Cải cách hành chính nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương thức hoạt động của nền hành chính từ nội dung, phương pháp, lề lối làm việc thống nhất từ trung ương tới địa phương; tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước; chất lượng thể chế nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống.
Trang 1Chuyên đề:
CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA ĐỐI VỚI CÔNG TÁC QUẢN LÝ, ĐIỀU HÀNH CỦA CHỦ TỊCH ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP XÃ
I NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC
1 Khái niệm cải cách hành chính
Theo cách hiểu chung nhất, cải cách là những thay đổi có mục đích nhằm làm cho một hệ thống hoạt động được tốt hơn Theo đó, cải cách hành chính được hiểu là những thay đổi có tính hệ thống, lâu dài và có mục đích
làm cho hệ thống hành chính nhà nước hoạt động và thực hiện tốt hơn các chức năng, nhiệm vụ quản lý xã hội Cải cách hành chính nhà nước nhằm làm thay đổi và hợp lý hóa bộ máy hành chính, tăng cường tính hiệu lực, hiệu quả quản
lý nhà nước.
Như vậy có thể hiểu, Cải cách hành chính nhà nước là quá trình cải biến
có kế hoạch cụ thể để đạt mục tiêu hoàn thiện một hay một số nội dung của nền hành chính nhà nước (thể chế, tổ chức bộ máy, thủ tục hành chính, đội ngũ cán bộ,công chức, tài chính công…) nhằm xây dựng nền hành chính công đáp ứng yêu cầu của nền hành chính hiệu lực, hiệu quả và hiện đại.
2 Vai trò của cải cách hành chính nhà nước
- Cải cách hành chính nhà nước có vai trò quan trọng trong việc đổi mới phương thức hoạt động của nền hành chính từ nội dung, phương pháp, lề lối làm việc thống nhất từ trung ương tới địa phương; tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong quản lý nhà nước; chất lượng thể chế nhà nước đồng bộ, khả thi, đi vào cuộc sống
- Cải cách hành chính nhà nước thúc đẩy quá trình dân chủ, phục vụ nhân dân, tổ chức, doanh nghiệp tốt hơn Đồng thời có vai trò thích ứng của nền hành chính trước những biến đổi không ngừng của bối cảnh hội nhập, toàn cầu hóa
- Cải cách hành chính nhà nước có vai trò để xây dựng một nền hành chính công chuyên nghiệp, hiện đại, vận hành thông suốt, hiệu quả; một nền hành chính trong sạch, vững mạnh, thống nhất, đồng bộ; giảm thủ tục hành chính, quy trình hóa, minh bạch hóa, siết chặt kỷ cương hành chính
- Cải cách hành chính nhà nước có vai trò thúc đẩy, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức trong hệ thống hành chính nhà nước; nâng cao chất lượng dịch vụ công; kiểm soát tốt hơn hoạt động hành chính nhà nước
3 Quan điểm, nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước
Trang 2Dự thảo Nghị quyết Chương trình Tổng thể Cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2021 - 2030 đề cập đến 5 quan điểm và 6 nhiệm vụ về việc thực hiện cải cách hành chính nhà nước
- Quan điểm về việc thực hiện cải cách hành chính nhà nước giai đoạn
2021 - 2030.
Một là:Cải cách hành chính phải được tiến hành trên cơ sở quan điểm, chủ
trương của Đảng về đổi mới hệ thống chính trị, phải tiến hành đồng bộ với cải cách lập pháp, cải cách tư pháp và đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, góp phần xây dựng, hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Hai là: Cải cách hành chính phải xuất phát từ lợi ích của người dân, doanh
nghiệp; lấy người dân, doanh nghiệp làm trung tâm; lấy sự hài lòng của người dân, doanh nghiệp là thước đo đánh giá chất lượng phục vụ của cơ quan hành chính nhà nước các cấp
Ba là: Các nội dung cải cách hành chính phải được tiến hành đồng bộ, thống
nhất, có trọng tâm, trọng điểm, phù hợp với điều kiện thực tiễn và góp phần thúc đẩy thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội của đất nước theo từng giai đoạn
Bốn là: Cải cách hành chính phải gắn với nâng cao nhận thức, đổi mới tư duy
và hành động sáng tạo; đổi mới lề lối làm việc, phương thức quản trị hiện đại, trên
cơ sở đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước; tận dụng có hiệu quả thành tựu, tiến bộ khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư, với lộ trình, bước đi phù hợp, tránh mọi biểu hiện bàng quan, thiếu tự tin, thụ động, nhưng không nóng vội, chủ quan, duy ý chí
Năm là: Cải cách hành chính phải kế thừa những thành tựu đã đạt được trong
cải cách hành chính nhà nước giai đoạn vừa qua; tiếp thu những kinh nghiệm, những bài học thành công trong cải cách của các nước có nền hành chính phát triển để vận dụng vào thực tiễn một cách phù hợp
- Nhiệm vụ cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2021 - 2030.
