Luận văn tổng hợp các khung lý thuyết về chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên, các nghiên cứu thực nghiệm về chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên và ứng dụng các kết quả này để xây dựng thang đo đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ĐỖ THỊ LY
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY THỦY SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM
ĐỖ THỊ LY
ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY THỦY SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM
Chuyên ngành: Kế Toán
Mã số: 60340301
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS BÙI VĂN DƯƠNG
TP HỒ CHÍ MINH – NĂM 2014
Trang 3Trước tiên tôi xin cám ơn và gửi lời tri ân đến Thầy Bùi Văn Dương đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ, động viên và có những chia sẻ kiến thức rất quý báu trong suốt quá trình thực hiện luận văn tốt nghiệp
Tôi cũng xin chân thành cám ơn các Thầy, Cô trong Bộ môn Kiểm Toán cũng như Khoa
Kế Toán – Tài Chính, trường Đại học Nha Trang đã nhiệt tình hỗ trợ, chia sẻ trong suốt thời gian vừa qua Đặc biệt, tôi xin gửi lời cám ơn sâu sắc đến chị Nguyễn Bích Hương Thảo và những người bạn thân của chị đã hỗ trợ tôi hết mình trong quá trình thu thập dữ liệu cho luận văn Nhân đây tôi xin gửi lời cảm ơn đến quý Thầy, Cô trường Đại học Kinh
tế TP.HCM đã tận tình truyền đạt kiến thức cho tôi trong hai năm học cao học vừa qua
Để đi hết chặng đường học cao học và làm luận văn tốt nghiệp gia đình là điểm tựa cho tôi trong suốt chặng đường đầy gian nan này Bạn bè là nguồn động viên, tiếp sức tôi trong hành trình này, tôi xin gửi lời biết ơn tới bạn Thái Lê Cẩm Tú đã song hành cùng tôi trong thời gian học và thực hiện luận văn
Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến chị Nguyễn Thị Thanh Bình đã giúp đỡ và cung cấp những tài liệu và có những trao đổi thú vị về thị trường chứng khoán rất hữu ích cho luận văn
TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2014
Đỗ Thị Ly
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi và có sự hỗ trợ từ Thầy hướng dẫn Các nội dung nghiên cứu và kết quả trong đề tài này là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất cứ công trình nào
TP Hồ Chí Minh, tháng 9 năm 2014
Đỗ Thị Ly
Trang 5MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục từ viết tắt
Danh mục bảng
PHẦN MỞ ĐẦU 1
1 Sự cần thiết của đề tài 1
2 Tổng quan một số nghiên cứu về công bố thông tin và đo lường chất lượng thông tin trên BCTC và BCTN 3
3 Mục tiêu nghiên cứu 8
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 9
5 Phương pháp luận nghiên cứu 10
6 Ý nghĩa của đề tài và những đóng góp mới 11
7 Kết cấu của luận văn 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 13
1.1 Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết 13
1.1.1 Bản chất và vai trò của báo cáo thường niên 13
1.1.2 Phân loại thông tin trong báo cáo thường niên 15
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo thường niên 17
1.1.4 Mối quan hệ giữa báo cáo thường niên và báo cáo tài chính 19
1.1.5 Hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán 20
1.1.6 Hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị trường chứng khoán tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam22 1.2 Đo lường chất lượng thông tin trên BCTN của công ty niêm yết 25
1.2.1 Chất lượng thông tin trên báo cáo thường niên 25
1.2.2 Đặc điểm chất lượng thông tin 25
1.2.3 Yêu cầu công bố thông tin trên báo cáo thường niên 32
Kết luận chương 1 35
Trang 6CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BCTN CỦA CÁC CÔNG TY THỦY SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG
CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM 36
2.1 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của các công ty ngành thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam 36
2.2 Dữ liệu và phân tích dữ liệu chất lượng thông tin trình bày trên BCTN và nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng BCTN 41
2.2.1 Dữ liệu thứ cấp 41
2.2.2 Dữ liệu sơ cấp 42
2.2.3 Xử lý và phân tích dữ liệu 45
2.3 Thực trạng chất lượng thông tin trình bày trên BCTN của các công ty thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam 46
2.3.1 Đánh giá chất lượng thông tin trình bày trên BCTN của các công ty thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam 46
2.3.2 Kiểm định thang đo bằng hệ số Cronbach Alpha và phân tích EFA 62
2.3.3 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu liên quan 65
2.4 Nhu cầu thông tin trên BCTN của các công ty thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam của các nhóm đối tượng sử dụng 69
2.4.1 Thống kê mô tả 69
2.4.2 Phân tích phương sai Anova 78
2.4.3 So sánh kết quả nghiên cứu với các nghiên cứu liên quan 79
Kết luận chương 2 80
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY THỦY SẢN NIÊM YẾT TRÊN THỊ TRƯỜNG CHỨNG KHOÁN VIỆT NAM81 3.1 Sự cần thiết, nguyên tắc và quan điểm về việc nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCTN của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 81
3.1.1 Sự cần thiết của việc nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCTN 81
3.1.2 Nguyên tắc thực hiện nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCTN 83
3.1.3 Quan điểm về việc nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCTN 84
Trang 73.2 Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên BCTN
của các công ty Thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 86
3.2.1 Cách thức đánh giá chất lượng thông tin 86
3.2.2 Kiến nghị đối với cơ quan chức năng Nhà nước 86
3.2.3 Kiến nghị đối với các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam 89
3.2.4 Kiến nghị đối với các bên liên quan khác 98
Kết luận chương 3 100
KẾT LUẬN 101 Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
BCTC: Báo cáo tài chính
BCTN: Báo cáo thường niên
BCKQKD: Báo cáo kết quả kinh doanh
TMBCTC: Thuyết minh báo cáo tài chính
BCLCTT: Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
TT-BTC: Thông tư bộ tài chính
QĐ-BTC: Quyết định bộ tài chính
TTCK: Thị trường chứng khoán
SGDCK: Sở giao dịch chứng khoán
CTCP: Công ty cổ phần
KSNB: Kiểm soát nội bộ
HĐKD: Hoạt động kinh doanh
Trang 9DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: Thông tin chung về các công ty thủy sản niêm yết trên TTCK VN 36
Bảng 2.2: Một số chỉ tiêu tài chính theo nhóm ngành 39
Bảng 2.3: Đặc điểm chất lượng “Thích hợp” của thông tin trên BCTN 46
Bảng 2.4: Đặc điểm chất lượng “Trình bày trung thực” của thông tin trên BCTN 54
Bảng 2.5: Đặc điểm chất lượng “Dễ hiểu” của thông tin trình bày trên BCTN 56
Bảng 2.6: Đặc điểm chất lượng “Khả năng so sánh” của thông tin trên BCTN 58
Bảng 2.7: Đặc điểm chất lượng “Kịp thời” của thông tin trên BCTN 60
Bảng 2.8: Điểm chất lượng thông tin trình bày trên BCTN 61
Bảng 2.9: Điểm chất lượng thông tin trình bày trên BCTN sau khi phân tích EFA 64
Bảng 2.10: Thống kê nhu cầu về các báo cáo cần bổ sung vào BCTN 73
Trang 10PHẦN MỞ ĐẦU
1 Sự cần thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, Việt Nam được biết đến như một quốc gia với tỷ lệ tăng trưởng kinh tế tương đối cao so với các quốc gia khác trong khối các nước ASEAN Điều này mang đến cả cơ hội cũng như thách thức cho các doanh nghiệp Việt Nam Nhờ có toàn cầu hóa mà các doanh nghiệp Việt Nam đã có cơ hội gia tăng vốn kinh doanh thông qua các khoản đầu tư không chỉ của các nhà đầu tư trong nước mà còn cả các nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các công ty niêm yết Ngoài ra, xu hướng hội tụ
và đồng nhất các chuẩn mực kế toán và kiểm toán trên thế giới đã giúp cho Việt Nam tiếp cận được với Các Nguyên tắc kế toán chung được chấp nhận (GAAP), Các Chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế (IFRS), Các chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) cũng như kinh nghiệm của một số quốc gia có điều kiện kinh tế tương đồng Mặc dù vậy, một trong những thách thức đó là các báo cáo tài chính được yêu cầu phải cung cấp nhiều thông tin hữu ích hơn cho người sử dụng thông tin, đặc biệt là đối tượng bên ngoài doanh nghiệp (đa phần trong số họ là các nhà đầu tư và các nhà phân tích)
Thông tin là hữu ích khi thông tin đó đảm bảo các yêu cầu đặc điểm định tính cơ bản (thích hợp, trung thực) và nâng cao (khả năng so sánh, kiểm chứng, kịp thời, dễ hiểu)
theo qui định trong dự thảo chuẩn mực chung “Khuôn khổ của việc lập trình bày
BCTC” do Bộ Tài Chính ban hành ngày 3/10/2013, sẽ có hiệu lực từ 01/01/2015
Trước đó, theo qui định trong chuẩn mực chung (VAS01) khi thực hiện công tác kế toán thì người làm kế toán và đơn vị phải tuân thủ các yêu cầu cơ bản đối với kế toán (trung thực, khách quan, đầy đủ, kịp thời, dễ hiểu, có thể so sánh được) Ngoài ra thông tin công bố trên thị trường chứng khoán Việt Nam phải tuân thủ các qui định về
công bố thông tin được ban hành trong thông tư 52/2012/TT-BTC “Hướng dẫn về
việc công bố thông tin trên thị trường chứng khoán” Như vậy, có thể thấy khung
