nghiên cứu và tổ chức hệ thống KTTN trong doanh nghiệp đặc thù

Năm 2010, Luận văn “Hoàn thiện hệ thống KTTN tại công ty Dược- Trang thiết

bị y tế Bình Định” của Thạc sỹ Lê Văn Tân [7] hay năm 2013, Luận văn “Hoàn thiện hệ thống KTTN tại công ty cổ phần thương mại đầu tư xây dựng Constrexim”

của Thạc sỹ Lê Thị Mỹ [6]… đã sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính như:

Trang 16

quan sát, thu thập thông tin, kết hợp thống kê thực tế, để từ đó mô tả, phân tích và đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống KTTN nhằm cung cấp các thông tin hữu ích cho các nhà quản trị đánh giá hiệu quả kinh doanh và trách nhiệm quản lý của từng bộ phận trong các công ty cụ thể Luận Văn của thạc sỹ Nguyễn Đức Loan

(2011) [8] “Hoàn thiện hệ thống KTTN tại công ty cổ phần Đá Núi Nhỏ” cũng sử

dụng các phương pháp tương tự, tuy nhiên Luận văn đã vận dụng và xây dựng thẻ cân bằng điểm (BSC) tại công ty để hỗ trợ đánh giá hiệu quả kinh doanh và trách nhiệm quản lý…

Như vậy, có thể nói, các nghiên cứu trong nước về tổ chức KTTN trong những năm gần đây bắt đầu đã đi vào cụ thể một số loại hình doanh nghiệp, hay một doanh nghiệp cụ thể Đã hệ thống hóa được những lý luận cơ bản về tổ chức, vận dụng hay hoàn thiện KTTN trong doanh nghiệp Đây cũng chính là những nội dung mà luận văn kế thừa và tham khảo trong quá trình thực hiện nghiên cứu cho phù hợp với thực trạng của công ty đang nghiên cứu

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

Mục tiêu chính của đề tài là đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống KTTN tại Công ty Forimex để có thể đáp ứng tốt hơn với môi trường cạnh tranh mới Mục tiêu chính này được tác giả cụ thể hóa thành các mục tiêu cụ thể như sau:

 Hệ thống hóa cơ sở lý thuyết liên quan đến hệ thống KTTN: khái niệm, mục tiêu, chức năng, vai trò, các nội dung cơ bản và sự cần thiết của hệ thống KTTN trong doanh nghiệp

 Tìm hiểu thực trạng, từ đó phân tích và đánh giá ưu- nhược điểm hệ thống KTTN tại Công ty Forimex và xác định nguyên nhân những tồn tại, hạn chế hiện nay

 Xác định quan điểm, yêu cầu, nội dung hoàn thiện hệ thống KTTN tại Công ty Forimex và đưa ra những kiến nghị nhằm hỗ trợ cho việc hoàn thiện này

3 Câu hỏi nghiên cứu

Để đạt được các mục tiêu mà đề tài đã đặt ra, cần phải trả lời một cách thỏa đáng một số vấn đề nghiên cứu sau:

Trang 17

 KTTN là gì? Mục tiêu, chức năng, vai trò, các nội dung cơ bản của hệ thống kế toán trách nhệm cụ thể là gì? Tình hình nghiên cứu và ứng dụng KTTN trong và ngoài nước đã được giải quyết ra sao? Kinh nghiệm có thể rút ra cho doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Forimex nói riêng như thế nào?

 Đặc điểm hoạt động SXKD tại công ty có ảnh hưởng đến hệ thống KTTN? Tình hình tổ chức, thực hiện hệ thống KTTN trong Công ty Forimex trong thời gian qua

đã được thực hiện như thế nào? Những ưu điểm, những hạn chế và nguyên nhân?

 Các giải pháp hoàn thiện hệ thống KTTN tại công ty là gì để phù hợp cơ sở thực tiễn và xu hướng phát triển trong tương lai của công ty, Những kiến nghị hỗ trợ thực hiện các giải pháp từ các cơ quan chức năng, cơ sở đào tạo để hỗ trợ công ty thực hiện các giải pháp hoàn thiện này

4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu và điểm mới của đề tài

 Đối tượng: Đề tài nghiên cứu hệ thống KTTN tại Công ty Forimex

 Phạm vi nghiên cứu: Tại Công ty Forimex, sử dụng số liệu từ năm 2011- 2013

 Điểm mới của đề tài: Tác giả đã kết hợp phỏng vấn, khảo sát bằng bảng câu hỏi

các nhà quản lý và nhân viên kế toán kết hợp với quan sát và thu thập dữ liệu-tài liệu, mô tả lại, phân tích để tìm hiểu các đặc điểm HĐKD của Công ty Forimex ảnh hưởng đến hệ thống KTTN, thực trạng hệ thống KTTN những ưu- nhược điểm và nguyên nhân, đưa ra các giải pháp hoàn thiện hệ thống KTTN phù hơp với công ty

5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

Tác giả đã đưa ra được các giải pháp khả thi được xây dựng trên cơ sở thực tiễn

và xu hướng phát triển trong tương lai của công ty Đây là vấn đề thực sự cần thiết, cấp bách, quan trọng, quyết định đến sự sống còn và thành công của công ty trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, đặc biệt sau khi công ty tiến hành cổ phần hóa Tác giả còn đưa ra những kiến nghị để hỗ trợ thực hiện các giải pháp này, ngoài những hữu ích, hỗ trợ cho Công ty Forimex nó còn hỗ trợ cho các doanh nghiệp khác trong việc xây dựng, củng cố, hoàn thiện hệ thống KTTN tại công ty mình

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp nghiên cứu được vận dụng chủ yếu trong luận văn là phương pháp

Trang 18

định tính: Khảo sát bằng phỏng vấn, quan sát, thu tập dữ liệu, thống kê thực tế để từ

đó mô tả, phân tích, so sánh tổng hợp các vấn đề lý luận, thực trạng và xác lập các quan điểm, phương hướng, nội dung hoàn thiện hệ thống KTTN

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:

Chương 1 Cơ sở lý luận về hệ thống KTTN trong doanh nghiệp

Chương 2 Thực trạng hệ thống KTTN tại Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn

Chương 3 Hoàn thiện hệ thống KTTN Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn

Trang 19

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KẾ TOÁN TRÁCH NHIỆM TRONG DOANH

NGHIỆP 1.1 Tổng quan về hệ thống kế toán trách nhiệm

KTTN là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị Do đó quá trình hình thành

và phát triển của KTTN gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của kế toán

quản trị Theo ấn phẩm “Management accounting concepts” do Liên đoàn kế ttoans

quốc tế ban hành năm 1989 thì quá trình này có thể được chia thành 4 giai đoạn dựa trên trọng tâm thông tin mà kế toán quản trị cung cấp trong từng thời kỳ Cụ thể như sau:

Giai đoạn 1 (trước năm 1956): Thông tin được sử dụng để kiểm soát và định

hướng CP SXKD

Giai đoạn 2 (từ 1956 đến cuối năm 1980): Thông tin được sử dụng để hoạch định

và kiểm soát tài chính HĐSXKD

Giai đoạn 3 (từ 1980 đến cuối năm 1995): Thông tin được sử dụng để giảm

những tổn thất nguồn lực kinh tế trong quy trình SXKD

Giai đoạn 4 (từ 1995 đến nay): Thông tin được sử dụng để phát huy hiệu quả các

nguồn lực kinh tế và tạo ra giá trị

Có thể nói rằng cho đến trước thế kỷ XIX thì kế toán quản trị mặc dù chưa được ghi nhận một cách chính thức nhưng các hoạt động thu thập và xử lý các thông tin kinh tế tài chính đã đươc sử dụng tại một số công ty lớn như công ty Dupont, công

ty General Motor Lúc bấy giờ, kế toán quản trị tồn tại tiềm ẩn dưới dạng kế toán

CP như là một hoạt động kỹ thuật cần thiết để đảm bảo đạt được mục tiêu của doanh nghiệp (Đoàn Ngọc Quế và cộng sự, 2011) [4] Một trong những dấu mốc quan trọng gắn liền với sự ra đời của kế toán quản trị là sự xuất hiện tác phẩm