+ Cải cách thể chế
+ Cải cách thủ tục hành chính
+ Cải cách tổ chức bộ máy hành chính nhà nước
+ Xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức + Cải cách tài chính công
Trang 3+ Xây dựng và phát triển Chính phủ điện tử, Chính phủ số.
4 Xu hướng cải cách hành chính cơ bản của một số nước trên thế giới
Ngày nay, cải cách hành chính nhà nước là một lĩnh vực được hầu hết các nước trên thế giới quan tâm Nhiều quốc gia coi cải cách hành chính nhà nước là yếu tố hết sức quan trọng để thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời thông qua cải cách hành chính nhà nước nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của Nhà nước; tăng khả năng phát triển kinh tế - xã hội Những nội dung cải cách hành chính của mỗi quốc gia liên quan đến chính trị, trình độ phát triển kinh tế - xã hội cũng như truyền thống, phong tục, tập quán Tùy từng điều kiện phát triển của mỗi quốc gia, cải cách hành chính nhà nước tập trung vào những khâu, những bộ phận nhất định
Tuy nhiên, có thể nhận thấy một trong những xu hướng chung của cải cách hành chính nhà nước trên thế giới hiện nay là hướng tới làm thế nào xây dựng một Chính phủ gọn nhẹ hơn để có thể vận động một cách nhanh nhạy hơn, hiệu quả hơn nhằm tăng năng lực cạnh tranh của nhà nước trong bối cảnh toàn cầu hóa Xu
hướng này ở các nước phát triển thường được thể hiện qua thuật ngữ “Tái tạo lại
chính phủ” (Mỹ), “Mô hình quản lý mới” (CHLB Đức), “Hành chính công định hướng hiệu quả” (Thụy Sĩ),… Cuộc cải cách này không chỉ mang ý nghĩa của một
cuộc thay đổi nội bộ mà còn phản ánh xu hướng mới hoạt động của nhà nước đó là
nền hành chính không chỉ làm chức năng“cai trị” mà chuyển dần sang chức năng“phục vụ”, cung cấp các dịch vụ công cho xã hội.
Mục tiêu tổng quát trong cải cách hành chính của các nước trên thế giới là hướng tới việc xây dựng một bộ máy hành chính gọn nhẹ hơn, hoạt động hiệu lực
và hiệu quả hơn, hướng tới phục vụ tốt hơn các nhu cầu và lợi ích hợp pháp của mỗi công dân và xã hội Xu hướng chủ đạo của các cuộc cải cách này là chuyển
đổi nền hành chính công truyền thống sang xây dựng mô hình “quản lý công mới”.
Nội dung của xu hướng cải cách này là đưa tinh thần doanh nghiệp và các yếu tố thị trường vào hoạt động của Nhà nước, vận dụng các nguyên tắc và phương pháp quản lý doanh nghiệp vào tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, đặc biệt vào quản lý cơ quan hành chính nhằm nâng cao hiệu lực, hiệu quả của hoạt động hành chính Cụ thể như:
- Tăng cường tư nhân hóa: Quá trình tư nhân hóa là giải pháp mạnh mẽ nhất
được áp dụng trong cải cách hành chính ở các nước phát triển (Mỹ, Anh, Pháp, Đức) Các nhà nước theo đuổi mô hình quản lý công mới luôn tìm cách giảm bớt
Trang 4số lượng và quy mô của các dịch vụ vốn trước đây do nhà nước cung cấp và chuyển giao lại cho khu vực tư nhân đảm nhiệm Quá trình tái cơ cấu khu vực công bằng cách chuyển giao cho tư nhân và huy động các nguồn lực của tư nhân tham gia cùng với nhà nước cung cấp dịch vụ công làm giảm gánh nặng chi ngân sách của Nhà nước để trở nên gọn nhẹ hơn, vận động nhanh nhạy hơn, đáp ứng các đòi hỏi của quá trình toàn cầu hóa Nhưng việc đẩy mạnh tư nhân hóa không đồng nghĩa với việc giảm trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp dịch vụ công
thiết yếu “chèo thuyền”, Nhà nước chỉ cần đứng ra điều tiết, đảm bảo sự có mặt
của các hàng hóa dịch vụ công đó, việc trực tiếp cung ứng được giao cho các chủ
thể khác “lái thuyền”.