pháp lý liên quan đến thông tin công bố trên thị trường chứng khoán đã và đang được các cơ quan Nhà nước và các đối tượng có liên quan quan tâm nhiều hơn nhất là trong bối cảnh khi mà Việt Nam đã gia nhập WTO mang theo các cơ hội và thách thức đối với các doanh nghiệp nhất là về nguồn vốn hoạt động Tuy nhiên, thực trạng về công
bố thông tin của các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong những năm gần đây bộc lộ nhiều hạn chế, thông tin cung cấp thiếu chính xác từ
Trang 11đó gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến các đối tượng sử dụng thông tin phục vụ cho việc
ra quyết định và ảnh hưởng chung đến hiệu quả của nền kinh tế
Ngành thủy sản Việt Nam đóng một vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế đất nước Quy mô của ngành thủy sản ngày càng mở rộng và vai trò của ngành thủy sản cũng tăng lên không ngừng trong nền kinh tế quốc dân Trên thế giới, ước tính có khoảng 150 triệu người sống phụ thuộc hoàn toàn hay một phần vào ngành thủy sản Ngành thủy sản được coi là ngành có thể tạo ra nguồn ngoại tệ lớn cho nhiều nước, trong đó có Việt Nam Xuất khẩu thủy sản của Việt Nam đã trở thành hoạt động có vị trí quan trọng trong nền kinh tế, kim ngạch xuất khẩu gia tăng hàng năm đưa chế biến thủy sản trở thành một ngành công nghiệp hiện đại, đủ năng lực hội nhập, cạnh tranh quốc tế và đã dành vị trí thứ 10 trong số các nước xuất khẩu hàng đầu trên thế giới Thị trường quốc tế mở rộng mang theo các cơ hội cho các doanh nghiệp thủy sản nhất
là trong việc thu hút nguồn vốn, vì một trong những đặc thù của doanh nghiệp chế biến thủy sản là cần nhiều vốn đặc biệt là vốn lưu động để thu mua nguyên liệu, do đó các doanh nghiệp ngành thủy sản phải sử dụng khá nhiều nợ vay Phương tiện để kết nối giữa doanh nghiệp và các nhà đầu tư đó chính là thị trường chứng khoán, các doanh nghiệp niêm yết trên thị trường chứng khoán với mục tiêu chính là tiếp cận nguồn vốn từ các đối tượng khác Thông tin công bố trên hệ thống các báo cáo do doanh nghiệp cung cấp là một yếu tố then chốt ảnh hưởng đến quyết định đầu tư và do
đó chất lượng thông tin công bố trên hệ thống các báo cáo là vấn đề cần được sự quan tâm của bản thân các doanh nghiệp cung cấp thông tin cũng như các bên sử dụng thông tin
Nghiên cứu về chất lượng thông tin công bố trên BCTC cũng đã được thực hiện khá nhiều, tuy nhiên, đo lường chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty niêm yết là chủ đề chưa có nhiều nghiên cứu công bố và cần được nghiên cứu nhất là trong bối cảnh khi chuẩn mực kế toán Việt Nam đang có những thay đổi
để hài hòa và tiến tới hội tụ với thông lệ quốc tế Xuất phát từ những phân tích trên tác
giả quyết định lựa chọn đề tài “Đánh giá chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” để làm luận văn cao học
Trang 122 Tổng quan một số nghiên cứu về công bố thông tin và đo lường chất lượng thông tin trên BCTC và BCTN
2.1 Nghiên cứu ở nước ngoài về công bố thông tin trên BCTC và BCTN
Nghiên cứu về công bố thông tin trên BCTC đã được thực hiện với các chủ đề như tính hữu ích cho việc ra quyết định và sử dụng giá trị hợp lý; công bố thông tin về rủi
ro; báo cáo kiểm toán; đánh giá chất lượng thông tin (phụ lục 2, bảng 01) có điểm
chung là đều đánh giá chất lượng thông tin trên báo cáo tài chính nhưng theo từng khía cạnh chưa đánh giá toàn diện
Nghiên cứu về công bố thông tin trên BCTN và đo lường chất lượng thông tin trên BCTN đã được thực hiện trong một số nghiên cứu trong đó đưa ra phương pháp đo lường chất lượng thông tin theo các đặc điểm của thông tin tài chính hữu ích
Nghiên cứu của Ferdy van Beest và cộng sự (2009)
Nhóm tác giả đã xây dựng một công cụ đo lường kép để đánh giá toàn diện chất lượng của báo cáo tài chính với các đặc điểm định tính cơ bản về chất lượng (thích hợp, trình bày trung thực) và các đặc điểm định tính nâng cao (dễ hiểu, có thể so sánh được và
có thể kiểm tra được, kịp thời) theo định nghĩa trong “Khung lý thuyết hoàn thiện cho báo cáo tài chính” của FASB và IASB (2008) Nhóm tác giả đã xây dựng 21 mục hỏi
đo lường xem xét các báo cáo thuộc về tài chính đáp ứng những đặc điểm định tính riêng biệt và kết hợp đến mức độ như thế nào
Nhóm tác giả sử dụng 231 báo cáo thường niên của các công ty niêm yết tại Mỹ, Anh
và Hà Lan trong năm 2005 và 2007 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng các công cụ đo lường đánh giá chất lượng của các báo cáo thuộc về tài chính là hợp lệ và đáng tin cậy Với kết quả nghiên cứu đã khẳng định phương pháp đo lường chất lượng dựa trên khái niệm là thích hợp để đánh giá toàn diện chất lượng thông tin
Nghiên cứu của Geert Braam và Ferdy van Beest (2013)
Nghiên cứu khám phá dựa trên khuôn mẫu lý thuyết các tác giả xây dựng 33 mục chỉ
số đo lường chất lượng nhằm mục đích đo lường tính hữu ích cho các quyết định với các đặc điểm định tính cơ bản và nâng cao tuyên bố trong khuôn mẫu lý thuyết của IASB (2010) Mẫu nghiên cứu bao gồm 70 báo cáo thường niên của Anh và 70 báo cáo thường niên theo mẫu 10-K của Mỹ trong năm 2010, các kết quả của kiểm định cho thấy rằng đa số những mục hỏi này, được dựa trên các mục hỏi được sử dụng
Trang 13trong các nghiên cứu trước đây, có thể được đo lường một cách đáng tin cậy Đồng thời, kết quả phân tích nhân tố khám phá chỉ ra rằng các đặc điểm tịnh tính theo IASB không thể được đo lường riêng biệt khi 33 chỉ số mục hỏi được sử dụng Đo lường chất lượng thông tin phải có sự kết hợp đánh giá các đặc điểm định tính
Nghiên cứu của Deema A.M Kallob (2013)
Nghiên cứu này đo lường chất lượng các báo cáo thuộc về tài chính của các ngân hàng
ở Palestine bằng cách sử dụng 33 câu hỏi đo lường chất lượng được xây dựng bởi Geert Braam và Ferdy van Beest (2013) Tổng số ngân hàng trong mẫu là 6 ngân hàng, dữ liệu sử dụng là các báo cáo thuộc về tài chính của các ngân hàng ở Palestine trong khoảng thời gian từ 2006 đến 2011
Kết quả nghiên cứu về các đặc điểm định tính cơ bản được phản ánh trong báo cáo thuộc về tài chính của ngành ngân hàng hoạt động tại Gaza với đặc điểm định tính cơ bản tính thích hợp được phản ánh trong báo cáo tài chính khu vực ngân hàng là 60.6%
và đặc điểm định tính cơ bản trình bày trung thực được phản ánh trong báo cáo thuộc
về tài chính của khu vực ngân hàng là 71.6%
Các đặc điểm định tính nâng cao phản ánh trong báo cáo thuộc về tài chính của khu vực ngân hàng hoạt động tại Gaza như sau cho từng đặc điểm định tính: có thể hiểu được được phản ánh trong báo cáo tài chính của khu vực ngân hàng là 62.4%; đặc điểm định tính nâng cao có thể so sánh được được phản ánh trong báo cáo thuộc về tài chính của khu vực ngân hàng là 51.8%; đặc điểm định tính nâng cao tính kịp thời được phản ánh trong báo cáo tài chính khu vực ngân hàng là 98.4% Dựa trên kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra kiến nghị nhằm góp phần gia tăng chất lượng các báo cáo thuộc về tài chính trong lĩnh vực ngân hàng ở Palestine
Nghiên cứu của Raida Chakroun và Khaled Hussainey (2013)
Nghiên cứu này khám phá chất lượng công bố thông tin và xác định các yếu tố ảnh hưởng trong bối cảnh Tuy ni di Cụ thể hơn, một mặt các tác giả làm theo phương pháp tiếp cận của Beest và Braam (2013) đo lường chất lượng công bố thông tin và mặt khác kiểm tra công bố thông tin về mặt số lượng và các yếu tố ảnh hưởng
Các tác giả sử dụng 56 báo cáo thường niên từ các công ty phi tài chính niêm yết trên thị trường chứng khoán Tuy-ni-di cho năm 2007 và 2008 Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng hội đồng quản trị độc lập (quyền sở hữu) ảnh hướng ngược chiều tới chất
Trang 14lượng công bố thông tin Tuy nhiên, kết quả nghiên cứu cũng cho thấy các yếu tố quyết định chất lượng công bố thông tin và số lượng thông tin công bố thông tin là khác nhau
2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về công bố thông tin trên BCTC và BCTN
Tính đến thời điểm này các nghiên cứu được thực hiện liên quan đến chủ đề công bố thông tin trên thị trường chứng khoán ở Việt Nam chủ yếu là công bố thông tin trên hệ thống báo cáo tài chính bao gồm các hướng: công bố thông tin nói chung , công bố thông tin xét theo các đặc điểm của thông tin hữu ích hay chất lượng thông tin kế toán trên hệ thống BCTC của các doanh nghiệp niêm yết (phụ lục 2: bảng 02, 03, 04) Nghiên cứu về công bố thông tin trên BCTN dường như còn khá mới mẻ nhất là trong bối cảnh hệ thống chuẩn mực kế toán cũng như khung pháp lý quy định về công bố thông tin trên TTCK ở Việt Nam đang có những chỉnh sửa để phù hợp với thông lệ quốc tế
Nghiên cứu của Lê Thị Tú Oanh (2012) với đề tài “ Hoàn thiện hệ thống báo cáo
thường niên trong các công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam” là nghiên cứu
đầu tiên ở Việt Nam về vấn đề công bố thông tin trên báo cáo thường niên của các doanh nghiệp niêm yết thị trường chứng khoán
Phương pháp nghiên cứu được Lê Thị Tú Oanh (2012) sử dụng là điều tra, phân nhóm, lấy ý kiến chuyên gia và nhà đầu tư, từ đó tổng hợp, phân tích, đánh giá chỉ rõ tồn tại, thành công của hệ thống báo cáo thường niên hiện tại và đề xuất giải pháp hoàn thiện hệ thống BCTN
Lê Thị Tú Oanh (2012) đã tiến hành khảo sát BCTN từ năm 2007 đến năm 2010 của
40 công ty cổ phần niêm yết trên TTCK Việt Nam nhằm đánh giá BCTN về số lượng, chất lượng, hình thức và cách thức, thời gian công bố thông tin Từ đó đưa ra nhận xét