"Management Accounting: Text and Cases" (R N Anthony, 1956) [13] Tác phẩm

này đề cập đến các vấn đề như: giới thiệu kế toán quản trị là gì, làm thế nào có thể

hệ thống và phân tích các vấn đề mới để ra quyết định, giới thiệu các công cụ kiểm soát CP thích hợp, Kể từ thời điểm đó, nhiều công cụ của kế toán quản trị đã

Trang 20

được phát triển Hơn nữa, kế toán quản trị đã tập trung vào việc cung cấp thông tin cho hoạt động lập kế hoạch và kiểm soát của nhà quản trị, thông qua việc sử dụng các kỹ thuật như phân tích để ra quyết định và đặc biệt là KTTN

Như vậy KTTN, một bộ phận của kế toán quản trị, đã ra đời trong bối cảnh mà vai trò chủ đạo của kế toán quản trị đã chuyển sang cung cấp thông tin cho mục đích lập kế hoạch và kiểm soát Từ thời điểm đó đến nay, KTTN đã được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều tác giả khác nhau ở nhiều quốc gia trên thế giới như Atkinson, R.D Banker, R.S Kaplan, S.M Young, James R.Martin …

1.1.1 Khái niệm hệ thống kế toán trách nhiệm

Để quản lý tốt các tổ chức cũng như các doanh nghiệp có quy mô lớn, các nhà quản trị thường phải cấu trúc đơn vị mình theo hình thức quản lý phân quyền Việc phân quyền trong một tổ chức tạo nên cơ cấu nhiều cấp bậc và đòi hỏi cấp trên phải theo dõi, đo lường và đánh giá kết quả kết hoạt động của cấp dưới KTTN là một công cụ nhằm đáp ứng yêu cầu này

Có nhiều quan điểm về KTTN đã được trình bày bởi các tác giả khác nhau như

A A Atkinson; Clive Emmanuel; James R.Martin,… Dưới đây chúng tôi sẽ trình bày một số quan điểm tiêu biểu

Theo A A Atkinson và cộng sự (2001) [12] thì KTTN là một hệ thống kế toán

có chức năng thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức thông qua các báo cáo liên quan đến CP, thu nhập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức Đó là một hệ thống cung cấp thông tin nhằm đánh giá trách nhiệm và thành quả của mỗi nhà quản lý, chủ yếu ở khía cạnh thu nhập và những khoản CP mà họ có quyền kiểm soát đầu tiên

Clive Emmanuel và cộng sự (1990) [14] thì cho rằng KTTN là sự thu thập, tổng hợp và báo cáo những thông tin tài chính về những trung tâm khác nhau trong một

tổ chức (những TTTN), cũng còn được gọi là kế toán hoạt động hay kế toán khả năng sinh lợi Nó lần theo các CP, thu nhập hay LN đến những nhà quản lý riêng biệt, những người chịu trách nhiệm cho việc đưa ra các quyết định về CP, thu nhập

Trang 21

hay LN đang được nói đến, và thực thi những hành động về chúng KTTN tỏ ra phù hợp ở những tổ chức mà ở đó nhà quản lý cấp cao thực hiện chuyển giao quyền ra quyết định cho các cấp thuộc quyền

Theo James R Martin, "KTTN là hệ thống kế toán cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động của các đơn vị bộ phận trong doanh nghiệp Đó là một công cụ

đo lường, đánh giá hoạt động của những bộ phận liên quan đến DT, CP, vốn đầu tư

và LN, mà bộ phận đó có quyền kiểm soát và có trách nhiệm tương ứng”

Một khía cạnh quan trọng trong khái niệm KTTN của James R Martin là tính có

thể kiểm soát Theo đó các bộ phận và cá nhân chỉ nên chịu trách nhiệm cho những

lĩnh vực mà họ có thể kiểm soát được Tuy nhiên, cũng theo James R Martin, tính

có thể kiểm soát khó có thể được áp dụng thành công trong thực tiễn bởi vì sự vận hành trong một tổ chức hay doanh nghiệp là thường xuyên biến động

Đối với David F Hawkins và cộng sự (2004) [15] thì KTTN là một hệ thống tạo

ra những thông tin tài chính và phi tài chính có liên quan, về những hoạt động thực

tế và được lập kế hoạch của những TTTN trong một công ty – những đơn vị trong

tổ chức được đứng đầu bởi những nhà quản lý có trách nhiệm cho kết quả hoạt động của đơn vị họ quản lý Những bộ phận chủ yếu bao gồm: hệ thống dự toán ngân sách, các báo cáo kết quả hoạt động, các báo cáo về sự biến động và những mức giá chuyển nhượng sản phẩm, dịch vụ nội bộ giữa các bộ phận trong công ty Theo đó, KTTN đi sâu vào việc so sánh kết quả hoạt động thực tế của TTTN với kế hoạch (được dự toán) được giao, và những nguồn lực được chuyển nhượng từ trung tâm này đến trung tâm khác như thế nào Đồng thời, KTTN cũng lý giải việc lập kế hoạch quản lý và quá trình kiểm soát

Trên cơ sở các quan điểm đã nêu trên chúng ta có thể rút ra một số vấn đề chung về KTTN như sau:

Thứ nhất, KTTN là một nội dung cơ bản của kế toán quản trị và là một quá trình tập hợp và báo cáo các thông tin có thể kiểm soát, được dùng để kiểm tra các quá trình hoạt động và đánh giá thực hiện nhiệm vụ ở từng bộ phận trong một tổ chức

Hệ thống KTTN là một hệ thống thông tin sử dụng các thông tin tài chính và phi tài

Trang 22

chính trong phạm vi hệ thống kiểm soát của ban quản lý một đơn vị

Thứ hai, KTTN chỉ có thể được thực hiện trong đơn vị có cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý phải có sự phân quyền rõ ràng Bởi lẽ, mục tiêu chính của hệ thống KTTN

là hạn chế tối đa những bất lợi, đồng thời giúp cho tổ chức gặt hái được những lợi ích từ việc phân cấp trong quản lý

Thứ ba, một hệ thống KTTN hữu ích phải thỏa mãn lý thuyết phù hợp Theo đó,

hệ thống KTTN phải phù hợp với môi trường tổ chức hoạt động, với chiến lược tổng hợp của tổ chức, và với các giá trị và sự khích lệ của quản trị cấp cao

Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2010) [10] Mô hình báo cáo đánh giá trách

nhiệm quản trị trong công ty niêm yết, luận án của Tiến sĩ Trần Văn Tùng (2010)

[11] “Xây dựng hệ thống báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị trong công ty niêm

yết ở Việt Nam”và luận văn “Hoàn thiện hệ thống KTTN tại công ty Dược- Trang thiết bị y tế Bình Định” của Thạc sỹ Lê Văn Tân (2010) [7] tác giả có thể trình bày

mục tiêu,chức năng và vai trò của hệ thống KTTN như sau:

1.1.2 Mục tiêu của hệ thống kế toán trách nhiệm

1.1.2.1 Cung cấp thông tin đánh giá trách nhiệm các cấp bậc quản lý

Nhằm đảm bảo cho mọi hoạt động của doanh nghiệp mang tính trách nhiệm cao, thúc đẩy doanh nghiệp phát triển ổn định và bền vững, KTTN phải xây dựng được các chỉ tiêu đo lường và đánh giá kết quả hoạt động một cách định kỳ cho từng cá nhân được phân cấp quản lý trong doanh nghiệp như: các thành viên BGĐ, trưởng các phòng ban, quản đốc,.v.v