- Hướng tới kiểm soát hiệu quả: với mục đích tăng cường hiệu quả của hoạt
động hành chính nhà nước, thay cho việc kiểm soát nghiêm ngặt các yếu tố đầu vào và quy trình, thủ tục như trong mô hình truyền thống, trong mô hình quản lý công mới người ta hướng tới việc kiểm soát đầu ra, đánh giá các hoạt động theo kết quả thu được Điều này giúp cho các cơ quan hành chính nhà nước và cán bộ, công chức có thể phát huy tính sáng tạo trong quá trình thực thi công vụ, cải tiến quy trình, thủ tục cho phù hợp với đặc điểm của mỗi công việc và theo hoàn cảnh
cụ thể để mang lại hiệu quả hoạt động cao nhất
- Điều chỉnh mối quan hệ giữa Trung ương và địa phương (Trung Quốc): về
nguyên tắc, đó là quá trình hợp lý hóa sự phân cấp giữa chính quyền Trung ương
và chính quyền địa phương để tăng tính chủ động, sáng tạo cho địa phương Nhiều
nước đã áp dụng nguyên tắc “tự quản địa phương” cho phép các địa phương tự
quyết định các vấn đề liên quan tới công việc của địa phương mình và chỉ khi nào cấp dưới không thể hoàn thành được nhiệm vụ thì cấp trên mới tiến hành can thiệp
- Phi quy chế hóa (Mỹ): Trong quá trình chuyển từ việc giám sát đầu vào và
sự tuân thủ quy trình sang việc giám sát đầu ra, đánh giá hoạt động thông qua kết quả hoạt động, tính chủ động của cơ quan Nhà nước và người công chức được nâng lên Xu hướng này dẫn tới việc cần phải loại bỏ đi các quy định vốn cứng nhắc, phức tạp trong các quy trình xử lý công việc, tạo thêm không gian cho người công chức thể hiện năng lực giải quyết vấn đề của mình
- Cấu trúc tổ chức của bộ máy hành chính (Nhật Bản): cũng được đổi mới theo hướng “phẳng” hơn, thay cho bộ máy đồ sộ trước đây Một trong những giải
pháp để thực hiện hướng đi này là việc hình thành các nhóm chuyên gia kiểu dự án
để giải quyết các vấn đề và tăng cường thông tin theo chiều ngang
Trang 5- Cải cách chế độ công vụ, công chức: Trong lĩnh vực nhân sự, các cơ quan đưa các yếu tố của mô hình “quản lý nguồn nhân lực” từ lâu đã là một động lực quan trọng trong khu vực tư nhân vào khu vực nhà nước thay cho mô hình “quản
trị nhân sự truyền thống” Quá trình thay đổi này khiến cho đội ngũ công chức
hoạt động tích cự hơn và mang lại hiệu quả hoạt động cao hơn Đồng thời, việc giao lưu nhân sự giữa khu vực công và khu vực tư trở nên dễ dàng hơn và nhờ đó những ý tưởng quản lý theo kiểu doanh nghiệp được vận dụng vào khu vực Nhà nước cũng ngày càng nhiều hơn
- Cải cách tài chính công: ở nhiều nước theo mô hình quản lý mới, thay cho
việc cấp phát ngân sách hàng năm trên căn cứ vào biên chế, người ta đã tiến hành cấp phát ngân sách theo chương trình, dự án cụ thể (trừ những chi tiêu tất yếu và
ổn định) nhằm tăng cường hiệu quả, tiết kiệm tiền thuế do nhân dân đóng góp Việc cấp phát ngân sách được kiểm tra rất chặt chẽ, đảm bảo những quy tắc tài chính và coi trọng tính hiệu quả
- Hiện đại hóa nền hành chính (Pháp): việc ứng dụng các thành tựu khoa học