về thực trạng thông tin trên BCTN của các công ty cổ phần niêm yết so với quy định công bố thông tin trong Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18 tháng 4 năm 2007 và Thông tư 09/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 01 năm 2010 của BTC
Đồng thời với việc khảo sát Lê Thị Tú Oanh (2012) còn tiến hành khảo sát ý kiến đánh giá về BCTN thông qua phiếu điều tra khảo sát dành cho các đối tượng: nhà đầu
tư, chuyên gia (giảng viên, người môi giới, kiểm toán viên) và công ty cổ phần niêm yết Khảo sát thu được 121 phiếu hợp lệ, trong đó nhà đầu tư chiếm 64% chuyên gia
Trang 15chiếm 23% và công ty cổ phần niêm yết chiếm 13% Các đối tượng khảo sát có trình
độ chủ yếu là thạc sĩ chiếm 45%, đại học chiếm 39% còn tiến sĩ chiếm 16%
Kết quả nghiên cứu Lê Thị Tú Oanh (2012) cho thấy công bố thông tin trên BCTN bên cạnh các kết quả đạt được thì còn nhiều hạn chế cần khắc phục như: các nội dung
cơ bản còn thiếu hoặc sơ sài; cách trình bày còn chưa đồng nhất, lộn xộn thứ tự, khó
để tìm kiếm thông tin chi tiết giữa các DN; các thông tin còn trùng lặp nhiều trong nội dung giữa các báo cáo chi tiết; nhiều thông tin còn chưa đồng nhất, khó so sánh giữa các DN với nhau Các chỉ tiêu phân tích tài chính còn thiếu tính thống nhất giữa các BCTN; Các thông tin còn nặng tính quảng bá cho doanh nghiệp, chỉ tập trung làm nổi bật tính tích cực mà không đề cập đến các xu hướng không khả quan xảy ra,…
Như vậy có thể thấy nghiên cứu của Lê Thị Tú Oanh (2012) đã đạt được những thành công nhất định như: phân tích, tổng hợp đưa ra các đánh giá chung về ưu điểm, hạn chế trong BCTN hiện hành của các công ty cổ phần niêm yết dựa trên khảo sát thực trạng BCTN của các công ty cổ phần niêm yết cùng với các đánh giá từ phía người sử dụng và đã đề xuất các giải pháp hoàn thiện BCTN cũng như đã đưa ra các kiến nghị đối với Nhà nước và các công ty cổ phần niêm yết để thực hiện được các giải pháp hoàn thiện hệ thống BCTN Tuy nhiên, nghiên cứu của Lê Thị Tú Oanh (2012) chủ yếu là thống kê mô tả số lượng thông tin công bố trên BCTN của các công ty niêm yết cũng như cảm nhận của đối tượng sử dụng là nhà đầu tư và chuyên gia Và hệ thống BCTN được nghiên cứu trong khoảng thời gian này có biểu mẫu, nội dung cũng như thời gian công bố theo quy định của Thông tư số 38/2007/TT-BTC ngày 18 tháng 4 năm 2007 và Thông tư số 09/2010/TT-BTC ngày 15 tháng 01 năm 2010 của BTC, hiện nay những thông tư này đã được thay thế bằng Thông tư số 52/2012/TT-BTC ngày 5 tháng 4 năm 2012 của BTC
Nghiên cứu của Tạ Quang Bình (2012), với đề tài “Công bố thông tin tự nguyện trên
báo cáo thường niên của các công ty phi tài chính niêm yết: trường hợp của Việt Nam” Nghiên cứu này là của tác giả nước ngoài thực hiện cho trường hợp của TTCK
của Việt Nam Nghiên cứu đã chỉ ra khoảng cách giữa quan điểm của các chuyên gia phân tích tài chính và các nhà quản lý tài chính về công bố thông tin với khả năng đáp ứng của thông tin sẵn có trên các BCTN của các công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK Việt Nam Khảo sát BCTN của 199 công ty phi tài chính niêm yết trên TTCK
Trang 16Việt Nam trong năm 2009, kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng cả hai đối tượng là chuyên gia phân tích tài chính và các nhà quản lý tài chính đều đồng ý về mức độ quan trọng của các mục thông tin, và doanh nghiệp cần cung cấp nhiều thông tin hơn trên BCTN để đáp ứng nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng thông tin Kết quả nghiên cứu cũng tìm thấy mức độ công bố thông tin về nguồn nhân lực công ty là thấp
ở các quốc gia đang phát triển như ở Việt Nam cũng tương tự như các quốc gia phát triển như Nhật Bản, hay Ailen bởi vì các dữ liệu và nguồn nhân lực rất khó lưu trữ Các kết quả nghiên cứu có lẽ là hữu ích cho những đối tượng quan tâm xếp hạng chất lượng BCTN của các công ty ở Việt Nam giúp cho những đối tượng sử dụng thông tin trên BCTN đưa ra các quyết định đầu tư tốt và kịp thời dựa trên nguồn dữ liệu chính xác và luôn được cập nhật trên BCTN
Nghiên cứu của Lê Trường Vinh (2008), “Minh bạch thông tin các doanh nghiệp
niêm yết tại Sở giao dịch chứng khoán TP.HCM” Tác giả tập trung vào giải quyết
những vấn đề đặt ra như sau: (1) nhà đầu tư cá nhân đánh giá mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết trên thị trường ở mức nào? (2) các yếu tố nào ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu
tư cá nhân? (3) tầm quan trọng của các yếu tố có ảnh hưởng đến mức độ minh bạch thông tin của các công ty niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư cá nhân?
Để trả lời những câu hỏi nghiên cứu trên Lê Trường Vinh (2008) dựa trên mô hình nghiên cứu của Stephen Yan Leung Cheung (Trường Đại học HongKong), J.Thomas Connelly (Khoa thương mại và kế toán, trường đại học Chulalongkorn – Thái Lan), Piman Limpaphayom (Trường đại học Chulalongkorn – Thái Lan), Lynda Zhou (Trường đại học HongKong) đưa ra 5 biến về đặc điểm tài chính kiểm định và bảng câu hỏi khảo sát tính minh bạch thông tin của công ty đang niêm yết trên SGDCK TP.HCM tại Việt Nam Trong đó 5 biến ảnh hưởng như quy mô công ty, lợi nhuận, tài sản cố định, nợ phải trả, vòng quay tổng tài sản (biến nguyên nhân) được thu thập từ nguồn dữ liệu thứ cấp là các thông tin từ bảng BCTN đã được công bố và lưu trữ tại SGDCK TP.HCM Biến minh bạch (biến kết quả) được thu thập từ nguồn dữ liệu sơ cấp là các thông tin thu thập từ bảng câu hỏi khảo sát các nhà đầu tư cá nhân trên thị trường tại TP.HCM Kích thước mẫu của nghiên cứu chính thức gồm 30 doanh nghiệp
Trang 17đang niêm yết tại SGDCK TP.HCM, mức độ minh bạch thông tin của từng công ty niêm yết được đánh giá bởi 20 nhà đầu tư cá nhân
Phương pháp đo lường và tính toán Lê Trường Vinh (2008) sử dụng để tính điểm minh bạch thông tin được thực hiện qua hai bước Từ nguồn dữ liệu sơ cấp – các thông tin thu thập được qua những cuộc khảo sát từ bảng câu hỏi, dữ liệu được nhập vào chương trình thống kê SPSS Từ các biến quan sát gốc này, tác giả sử dụng phân tích nhân tố khám phá kết hợp với Cronbach Alpha để loại bớt các biến quan sát không có ý nghĩa trong việc đo lường mức độ minh bạch thông tin tốt, tác giả lại tiếp tục sử dụng phân tích nhân tố để tổng hợp các biến quan sát thành biến tổng hợp phản ánh mức độ tin cậy của tính minh bạch thông tin của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư Tiếp theo, từ tập biến quan sát đã được tổng hợp theo mức độ cảm nhận về minh bạch thông tin theo cảm nhận của các nhà đầu tư, tác giả tính mức
độ minh bạch của từng doanh nghiệp niêm yết được khảo sát bằng cách lấy trung bình cộng mức độ minh bạch của 20 nhà đầu tư trả lời cho từng mã doanh nghiệp niêm yết,
và coi mức độ trung bình này đại diện cho mức độ minh bạch của doanh nghiệp niêm yết theo cảm nhận của nhà đầu tư trên thị trường Các mức độ trung bình này được ghép vào dữ liệu của 5 biến nguyên nhân trong mô hình để thực hiện việc kiểm định
mô hình nghiên cứu bằng phương pháp tương quan và hồi qui
Như vậy các nghiên cứu về công bố thông tin cũng như chất lượng thông tin chủ yếu được thực hiện liên quan đến BCTC còn chủ đề về BCTN còn ít kết quả nghiên cứu được công bố tính đến thời điểm hiện tại Trên cơ sở kế thừa và tiếp cận các nghiên cứu nước ngoài về đo lường chất lượng thông tin trình bày trên BCTN từ đó tác giả điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh nghiên cứu ở Việt Nam Thang đo được sử dụng trong đánh giá chất lượng BCTN của nghiên cứu này căn cứ trên nghiên cứu của Beest và Braam (2013)
3 Mục tiêu nghiên cứu
3.1 Mục tiêu tổng quát
Đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam theo các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích Căn cứ trên kết quả nghiên cứu về thực trạng chất lượng thông tin công bố trên BCTN và nhu cầu thông tin của đối tượng sử dụng BCTN làm
Trang 18cơ sở để đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty Thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
3.2 Mục tiêu cụ thể
Dựa trên mục tiêu tổng quát, các mục tiêu cụ thể được thực hiện như sau:
Mục tiêu thứ 1: Luận văn căn cứ vào khung lý thuyết về công bố thông tin trên
BCTN, lý thuyết về tính hữu ích của thông tin tài chính và các nghiên cứu thực nghiệm trong nước, nước ngoài để xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng thông tin công bố trên BCTN của các công ty ngành Thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam đồng thời xác định nhu cầu thông tin của các đối tượng sử dụng BCTN
Mục tiêu thứ 2: Từ kết quả mục tiêu 1, tác giả sẽ đề xuất các kiến nghị nhằm nâng
cao chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới
3.3 Câu hỏi nghiên cứu:
Để đáp ứng các mục tiêu cụ thể đặt ra nêu trên, các câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết như sau:
Câu hỏi 1: Thực trạng chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các
công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam hiện nay như thế nào? Nhu cầu thông tin trên BCTN của các nhóm đối tượng sử dụng ?
Câu hỏi 2: Các kiến nghị nào có thể giúp nâng cao chất lượng thông tin công bố trên
báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong thời gian tới?