1.1.2.2 Cung cấp cơ sở để đánh giá mức độ phù hợp giữa các quyết định bộ phận với mục tiêu chung

Mỗi nhà quản trị ở các cấp khác nhau trong doanh nghiệp đều phải thường xuyên đưa ra những quyết định có tác động đến mục tiêu chung của doanh nghiệp Mức độ phù hợp của các quyết định này cũng cần được kiểm soát và đánh giá căn cứ trên những thông tin và những cơ sở mà KTTN cần nêu ra

1.1.2.3 Đảm bảo sử dụng hữu hiệu và hiệu quả các nguồn lực của tổ chức

Những nguồn lực của doanh nghiệp cần thiết phải được sử dụng hữu hiệu-được

Trang 23

thể hiện thông qua mức độ khả thi của các hoạt động có liên quan đến các nguồn lực đó-và hiệu quả mà các hoạt động này mang lại Thông qua hệ thống KTTN giúp nhà quản trị xác định được tình hình thực thi, hiệu lực các quyết sách kinh doanh của doanh nghiệp và hiệu quả sử dụng các nguồn lực kinh tế của mỗi cá nhân, bộ phận, đơn vị trong doanh nghiệp

1.1.3 Chức năng

Xét trong doanh nghiệp, KTTN có hai chức năng cơ bản là chức năng thông tin

và chức năng xác định trách nhiệm (Huỳnh Lợi và Nguyễn Khắc Tâm, 2001) [5] Hai chức năng này có quan hệ mật thiết với nhau và giúp cho KTTN đáp ứng được mục tiêu của nó

1.1.3.1 Chức năng thông tin

KTTN giữ chức năng là một kênh thông tin mà các nhà quản trị có thể sử dụng

để nắm bắt tình hình hoạt động của từng bộ phận trong doanh nghiệp, qua đó nhà quản trị có thể đưa ra những nhận định và phân tích khách quan về nguyên nhân, điểm thuận lợi và hạn chế của những thành quả mà mỗi đơn vị đạt được Những phân tích này sẽ hỗ trợ để nhà quản trị có thể đề ra những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp

1.1.3.2 Chức năng xác định trách nhiệm

KTTN giúp nhà quản trị cấp cao xác định được mức độ đóng góp của từng đơn

vị, bộ phận vào kết quả chung của doanh nghiệp Qua đó, có thể đánh giá trách nhiệm của từng đơn vị, bộ phận và đưa ra những định hướng phù hợp nhằm mang lại sự phát triển cho doanh nghiệp

1.1.4 Vai trò của hệ thống kế toán trách nhiêm trong doanh nghiệp

1.1.4.1 Hỗ trợ nhà quản trị thực hiện chức năng tổ chức và điều hành doanh nghiệp

Trên cơ sở phân chia cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp thành các TTTN khác nhau, KTTN giúp nhà quản trị xác định rõ quyền ra quyết định và trách nhiệm của một bộ phận nào đó đối với một phần hay toàn bộ công việc Từ đó, nhà quản trị có thể đánh giá và điều chỉnh các bộ phận trong doanh nghiệp phù hợp với mục

Trang 24

tiêu và tình hình hoạt động

1.1.4.2 Cung cấp thông tin cho việc thực hiện chức năng kiểm soát quản lý

và kiểm soát tài chính của doanh nghiệp

Thông qua báo cáo KTTN, nhà quản trị có thể nắm được tình hình tài chính của các bộ phận và đơn vị liên quan, từ đó đưa ra các phân tích, đánh giá hoạt động thu chi cũng như DT và LN của đơn vị, bộ phận Điều đó giúp nhà quản trị phát hiện các vấn đề hạn chế trong quản lý tài chính của từng đơn vị, bộ phận và có sự điều chỉnh thích hợp, kịp thời sao cho hiệu quả kinh doanh là tốt nhất

Báo cáo KTTN là nguồn thông tin quan trọng giúp nhà quản trị có thể phát huy một cách hiệu quả việc sử dụng vốn, giảm CP một cách hợp lý nhằm tối đa hóa LN

1.1.4.3 Kế toán trách nhiệm khuyến khích nhà quản lý hướng đến mục tiêu chung của tổ chức

Việc phân chia cơ cấu tổ chức thành các TTTN cho thấy rằng mục tiêu chiến lược của doanh nghiệp đã được gắn vào mục tiêu của các trung tâm này Khi KTTN

có thể kiểm soát được công tác tài chính và công tác quản lý thì nó sẽ điều chỉnh hoạt động hướng đến các mục tiêu chung của doanh nghiệp Trên cơ sở xác định trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng đối với mỗi TTTN, nhà quản trị của các trung tâm này được khuyến khích thực hiện các hoạt động hướng đến mục tiêu cơ bản của doanh nghiệp

1.2 Nội dung tổ chức hệ thống kế toán trách nhiệm

Theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2010) [10] Mô hình báo cáo đánh giá trách

nhiệm quản trị trong công ty niêm yết, luận án của Tiến sĩ Trần Văn Tùng (2010)

[11] “Xây dựng hệ thống báo cáo đánh giá trách nhiệm quản trị trong công ty niêm

yết ở Việt Nam” và luận án “Tổ chức KTTN trong các tổng công ty xây dựng thuộc

Bộ Giao Thông Vận Tải” của Tiến sĩ Nguyễn Hữu Phú (2014) [9] tác giả có thể tóm

tắt nội dung của tổ chức hệ thống KTTN như sau:

1.2.1 Phân cấp quản lý và xác lập các trung tâm trách nhiệm

1.2.1.1 Phân cấp quản lý

Một trong những vấn đề trọng tâm của KTTN là hình thành các TTTN Điều này

Trang 25

được thực hiện thông qua việc phân cấp quản lý- đó là việc nhà quản lý cấp cao giao quyền cho cấp quản lý thấp hơn trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp để giúp họ có thể điều hành các công việc thường xuyên tại bộ phận mà họ có trách nhiệm quản lý Tùy theo đặc điểm của từng doanh nghiệp, việc phân quyền này có thể gồm một hay nhiều cấp độ Các nhà nghiên cứu cho rằng KTTN gắn liền với sự phân cấp quản lý Hệ thống KTTN hoạt động thực sự hiệu quả trong các tổ chức mà

sự phân quyền được thưc hiện đúng mức và phù hợp với cơ cấu tổ chức

Khi tiến hành phân cấp quản lý, ta cần lưu ý rằng nếu doanh nghiệp chia ra quá nhiều cấp thì sẽ có thể dẫn đến sự cồng kềnh trong bộ máy tổ chức Ngược lại nếu tập trung quá nhiều quyền quyết định vào một nơi có thể làm giảm hiệu quả hoạt động Vì thế, nhà quản lý cần phải cân nhắc giữa lợi ích và khó khăn mà việc phân cấp quản lý có thể mang lại

 Những lợi ích của phân cấp quản lý: Khi một tổ chức thực hiện phân cấp rõ ràng trong quản lý sẽ mang lại những lợi ích như:

- Người quản lý có thể giảm bớt khối lượng công việc bằng cách san sẻ cho người khác, từ đó có thể tiết kiệm thời gian làm việc của mình và có thể tập trung vào thực hiện các mục tiêu lớn hơn

- Nguồn thông tin được cung cấp đầy đủ và kịp thời hơn Chính sự phân quyền trong quản lý mà các bộ phận có thể chủ động trong tiếp cận các thông tin và phản hồi nhanh chóng