- công nghệ hiện đại vào các hoạt động hành chính góp phần quan trọng làm giảm
số lượng nhân sự và nâng cao năng suất lao động trong các cơ quan Nhà nước Ngoài ra, việc ứng dụng khoa học - công nghệ còn làm thay đổi cách thức làm việc, ứng xử của đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng chuyên nghiệp
II THỰC TIỄN CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH NHÀ NƯỚC TRONG THỜI GIAN QUA
1.Thực tiễn cải cách hành chính ở nước ta trong thời gian qua
Cải cách hành chính để hướng tới xây dựng một nền hành chính hoạt động có hiệu lực và hiệu quả là mong muốn của bất kỳ Nhà nước nào, do đó, cải cách hành chính xuất hiện và tồn tại cùng với sự xuất hiện và tồn tại của Nhà nước Kể từ khi Đảng và Nhà nước ta tiến hành công cuộc đổi mới, có thể chia cải cách hành chính thành 4 giai đoạn chủ yếu sau:
- Giai đoạn 1986 - 1995: Đây là giai đoạn xây dựng nền tảng cho cải cách hành chính Hoạt động cải cách hành chính mặc dù được quan tâm nhưng vẫn nằm trong khuôn khổ của những cải cách nhà nước nói chung để phục vụ cho quá trình bắt đầu chuyển dịch nền kinh tế
- Giai đoạn 1995 - 2001: Cùng với Hội nghị trung ương 7 (khóa VIII) năm 1995, cải cách hành chính được xác định là trọng tâm của hoạt động cải cách Nhà nước Vai trò của cải cách hành chính đã được khẳng định và
Trang 6những hoạt động cải cách hành chính ngày càng đi vào chiều sâu, tác động mạnh mẽ đến đời sống xã hội, trở thành động lực thúc đẩy tiến trình đổi mới.
- Giai đoạn 2001 - 2010: Để cụ thể hóa định hướng cải cách hành chính của Đảng và Nhà nước, ngày 17 tháng 9 năm 2001 Thủ tướng Chính phủ đã
ra Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010 xác lập khung pháp lý cỏ bản cho các hoạt động cải cách hành chính của mọi cấp, mọi ngành trong giai đoạn 2001 - 2010.
Bên cạnh mục tiêu chung là: “xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại hóa, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả theo nguyên tắc của nhà nước pháp quyền XHCN dưới sự lãnh đạo của Đảng; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất và năng lực đáp ứng yêu cầu của công cuộc xây dựng, phát triển đất nước Đến năm 2010, hệ thống hành chính về cơ bản được cải cách phù hợp với yêu cầu quản lý nền kinh tế thị trường định hướng XHCN”, chương trình tổng thể cải cách hành chính giai
đoạn 2001 - 2010 đã xác định các mục tiêu, nội dung, chương trình hành động
và các giải pháp cụ thể để thực hiện; đồng thời xác định rõ trách nhiệm của các Bộ, ngành, địa phương, các cấp trong tổ chức triển khai thực hiện Việc thực hiện Chương trình Tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn
2001 - 2010 đã mang lại những kết quả to lớn, nâng cao chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nền hành chính vẫn còn bộc lộ những nhược điểm, chưa đáp ứng được những yêu cầu của tiến trình đổi mới đang đi vào chiều sâu Vì vậy, tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính trong giai đoạn sắp tới vẫn là yêu cầu cấp thiết.