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản nhất về chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Luận văn sử dụng thông tin trên các báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên của 20 doanh nghiệp thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam trong năm 2013 Với số liệu khảo sát nhóm đối tượng
sử dụng thông tin của BCTN luận văn tập trung vào các đối tượng làm việc trong lĩnh vực tài chính – ngân hàng, kế toán - kiểm toán Phạm vi khảo sát là ở TP.HCM, Khánh Hòa và An Giang, Đồng Nai
Trang 195 Phương pháp luận nghiên cứu
5.1 Cơ sở lý thuyết
Với những mục tiêu nghiên cứu đã đặt ra như trên, luận văn vận dụng cơ sở lý thuyết
về chất lượng thông tin theo các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích theo khuôn mẫu lý thuyết của IASB (2010) và FASB (2010) cũng như bản dự thảo
chuẩn mực chung của Việt Nam “Khuôn khổ của việc lập, trình bày báo cáo tài
chính” (ban hành ngày 03/10/2013 và sẽ có hiệu lực từ ngày 01/01/2015) và kết quả
nghiên cứu thực nghiệm của các tác giả trong và ngoài nước để xây dựng thang đo đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
5.2 Qui trình nghiên cứu
Nhằm trả lời các câu hỏi và đáp ứng các mục tiêu nghiên cứu, luận văn sử dụng các phương pháp bao gồm nghiên cứu định tính (thống kê mô tả, phân tích so sánh, đánh giá) và phương pháp nghiên cứu định lượng để kiểm định thang đo sử dụng trong nghiên cứu cũng như xác định các thông tin thực sự tác động tới chất lượng thông tin Quy trình thực hiện nghiên cứu được thực hiện qua các bước sau:
Bước 1: Tổng hợp, mô tả, đánh giá các lý thuyết và các bằng chứng thực nghiệm của
các tác giả trước đây về đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên theo các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích
Bước 2: Xây dựng thang đo đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo
thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam thông qua các đặc điểm định tính cơ bản (thích hợp, trung thực) và các đặc điểm định
tính nâng cao (dễ hiểu, có thể so sánh được, kịp thời) dựa trên các đo lường của Beest
& Braam (2013)
Bước 3: Điều chỉnh thang đo đánh giá chất lượng công bố thông tin trên BCTN và
xây dựng phiếu khảo sát ý kiến đánh giá của đối tượng sử dụng thông tin của BCTN
theo kết quả nghiên cứu của Lê Thị Tú Oanh (2012), Tạ Quang Bình (2012) và kết quả
nghiên cứu định tính thảo luận cùng các chuyên gia
Bước 4: Khảo sát ý kiến đánh giá chất lượng thông tin công bố trên BCTN của các
công ty ngành Thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam và khảo sát nhu cầu thông tin trên BCTN của các nhóm đối tượng sử dụng
Trang 20Bước 5: Phân tích thực trạng chất lượng thông tin công bố trên BCTN của các công ty
ngành Thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam đồng thời đánh giá các ý kiến của các nhóm đối tượng sử dụng thông tin trên BCTN
Bước 6: Kết luận và kiến nghị căn cứ trên các kết quả ở bước 5
5.3 Nguồn số liệu và phương pháp thu thập số liệu
- Dữ liệu thứ cấp: BCTC đã kiểm toán và BCTN của các công ty ngành Thủy sản niêm yết trên TTCK Việt Nam được thu thập từ website của các công ty chứng khoán và website riêng của công ty
- Dữ liệu sơ cấp: Đánh giá chất lượng công bố thông tin trên BCTN và ý kiến đánh giá của đối tượng sử dụng được thu thập thông qua khảo sát phát bảng câu hỏi trực tiếp, email và phỏng vấn trực tiếp
5.4 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu
Nghiên cứu đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên, luận văn
sử dụng phần mềm Microft Excel để nhập số liệu thô và sử dụng phần mềm SPSS 20.0 để phân tích số liệu với các thủ tục phân tích như: đánh giá thang đo bằng Cronbach’s alpha, phân tích nhân tố khám phá (EFA), phân tích mô tả và kiểm định
sự khác biệt ý kiến giữa các nhóm đối tượng (phân tích Anova)
6 Ý nghĩa của đề tài và những đóng góp mới
Về mặt lý thuyết: Luận văn tổng hợp các khung lý thuyết về chất lượng thông tin
công bố trên báo cáo thường niên, các nghiên cứu thực nghiệm về chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên và ứng dụng các kết quả này để xây dựng thang
đo đánh giá chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam Phương pháp đo lường chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo thường niên sử dụng trong nghiên cứu này được
kế thừa từ nghiên cứu của Beest và Braam (2013) là điểm mới trong nghiên cứu của
tác giả so với các nghiên cứu trước đây ở Việt Nam
Về mặt thực tiễn: Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn trên các mặt sau đây:
(1) Giúp cho các nhà quản trị ở các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán nhìn nhận đầy đủ hơn về vai trò của chất lượng thông tin công bố trên báo cáo thường niên cũng như vai trò ý nghĩa của báo cáo thường niên;
Trang 21(2) Kết quả nghiên cứu của luận văn còn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên cao học và các đối tượng quan tâm chuyên ngành kế toán - kiểm toán, tài chính – ngân hàng
(3) Kết quả nghiên cứu cũng là cơ sở để chỉ ra cách thức đánh giá chất lượng thông tin theo các đặc điểm chất lượng của thông tin tài chính hữu ích Khi đánh giá chất lượng thông tin theo các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích thì phải có sự kết hợp đánh giá thông tin theo các đặc điểm theo hai nhóm đặc điểm định tính cơ bản và đặc điểm định tính nâng cao Điều này là hữu ích đối với các đối tượng sử dụng thông tin trên BCTN phục vụ cho các quyết định đầu tư như ngân hàng, các chuyên gia phân tích, nhà đầu tư…Thêm vào đó kết quả nghiên cứu cũng chỉ ra rằng nhu cầu thông tin của các nhóm đối tượng sử dụng thông tin là khác nhau tuy nhiên giữa các nhóm này cũng có những điểm tương đồng trong nhu cầu thông tin cần bổ sung vào BCTN (4) Kết quả nghiên cứu cũng đưa ra những kiến nghị góp phần nâng cao chất lượng thông tin trên báo cáo thường niên của các công ty ngành thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Điều này góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường chứng khoán, giảm bớt phần nào tình trạng bất cân xứng thông tin trên thị trường
7 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn có kết cấu gồm 03 chương như sau:
Chương 1: Tổng quan về chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo thường niên của các công ty niêm yết
Chương 2: Đánh giá chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Chương 3: Một số kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng thông tin trình bày trên báo cáo thường niên của các công ty thủy sản niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam
Trang 22CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ CHẤT LƯỢNG THÔNG TIN TRÌNH BÀY TRÊN BÁO CÁO THƯỜNG NIÊN CỦA CÁC CÔNG TY NIÊM YẾT 1.1 Báo cáo thường niên của các công ty niêm yết
1.1.1 Bản chất và vai trò của báo cáo thường niên
Bản chất của Báo cáo thường niên (BCTN)
Theo từ điển Tài chính và Đầu tư: BCTN được soạn thảo để cung cấp cho cổ đông về
tình hình hoạt động và tình hình tài chính của công ty Ngoài các thông tin về những kết quả đạt được trong năm báo cáo thì trên BCTN còn trình bày các hình ảnh, lịch sử hoạt động của công ty BCTN bao gồm: Tình hình tài chính nổi bật; Thư gửi cổ đông; Hình ảnh về công ty; Thảo luận và phân tích cuả nhà quản trị; BCTC; Báo cáo kiểm toán; Tóm tắt thông tin về tình hình tài chính; Thông tin chung về công ty
Theo từ điển Kế toán Barron: BCTN được các công ty soạn thảo khi kết thúc năm tài
chính BCTN bao gồm các nội dung: BCTC; Thuyết minh BCTC; Thảo luận và phân tích của nhà quản trị; Báo cáo kiểm toán và các thông tin khác hữu ích trong việc đánh giá tình hình tài chính và tình hình hoạt động của chủ thể báo cáo BCTN được cung cấp cho cổ đông hiện hữu, các nhà đầu tư tiềm năng, chủ nợ, nhân viên của công ty,
cơ quan quản lý nhà nước và các đối tượng quan tâm khác
Lê Thị Tú Oanh (2012) nhận định về BCTN : BCTN là báo cáo phản ánh, đánh giá,
phân tích tình hình tài chính và kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một quá trình hoạt động, đặc biệt là năm báo cáo Cùng với các thông tin định lượng phản ánh tình hình tài chính và kết quả kinh doanh, BCTN còn bao gồm rất nhiều các thông tin không định lượng được như tuyên bố về sứ mệnh của doanh nghiệp, chiến lược phát triển, thông tin về sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp, các giải trình của nhà quản trị, báo cáo kiểm toán,…làm cho người sử dụng hiểu rõ hơn về hoạt động cũng như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp Ngoài ra, BCTN còn là công cụ hữu hiệu trong giới thiệu, quảng bá hình ảnh của doanh nghiệp
Như vậy, BCTN cung cấp thông tin về doanh nghiệp một cách toàn diện nhất giúp cho
người sử dụng thông tin chủ yếu là các đối tượng bên ngoài có cơ sở để đưa các quyết định kinh tế tối ưu nhất
Vai trò của báo cáo thường niên:
Cung cấp thông tin định hướng phát triển của doanh nghiệp
Trang 23BCTN cung cấp thông tin về những kết quả đạt được trong năm của doanh nghiệp bên cạnh đó là các thông tin về chiến lược, thị trường, sản phẩm chủ lực, các dự án sắp triển khai, Những thông tin này rất hữu ích và rất được quan tâm trên BCTN Để đưa
ra đánh giá về doanh nghiệp và quyết định đầu tư hay hạn mức tín dụng cho doanh nghiệp thì thông tin về những kết quả đã đạt được chỉ là một căn cứ bên cạnh đó thông tin về tương lai dường như là rất quan trọng Chính những thông tin về tương lai giúp
dự đoán về khả năng tạo ra tiền trong tương lai cũng như dự đoán về kết quả mà doanh nghiệp có thể đạt được
Cung cấp thông tin tài chính đáng tin cậy
