Đối tƣợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu Đối tƣợng nghiên cứu: là quy trình công nghệ khoan và các hệ dung dịch sử dụng trong tầng móng vùng Đông Nam Rồng, có hệ số áp suất ngày càng s
Trang 1PGS.TS TRẦN ĐÌNH KIÊN
HÀ NỘI – 2014
Trang 2CỘNG HÕA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
BÁO CÁO VỀ VIỆC BỔ SUNG, SỬA CHỮA LUẬN VĂN THEO BIÊN BẢN
CỦA HỘI ĐỒNG ĐÁNH GIÁ LUẬN VĂN THẠC SĨ
Kính gửi: - Trường Đại học Mỏ - Địa chất;
- Phòng Đào tạo Sau đại học
Họ và tên học viên: Hà Văn Hay
Tên đề tài luận văn: “Nghiên cứu lựa chọn hệ dung dịch khoan phù
hợp cho tầng đá móng vùng đông nam mỏ Rồng”
1 Lỗi chính tả và lỗi chế bản tại các trang đã được sửa chữa
2 Lỗi đơn vị đo tỉ trọng và gradient áp suất
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chƣa từng đƣợc ai công bố trong bất
kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Hà Nội, ngày 15 tháng 10 năm 2014
TÁC GIẢ
Trang 4MỤC LỤC
Trang phụ bìa 1
Lời cam đoan 1
Mục lục 3
Danh sách các ký hiệu và chữ viết tắt 6
Danh mục các bảng biểu 7
Danh mục các hình vẽ và đồ thị 8
LỜI MỞ ĐẦU 1 Tính cấp thiết của đề tài 9
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Đối tượng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu 10
4 Nội dung nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 11
6 Luận điểm bảo vệ 11
7 Ý nghĩa khoa học học và thực tiễn của luận văn 11
8 Cấu trúc và khối lượng của luận văn 12
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KHOAN Ở TẦNG MÓNG MỎ RỒNG VÀ VÙNG ĐÔNG NAM RỒNG
1.1 Tổng quan về mỏ Rồng 13
1.2 Đặc điểm đứt gãy cấu tạo Rồng 16
1.3 Đặc điểm tầng đá móng nứt nẻ 18
1.4 Đặc điểm cấu trúc địa chất tầng móng vùng Đông Nam Rồng 19
1.5 Cấu trúc giếng Khoan 22
1.6 Các sự cố và phức tạp khi khoan qua tầng móng 26
1.6.1 Mất dung dịch 26
1.6.2 Các sự cố và phức tạp liên quan đến việc mất dung dịch 27
Trang 5CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC SỬ DỤNG DUNG DỊCH KHOAN MỞ VỈA SẢN PHẨM TẦNG ĐÁ MÓNG VÙNG ĐÔNG NAM MỎ RỒNG ĐÃ VÀ ĐANG
ÁP DỤNG
2.1 Phương pháp sử dụng hệ dung dịch Polimer ít sét có bổ sung chất hoạt
tính bề mặt (P.IS + PAV) 31
2.1.1 Ngăn ngừa tình trạng mất dung dịch 34
2.1.2 Các biện pháp xử lý việc mất dung dịch 35
2.2 Phương pháp sử dụng hệ dung dịch muối 41
2.2.1 Biện pháp công nghệ khi không mất dung dịch hay tốc độ mất dung dịch nhỏ 45
2.2.2 Biện pháp công nghệ khi mất dung dịch từng phần với tốc độ mất dung dịch lên đến 100 thùng/giờ 46
2.2.3 Biện pháp công nghệ khi mất dung dịch hoàn toàn với tốc độ mất dung dịch trên 100 thùng/giờ 48
CHƯƠNG 3: ĐÁNH GIÁ VÀ LỰA CHỌN HỆ DUNG DỊCH KHOAN PHÙ HỢP CHO TẦNG ĐÁ MÓNG VÙNG ĐÔNG NAM MỎ RỔNG 3.1 Phân tích đánh giá các hệ dung dịch khoan đã được áp dụng 54
3.1.1 Giải pháp sử dụng hệ dung dịch P.IS + PAV 54
3.1.2 Giải pháp sử dụng hệ dung dịch muối 55
3.1.3 Công nghệ khoan áp dụng khi mất dung dịch hoàn toàn 56