- Giai đoạn 2011 đến nay: Trên cơ sở đánh giá khách quan và nghiêm túc những thành tựu đạt được và những bất cập còn tồn tại trong quá trình thực hiện cải cách hành chính giai đoạn 2001 - 2010, Chính phủ đã ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính giai đoạn 2011 - 2020, xác định khung pháp lý cho chiến lược cải cách hành chính trong giai đoạn đẩy mạnh công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước Mục tiêu của cải cách hành chính ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020 là ngay từ những năm đầu của đổi mới Đảng
và Nhà nước ta đã xác định cải cách tổ chức và hoạt động của Bộ máy Nhà nước là nhằm xây dựng một nhà nước XHCN vững mạnh phục vụ cho công cuộc đổi mới Với định hướng đó, cải cách hành chính nhà nước là để tăng cường chất lượng hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước, là công cụ sắc
Trang 7bén để thực hiện công cuộc đổi mới Trong thời gian qua, cải cách hành chính nhà nước ta đã đạt được những kết quả sau:
1.1 Kết quả đạt được
Kết quả đạt được của cải cách hành chính nhà nước ta trong thời gian vừa qua khá toàn diện, tạo tiền đề thúc đẩy sự phát triển đồng bộ trên nhiều lĩnh vực Có thể thấy kết quả đạt được là rất đáng kể:
Một là: Thể chế của nền hành chính được cải cách và dần hoàn thiện phù hợp
với chủ trương quan trọng của Đảng và cơ chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế Theo đó thể chế về kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thể chế về tổ chức bộ máy, về cán bộ, công chức, viên chức về khoa học và công nghệ, về mối quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, về quyền con người, quyền công dân được quan tâm hoàn thiện theo hướng phát huy tối đa sự tham gia trí tuệ của toàn dân, tham gia xây dựng pháp luật Nổi bật là thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã thể hiện rõ về phát triển kinh
tế, tạo sự bình đẳng giữa các thành phần kinh tế, sắp xếp và đổi mới doanh nghiệp
nhà nước Nhiều “điểm nghẽn” về thể chế đã được phát hiện, xử lý, tháo gỡ khó
khăn, vướng mắc cho hoạt động đầu tư, kinh doanh, góp phần xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho doanh nghiệp; đồng thời nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về kinh tế theo phương châm kiến tạo, phát triển
Hai là: Cải cách thủ tục hành chính được xác định là khâu trọng tâm, đột phá
và được triển khai ở tất cả các cấp hành chính theo hướng đơn giản hóa, tạo môi trường thuận lợi, thông thoáng cho phát triển kinh tế- xã hội, bảo đảm lợi ích chính đáng và quyền làm chủ của nhân dân Tính từ đầu nhiệm kỳ Chính phủ Khóa XIV đến tháng 11/2020, đã đơn giản hóa hơn 1.000 thủ tục hành chính, có 3.893/6.191 điều kiện kinh doanh được cắt giảm, tiết kiệm hơn 5,9 triệu ngày công, tương đương hơn 893,9 tỷ đồng/năm; chỉ còn 6.776/9.926 danh mục hàng hóa phải kiểm tra chuyên ngành; tổng chi phí xã hội tiết kiệm được khoảng hơn 18 triệu ngày công, tương đương hơn 6.300 tỷ đồng/năm Mở rộng hình thức, phạm vi công khai, minh bạch hóa thủ tục hành chính và các thông tin quản lý nhà nước, tập trung cải thiện môi trường kinh doanh, nâng cao sức cạnh tranh Cơ chế một cửa, một cửa liên thông hiện đại được đổi mới theo hướng tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin, góp phần nâng cao chất lượng giải quyết thủ tục hành chính cho người dân, tổ chức, doanh nghiệp
Ba là: Bộ máy hành chính nhà nước từ Trung ương đến địa phương từng
bước đã phân định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, cơ bản khắc phục tình trạng chồng chéo,
Trang 8bỏ sót chức năng, nhiệm vụ, phạm vi, đối tượng quản lý; cơ cấu bên trong đã có sự phân định rõ hơn giữa cơ quan quản lý nhà nước và đơn vị sự nghiệp Việc triển khai Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đạt nhiều kết quả tích cực, đã giảm nhiều đầu mối và giảm đáng kể biên chế của các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị
và bộ máy hành chính nhà nước Đặc biệt, giảm trên 25% đơn vị sự nghiệp, giảm
trên 27.500 biên chế công chức (tương ứng giảm 10,01% so với năm 2015), giảm gần 243.000 biên chế viên chức (tương ứng giảm 11,98% so với năm 2015), giảm số