BCTN được lập theo qui định của nhà nước Trong BCTN bao gồm BCTC đã được kiểm toán và các thông tin tài chính mà doanh nghiệp cung cấp trong BCTN không được khác biệt so với BCTC đã kiểm toán Điều này gia tăng độ tin cậy cho các thông tin tài chính trên BCTN, các thông tin không được kiểm toán được cung cấp kèm theo nhằm làm phong phú thêm thông tin trên BCTN và thu hút sự quan tâm của đối tượng
sử dụng chính ở những thông tin mà doanh nghiệp công bố tự nguyện
Cung cấp thông tin bổ sung về doanh nghiệp
Ngoài các thông tin tài chính được cung cấp trên BCTC một bộ phận rất quan trọng trong BCTN thì nhà đầu tư cũng như các đối tượng sử dụng còn cần các thông tin khác về doanh nghiệp như sản phẩm dịch vụ mà doanh nghiệp đang cung cấp, thông tin về thị trường, thông tin về cổ phiếu,…Chính những thông tin này sẽ giúp đánh giá
về công ty một cách sát thực nhất, thông tin càng đầy đủ và phong phú thì sẽ nhận được sự quan tâm và đánh giá cao của các đối tượng sử dụng thông tin
Thể hiện mối quan hệ với công chúng
Trên BCTN cũng có những thông tin về các hoạt động thể hiện trách nhiệm của doanh nghiệp với cộng đồng và môi trường Hiện nay thông tin này đang được các công ty chú ý công bố trên BCTN vì mục tiêu phát triển bền vững thì các công ty không thể tách rời hoạt động của mình ra khỏi cộng đồng và bảo vệ môi trường là trách nhiệm tất yếu Khi so sánh giữa một công ty có các chính sách thể hiện trách nhiệm với cộng đồng, môi trường và một công ty không quan tâm tới hoạt động này thì chắc chắn nhà
Trang 24đầu tư và cũng như các nhà cung cấp vốn cho doanh nghiệp sẽ có những đánh giá khác nhau và ảnh hưởng đến quyết định cung cấp vốn cho doanh nghiệp Đặc biệt đối với các doanh nghiệp niêm yết trách nhiệm cộng đồng còn thể hiện trong việc công bố các thông tin về doanh nghiệp tới các đối tượng có liên quan một cách minh bạch và trung thực nhất, vì chính điều này sẽ có ảnh hưởng đến hiệu quả của các quyết định đầu tư và gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả của thị trường vốn cũng như của nền kinh
tế quốc gia
Thể hiện hình ảnh của doanh nghiệp
Nội dung của BCTN được qui định trong các văn bản của nhà nước, còn cách trình bày do các doanh nghiệp soạn thảo Hiện nay một số doanh nghiệp đã chú ý đến BCTN coi đây như là một công cụ quảng bá, xây dựng hình ảnh của công ty đối với công chúng Không những cung cấp thông tin một cách trung thực, kịp thời cho người
sử dụng mà các doanh nghiệp còn muốn đem đến hình ảnh của doanh nghiệp kèm theo những thông tin này và BCTN dường như thực hiện được cả hai chức năng này Những doanh nghiệp chú ý đến việc soạn thảo BCTN một cách chuyên nghiệp thì sẽ mang lại một hình ảnh ấn tượng hơn và từ đó cũng thu hút sự quan tâm của nhà đầu tư nhiều hơn BCTN nên được xem như là logo cho thương hiệu của doanh nghiệp, là bộ mặt của doanh nghiệp Khi ý thức được điều này thì chắc chắn doanh nghiệp niêm yết
sẽ thấy được vai trò và hiệu quả mang lại của BCTN là rất đáng để quan tâm và đầu
tư
1.1.2 Phân loại thông tin trong báo cáo thường niên
- Xét theo nội dung thông tin trình bày trên BCTN:
Thông tin trên BCTN thường bao gồm các thông tin tổng quát về hoạt động kinh doanh, về mục tiêu, xu hướng và sự phát triển trong năm của doanh nghiệp cũng như
những thông tin phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp Theo Merrill Lynch (2000) hầu hết BCTN có ba phần: Thư gửi cổ đông; Báo cáo tổng kết hoạt động kinh
doanh; Báo cáo tổng kết tình hình tài chính Mỗi nội dung cung cấp những thông tin khác nhau, cụ thể như sau:
Trang 25 Thư gửi cổ đông: cung cấp tổng quát về tình hình hoạt động kinh doanh và tình
hình tài chính của doanh nghiệp
Báo cáo tổng kết hoạt động kinh doanh: Tóm tắt mục tiêu, xu hướng và sự phát
triển trong năm của doanh nghiệp
Báo cáo tổng kết tình hình tài chính: Trình bày hoạt động kinh doanh của công
ty được thể hiện dưới số liệu tiền tệ, bao gồm những thảo luận và phân tích của nhà quản trị, báo cáo kiểm toán và các báo cáo bổ sung về thông tin tài chính Trong những thảo luận và phân tích của nhà quản trị, nhà quản trị của công ty giải thích những thay đổi đáng kể từ trong năm mà ảnh hưởng đến báo cáo tài chính Những thông tin được cung cấp chủ yếu dưới dạng thống kê mô tả tường thuật nhưng bên cạnh đó cũng bao gồm các thông tin dưới dạng sơ đồ và đồ thị
để làm nổi bật những thay đổi trong năm Kết quả hoạt động, tình hình tài chính, thay đổi vốn chủ sở hữu và dòng tiền đang nắm giữ và được trình bày trên báo cáo tài chính đã được kiểm toán Báo cáo tài chính thường bao gồm bảng cân đối kế toán, báo cáo lưu chuyển tiền tệ, báo cáo thu nhập, báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu và thuyết minh báo cáo tài chính
- Xét theo tính chất thông tin trình bày trên BCTN: Thông tin trên BCTN bao
gồm thông tin tài chính và thông tin phi tài chính
Thông tin phi tài chính: thông tin không thể hiện bằng các thước đo giá trị,
chúng giải thích rõ hơn về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Các thông tin phi tài chính có thể bao gồm thư chủ tịch hội đồng quản trị, thảo luận và phân tích của ban lãnh đạo, thông tin về thị trường,… Nghiên cứu của
Lori Holder Webb (2008), thực hiện nghiên cứu về nhu cầu thông tin phi tài
chính của các nhà đầu tư cho thấy vai trò của thông tin phi tài chính ảnh hưởng tới các quyết định đầu tư như thế nào Trong quá trình ra quyết định các thông tin phi tài chính được các nhà đầu tư quan tâm bao gồm ba nhóm thông tin: thông tin về nhóm ngành công nghiệp (thị trường cổ phiếu, xếp hạng chất lượng, đổi mới công nghệ ), thông tin về quản trị công ty (quá trình lựa chọn hội đồng quản trị, thay đổi quy trình kiểm soát, hệ thống quản lý…), thông tin
về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (huấn luyện nhân viên, phát triển
Trang 26nguồn nhân lực, thông tin về quyền của nhân viên, thông tin về sản phẩm an toàn, quan hệ cộng đồng, các chương trình môi trường,…)
Thông tin tài chính: là những thông tin được cung cấp từ báo cáo tài chính bao gồm BCĐKT, BCKQKD, BCLCTT, TMBCTC
Việc phân loại thông tin theo tính chất thông tin là rất quan trọng trong cung cấp thông tin cho các đối tượng sử dụng với nhu cầu thông tin khác nhau Thông tin cung cấp đa dạng là cơ sở cho người sử dụng đưa ra các quyết định kinh tế phù hợp và có hiệu quả
1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến báo cáo thường niên
Lê Thị Tú Oanh (2012) đã tổng hợp các nghiên cứu về các nhân tố cơ bản ảnh
hưởng đến hệ thống BCTN cũng như BCTC, nội dung cơ bản của các nhân tố ảnh hưởng đến hệ thống BCTN cũng như BCTC được tóm tắt như sau:
Thông tin kế toán là tấm gương phản chiếu hình ảnh của các mối quan hệ kinh tế của mỗi quốc gia Sự phát triển của nền kinh tế sẽ xuất hiện nhiều yếu tố mới mà hệ thống
kế toán phải bổ sung để phản ánh thông tin phù hợp Hệ thống kế toán Việt Nam đã có
sự thay đổi thích hợp với việc ban hành các văn bản pháp lý kế toán, đặc biệt là hệ thống Luật và chuẩn mực kế toán Tuy nhiên, trong những năm gần đây khi nền kinh
tế đất nước đang có những chuyển biến mạnh mẽ thì các hệ thống văn bản pháp quy hiện tại dường như chưa theo kịp sự biến đổi này Sự ra đời của TTCK đã đánh dấu một sự thay đổi lớn của thị trường vốn Cùng với đó là các hoạt động kinh tế mới phát sinh đòi hỏi cần có qui định cụ thể trong ghi nhận và trình bày BCTC; các thông tin giải trình về tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng được các nhà đầu tư chú ý Do vậy, các báo cáo quản trị, báo cáo ban lãnh đạo cũng như các thông tin bổ sung sẽ làm rõ hơn tiềm lực và hoạt động của doanh nghiệp là cần thiết
và yêu cầu phải hoàn thiện để phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế
Hệ thống luật pháp của các nước trên thế giới chia thành hai nhóm: một theo hướng thông luật xét xử bằng sự vận dụng các án lệ như Mỹ, Anh, Úc và một theo hướng điển chế luật với các bộ luật được thiết lập một cách chặt chẽ như Châu Âu và các
Trang 27nước chịu ảnh hưởng khác Đối với các nước áp dụng thông luật, các quy định được ban hành bởi các tổ chức tư nhân nên thông tin phù hợp với các đối tượng sử dụng với đòi hỏi tiêu chuẩn công bố thông tin công khai hơn, linh hoạt và sáng tạo hơn nên các thông tin kế toán phản ánh các sự kiện kinh tế kịp thời Ngược lại, đối với các nước theo hướng điển chế luật, thông tin được cung cấp phải tuân thủ theo các qui định của các văn bản pháp luật cụ thể nên thông tin kế toán được cung cấp thận trọng, tính minh bạch thấp hơn so với các nước áp dụng thông luật
Sự phát triển của hệ thống kế toán của một quốc gia có mối liên hệ mật thiết với sự phát triển của thị trường tài chính nước đó Nguồn cung tài chính quyết định đối tượng
sử dụng thông tin tài chính Thực tế, nguồn cung tài chính đến từ thị trường chứng khoán và ngân hàng ảnh hưởng đến thông tin cung cấp từ các báo cáo một cách rõ rệt Với các quốc gia huy động vốn chủ yếu từ TTCK như Mỹ, Anh… các công ty cổ phần chiếm ưu thế và có vai trò quan trọng trong nền kinh tế Thông tin kế toán phải hướng tới phục vụ cho đối tượng là các nhà đầu tư Do đó, các thông tin trên BCTC phải đảm bảo tính trung thực, hợp lý và phản ánh đúng thực trạng tài chính của doanh nghiệp Thông tin trên BCTC là cơ sở cho việc ra các quyết định của nhà đầu tư nên việc công
bố thông tin tới công chúng là yêu cầu bắt buộc
Ngược lại, với các quốc gia có nguồn cung tài chính chủ yếu từ nhà nước, ngân hàng,
tổ chức tín dụng,… thì công bố thông tin không phải là thiết yếu vì các đối tượng này
có thể thu thập, kiểm tra thông tin tại doanh nghiệp hoặc từ nhiều nguồn khác nhau
Do đó, yêu thông tin của BCTC chỉ là đảm bảo sự tuân thủ các quy định của pháp luật hiện hành