- Tạo môi trường thuận lợi phát triển những nhà quản lý cấp thấp hơn Nhà quản

lý có thể đánh giá nhân viên tốt và đào tạo lớp quản lý mới để kế thừa

- Khuyến khích nhân viên nỗ lực với trách nhiệm được giao hơn, từ đó góp phần hoàn thành mục tiêu chung của toàn doanh

 Những hạn chế của phân cấp quản lý: Bên cạnh những lợi ích mang lại thì

việc phân cấp quản lý cũng đặt ra những khó khăn Việc phân cấp quản lý quá nhiều

có thể gây ra tình trạng khó kiểm soát Thậm chí nếu kiểm soát không tốt, phân cấp trách nhiệm có thể dẫn đến việc sai lệch các mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp bởi các nhà quản lý bộ phận chỉ tập trung vào lợi ích của đơn vị mình mà không

Trang 26

xem xét quyết định đó có ảnh hưởng đến doanh nghiệp như thế nào

Chính vì vậy, doanh nghiệp phải xác định khi nào cần phân chia các cấp bậc, và mức độ phân quyền như thế nào là hợp lý, thích hợp Việc đó còn tùy thuộc vào chiến lược chung của doanh nghiệp

1.2.1.2 Xác định các trung tâm trách nhiệm

TTTN là một bộ phận trong tổ chức (hay trong doanh nghiệp nói riêng), nơi mà nhà quản trị bộ phận chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của bộ phận mình Căn

cứ vào cơ cấu tổ chức và mức độ phân cấp quản lý của doanh nghiệp mà có hệ thống các TTTN tương ứng Các TTTN tạo thành một hệ thống thang bậc trách nhiệm từ cấp lãnh đạo thấp nhất đến cấp lãnh đạo cao nhất trong doanh nghiệp

 Trung tâm chi phí: là một loại TTTN thể hiện phạm vi cơ bản của hệ thống

xác định CP có thể kiểm soát, là điểm xuất phát của các hoạt động như: lập dự toán CP; phân loại CP thực tế phát sinh; so sánh CP thực tế với CP định mức tiêu chuẩn Trung tâm CP gắn liền với cấp quản lý mang tính chất tác nghiệp, trực tiếp tạo ra sản phẩm, dịch vụ, hoặc gián tiếp phục vụ kinh doanh (như phân xưởng SX, các phòng ban chức năng) Theo đó, người quản lý chỉ chịu trách nhiệm hoặc chỉ có quyền kiểm soát đối với CP phát sinh ở bộ phận mình, không có quyền hạn đối với việc tiêu thụ và đầu tư vốn Tùy theo tính chất của CP và kết quả đầu ra, trung tâm

CP được chia thành hai dạng

- Trung tâm chi phí định mức (tiêu chuẩn): là trung tâm CP mà các yếu tố CP

và các mức hao phí về nguồn lực sử dụng để SX một đơn vị sản phẩm, dịch vụ đều được xây dựng định mức cụ thể Nhà quản trị trung tâm CP tiêu chuẩn có trách nhiệm kiểm soát CP thực tế phát sinh để vẫn đảm bảo kế hoạch SX cũng như đảm bảo kế hoạch CP cho từng đơn vị sản phẩm, dịch vụ và tính cho toàn bộ Trung tâm

CP tiêu chuẩn được nhận biết trên cơ sở chúng ta có thể xác định, đo lường một cách chắc chắn đầu ra và có thể xác định được định mức các đầu vào cần thiết để

SX ra một đơn vị đầu ra đó Theo đó, nhà quản lý không chịu trách nhiệm về những biến động gây ra bởi các mức độ hoạt động cao hơn tiêu chuẩn của trung tâm mà chỉ chịu trách nhiệm về tính hiệu quả trong phạm vi hoạt động của trung tâm Đối

Trang 27

với trung tâm này thì hiệu quả được đo lường bởi mối liên hệ giữa đầu vào và đầu

ra, còn tính kết quả được đo lường bằng mức độ trung tâm đạt được sản lượng mong muốn tại những mức độ về chất lượng và thời gian đã định Các trung tâm CP thường gắn với cấp quản trị cơ sở và có thể là các NM SX, các phân xưởng SX…

- Trung tâm chi phí dự toán: là trung tâm CP mà các yếu tố được dự toán và

đánh giá căn cứ trên nhiệm vụ được giao chung, không thể xác định cụ thể cho từng đơn vị sản phẩm hoặc cho từng công việc của trung tâm Nói cách khác không có mối quan hệ rõ ràng giữa đầu vào và đầu ra Trong trường hợp này, việc kiểm soát nhằm đảm bảo CP thực tế phát sinh phải phù hợp với CP dự toán đồng thời đảm bảo thực hiện nhiệm vụ được giao Đánh giá hiệu quả của trung tâm này thường bằng cách so sánh CP giữa dự toán ngân sách đã định và thực tế thực hiện

 Trung tâm doanh thu:

Trung tâm DT là TTTN mà người quản lý chỉ có trách nhiệm với DT có thể kiểm soát được, không chịu trách nhiệm với LN và vốn đầu tư Trung tâm DT có quyền quyết định việc bán hàng trong khung giá cho phép để tạo ra DT cho doanh nghiệp Trung tâm này thường được gắn với bậc quản lý cấp trung hoặc cấp cơ sở

 Trung tâm lợi nhuận:

Trung tâm LN là TTTN mà người quản lý chịu trách nhiệm cả về DT và CP có thể kiểm soát được của doanh nghiệp, tức là chịu trách nhiệm về kết quả SXKD và tiêu thụ Trong trường hợp này nhà quản lý thường được tự do quyết định về sản phẩm SX, quy mô SX cũng như giá cả, hệ thống phân phối và bán hàng Loại TTTN này thường được gắn ở bậc quản lý cấp trung, đó là giám đốc điều hành trong công ty, các đơn vị kinh doanh trong tổng công ty như các công ty phụ thuộc, các chi nhánh,… Hiệu quả của trung tâm LN được đánh giá dựa vào mức chênh lệch giữa LN thực tế so với LN dự toán

 Trung tâm đầu tư:

Trung tâm đầu tư là TTTN mà nhà quản lý của trung tâm đó không những chịu trách nhiệm về DT và CP mà còn chịu trách nhiệm về việc xác định vốn hoạt động cũng như những quyết định đầu tư vốn Trung tâm đầu tư đại diện cho bậc quản lý

Trang 28

cấp cao như Hội đồng quản trị công ty

Đặc trưng của việc đo lường hiệu quả trung tâm đầu tư là tỷ lệ hoàn vốn đầu tư

và LN còn lại Phương pháp đo lường này chịu ảnh hưởng của cả DT, CP và tài sản

Vì vậy phản ánh trách nhiệm của nhà quản lý đối với LN tính trên vốn đầu tư

Tóm lại, các loại TTTN gắn liền với từng cấp quản trị trong một tổ chức Mỗi loại TTTN sẽ xác định trách nhiệm hoặc quyền kiểm soát đối với từng đối tượng cụ thể của các nhà quản trị các cấp Trong thực tế, việc chọn lựa một trung tâm thích hợp nhất cho một đơn vị trong tổ chức là điều không dễ dàng Cơ sở để xác định một bộ phận trong tổ chức thuộc trung tâm loại gì được dựa trên loại nguồn lực hoặc trách nhiệm mà nhà quản lý TTTN đó được giao Do vậy, việc phân biệt rõ ràng loại TTTN cho các bộ phận, đơn vị trong một tổ chức chỉ mang tính tương đối,

và phụ thuộc vào quan điểm của nhà quản trị cấp cao nhất

1.2.2 Hệ thống chỉ tiêu đo lường đánh giá các trung tâm trách nhiệm

Có hai tiêu chí để đo lường mức độ hoàn thành một TTTN là hiệu quả và kết quả

Ở đây ta hiểu hiệu quả là tỷ lệ giữa đầu ra so với đầu vào của TTTN Nói cách khác,