3.2 Lựa chọn hệ dung dịch khoan phù hợp cho tầng đá móng vùng Đông Nam mỏ Rồng 60
3.2.1 Các yếu tố cơ bản để lựa chọn một hệ dung dịch khoan 60
3.2.2 Các thông số cơ bản để thiết kế một hệ dung dịch khoan 61
3.2.2.Lựa chọn hệ dung dịch và giải pháp công nghệ khoan cho tầng đá
móng vùng Đông Nam mỏ Rồng 64
3.2.3.1 Lựa chọn hệ dung dịch 66
Trang 63.2.3.2 Giải pháp công nghệ khoan khi xảy ra mất dung dịch cho tầng
đá móng vùng Đông Nam mỏ Rồng 70
3.2.3.3 Hiệu quả kinh tế khi sử dụng dung dịch và các giải pháp trên 72
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 76
1 KẾT LUẬN 76
2 KIẾN NGHỊ 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VÀ CHỮ VIẾT TẮT
P.IS + PAV: Hệ dung dịch polimer ít sét có bổ sung chất hoạt tính bề mặt CMC LV: Carbua methyl xenlulozo độ nhớt thấp
FCM: Floating Mud Cap
LCM: Vật liệu chống mất dung dịch (Lost Circulation Material)
KR-22: Polimer silic hữu cơ kỵ nước
Gpm: Galong trên phút (gallon per minute)
Bpm: Thùng trên phút (barrel per minute)
OBK: Cacbonat canxi rỗng xốp
YP: Ứng lực cắt động (Lb/100ft2
) PV: Độ nhớt dẻo (CPs)
Gel: Độ bền gel
Nước KT: Nước kỹ thuật
VSP: Xí nghiệp liên doanh Vietsovpetro
XNLD: Xí nghiệp liên doanh
γ: Trọng lượng riêng của dung dịch
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 2.1 Đơn pha chế hệ dung dịch P.IS + PAV 32
2 Bảng 2.2 Thông số hệ dung dịch P.IS + PAV 33
7 Bảng 2.7 Đơn pha chế dung dịch muối NaCl 42
9 Bảng 2.9 Đơn pha chế dung dịch muối CaCl2 44
10 Bảng 2.10 Kích thước của các vật liệu LCM hiện đang sử
Trang 9DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ VÀ ĐỒ THỊ
1 Hình 1.1 Vị trí địa lý vùng Đông Nam mỏ Rồng 14
2 Hình 1.2 Cột địa tầng tổng hợp vùng Đông Nam mỏ Rồng 19
3 Hình 1.3 Cấu trúc giếng khai thác sử dụng cho vùng Đông
6 Hình 3.1 Sơ đồ công nghệ khoan mũ dung dịch 70
7 Hình 3.2 Biểu đồ so sánh tỷ lệ thời gian khoan của hai
8 Hình 3.3 Biểu đồ so sánh chi phí dung dịch khoan của hai
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Công nghiệp dầu khí ngày càng không ngừng phát triển, trong đó phải
kể đến sự tiến bộ to lớn của công nghệ và kỹ thuật khoan dầu khí Việc ứng dụng những tiến bộ này sẽ góp phần làm tăng tính khả thi và hiệu quả của dự
án khoan thăm dò, thẩm định và khai thác
Ở Việt Nam, sau hơn 35 năm tìm kiếm, thăm dò và khai thác Dầu khí tại thềm lục địa miền Nam Việt Nam nói chung và vùng Đông Nam mỏ Rồng nói riêng các nhà đầu tư đã khoan trên 750 giếng khoan thăm dò – khai thác với hàng triệu mét khoan và chi phí nhiều tỷ USD Trong quá trình khoan thăm dò và khai thác vào tầng móng, nhiều hệ dung dịch và công nghệ mở vỉa sản phẩm khác nhau đã được áp dụng Tuy nhiên, thực tế cho thấy tại nhiều giếng khoan qua tầng móng khi thi công có biểu hiện dầu khí tốt nhưng khi thử vỉa sản phẩm thì lại cho kết quả không đúng với tiềm năng của vỉa hoặc thậm chí không có dòng Điều đó chứng tỏ quá trình khoan mở vỉa sản phẩm