Văn hóa là yếu tố quan trọng có tác động tới hoạt động kinh doanh và môi trường kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế một quốc gia Ở một đất nước có nền văn hóa bảo thủ thì tính minh bạch của thông tin sẽ bị hạn chế vì trong môi trường văn hóa này các nhà quản trị doanh nghiệp sẽ có xu hướng trao đổi thông tin nội bộ, thông tin cung cấp ra bên ngoài không tương đương với thông tin nội bộ Đối với những quốc gia mà văn hóa mang giá trị xã hội thể hiện khoảng cách quyền lực lớn, văn hóa tránh sự không chắc chắn và rủi ro thì thông tin cung cấp sẽ bị kiểm soát bởi hệ thống pháp
Trang 28luật, thận trọng hơn trong công bố thông tin Tuy nhiên, tính thận trọng sẽ làm hạn chế các yếu tố không chắc chắn nhưng đồng thời sẽ làm giảm các thông tin cung cấp trên các báo cáo của chủ thể báo cáo Ngược lại, thông tin cung cấp sẽ linh hoạt hơn, chuyên nghiệp hơn trong môi trường văn hóa tính không chắc chắn thấp
Trình độ văn hóa và nhận thức là một yếu tố của môi trường có tác động tương đối đến hệ thống kế toán Thông tin cung cấp trên BCTC nhằm đáp ứng nhu cầu của các đối tượng sử dụng thông tin như nhà đầu tư, các bên có nhu cầu Do đó, thông tin trên các báo cáo kế toán phải dần hoàn thiện, bổ sung nhằm đáp ứng tối đa nhu cầu của đối tượng sử dụng điều này dẫn đến nhiều thông tin bắt buộc phải công bố tăng lên
Hội nhập có tác động mạnh mẽ đến nền kinh tế của quốc gia Hệ thống kế toán của các quốc gia chịu chi phối mạnh mẽ bởi hệ thống chuẩn mực kế toán quốc tế đặc biệt trong những năm gần đây khi mà hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng Hội nhập quốc
tế làm tăng nhu cầu đầu tư trong nước và quốc tế đồng thời có ảnh hưởng đến hệ thống thể chế, chính sách trong hoạt động kinh tế của một quốc gia Xu thế hội nhập dẫn đến hệ thống kế toán quốc gia đang dần có sự hòa hợp với chuẩn mực kế toán quốc tế để có thể cung cấp thông tin thống nhất, minh bạch và có tính so sánh Việc xây dựng hệ thống văn bản qui phạm pháp luật trong đó có chuẩn mực kế toán chịu ảnh hưởng bởi đặc điểm kinh tế, văn hóa, và trong đó chuẩn mực kế toán quốc tế là
cơ sở để các quốc gia tham khảo, áp dụng hoặc xây dựng phù hợp với tiến trình hòa nhập kế toán quốc tế
Như vậy, BCTC và BCTN cùng chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố cơ bản là kinh tế, pháp luật, nguồn tài chính, văn hóa, giáo dục của mỗi quốc gia Bên cạnh đó xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng mạnh mẽ đặt ra yêu cầu thu hẹp sự khác biệt về kế toán giữa các quốc gia với xu hướng hòa hợp kế toán quốc gia với kế toán quốc tế Căn cứ vào chuẩn mực kế toán quốc tế, các quốc gia có thể lựa chọn, sửa đổi cho phù hợp với đặc điểm riêng của quốc gia mình nhưng vẫn đảm bảo hài hòa với thông lệ quốc tế
1.1.4 Mối quan hệ giữa báo cáo thường niên và báo cáo tài chính
Trang 29BCTN và BCTC có mối quan hệ mật thiết với nhau BCTN và BCTC đều có điểm chung về mục đích sử dụng, yêu cầu và cách thức lập Tuy nhiên, xét về cấu trúc thông tin và nội dung thông tin phản ánh có khác biệt đáng kể giữa BCTN và BCTC
Xét về mục đích sử dụng, BCTN và BCTC đều nhằm cung cấp thông tin cho đối tượng
sử dụng bên ngoài doanh nghiệp Yêu cầu và cách thức lập của BCTN và BCTC đều phải tuân thủ theo khuôn mẫu và các quy định về mặt pháp lý của từng quốc gia Thông tin trình bày trên BCTN được thu thập từ nhiều hệ thống thông tin trong doanh nghiệp còn thông tin trên BCTC chủ yếu thông qua hệ thống kế toán tài chính;
Xét về cấu trúc thông tin, BCTN cung cấp thông tin đa dạng hơn BCTC BCTN cung
cấp các thông tin ngoài BCTC như thông tin diễn giải, phân tích của doanh nghiệp nhằm giúp cho đối tượng sử dụng thông tin có nhận định cụ thể sát thực hơn về tiềm năng cũng như đánh giá hiệu quả hoạt động của công ty
Xét về nội dung thông tin phản ánh, BCTC là một bộ phận của BCTN Việc lập và
trình bày BCTC phải tuân thủ theo qui định của mỗi quốc gia Thông tin trên BCTN bao gồm thông tin tài chính và thông tin phi tài chính còn thông tin trên BCTC chủ yếu là thông tin tài chính
1.1.5 Hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị
trường chứng khoán
Đối tượng phải công bố BCTN rất đa dạng, tùy thuộc vào quy định của từng quốc gia Thông thường, các đối tượng công bố chủ yếu là công ty đại chúng, tổ chức phát hành thực hiện chào bán trái phiếu ra công chúng, tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch, công ty chứng khoán, công ty quản lý quỹ, công ty đầu tư chứng khoán Đối với các nước phát triển trên thế giới, TTCK đã xuất hiện từ lâu đời và phát triển mạnh mẽ, quy định công bố thông tin trên BCTN là bắt buộc đối với các CTCP niêm yết Các quốc gia thường quy định về công bố thông tin nhất quán trong BCTN để đảm bảo người sử dụng thông tin có thể tìm kiếm nhanh giữa các BCTN khác nhau Người sử dụng có thể dễ dàng so sánh thông tin giữa các báo cáo Ngoài ra, các quốc gia còn quy định
cụ thể các loại thông tin phải cung cấp bắt buộc các DN phải thực hiện đủ, giúp các nhà đầu tư và đối tượng sử dụng thông tin theo dõi các đầu mục thông tin và yêu cầu doanh nghiệp phải bổ sung nếu cần thiết
Trang 30Marco Mongiello (2009) BCTN bao gồm các báo cáo: Thư gửi cổ đông của chủ tịch
HĐQT; Tóm tắt tình hình hoạt động; Báo cáo của HĐQT; Báo cáo của Ban giám đốc; báo cáo tài chính: chính sách kế toán, Báo cáo KQKD, Bảng cân đối kế toán, BCLCTT, Thuyết minh BCTC, Báo cáo về thay đổi vốn chủ sở hữu và Báo cáo kiểm toán Các báo cáo này là một hệ thống có mối quan hệ chặt chẽ với nhau, mỗi loại báo cáo truyền tải những thông tin riêng nhưng khi đọc BCTN cần đọc và phân tích các báo cáo trong mối tương quan
“Thư gửi cổ đông của chủ tịch HĐQT” là tài liệu giới thiệu một cách tổng quát nhất
về tình trạng tài chính và vị thế của doanh nghiệp dựa trên những kết quả cụ thể mà
doanh nghiệp đã đạt được “Tóm tắt tình hình hoạt động” rất đa dạng giữa các doanh
nghiệp và các ngành, có thể là các thông tin về dây chuyền công nghệ, các dòng sản phẩm chính và dịch vụ mà doanh nghiệp kinh doanh, một số thành tựu nổi bật trong
năm…và có thể được trình bày dưới dạng biểu đồ hoặc đồ thị “Báo cáo của HĐQT”
là phần giải thích quá trình giám sát và điều hành để khẳng định rằng doanh nghiệp đang hoạt động phục vụ lợi ích của các cổ đông, thể hiện vốn của doanh nghiệp đang
được sử dụng đúng mục đích và tạo lợi nhuận, tạo được niềm tin cho các nhà đầu tư “
Báo cáo của Ban giám đốc” thường bao gồm các thông tin về tình hình kinh doanh
và quản trị công ty Phần đánh giá kinh doanh của báo cáo bao gồm các phân tích và quan điểm của Ban Giám đốc về tình hình và hiệu quả hoạt động của đơn vị, là kết quả của việc thực thi các quyết định của Ban Giám đốc trong năm qua Ngoài ra, báo cáo này còn cung cấp một cái nhìn tương lai về đơn vị , thông tin về hoạt động liên tục của đơn vị Chiến lược của đơn vị được giải thích trong bối cảnh thị trường cạnh tranh bao gồm các chiến lược trung và dài hạn Cùng với việc đánh giá tình hình hoạt động, báo cáo này là công cụ chính để Ban Giám đốc sử dụng truyền tải hình ảnh của đơn vị
và sức mạnh của chiến lược của họ Đây là cơ hội để liên kết tuyên bố nhiệm vụ của đơn vị với các kế hoạch chiến lược của Ban Giám đốc, đưa ra cái nhìn sâu sắc của Ban Giám đốc trong môi trường có liên quan và với điểm nổi bật về kết quả đạt được cho đến nay Phần này của báo cáo phải căn cứ vào số liệu thực tế và các kết quả đạt được nhưng nó mang tính chủ quan của Ban Giám đốc muốn khẳng định vai trò của họ
trong việc điều hành doanh nghiệp “Báo cáo quản trị công ty” bao gồm các thông tin
về quá trình giám sát và kiểm soát nhằm đảm bảo hành vi quản lý phù hợp với lợi ích
Trang 31của các cổ đông Ngoài ra, khi đọc và phân tích BCTN thì các BCTC là không thể thiếu bao gồm: BCĐKT, BCKQKD, Thuyết minh BCTC, BCLCTT, Báo cáo thay đổi
vốn chủ sở hữu “Báo cáo các chính sách kế toán” là rất quan trọng, thể hiện chính
sách mang tính chủ quan của doanh nghiệp nhưng ảnh hưởng đến mức tin cậy của
thông tin “Báo cáo kiểm toán” thể hiện quan điểm của kiểm toán viên về độ tin cậy,
phù hợp của thông tin trên BCTC với các quy định của chuẩn mực kế toán (chuẩn mực báo cáo tài chính quốc tế cũng như chuẩn mực và chế độ kế toán theo quy định riêng của từng quốc gia)
1.1.6 Hệ thống báo cáo thường niên của các công ty cổ phần niêm yết trên thị
trường chứng khoán tại một số nước trên thế giới và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Mỹ
Mỹ là một cường quốc trên thế giới cùng với sự phát triển mạnh mẽ của thị trường chứng khoán, hệ thống kế toán phát triển mạnh và khá hoàn chỉnh, tạo công cụ đắc lực trong cung cấp thông tin của doanh nghiệp, kế toán Mỹ có ảnh hưởng lớn đến nhiều nước trên thế giới và là tấm gương điển hình để các quốc gia khác học tập trong thiết
kế và xây dựng các quy định về kế toán cũng như các lĩnh vực khác Các công ty niêm yết trên TTCK Mỹ phải lập BCTN dành cho các cổ đông theo mẫu 10-K Các thông tin được cung cấp theo hệ thống các báo cáo bao gồm: thông tin tài chính nổi bật, tuyên bố về sứ mệnh hoặc lịch sử của công ty, thông điệp của chủ tịch HĐQT, phân tích và thảo luận của nhà quản lý, báo cáo của ban giám đốc, báo cáo kiểm toán, BCTC và các thuyết minh, bảng tóm tắt về kết quả hoạt động 5-10 năm, thông tin về công ty và nhà đầu tư
Trung Quốc
Các yêu cầu về quy định khung của BCTN Trung Quốc cơ bản cũng giống Mỹ Tuy nhiên, Trung Quốc với TTCK còn non trẻ cùng với nền kinh tế mới đang phát triển thì quy định về công bố thông tin cũng mang những nét đặc trưng riêng, cụ thể:
- Báo cáo tóm tắt kết quả hoạt động kinh doanh 3 năm gần nhất bắt buộc phải công bố;
- Báo cáo của Ban kiểm soát được bổ sung vào báo cáo thường niên;
Trang 32- Các sự kiện quan trọng liên quan đến pháp lý doanh nghiệp như hợp nhất, mua lại, tái tổ chức tài sản và các giao dịch bên liên quan phải nêu cụ thể;
- Một số thông tin liên quan BCTC được đơn giản hóa như không bắt buộc các báo cáo bộ phận, ít nhấn mạnh đến các đối thủ cạnh tranh ảnh hưởng đến doanh nghiệp, ít đề cập đến quản trị công ty, không bắt buộc phải dự báo thu nhập hàng năm,…