đó chính là tỷ lệ giữa kết quả thực tế đạt được với nguồn lực thực tế mà trung tâm

đã sử dụng để tạo ra kết quả đó Trong khi đó kết quả được hiểu là mối quan hệ giữa

đầu ra của một TTTN với mục tiêu của trung tâm đó Đây chính là mức độ hoàn thành mục tiêu của TTTN

Đánh giá trách nhiệm quản trị của các cấp quản lý các TTTN bằng cách lấy kết quả thực hiện của các TTTN, so sánh đối chiếu với số liệu dự toán ban đầu trên cả hai mặt hiệu quả và kết quả

1.2.2.1 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm chi phí

Khi đánh giá các trung tâm CP cần có sự phân biệt đối với các trung tâm CP tiêu chuẩn và các trung tâm CP dự toán Bằng cách so sánh CP thực tế với CP định mức hoặc dự toán có thể kiểm soát được bởi từng nhà quản trị ở từng trung tâm CP, nhà quản trị có thể nhận biết được chênh lệch nào tốt, chênh lệch nào xấu Các chỉ tiêu

cụ thể cho việc đánh giá trung tâm CP như sau

 Các chỉ tiêu kết quả:

Trang 29

- CP NVLTT

- CP NCTT

- CP SXC

- Giá thành sản phẩm…

 Các chỉ tiêu hiệu quả:

- Việc thực hiện định mức tiêu hao nguyên vật liệu

- Tỷ lệ sản phẩm hỏng

Cần lưu ý rằng mức chênh lệch CP được xác định bởi:

Chênh lệch chi phí = chi phí thực tế- chi phí định mức (dự toán)

Các chỉ tiêu này cho phép ta đánh giá được

- Khả năng kiểm soát CP trong mối quan hệ với DT ước tính

- Mức độ hoàn thành định mức hay dự toán CP

- Số lượng và chất lượng sản phẩm, dịch vụ tạo ra so với mức CP bỏ ra

- Khả năng kiểm soát các nhân tố làm tăng CP

Cuối cùng, để việc đánh giá được chính xác ta nhấn mạnh rằng thông tin đưa vào báo cáo được sử dụng cho việc đánh giá thành quả của các nhà quản trị ở trung tâm

CP chính là CP có thể kiểm soát được bởi từng nhà quản trị ở trung tâm đó Các thông tin này cần kịp thời, chính xác và đầy đủ, bao gồm

- Số liệu về CP thực tế phát sinh

- Nguyên nhân tạo ra sự biến động CP ở từng bộ phận

- Giải thích sự chênh lệch giữa CP thực tế và CP dự toán ở từng bộ phận về các nội dung CP SX, giá thành sản phẩm, CP bán hàng và CP quản lý doanh nghiệp

1.2.2.2 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm doanh thu

Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm DT là tổ chức hoạt động tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ sao cho đạt được DT trong kỳ nhiều nhất Theo đó, xét trên tiêu chí kết quả chúng ta sẽ đối chiếu DT thực tế đạt được so với DT dự toán của bộ phận, xem xét tình hình thực hiện dự toán tiêu thụ, trên cơ sở đó phân tích sai biệt DT do ảnh hưởng của các nhân tố có liên quan như đơn giá bán, khối lượng tiêu thụ và cơ cấu sản phẩm tiêu thụ Các chỉ tiêu cụ thể để đánh giá kết quả của trung tâm DT:

Trang 30

- Sản lượng sản phẩm tiêu thụ trong kỳ

- DT bán hành thực hiện trong kỳ

- DT bán hàng trong kỳ so với DT dự toán,

Chênh lệch doanh thu = doanh thu thực tế- doanh thu dự toán

Về mặt hiệu quả, để đánh giá hiệu quả của trung tâm hay đánh giá thành quả quản lý của các nhà quản trị tại trung tâm DT thì ta phải xem xét tình hình thực hiện

dự toán trên cơ sở so sánh CP hoạt động thực tế so với CP dự toán đã lập

1.2.2.3 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm lợi nhuận

Trách nhiệm của nhà quản trị ở trung tâm LN là tổ chức HĐKD sao cho LN đạt được là cao nhất Để đánh giá kết quả của trung tâm LN, chúng ta cần đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu LN, giá bán và lượng bán

Chỉ tiêu đánh giá kết quả ở trung tâm lợi nhuận:

- LN đạt được trong kỳ,

- LN tính trên đơn vị sản phẩm,

Chênh lệch lợi nhuận= lợi nhuận thực tế - lợi nhuận dự toán

Do LN tạo ra trong kỳ của doanh nghiệp là phần còn lại của DT sau khi trừ CP phát sinh tương ứng tạo ra DT đó, nên DT và CP là hai nhân tố có ảnh hưởng trực tiếp đến LN Để đánh giá chính xác kết quả của trung tâm LN, chúng ta cần xác định phạm vi CP mà nhà quản trị trung tâm có thể kiểm soát được rồi áp dụng phương pháp phân tích biến động CP Riêng chỉ tiêu DT, cần đánh giá ở các khía cạnh sau: Trung tâm có đạt được mức tiêu thụ, có thực hiện giá bán cũng như cơ cấu bán hàng như dự toán hay không?

Ở khía cạnh hiệu quả, do có thể lượng hóa được bằng tiền cả đầu ra và đầu vào, nên hiệu quả hoạt động của trung tâm LN có thể đo lường bằng các chỉ tiêu: Tỷ suất

LN trên DT; tỷ suất DT trên CP…

1.2.2.4 Các chỉ tiêu đo lường thành quả trung tâm đầu tư

Các chỉ tiêu cơ bản thường được sử dụng để đánh giá trung tâm đầu tư là: Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI); Lãi thặng dư (RI) Các chỉ tiêu trên được xác định như sau:

- Tỷ suất hoàn vốn đầu tư (ROI)

Trang 31

ROI =

Thu nhập bộ phận khoản đầu tư bộ phận

Một cách triển khai khác của ROI (theo Dupont) được cho như sau:

Thu nhập bộ phận

X

DT

= Tỷ suất LN trên DT x số vòng quay của vốn dầu tư

Mục tiêu đầu tiên của việc sử dụng ROI là để đánh giá hiệu quả đầu tư của các trung tâm đầu tư và các doanh nghiệp có quy mô vốn khác nhau, từ đó phân tích xem nơi nào đạt hiệu quả cao nhất và đánh giá thành quả quản lý Mục tiêu thứ hai khi sử dụng ROI là để tìm ra các nhân tố tác động đến hiệu quả quản lý, nhằm tìm

ra các giải pháp để làm cho kết quả hoạt động được tốt hơn Đó là các biện pháp cải thiện DT, kiểm soát CP hay tính lại cơ cấu vốn đầu tư

- Lãi thặng dư (RI)

RI= Lợi tức của trung tâm đầu tư - Vốn đầu tư  tỷ suất CP vốn

Việc sử dụng chỉ số RI có hai mục tiêu chính là: Biết được LN thực tế sau khi trừ

đi các khoản CP sử dụng vốn là bao nhiêu? và Cho biết có nên đầu tư gia tăng hay không trong trường hợp chỉ số ROI không đủ cơ sở để ra quyết định