đã làm cho vỉa bị nhiễm bẩn và sự lưu thông của dòng sản phẩm vào giếng bị hạn chế
Do vậy, luận văn Nghiên cứu lựa chọn hệ dung dịch khoan phù hợp cho tầng đá móng vùng Đông Nam mỏ Rồng là cần thiết Kết quả luận văn
không những có ý nghĩa khoa học mà còn có ý nghĩa thực tiễn góp phần nâng cao sản lượng và hiệu quả khai thác dầu khí của vùng Đông Nam mỏ Rồng và góp phần nâng cao hiệu quả cho các dự án tìm kiếm thăm dò và khai thác dầu khí đang và sẽ được triển khai tại bồn trũng Cửu long nói chung
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở phân tích các đặc điểm phân bố địa chất, đặc điểm sự phân
bố áp suất, khe nứt và đánh giá, so sánh các hệ dung dịch, các giải pháp khoan
Trang 11mở vỉa khác nhau đã và đang sử dụng tại tầng móng vùng Đông Nam mỏ Rồng Tác giả nghiên cứu lựa chọn hệ dung dịch khoan phù hợp cho tầng đá móng vùng Đông Nam mỏ Rồng nhằm nâng cao hiệu quả khoan mở vỉa sản phẩm, gia tăng sản lƣợng cũng nhƣ hiệu quả kinh tế & kỹ thuật của dự án thăm dò – khai thác dầu khí ở vùng Đông Nam mỏ Rồng nói riêng và bồn trũng Cửu Long nói chung
3 Đối tƣợng, phạm vi và nhiệm vụ nghiên cứu
Đối tƣợng nghiên cứu: là quy trình công nghệ khoan và các hệ dung dịch sử dụng trong tầng móng vùng Đông Nam Rồng, có hệ số áp suất ngày càng suy giảm do tác động của quá trình khai thác dầu khí Trong đó cụ thể các giải pháp ngăn ngừa và xử lý mất dung dịch khi khoan qua tầng đá móng nhằm nâng cao hiệu quả công tác khoan mở vỉa sản phẩm
Phạm vi nghiên cứu: lựa chọn ra hệ dung dịch và giải pháp khoan mở vỉa tối ƣu nhất để áp dụng cho tầng đá móng vùng Đông Nam mỏ Rồng Trong đó trọng tâm nhất là lựa chọn ra hệ dung dịch khoan tối ƣu và hoàn thiện các biện pháp xử lý các phức tạp, sự cố trong quá thi công khoan
Nhiệm vụ của luận văn: là nghiên cứu lựa chọn hệ dung dịch khoan phù hợp cho tầng móng vùng Đông Nam mỏ Rồng trên cơ sở điều kiện đặc thù địa chất của tầng đá móng
4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu, phân tích và đánh giá về những khó khăn và phức tạp khi
khoan qua tầng móng – vỉa sản phẩm vùng Đông Nam Rồng
- Nghiên cứu và đánh giá các công nghệ khoan mở vỉa đã và đang áp dụng
tại tầng móng vùng Đông Nam Rồng
- Trên cơ sở các phân tích và đánh giá trên, tác giả sẽ lựa chọn hệ dung
dịch khoan và các giải pháp công nghệ khoan phù hợp nhất cho tầng móng
vùng Đông Nam Rồng
- Hiệu quả kinh tế khi sử dụng dung dịch và các giải pháp trên
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện tốt nội dung nghiên cứu trên, tác giả luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
1 Tập hợp xử lý và thống kê các tài liệu sản xuất để đánh giá các khó khăn và phức tạp khi khoan qua tầng móng – vỉa sản phẩm vùng Đông
Nam Rồng