Hồng Kông
Công bố thông tin trên báo cáo thường niên của công ty niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán Hồng Kông (Sở giao dịch) được quản lý bởi ba nguồn chính: các quy tắc điều chỉnh việc niêm yết chứng khoán tại Sở giao dịch chứng khoán của Hồng Kông (Quy định niêm yết); các quy định công bố thông tin quy định của công ty Hồng Kông (Quy định công ty); và báo cáo theo chuẩn mực thực hành Kế toán (SSAP) ban hành bởi Hội Kế toán Hồng Kông (hoặc chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) ban hành bởi Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế)
Quy định công ty
Quy định công ty yêu cầu tất cả các công ty thành lập tại Hồng Kông soạn thảo bảng cân đối kế toán, báo cáo lời/lỗ liên quan tới yêu cầu 10 mục trong quy định công ty Thêm vào đó yêu cầu các công ty phải đính kèm báo cáo ban giám đốc, các thông tin công bố trong báo cáo thường niên bao gồm: thông tin chi tiết về các công ty con, thông tin chi tiết về các khoản đầu tư, thông tin chi tiết về cổ phần của công ty, báo cáo của ban giám đốc, thù lao của ban giám đốc, các khoản vay nội bộ, lợi ích của ban giám đốc trong các hợp đồng, hợp đồng quản lý…
Ngoài các nội dung chính thì quy định về công bố thông tin trên BCTN ở Hồng Kông được Sở giao dịch chứng khoán ban hành dưới dạng tài liệu tham khảo cụ thể cho từng ngành công nghiệp Các công bố theo tài liệu tham khảo công bố thông tin trên báo cáo thường niên bao gồm công bố chung và công bố cụ thể của từng ngành
Kinh nghiệm cho Việt Nam
Các báo cáo bổ sung vào báo cáo thường niên
- Báo cáo tóm tắt tình hình kinh doanh: Báo cáo tóm tắt tình hình kinh doanh
trong thời gian ít nhất là 3 năm gần nhất cung cấp cho người sử dụng thông tin
Trang 33về các chỉ tiêu như doanh thu, chi phí, kết quả,…từ đó có cái nhìn toàn diện hơn về hiệu quả và chiến lược của doanh nghiệp không chỉ trong ngắn hạn
- Báo cáo năng lực cung cấp sản phẩm: Đối với các doanh nghiệp mà sản phẩm
cung cấp phụ thuộc rất lớn vào nguồn cung nguyên liệu đầu vào thì báo cáo này sẽ cung cấp các thông tin về sự đảm bảo hoạt động sản xuất chế biến không
bị gián đoạn do yếu tố mùa vụ, từ đó tạo niềm tin cho nhà cung vốn
- Báo cáo ban kiểm soát: Ban kiểm soát có vai trò quan trọng trong giám sát hoạt
động điều hành của Ban Giám đốc cũng như Hội đồng quản trị Báo cáo của Ban kiểm soát sẽ cung cấp sự đảm bảo về các thông tin mà doanh nghiệp cung cấp mang tính khách quan, đáng tin cậy hơn
- Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu: Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp cho thấy
tình hình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trong hiện tại và tương lai Bất cứ sự gia tăng, hay giảm trong vốn chủ sở hữu cũng sẽ rất quan trọng để đánh giá về sức khỏe của doanh nghiệp Do đó báo cáo này rất cần thiết phải cung cấp trong BCTN của doanh nghiệp
- Báo cáo chính sách kế toán áp dụng: Trong bối cảnh hệ thống chuẩn mực kế
toán quốc tế đang có sự thay đổi và hệ thống chuẩn mực kế toán các quốc gia hướng đến hội tụ và hòa hợp với quốc tế thì báo cáo này là hết sức cần thiết Vì
sự thay đổi trong chính sách kế toán sẽ có ảnh hưởng đến các thông tin tài chính cung cấp trên BCTC và nếu thiếu những công bố này chắc chắn sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư Do vậy trong BCTN nên đưa thêm nội dung của báo cáo này vào để có sự đảm bảo an toàn cho nhà đầu tư
- Báo cáo các sự kiện quan trọng: Hiện nay nền kinh tế Việt Nam nói riêng cũng
như nền kinh tế thế giới đang trong giai đoạn cơ cấu lại thì các hoạt động mua bán, sáp nhập doanh nghiệp diễn ra rất mạnh mẽ Những thông tin này sẽ vô cùng quan trọng và có ảnh hưởng không nhỏ đến các đối tượng quan tâm đầu
tư vào doanh nghiệp
- Phân tích S.W.O.T (Strengths – Weaknesses – Opportunities – Threats: Điểm
mạnh – Điểm yếu – Cơ hội – Thách thức) : Nền kinh tế đang có nhiều biến động kéo theo là rủi ro cũng như cơ hội và không phải doanh nghiệp nào cũng
có khả năng quản lý rủi ro nắm bắt thời cơ Vì vậy, phân tích SWOT sẽ là công
Trang 34cụ hữu ích để doanh nghiệp cũng như người sử dụng thông tin phân tích về hoạt động của doanh nghiệp trong bối cảnh nền kinh tế từ đó đưa ra các quyết định kinh tế thích hợp
Công bố các thông tin dự báo, định hướng tương lai
Dự báo về doanh thu, lợi nhuận cũng như các tác động ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh trong tương lai Trên cơ sở các điều kiện hiện hành và môi trường kinh doanh tương lai thì BCTN phải cung cấp được các thông tin mang tính dự báo từ đó sẽ thu hút hơn sự quan tâm của các nhà cung cấp vốn
Công bố thông tin liên quan doanh nghiệp
BCTN cung cấp các thông tin đa dạng về doanh nghiệp và là công cụ quảng bá hình ảnh đến cộng đồng Do đó trên BCTN nên cung cấp thông tin về các hoạt động liên quan đến xã hội, môi trường, chính sách cho người lao động,…chính những thông tin
sẽ giúp đối tượng sử dụng thông tin đánh giá chính xác về định hướng hoạt động của doanh nghiệp trong tương lai có hướng tới phát triển bền vững hay chỉ mang tính chất ngắn hạn
1.2 Đo lường chất lượng thông tin trên BCTN của công ty niêm yết
1.2.1 Chất lượng thông tin trên báo cáo thường niên
Chất lượng thông tin luôn gắn liền với mục tiêu là tạo ra tính hữu ích cao nhất cho các đối tượng sử dụng thông tin khác nhau Chất lượng thông tin trên báo cáo thường niên được xác định là chất lượng của sản phẩm do hệ thống thông tin trong doanh nghiệp tạo ra thông qua quá trình thu thập, xử lý, tổng hợp thông tin để hình thành nên một hệ thống các thông tin phản ánh tình hình tài chính, tình hình kinh doanh và các tình hình khác liên quan đến hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
Thông tin trên báo cáo thường niên bao gồm các thông tin tài chính và phi tài chính do
đó để đánh giá chất lượng thông tin trên báo cáo thường niên phải đưa ra được các tiêu thức đánh giá cho thông tin tài chính và thông tin phi tài chính Thông tin tài chính là hữu ích khi chúng đáp ứng các tiêu chuẩn đặc điểm chất lượng của thông tin,
do đó chất lượng thông tin trình bày trên BCTN sẽ được đo lường thông qua việc xác định mức độ đáp ứng các đặc điểm chất lượng thông tin
1.2.2 Đặc điểm chất lượng thông tin
Trang 35Khuôn mẫu lý thuyết của IASB (2010) và FASB (2010) đã đưa ra những đặc điểm
của thông tin tài chính hữu ích cũng như việc áp dụng các đặc điểm này Nội dung của khuôn mẫu lý thuyết này cũng tương tự như nội dung bản dự thảo chuẩn mực chung
của Việt Nam “Khuôn khổ của việc lập, trình bày báo cáo tài chính” ban hành ngày
03/10/2013 và sẽ có hiệu lực từ 01/01/2015
Báo cáo tài chính cung cấp thông tin về các nguồn lực kinh tế và nghĩa vụ nợ của đơn
vị báo cáo, ảnh hưởng của các giao dịch, sự kiện và điều kiện khác có thể làm thay đổi các nguồn lực và nghĩa vụ nợ đó (các thông tin này được gọi chung là thông tin kinh tế) Một số báo cáo tài chính còn cung cấp thông tin về chiến lược và kỳ vọng của Ban lãnh đạo đơn vị báo cáo cũng như các thông tin tương lai khác
Các đặc điểm định tính của thông tin tài chính hữu ích được áp dụng đối với các thông tin tài chính cung cấp trong các báo cáo tài chính, cũng như đối với các thông tin tài chính được cung cấp bằng các hình thức khác Chi phí là yếu tố chính cản trở khả năng của đơn vị trong việc cung cấp các thông tin tài chính hữu ích Việc áp dụng các đặc điểm định tính đối với những thông tin tương lai có thể khác biệt đối với thông tin hiện tại cũng như với các thay đổi của thông tin đó
Thông tin tài chính hữu ích phải là các thông tin thích hợp và được trình bày trung thực Tính hữu ích của thông tin tài chính được nâng cao nếu thông tin đó có thể so sánh được, kiểm chứng được, kịp thời và dễ hiểu
1.2.2.1 Đặc điểm định tính cơ bản của thông tin tài chính hữu ích
Các đặc điểm định tính cơ bản là tính thích hợp và trình bày trung thực
Thích hợp (Relevance)
- Thông tin tài chính thích hợp có thể tạo ra sự khác biệt trong quyết định của người
sử dụng báo cáo tài chính, ngay cả khi một số người sử dụng báo cáo tài chính không tận dụng lợi thế hoặc nắm được thông tin đó từ các nguồn khác
- Các thông tin tài chính có thể tạo ra sự khác biệt trong các quyết định nếu có giá trị
dự đoán, xác thực hoặc cả hai
- Thông tin tài chính có giá trị dự đoán nếu có thể được sử dụng để dự đoán kết quả trong tương lai bởi người sử dụng báo cáo tài chính
Trang 36- Thông tin tài chính có giá trị xác thực nếu cung cấp các thông tin phản hồi (xác thực hay thay đổi) về các đánh giá trước đó
- Giá trị dự đoán và giá trị xác thực của thông tin tài chính có liên quan đến nhau Thông tin có giá trị dự đoán thông thường cũng có giá trị xác thực Ví dụ, thông tin
về doanh thu của năm hiện tại, có thể được sử dụng làm cơ sở cho việc dự báo doanh thu trong các năm tiếp theo hoặc cũng có thể được sử dụng để so sánh với
dự báo về doanh thu của năm hiện tại đã được lập trong những năm trước đó Kết quả của những so sánh đó có thể giúp người sử dụng báo cáo tài chính điều chỉnh
và cải thiện quá trình lập dự báo trước kia
Trình bày trung thực (Faithful Representation)
- Các báo cáo tài chính phản ánh giao dịch kinh tế bằng số liệu và bằng chữ Thông tin tài chính hữu ích là thông tin tài chính không chỉ mô tả giao dịch kinh tế liên quan, mà còn phải trình bày một cách trung thực các giao dịch đó đúng mục đích
Để đảm bảo sự trung thực, thông tin phải có 3 tính chất là đầy đủ, khách quan và không có sai sót