lượng cán bộ, công chức cấp xã và người hoạt động không chuyên trách ở ở thôn, bản, tổ dân phố gần 148.000 người; thực hiện sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, xã (giảm 08/713 đơn vị hành chính cấp huyện; giảm 557/11.160 đơn vị hành chính cấp xã; giảm 38.369/98.455 thôn, bản, tổ dân phố, tương ứng giảm 39%) Qua sắp xếp, bước đầu bảo đảm tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả
Bốn là: Về công tác xây dựng và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công
chức, viên chức Chúng ta đã thực hiện nhiều nỗ lực trong cải cách mô hình và những phương thức quản lý cán bộ, công chức, viên chức Từng bước đổi mới theo hướng linh hoạt, thông qua việc duy trì cơ bản mô hình công chức chức nghiệp, nhưng tăng cường các đặc điểm của mô hình theo việc làm Công tác quản lý cán
bộ, công chức, viên chức được phân cấp mạnh mẽ hơn trên tất cả các nội dung (xác định biên chế, tuyển dụng, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng, bổ nhiệm và đánh giá) Triển khai xác định danh mục vị trí việc làm và cơ cấu công chức theo ngạch trong các cơ quan, tổ chức Trách nhiệm trong hoạt động thực thi công vụ của cán bộ, công chức được đề cao và đặc biệt là trách nhiệm và thẩm quyền của người đứng đầu Đổi mới công tác thi tuyển và thi nâng ngạch công chức, công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức được đổi mới theo hướng gắn với vị trí việc làm và chức danh lãnh đạo, quản lý Công tác đánh giá cán bộ, công chức, viên chức được đổi mới theo hướng đề cao trách nhiệm người đứng đầu và gắn với kết quả công vụ Việc áp dụng phương pháp quản lý mới, công nghệ hiện đại đã góp phần nâng cao chất lượng, tính chuyên nghiệp, tinh thần trách nhiệm phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
Năm là: Cải cách tài chính công đã đạt được kết quả tích cực Công tác quản
lý tài chính, ngân sách có nhiều đổi mới nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn lực tài chính quốc gia cho phát triển kinh tế- xã hội; đã chú trọng cơ cấu lại ngân sách nhà nước, đổi mới cơ chế phân bổ ngân sách theo hướng phân cấp, đẩy mạnh khoán, đấu thầu, đặt hàng, giao nhiệm vụ và tăng cường tự chủ tài chính đối với đơn vị sự nghiệp công lập Theo đó, làm tăng tính hiệu quả của chi tiêu công, hạn chế tham
Trang 9nhũng, lãng phí trong sử dụng ngân sách nhà nước, góp phần tăng cường kỷ cương,
kỷ luật tài chính, tăng tính công khai, minh bạch, bảo đảm dân chủ trong thực hiện ngân sách nhà nước
Sáu là: Hiện đại hóa nền hành chính Đẩy mạnh sử dụng công nghệ thông tin
trong hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, xây dựng chính phủ điện tử, chính quyền điện tử là kết quả hết sức nổi bật Việc phát triển hệ thống một cửa điện
tử cấp huyện, xã cho tới mô hình trung tâm phục vụ hành chính công cấp tỉnh được triển khai rộng rãi Các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, 4 ngày càng mở rộng, nâng cao chất lượng phục vụ người dân và doanh nghiệp Tính đến ngày 30/12/2020, cả nước đã có 2.700 dịch vụ công trực tuyến được tích hợp và 2.700/6.790 thủ tục hành chính được cung cấp cho người dân và doanh nghiệp trên Cổng dịch vụ công quốc gia Đến ngày 24/12/2020 đã có 100 triệu lượt truy cập vào Cổng dịch vụ công Quốc gia Tổng chi phí tiết kiệm được khi thực hiện dịch vụ công trực tuyến từ Cổng dịch vụ công quốc gia được khai trương vào cuối năm 2019 đến cuối năm 2020 là 8000 tỷ đồng Trên cơ sở đó, đã có nhiều đổi mới theo hướng công khai, minh bạch, hiệu quả, từng bước tiến tới một nền hành chính phục vụ, hiện đại, chuyên nghiệp
1.2 Hạn chế
Cải cách hành chính nhà nước ta trong những năm qua vẫn còn những hạn chế nhất định Bộ máy nhà nước ở một số nơi còn cồng kềnh; sắp xếp, tinh gọn tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế còn khó khăn, hiệu quả chưa cao Phân công, phân cấp, phân quyền giữa các ngành, các cấp chưa hợp lý, mạnh
mẽ và đồng bộ Tổ chức và hoạt động của chính quyền một số địa phương chậm đổi mới Hệ thống các đơn vị sự nghiệp công lập còn lớn, hiệu quả chưa cao Dịch vụ hành chính công trong một số lĩnh vực vẫn còn phiền hà; năng lực, phẩm chất, ý thức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức chưa đáp ứng yêu cầu Việc xây dựng các cơ sở dữ liệu quốc gia, hạ tầng công nghệ thông tin phục vụ phát triển chính quyền điện tử còn chậm; tỷ lệ sử dụng dịch vụ công trực tuyến còn rất thấp.