2 Nghiên cứu lý thuyết: Chủ yếu thuộc loại nghiên cứu thư mục để làm sáng tỏ các ưu nhược điểm của những công nghệ khoan cũng như hệ dung dịch khoan đã và đang áp dụng để khoan qua tầng móng và khả
năng áp dụng các công nghệ cùng các hệ dung dịch trên
3 Đánh giá thống kê các kết quả nghiên cứu thông qua các số liệu thống
kê từ thực tế khoan ở tầng móng đã và đang áp dụng ở vùng Đông Nam
Rồng
6 Luận điểm bảo vệ
1 Hệ dung dịch polymer ít sét có bổ sung thêm chất hoạt tính bề mặt là
hệ dung dịch thích hợp để khoan qua nóc móng nơi có rủi ro gặp mũ khí
2 Hệ dung dịch muối là hệ dung dịch phù hợp nhất hiện nay để khoan
mở vỉa sản phẩm tầng móng vùng Đông Nam Rồng
3 Công nghệ khoan mũ dung dịch là phương là phương pháp khoan đem lại hiệu quả cao trong tầng móng có hệ số áp suất thấp
7 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
1 Hệ dung dịch muối là hệ dung dịch thích hợp nhất hiện nay để khoan
mở vỉa sản phẩm tầng móng tại vùng Đông Nam Rồng Tuy nhiên hệ dung dịch polymer ít sét có bổ sung thêm chất hoạt tính bề mặt lại phù hợp để khoan qua nóc móng nơi có rủi ro gặp mũ khí
2 Khi khoan các giếng khoan khai thác công nghệ khoan sử dụng mũ dung dịch là phương pháp khoan đem lại hiệu quả cao trong tầng móng có áp
Trang 13suất thấp khi xảy ra tốc độ mất dung dịch lên đến trên 100 thùng/giờ, bên cạnh đó để khắc phụ mất dung dịch đối với giếng khoan bơm ép thì công nghệ
sử dụng nút cách ly tỏ ra rất hiệu quả
3 Giúp nâng cao chất lượng khoan cho tầng móng: Cải thiện tốc độ khoan, khắc phục sự cố mất dung dịch, giảm thiểu sự nhiễm bẩn vỉa sản phẩm
4 Đề tài xuất phát từ yêu cầu thực tế sản xuất Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần giải quyết những khó khăn, phức tạp khi khoan mở vỉa
ở tầng móng vùng Đông Nam Rồng
8 Cấu trúc và khối lượng của luận văn
Luận văn gồm phần mở đầu, 3 chương, kết luận, kiến nghị và danh mục tài liệu tham khảo Toàn bộ nội dung của luận văn được trình bày trong 80 trang trên khổ giấy A4, cỡ chữ 14, font chữ Time New Roman, Unicode, trong đó có 8 hình vẽ và 12 bảng biểu
Luận văn được hoàn thành tại bộ môn Khoan - Khai thác, khoa Dầu khí, trường Đại học Mỏ - Địa chất, dưới sự hướng dẫn khoa học của:
PGS.TS Trần Đình Kiên – Trường Đại học Mỏ - Địa chất
Trong quá trình làm luận văn tác giả đã nhận được sự giúp đỡ và tạo điều kiện của Ban lãnh đạo Liên doanh Vietsovpetro, các bạn đồng nghiệp trong ngành Dầu khí Tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc trước sự hỗ trợ hết sức quý báu đó
Tác giả cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Mỏ
- Địa Chất, các cán bộ hướng dẫn khoa học, các cơ quan, đồng nghiệp đã động viên, tạo điều kiện và giúp đỡ tác giả hoàn thành luận văn này
Do luận văn là một đề tài rộng, nhiều vần đề cần tiếp tục được hoàn thiện Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp để nâng cao và hoàn thiện hơn nữa
Xin chân thành cảm ơn!