- Việc trình bày đầy đủ thông tin giúp người sử dụng báo cáo tài chính hiểu được bản chất của các sự kiện bao gồm cả các diễn giải cần thiết Ví dụ, việc trình bày đầy đủ thông tin về một nhóm tài sản ít nhất phải mô tả được bản chất và giá trị của các tài sản trong nhóm (ví dụ giá gốc tài sản, các khoản chi phí phát sinh sau ghi nhận ban đầu được tính vào giá gốc hoặc giá trị hợp lý) Đối với một số khoản mục, việc trình bày đầy đủ còn phải mô tả thêm các thông tin về chất lượng, các yếu tố và tình huống có thể ảnh hưởng tới chất lượng và bản chất của chúng, cũng như việc mô tả bằng số liệu
- Trình bày khách quan là không thiên vị khi lựa chọn hoặc mô tả các thông tin tài chính Trình bày khách quan phải đảm bảo trung lập, không chú trọng, nhấn mạnh hoặc giảm nhẹ cũng như có thao tác khác làm thay đổi mức độ ảnh hưởng của thông tin tài chính là có lợi hoặc không có lợi cho người sử dụng báo cáo tài chính Các thông tin khách quan không có nghĩa là thông tin không có mục đích hoặc không ảnh hưởng về hành vi Ngược lại, các thông tin tài chính liên quan là khả năng tạo ra sự khác biệt trong các quyết định của người sử dụng
Trang 37- Trình bày trung thực không có nghĩa là chính xác tất cả mọi phương diện Không sai sót có nghĩa là không có sự bỏ sót trong việc mô tả hiện tượng và quá trình cung cấp các thông tin báo cáo được lựa chọn và áp dụng là không có sai sót Không sai sót không có nghĩa là hoàn toàn chính xác trong tất cả các khía cạnh Ví
dụ, việc ước tính các loại giá cả và giá trị không quan sát được khó xác định chính xác hay không chính xác Việc trình bày một ước tính được coi là trung thực nếu giá trị ước tính được mô tả rõ ràng, bản chất và các hạn chế của quá trình ước tính được giải thích và không có sai sót trong việc lựa chọn số liệu phù hợp trong quá trình ước tính
- Việc trình bày trung thực không nhất thiết phải tạo ra thông tin hữu ích Ví dụ, việc đơn vị thuyết minh thông tin về nguồn vốn khấu hao hoặc giá trị tài sản nhận giữ
hộ cho đơn vị khác thì có thể là trình bày trung thực nhưng không cung cấp thông tin hữu ích lắm cho người sử dụng báo cáo tài chính
Áp dụng các đặc điểm định tính cơ bản
- Thông tin chỉ hữu ích khi đồng thời vừa thích hợp và vừa trung thực Sự trình bày trung thực một hiện tượng không liên quan hay sự trình bày không trung thực một hiện tượng có liên quan đều không giúp người sử dụng báo cáo tài chính đưa ra các quyết định tốt
1.2.2.2 Đặc điểm định tính nâng cao của thông tin tài chính hữu ích
Có thể so sánh, kiểm chứng, kịp thời và dễ hiểu là các đặc điểm định tính làm nâng cao tính hữu ích của thông tin được trình bày thích hợp và trung thực
Khả năng so sánh (Comparability)
- Người sử dụng báo cáo tài chính quyết định lựa chọn nhiều phương án ví dụ bán hay nắm giữ các khoản đầu tư hoặc đầu tư vào đơn vị này hay đơn vị khác Do đó, thông tin về đơn vị báo cáo sẽ hữu ích hơn nếu có thể so sánh các thông tin tương
tự với các đơn vị khác hoặc các thông tin tương tự của đơn vị giữa các kỳ và các ngày khác nhau
- Khả năng so sánh là đặc điểm định tính giúp người sử dụng báo cáo tài chính nhận biết và hiểu được sự giống và khác nhau của các khoản mục Khác với các đặc điểm định tính khác, khả năng so sánh không liên quan đến một khoản mục đơn lẻ
mà yêu cầu ít nhất là hai khoản mục
Trang 38- Tính nhất quán liên quan đến khả năng so sánh, đề cập đến việc sử dụng cùng một phương pháp cho các khoản mục tương tự, từ kỳ này sang kỳ khác trong một đơn
vị hoặc giữa các đơn vị trong cùng một kỳ Khả năng so sánh là mục đích, còn tính nhất quán giúp để đạt được mục đích đó
- Khả năng so sánh không phải là đồng nhất Thông tin có thể so sánh phải đảm bảo
sự tương đồng giữa các khoản mục, chỉ tiêu tương tự và sự khác biệt giữa các khoản mục, chỉ tiêu không tương tự Khả năng so sánh của thông tin tài chính sẽ không được nâng cao nếu các khoản mục, chỉ tiêu không tương tự được trình bày giống nhau hoặc các khoản mục, chỉ tiêu tương tự lại trình bày khác nhau
- Khả năng so sánh có thể đạt được từ việc thỏa mãn các đặc điểm định tính cơ bản Việc trình bày giao dịch kinh tế một cách đáng tin cậy phải đảm bảo so sánh được với giao dịch kinh tế tương tự được trình bày bởi một đơn vị báo cáo khác
- Việc áp dụng nhiều phương pháp kế toán khác nhau cho cùng một giao dịch kinh
tế sẽ làm giảm tính so sánh của thông tin kể cả khi giao dịch kinh tế đó có thể được biểu hiện dưới nhiều hình thức
Kiểm chứng (Verifiability)
- Kiểm chứng giúp đảm bảo cho những người sử dụng báo cáo tài chính là thông tin
về giao dịch kinh tế được trình bày trung thực và đúng mục đích Kiểm chứng được có nghĩa là những người sử dụng báo cáo tài chính có kiến thức và độc lập khác nhau có thể nhất trí rằng một mô tả cụ thể là đáng tin cậy Thông tin định lượng không nhất thiết chỉ là một ước tính đơn lẻ mà còn có thể là một loạt các giá trị và khả năng liên quan có thể được kiểm chứng
- Sự kiểm chứng có thể thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp Sự kiểm chứng trực tiếp
có nghĩa là kiểm chứng một giá trị hoặc các trình bày khác nhau thông qua quan sát trực tiếp, ví dụ bằng kiểm đếm tiền mặt Sự kiểm chứng gián tiếp có nghĩa là kiểm tra các đầu vào của một mô hình, công thức hoặc kỹ thuật khác và tính toán lại đầu ra sử dụng cùng một phương pháp Ví dụ, sự kiểm chứng giá trị ghi sổ của hàng tồn kho bằng việc kiểm tra đầu vào (số lượng và chi phí) và việc tính toán lại hàng tồn kho cuối kỳ sử dụng giả định dòng chi phí tương tự (ví dụ, sử dụng phương pháp nhập trước, xuất trước)
Trang 39- Một số giải thích và thông tin tài chính có thể không kiểm chứng được cho đến một thời điểm nào đó trong tương lai Để giúp người sử dụng báo cáo tài chính quyết định liệu họ có muốn sử dụng những thông tin đó hay không, cần phải bổ sung thêm thông tin để thuyết minh về những giả định cơ bản, các phương pháp xử
lý thông tin, các nhân tố và các tình huống khác
Kịp thời (Timeliness)
- Kịp thời nghĩa là thông tin luôn sẵn có để giúp những người sử dụng báo cáo tài chính kịp đưa ra các quyết định Thông thường, những thông tin cũ thường kém hữu ích hơn, tuy nhiên một số thông tin vẫn có tính kịp thời sau khi kết thúc kỳ báo cáo một thời gian Ví dụ người sử dụng báo cáo tài chính có thể sử dụng thông tin trong quá khứ để xác định và đánh giá các định hướng
Dễ hiểu (Understandability)
- Dễ hiểu là việc thông tin được phân loại và trình bày đặc trưng một cách rõ ràng và chính xác
- Một số giao dịch kinh tế phức tạp, không dễ hiểu và việc loại bỏ các thông tin đó
ra khỏi báo cáo tài chính có thể làm cho báo cáo tài chính dễ hiểu hơn Tuy nhiên, việc bỏ qua các thông tin đó làm cho báo cáo tài chính không đầy đủ và có thể gây hiểu nhầm
- Báo cáo tài chính được lập cho người đã có những kiến thức nhất định về các hoạt động kinh tế và cho những người soát xét, phân tích thông tin Trong một số trường hợp ngay cả khi đã có đầy đủ thông tin, người sử dụng báo cáo tài chính cũng cần sự trợ giúp của chuyên gia để hiểu về các giao dịch kinh tế phức tạp
Áp dụng các đặc điểm định tính nâng cao
- Các đặc điểm định tính nâng cao phải được tối đa đến mức có thể Nâng cao các đặc điểm định tính theo từng đặc điểm hay theo nhóm không thể làm cho thông tin hữu ích nếu thông tin đó không thích hợp hoặc không được trình bày trung thực
- Việc áp dụng các đặc điểm định tính nâng cao là một quá trình lặp đi lặp lại mà không tuân theo một trật tự quy định Đôi khi một đặc điểm định tính nâng cao này
có thể bị giảm đi để tối đa hóa một đặc điểm định tính nâng cao khác Ví dụ, việc tạm thời giảm tính so sánh khi áp dụng hồi tố một chuẩn mực báo cáo tài chính
Trang 40mới là để cải thiện tính thích hợp hoặc trình bày tin cậy trong dài hạn Những thuyết minh phù hợp có thể phần nào bù đắp cho việc không so sánh được
1.2.2.3 Rào cản chi phí trên báo cáo tài chính hữu ích
- Chi phí là một rào cản phổ biến để lập báo cáo tài chính Báo cáo về các thông tin tài chính gây tốn kém chi phí, và điều quan trọng là các chi phí đó được xem xét cùng với lợi ích của việc báo cáo các thông tin này Có nhiều loại chi phí và lợi ích cần phải được xem xét
- Người cung cấp thông tin tài chính cần cố gắng thu thập, xử lý, kiểm chứng và công bố thông tin tài chính, nhưng người sử dụng báo cáo tài chính cuối cùng chịu những chi phí dưới hình thức giảm thu nhập và cũng phải bỏ ra chi phí để phân tích, giải thích các thông tin được cung cấp Nếu không được cung cấp thông tin cần thiết, người sử dụng báo cáo tài chính sẽ phải bỏ thêm chi phí để ước tính hoặc
có được những thông tin đó ở nơi khác
- Việc báo cáo thông tin tài chính thích hợp và trung thực giúp người sử dụng đưa ra các quyết định tin cậy, làm tăng chức năng hoạt động hiệu quả của thị trường vốn
và giảm chi phí vốn cho nền kinh tế Nhà đầu tư cá nhân hoặc chủ nợ cũng thu được lợi ích khi có nhiều thông tin hơn để ra các quyết định Tuy nhiên, việc cung cấp tất cả các thông tin mà mọi người sử dụng báo cáo tài chính cần là không thể
- Khi xem xét các rào cản chi phí, Ban lãnh đạo cần đánh giá liệu những lợi ích thu được từ việc báo cáo thông tin có tương xứng với các chi phí phát sinh để cung cấp
và sử dụng thông tin đó hay không Khi xem xét các rào cản về chi phí trong việc phát triển một chuẩn mực báo cáo tài chính cần tìm kiếm từ các nhà cung cấp thông tin tài chính, người sử dụng, kiểm toán viên, các học giả và đối tượng khác
về nội dung, lợi ích thu được và chi phí phát sinh từ việc áp dụng chuẩn mực đó Trong hầu hết các tình huống, việc đánh giá phải dựa trên sự kết hợp các thông tin định lượng và định tính
- Tính chủ quan tạo nên sự khác biệt trong việc đánh giá chi phí và lợi ích thu được của thông tin tài chính khác nhau Vì vậy, Ban lãnh đạo cần xem xét chi phí và lợi ích không chỉ liên quan đến việc lập báo cáo tài chính cho mục đích riêng mà còn xem xét đến báo cáo tài chính cho mục đích chung Việc đánh giá về chi phí và lợi ích không nhất thiết giống nhau với các yêu cầu báo cáo tương tự đối với tất cả các