2 Thực tiễn cải cách hành chính ở Thanh Hóa trong thời gian qua
2.1 Kết quả
2.1.1 Cải cách thể chế
Việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật thời gian qua cơ bản tuân thủ theo quy định Các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật được lấy ý kiến thẩm định của cơ quan tư pháp, các Ban của HĐND thẩm tra (đối với dự thảo Nghị
Trang 10quyết của HĐND) Chất lượng của các văn bản quy phạm pháp luật từng bước được nâng cao, phần lớn đều bảo đảm tính hợp pháp, khả thi, thống nhất và đồng bộ; hệ thống văn bản pháp luật; bảo đảm về nội dung, thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản; bảo đảm yêu cầu cải cách thủ tục hành chính, góp phần thực hiện có hiệu quả công tác thi hành pháp luật
Công tác rà soát văn bản quy phạm pháp luật được tiến hành thường xuyên, công tác xử lý các văn bản đã hết hiệu lực, trái pháp luật, mâu thuẫn, chồng chéo hoặc không còn phù hợp, phát hiện thông qua rà soát được quan tâm thực hiện Công tác tự kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật do UBND tỉnh ban hành và kiểm tra văn bản do HĐND, UBND, Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố ban hành được các cơ quan, đơn vị thực hiện đúng quy định Qua kiểm tra kịp thời phát hiện các văn bản ban hành chưa phù hợp với quy định của pháp luật, tình hình thực
tế và có kiến nghị xử lý đối với các văn bản có dấu hiệu vi phạm, góp phần hoàn thiện thể chế, cơ chế chính sách của địa phương
2.1.2.Cải cách thủ tục hành chính
Trong những năm qua, tỉnh Thanh Hóa đã thành lập, đưa vào hoạt động Trung tâm phục vụ hành chính công tỉnh và các Trung tâmm hành chính công cấp huyện Đưa vào sử dụng, cung cấp 100% các dịch vụ công trực tuyến mức độ 2; 623 dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 177 dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 cấp tỉnh, cấp huyện Các chỉ tiêu quan trọng trong cải cách hành chính nhà nước được cải thiện; thời gian thực hiện các thủ tục hành chính được rút ngắn so với quy định của Trung ương, góp phần giảm thời gian và tiết kiệm chi phí cho doanh nghiệp
- Về kiểm soát, công bố, công khai, nhập dữ liệu thủ tục hành chính vào cơ sơ
dữ liệu quốc gia.
UBND tỉnh và các cơ quan chuyên môn trực thuộc, UBND cấp huyện đã ban hành các kế hoạch kiểm soát thủ tục hành chính Việc đánh giá tác động của thủ tục hành chính đã được tổ chức thực hiện ở một số đơn vị như Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; Sở Tư pháp
UBND tỉnh đã thực hiện công bố thủ tục hành chính mới ban hành, sửa đổi,
bổ sung hoặc thay thế trên các lĩnh vực Các thủ tục hành chính của tỉnh được cập nhật kịp thời vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính Danh mục và nội dung cụ thể của thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các sở, ngành, UBND cấp huyện, cấp xã cơ bản được niêm yết công khai trên bảng tin điện tử của các cơ quan, đơn vị, tạo thuận lợi cho việc tìm hiểu, khai thác của các tổ chức,