Trang 14CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN HOẠT ĐỘNG KHOAN Ở TẦNG MÓNG
MỎ RỒNG VÀ VÙNG ĐÔNG NAM RỒNG
1.1 Tổng quan về mỏ Rồng
Mỏ Rồng nằm ở lô 09-1 trên thềm lục địa phía Nam Việt Nam, cách thành phố cảng Vũng Tàu 120km – là trung tâm công nghiệp dầu khí của Việt Nam Mực nước biển ở vùng mỏ dao động từ 25 cho đến 60m Hàng năm, nước biển có nhiệt độ thay đổi từ 24,9 đến 29,60C, nồng độ muối từ 33 đến 35g/l, khí hậu là nhiệt đới gió mùa Nhiệt độ trung bình của không khí là 270
C
Mỏ Rồng thuộc vùng có mức độ chấn động địa chấn có thể đạt 8 độ Ricte Phần trên mặt cắt địa chất là á sét nửa cứng có độ bền cao, thuận tiện cho việc xây dựng các công trình biển Điều kiện địa chất công trình các trầm tích đáy
đa dạng Theo số liệu khảo sát địa chất công trình bề mặt đáy gặp nhiều thấu kính bùn, sét chảy có lót đệm lớp á sét tương đối cứng
Đến nay trên mỏ đã xây dựng một giàn khoan cố định (MSP) RP-1 ở khu trung tâm mỏ Rồng và 2 giàn nhẹ RC1 và RC2 trên lần lượt vùng Đông Bắc Rồng và Đông Nam Rồng, 1 giàn phụ RP-2 trên vùng Đông Rồng Lắp hệ thống ống dẫn liên hoàn nối giữa RC-2, RP-1 và RC-1 với hệ thống dẫn dầu của mỏ Bạch Hổ và trạm rót dầu không bến giữa RP-1 và RC-1 Hình 1.1 biểu diễn vị trí mỏ Đông Nam Rồng và các mỏ lân cận thuộc bể Cửu Long
Trên bình đồ cấu trúc của tầng móng, tỷ lệ 1:50.000, vùng mỏ Rồng bao gồm nhiều khối nâng, sụt khác nhau được tách biệt nhau bởi các đứt gãy hướng Đông Bắc – Tây Nam, Đông – Tây và á Bắc - Nam Các đứt gãy này
có biên độ lớn từ vài trăm tới hơn 1000m Hình các khối nâng, sụt chủ yếu của móng như sau:
Trang 15CONOCO CONOCO
135
136
134 133
Kim Cöông Tay Hai Thach
07
Dai Bang - Ung Trang
Thien Nga
Hai Au Thanh Long
Bo Cau Mang Cau Dai Hung
04.3
05.1B 05.1C
13
12W 12E
22 21
Rong Doi Rong Bay
11-2
11-1 19
CONOCO
JPVC SOCO
16-2
16-1
15.2 09
Hình 1.1 Vị trí địa lý vùng Đông Nam mỏ Rồng
a Cấu tạo Đông Bắc Rồng (HI): theo đường đồng mức khép kín 4100m nó
được chia thành 2 vòm: vòm bắc và vòm nam, được giới hạn các phía bởi các đứt gãy có phương đông bắc – tây nam Vòm bắc có kích thước 1 x 4,5km và hướng Đông Bắc – Tây Nam là giới hạn Tây của cấu tạo Còn vòm nam có kích thước 2 x 1,5km, biên độ 700m, tại đây đã khoan R-6, R-8
b Cấu tạo trung tâm Rồng (HII): theo bề mặt đường đồng mức khép kín tại
đường đồng mức 3500m với biên độ trên 1000m Cấu tạo dạng vòm bị phân chia thành một loạt các khối bởi các đứt gãy hướng vĩ tuyến, á vĩ tuyến và á kinh tuyến Chiều dài trục cấu tạo có hướng đông bắc – tây nam
Trang 16Khối đông bắc theo đường đồng mức 2800m có kích thước 1 x 1,5km biên
độ 200m, khối trung tâm theo đường đồng mức khép kín 2800m, có kích thước 8 x 2,5 km, biên độ 400m Ở đây đã khoan thăm dò R-1; R-9; R-101 và
11 giếng khoan khai thác từ giàn khai thác RP-1