1.2.3 Báo cáo thành quả của các trung tâm trách nhiệm

Báo cáo KTTN là báo cáo phản ánh kết quả về các chỉ tiêu tài chính, phi tài chính có thể kiểm soát chủ yếu đạt được ở từng TTTN trong một khoảng thời gian nhất định theo kết quả thực tế và theo dự toán Đồng thời cũng chỉ ra các chênh lệch giữa kết quả thực tế so với dự toán theo từng chỉ tiêu được chuyển tải trong báo cáo phù hợp với từng loại TTTN Sự khác biệt giữa thông tin thực hiện với mục tiêu dự toán sẽ giúp nhà quản trị đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động của các cấp quản trị bộ phận Thông thường, những bảng báo cáo sẽ cung cấp sự so sánh giữa dữ liệu thực tế với dự toán ban đầu và sự chênh lệch được báo cáo như một sự biến động so với dự toán Những bảng báo cáo kết quả hoạt động này thường phải tương thích với cấu trúc tổ chức của doanh nghiệp Tại những bộ phận quản lý cấp cao, những báo cáo này có khuynh hướng trình bày tổng hợp, ít các sự kiện, ít chi tiết, nhiều sự

Trang 32

tổng hợp của các đơn vị SXKD bộ phận Tùy theo mỗi loại TTTN mà nội dung báo cáo sẽ khác nhau và mang đặc trưng riêng

1.2.3.1 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm chi phí

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm CP là bảng so sánh CP thực hiện và dự toán

và xác định mức chênh lệch giữa CP thực hiện so với dự toán Ngoài ra, các chênh lệch còn có thể được phân tích chi tiết tùy theo yêu cầu quản lý thành các biến động theo các nhân tố cấu thành CP đó (phụ lục 1.1- bảng 1)

Các báo cáo của các trung tâm CP được trình bày theo các cấp quản lý tương ứng với các bộ phận thuộc trung tâm Báo cáo sẽ được thực hiện theo luồng thông tin từ dưới lên trên và trách nhiệm chi tiết đến từng bộ phận sẽ tùy thuộc vào cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của từng công ty Báo cáo của cấp càng thấp sẽ càng chi tiết và khi báo cáo lên trên cũng mang nội dung chỉ tiêu đó tuy nhiên sẽ mang tính tổng hợp hơn

1.2.3.2 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm doanh thu

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm DT trình bày một sự so sánh giữa DT thực tế với DT dự toán ban đầu, đồng thời kèm theo phân tích ảnh hưởng của các nhân tố như giá bán, sản lượng tiêu thụ, cơ cấu sản phẩm tiêu thụ đến sự biến động của DT của trung tâm Báo cáo kết quả hoạt động của trung tâm DT có thể phân thành những bộ phận khác nhau như theo chi nhánh, khu vực địa lý, theo cửa hàng, theo nhóm sản phẩm tiêu thụ… phù hợp với yêu cầu quản lý DT của nhà quản trị Tùy theo cơ cấu tổ chức quản lý trong mỗi doanh nghiệp mà xác định đối tượng (người) chịu trách nhiệm cao nhất của trung tâm DT (Phó tổng giám đốc, Giám đốc, Trưởng đơn vị, bộ phân…) Tương tự như trung tâm CP, mức độ chi tiết theo cấp độ quản

lý sẽ tùy thuộc vào cơ cấu bộ máy tổ chức quản lý của từng công ty Một mẫu báo cáo trách nhiệm của trung tâm DT được minh họa trong phụ lục 1.1- bảng 2

1.2.3.3 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm lợi nhuận

Báo cáo trách nhiệm của trung tâm LN thường được trình bày theo dạng số dư đảm phí nhằm xác định số dư của từng bộ phận trong phạm vi được phân cấp và kiểm soát về CP, DT của họ Để đánh giá trách nhiệm của từng trung tâm LN, ta có

Trang 33

thể so sánh kết quả thực hiện với dự toán Mẫu Báo cáo trách nhiệm của trung tâm

LN được thiết kế như trong phụ lục 1.1- bảng 3

1.2.3.4 Báo cáo thành quả quản lý của trung tâm đầu tư

Để đánh giá trách nhiệm của trung tâm đầu tư, nhà quản trị thường sử dụng báo cáo thông qua các chỉ tiêu cơ bản như ROI, RI Sau đây là mẫu báo cáo trách nhiệm của trung tâm đầu tư (phụ lục 1.1- bảng 4)

Như vậy, báo cáo trách nhiệm là một bộ phận quan trọng trong hệ thống báo cáo

kế toán quản trị của doanh nghiệp Mỗi TTTN, mỗi bộ phận sẽ có các báo cáo riêng mang tính chất đặc thù, trong đó nội dung báo cáo gắn liền với các chỉ tiêu nhằm đánh giá kết quả hoạt động của từng TTTN hay bộ phận đó Trong thực tế không có mẫu biểu chính xác và chi tiết của một bảng báo cáo kết quả hoạt động của từng bộ phận trong các doanh nghiệp, mà vấn đề này phụ thuộc vào đặc thù của từng tổ chức kinh tế, từng doanh nghiệp cụ thể và bản chất của TTTN

1.2.4 Các công cụ đo lường và đánh giá trách nhiệm khác

Cùng với quá trình xác định các TTTN, xác định chỉ tiêu đánh giá kết quả và hiệu quả, KTTN còn kết hợp với một số công cụ khác để đánh giá các TTTN Các công cụ có liên quan sẽ là cơ sở phân tích, đánh giá các trung tâm một cách chính xác hơn

1.2.4.1 Dự toán và vai trò dự toán trong kế toán trách nhiệm

Dự toán là tổng thể các dự tính được thể hiện qua một cơ cấu nhất định thông qua việc cụ thể hóa bằng con số nội dung của các kế hoạch, dự án Lập dự toán SXKD

là lập dự kiến chi tiết những chỉ tiêu trong hệ thống HĐSXKD của doanh nghiệp trong từng kỳ

Đối với KTTN, dự toán là căn cứ để có thể đánh giá được khả năng quản lý và và hoàn thành các công việc của các bộ phận Ngoài ra, thông tin dự toán có thể giúp nhà quản trị dự báo trước một số vấn đề có thể phát sinh, từ đó đưa ra những phương án cụ thể và hợp lý để điều hành HĐSXKD của doanh nghiệp, đảm bảo tính khả thi của dự án

1.2.4.2 Phân loại chi phí

Trang 34

Phân loại CP là một vấn đề quan trọng trong quá trình thực hành KTTN Việc phân loại CP để phục vụ KTTN thường căn cứ vào hai tiêu chí: phân loại theo CP theo khả năng kiểm soát được và phân loại CP theo cách ứng xử CP

 Phân loại chi phí theo khả năng kiểm soát

CP kiểm soát được là các khoản CP mà nhà quản trị có thể xác định được sự phát sinh và có thẩm quyền quyết định về sự phát sinh của nó Trong khi đó, CP không kiểm soát được là những khoản CP nằm ngoài phạm vi quyền hạn của nhà quản trị,

họ không thể dự đoán được sự phát sinh cũng như không có thẩm quyền quyết định

sự phát sinh của nó

Để phân biệt CP kiểm soát được hay không kiểm soát được cần căn cứ vào hai đặc điểm là phạm vi phát sinh CP và sự phân cấp quản lý trong cơ cấu tổ chức của công ty CP kiểm soát được hay không kiểm soát được thể hiện sự phân cấp quản lý trong việc kiểm soát CP ở các cấp quản trị, phản ánh phạm vi phát sinh CP, trách nhiệm về CP của các cấp quản trị

Xác định CP kiểm soát được và chí phí không kiểm soát được có vai trò quan trọng không những trong việc hình thành các TTTN mà còn ở việc đánh giá các trung tâm đó, đặc biệt là đánh giá trung tâm LN Có thể nói rằng, số dư bộ phận có thể kiểm soát được được xem là tiêu chuẩn đánh giá tốt nhất về khả năng sinh lời của trung tâm LN và cũng là thước đo đánh giá thành quả cũng như trách nhiệm của nhà quản trị

 Phân loại chi phí theo cách ứng xử chi phí

Sự phân loại CP theo cách ứng xử nhằm xem xét sự biến động của CP khi mức

độ hoạt động thay đổi Theo đó, CP được chia thành ba loại như sau:

- Biến phí là những CP sẽ thay đổi khi mức độ hoạt động thay đổi,

- Định phí là những CP không biến đổi khi mức độ hoạt động thay đổi,

- CP hỗn hợp là những CP vừa có yếu tố biến phí và yếu tố định phí

Việc xác định biến phí, định phí hoặc CP hỗn hợp giúp doanh nghiệp lập báo cáo theo mức độ hoạt động để xác định phần LN góp đơn vị, tỉ lệ LN góp, LN bộ phận

và tỉ lệ LN bộ phận nhằm cung cấp thông tin cho nhà quản trị lựa chọn các phương

Trang 35

án cũng như ra quyết định kinh doanh

1.2.4.3 Phân bổ chi phí cho các báo cáo bộ phận

Bên cạnh các hoạt động chức năng, mỗi doanh nghiệp còn tổ chức các bộ phận phục vụ như phòng kế toán, phòng tổ chức nhân sự, dịch phụ sửa chữa, căn tin, bảo vệ, CP phát sinh cho hoạt động của các bộ phận này tuy không nhiều nhưng có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động chức năng trong doanh nghiệp Do đó cần thiết phải có biện pháp phân bổ CP một cách hợp lý nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc kiểm soát CP cũng như đánh giá thành quả, trách nhiệm của từng bộ phận

Có hai cách phân bổ CP cho các bộ phận phục vụ là phương pháp phân bổ trực tiếp và phương pháp phân bổ bậc thang Theo đó, phương pháp phân bổ trực tiếp thì

bỏ qua tất cả các CP về các dịch vụ giữa các bộ phận phục vụ lẫn nhau và phân bổ tất cả các CP của bộ phận phục vụ cho các bộ phận hoạt động trong doanh nghiệp Còn đối với phương pháp phân bổ bậc thang thì được tiến hành theo trình tự bắt đầu

từ bộ phận phục vụ có CP phát sinh lớn nhất đến các bộ phận phục vụ có CP phát sinh nhỏ hơn và không được phân bổ theo trình tự ngược lại Hơn nữa, dù sử dụng phương pháp phân bổ nào cũng phải đảm bảo các yếu tố sau:

- Phản ánh CP chung sử dụng của mỗi bộ phận và mức lợi ích mà mỗi bộ phận được thụ hưởng,

- Tính giản đơn, nhất quán và tiết kiệm

1.2.4.4 Kỹ thuật phân tích chênh lệch

Phân tích chênh lệch là một công cụ hữu ích giúp cho nhà quản trị có thể xác định được những biến động và nguyên nhân gây biến động giữa thực hiện so với dự toán, hoặc giữa kỳ này so với kỳ trước Việc phân tích chênh lệch sẽ giúp cho nhà quản trị nhận diện được những biến động tích cực và tiêu cực, từ đó nhà quản trị tập trung sự chú ý vào các bộ phận, các hoạt động có những biến động đi lệch khỏi mục tiêu chung của tổ chức để tìm ra các giải pháp khắc phục, điều chỉnh kịp thời

Các bước cần thực hiện khi phân tích chênh lệch

- Xác định chỉ tiêu cần phân tích,

- Xác định đối tượng cần phân tích Khi áp dụng vào KTTN thì đối tượng cần

Trang 36

phân tích là biến động giữa thực tế so với kế hoạch (dự toán),

- Tính toán mức độ ảnh hưởng của các nhân tố liên quan đến sự biến động theo yêu cầu quản lý, kiểm soát, đánh giá trách nhiệm Các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động sẽ được chia thành hai loại là nhân tố kết quả và nhân tố hiệu quả Nhân

tố kết quả thể hiện kết quả hoạt động như lượng sản phẩm SX và tiêu thụ, trong khi nhân tố hiệu quả thể hiện chất lượng hoạt động như CP tiêu hao để SX một sản phẩm, tỷ lệ số dư đảm phí trên DT…

Trong đánh giá các TTTN, các nhân tố ảnh hưởng đến sự biến động có thể được xác định cụ thể như sau

- Đối với trung tâm CP, nhân tố kết quả chính là số lượng sản phẩm SX, số lượng hàng hóa mua vào trong kỳ còn nhân tố hiệu quả là số hao phí đã bỏ ra để SX sản phẩm, mua sắm hàng hóa đó

- Đối với trung tâm DT, nhân tố kết quả chính là số lượng sản phẩm, hàng hóa tiêu thụ, đơn giá bán trong kỳ và nhân tố hiệu quả là tỷ lệ số dư đảm phí trên DT

- Đối với trung tâm LN, nhân tố kết quả là LN và những nhân tố cấu thành nên

LN như DT, CP và nhân tố hiệu quả chính là tỷ suất LN trên DT, số vòng quay vốn

- Đối với trung tâm đầu tư, nhân tố kết quả là RI và nhân tố hiệu quả là ROI

1.2.4.5 Định giá sản phẩm chuyển giao

Giá chuyển giao là giá được tính khi một bộ phận này cung cấp sản phẩm hoặc dịch vụ cho một bộ phận khác trong cùng một tổ chức, doanh nghiệp Rõ ràng giá chuyển giao ảnh hưởng đến cả LN của bộ phận nhận cũng như bộ phận giao Do đó

nó cũng ảnh hưởng đến việc đánh giá thành quả của các TTTN

Khi định giá sản phẩm chuyển giao, người lập giá phải đảm bảo: lợi ích chung của toàn doanh nghiệp, bù đắp CP thực hiện sản phẩm của bộ phận chuyển giao, kích thích các bộ phận phấn đấu tiết kiệm CP và tăng cường trách nhiệm với mục tiêu chung của toàn doanh nghiệp Có ba cơ sở để xác định giá chuyển giao nội bộ

Dựa vào CP SX: Trong trường hợp này giá sản phẩm chuyển giao được tính bằng

với CP SX sản phẩm Mặc dù việc tính toán này đơn giản dễ thực hiện nhưng có một số hạn chế như:

Trang 37

- Có thể dẫn đến những quyết định sai lầm vì giá sản phẩm chuyển giao theo CP

SX không chỉ rõ khi nào chuyển giao sẽ có lợi nhất và nó ảnh hưởng đến mục tiêu chung của doanh nghiệp như thế nào,

- Không khuyến khích các bộ phận SX kiểm soát CP tốt hơn bởi lẽ tất cả các CP phát sinh dù tiết kiệm hay lãng phí đều được chuyển cho bộ phận sử dụng sản phẩm chuyển giao gánh chịu,

Chỉ có bộ phận tiêu thụ cuối cùng, bộ phận bán sản phẩm cho khách hàng bên ngoài doanh nghiệp mới tính kết quả lãi lỗ Vì vậy, nhà quản trị dễ nhầm lẫn thành quả chỉ do bộ phận cuối cùng này tạo nên hay chỉ có khâu cuối cùng mới quyết định hiệu quả SXKD

Dựa vào giá thỏa thuận: Trong trường hợp này, giá sản phẩm chuyển giao được

xác định như sau:

bán ra ngoài bị thiệt hại

Trong đó VC là biến phí cho mỗi đơn vị sản phẩm Mức phân bổ số dư đảm phí của sản phẩm bán ra ngoài bị thiệt hại đôi khi phải được tiến hành theo sự thỏa thuận giữa bên nhận và bên giao Các thông tin về CP và thị trường có thể được sử dụng trong sự thỏa thuận này, nhưng không đòi hỏi giá chuyển giao được chọn phải

có bất kỳ mối quan hệ đặc biệt nào với các thông tin về CP và thị trường Giá chuyển giao theo sự thỏa thuận được sử dụng trong những trường hợp không có giá thị trường trung gian nào có thể dùng được

Dựa vào giá thị trường: Giá chuyển giao theo giá thị trường được căn cứ vào giá

bán sản phẩm trên thị trường kết hợp với điều kiện cụ thể về tình hình CP, thu nhập của bộ phận thực hiện

Sử dụng giá thị trường để điều hành giá trong quá trình chuyển giao sản phẩm thì tất cả các bộ phận đều cho khả năng thu được LN trên vốn Định giá chuyển giao theo giá thị trường giúp cho nhà quản trị quyết định tốt nhất khi nào chuyển giao đó chính là mức giá thấp nhất chuyển giao từ bộ phận thực hiện sang bộ phận nhận sản phẩm nhưng vẫn đảm bảo mức LN của bộ phận và toàn doanh nghiệp Sử dụng giá

Trang 38

thị trường để xác định giá chuyển giao còn tạo điều kiện cạnh tranh với thị trường của tất cả các bộ phận, giúp cho các bộ phận nhận thức được mức phí hợp lý của mình so với nhu cầu tiêu thụ sản phẩm Đồng thời, đây cũng là một căn cứ đánh giá kết quả của các nhà quản trị để củng cố và hoàn thiện hệ thống KTTN

Vấn đề xác định giá chuyển giao nào giữa các bộ phận trong cùng một doanh nghiệp không phải là việc dễ dàng vì có ảnh hưởng đến thành quả của các TTTN cũng như nhà quản trị trung tâm Tùy theo đặc điểm hoạt động của mỗi doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong ba phương pháp: định giá sản phẩm chuyển giao theo CP SX, theo giá thị trường và theo sự thỏa thuận

1.3 Tổ chức kế toán trách nhiệm ở một số quốc gia và những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam

- KTTN được tổ chức nhằm thu thập, tổng hợp và báo cáo các dữ liệu kế toán có liên quan đến trách nhiệm của từng nhà quản lý riêng biệt trong một tổ chức, thông qua các báo cáo liên quan đến CP, thu nhập và các số liệu hoạt động bởi từng khu vực trách nhiệm hoặc đơn vị trong tổ chức, trên cơ sở có sự phân quyền trong tổ chức, và gắn với quan điểm kiểm soát được về phạm vi của đơn vị mà nhà quản trị được quyền quản lý

- Các công ty thường tổ chức theo bốn TTTN và gắn với các cấp quản lý khác nhau gồm: Các trung tâm CP, trung tâm DT, trung tâm LN và trung tâm đầu tư

- Các công ty thường tiến hành phân loại CP theo mức độ hoạt động để phục vụ cho việc phân tích biến động giữa CP thực tế với CP tiêu chuẩn; từ đó tìm ra nguyên nhân của sự biến động và chỉ ra những nguyên nhân chủ yếu Từ đó đề ra

Trang 39

những biện pháp và những điều chỉnh cần thiết đối với những HĐKD của đơn vị

- Hệ thống báo cáo trách nhiệm được các công ty tổ chức thực hiện khá hoàn hảo Theo đó, trách nhiệm báo cáo gắn với từng TTTN cụ thể thông qua các báo cáo

về tình hình thực hiện kế hoạch đã đề ra, và báo cáo phân tích về sự biến động giữa kết quả thực hiện với kế hoạch, đồng thời tìm ra nguyên nhân tác động đến sự biến động đó

Ngoài ra, theo Trần Văn Tùng (2010) [11], quy trình lập hệ thống báo cáo trách nhiệm của đa số các công ty trên được thực hiện qua 3 bước như sau

Bước 1: Phân chia có cấu tổ chức thành những TTTN, và chuẩn bị dự toán CP, thu nhập cho mỗi TTTN

Bước 2: Đo lường kết quả hoạt động của mỗi TTTN

Bước 3: Chuẩn bị những báo cáo kết quả hoạt động kịp thời, so sánh những lượng thực tế với lượng được dự toán

1.3.2 Tổ chức kế toán trách nhiệm ở các nước Châu Âu

Cũng theo Phạm Văn Dược và cộng sự (2010) và theo Nguyễn Hữu Phú (2014),

kế toán quản trị trong các công ty ở một số nước Châu Âu như Pháp, Đức, Tây Ban Nha … tiêu biểu cho nền kế toán quản trị gắn kết chặt chẽ với quy định của kế toán tài chính, đề cao thông tin kiểm soát nội bộ, và có sự ảnh hưởng đáng kể của Nhà nước trong tiến trình hình thành, phát triển Kế toán quản trị của các nước này cũng được chuyên môn hóa cao và định hướng nội dung kế toán quản trị, với nhu cầu thông tin thực hiện các chức năng quản trị, trong đó đề cao vai trò của các thông tin phục vụ kiểm soát và đánh giá trách nhiệm quản trị của từng nhà quản lý Theo đó KTTN ở các quốc gia Châu Âu cũng đước áp dụng rộng rãi và có những điểm nổi bạt như sau

- Tổ chức KTTN theo một hệ thống kế toán cung cấp thông tin nội bộ để đánh giá những nhà quản lý theo những đối tượng có thể kiểm soát được, và trong cơ cấu

tổ chức bộ máy quản lý đó phải có sự phân quyền rõ ràng

- Mức độ kiểm soát phụ thuộc vào cấp bậc quản lý, và cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý được phân thành những TTTN gắn với từng loại TTTN

Trang 40

- Một TTTN là một điểm trong một tổ chức nơi mà sự kiểm soát thu nhập hay CP được đặt ở đó Các công ty thường tổ chức theo ba kiểu TTTN:

+ Các trung tâm CP: là phân khu của công ty nơi gánh chịu các CP nhưng không tạo ra thu nhập

+ Các trung tâm LN: là một phần của công ty mà có sự kiểm soát cả thu nhập và

CP, nhưng không có sự kiểm soát lên quỹ đầu tư

+ Các trung tâm đầu tư: là nơi mà nhà quản lý có quyền đưa ra các quyết định đầu tư vốn

- Các nhà quản trị thực hiện đánh giá kết quả biểu hiện của các bộ phận thông qua các báo cáo trách nhiệm, như báo cáo thực hiện và báo cáo phân tích gắn trách nhiệm báo cáo với từng TTTN cụ thể Đặc biệt đối với các báo cáo LN bộ phận thì chỉ tiêu CP được phân chia thành biến phí và định phí, nhằm đanh giá phần đóng góp của từng bộ phận vào LN chung của toàn công ty được chính xác hơn

Theo Trần Văn Tùng (2010), quy trình lập hệ thống báo cáo trách nhiệm của đa

số các công ty ở các nước Châu Âu thường được thực hiện qua bốn bước như sau: Bước 1: Cơ cấu tổ chức thành những TTTN

Bước 2: Chuẩn bị dự toán về các chỉ tiêu tài chính và phi tài chính cho mỗi TTTN

Bước 3: Đo lường kết quả hoạt động của mỗi TTTN thông qua hệ thống chỉ tiêu đánh giá nội bộ

Bước 4: Lập hệ thống báo cáo kết quả hoạt động kịp thời, so sánh những lượng thực tế với lượng được dự toán

1.3.3 Kinh nghiệm cho Việt Nam nói chung và cho Công ty TNHH 1TV Lâm Nghiệp Sài Gòn nói riêng

Qua kinh nghiệm tổ chức KTTN ở một số quốc gia, một số bài học được rút ra cho các doanh nghiệp Việt Nam nói chung và Công ty Forimex nói riêng như sau:

- Trước hết cần nhanh chóng tìm hiểu và tổ chức hệ thống KTTN trong các doanh nghiệp Điều này hết sức cần thiết nhằm cung cấp thông tin về kết quả, hiệu quả hoạt động và là công cụ đo lường, đánh giá thành quả của các bộ phận trong

Ngày đăng: 21/05/2021, 17:30

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w