Khối nam (HIII) (vùng giếng khoan R-2, R-15, R-16) có hướng á vĩ tuyến
bị phân cách khỏi khối nâng trung tâm bởi một eo sụt, có kích thước 2,5x1,5km
Khối đông nam (vùng R-23 và R-24): là những khối nhỏ tương đối cao của cấu trúc trong dạng chuyển tiếp giữa các cấu tạo Rồng Trung tâm và Rồng Đông nam, sườn phía bắc và nam giáp với các trũng sâu Ở đây có hai khối nhô R-23 và R-24, cỡ diện tích tương ứng là 1,5km2 và 1,5km2 theo đường đồng mức 3400m Cấu tạo có phương á vĩ tuyến
Giếng khoan R-23 đã khoan vào 6-2004 và nhận được dòng dầu tự phun từ móng
c Cấu tạo Đông Rồng (HIV) (vùng R-18, R-11) là khối nâng cao được giới
hạn từ mọi phía bằng các đứt gãy có phương á vĩ tuyến và á kinh tuyến Đường đồng mức khép kín của cấu tạo ở độ sâu 4250m, biên độ 500m Trục của cấu tạo gần trục với hướng á vĩ tuyến Khối này là cao nguyên bị lún chìm
ở phía nam, kích thước khoảng 3,5x2,5km Giới hạn khép kín phía Tây của cấu tạo là đứt gãy nghịch hướng Bắc Đông Bắc – Nam Tây Nam
d Cấu tạo Đông Nam Rồng (HV) (Vùng R-14, R21) theo bề mặt móng cấu
tạo Rồng đông nam có cấu trúc phức tạp, đường đồng mức khép kín xác định
tại độ sâu 2950m Trong giới hạn đường đồng mức này kích thước của cấu tạo
là 8x7km, biên độ 600m
Trang 171.2 Đặc điểm đứt gãy cấu tạo Rồng
Có 4 hệ thống đứt gãy được quan sát trong diện tích mỏ Rồng, có phương Đông Bắc – Tây Nam, á vĩ tuyến, á kinh tuyến và Tây Bắc – Đông Nam Các
đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam phân bố chủ yếu ở phần phía Nam vùng nghiên cứu Các đứt gãy chính trong cấu tạo Nam Trung tâm Rồng Đông Nam Rồng và Đông Rồng đã được đặt tên và xác định vị trí trên các bản đồ đẳng sâu theo các mặt phản xạ địa chấn
a Hệ đứt gãy phương ĐôngBắc – Tây Nam gồm 3 nhóm đứt gãy chủ yếu
- Nhóm đứt gãy Bắc và Đông Bắc Rồng
- Nhóm đứt gãy Trung tâm Rồng và Đông Rồng
- Nhóm đứt gãy Đông Nam Rồng
Trong đó bao gồm cả 5 đứt gãy nghịch hoạt động trong pha nén ép đầu Oligocen muộn (cuối SH-10), và cả các đứt gãy có thể hình thành do nén ép trọng lực, ít liên quan đến các đứt gãy sâu hình thành vào cuối Oligocen và Miocen sớm
Nhìn chung các đứt gãy thuận hướng Đông Bắc – Tây Nam đóng vai trò tạo sụt bậc về phía các trũng Đông và Tây Bạch Hổ Các đứt gãy này là các ranh giới giữa các khối Listric của bể Cửu Long Cenozoic sớm Chúng hoạt động đồng trầm tích trong các tầng SH-11, SH-10, SH-8, SH-7 trong Oligocen, một vài đứt gãy tái hoạt động mạnh sau Oligocen (sau SH-5, SH-3)
và sau các tầng SH-10, SH-8 ở vài nơi Pha tái hoạt động đứt gãy sau Oligocen và pha nén ép tạo đứt gãy nghịch vào đầu Oligocen muộn (cuối thời
kỳ SH-10) đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra các nứt nẻ thứ sinh kèm các đứt gãy chính trong đá móng
Trang 18b Hệ đứt gãy phương á vĩ tuyến gồm có 4 nhóm đứt gãy chủ yếu
- Nhóm đứt gãy Bắc và Đông Bắc Rồng
- Nhón đứt gãy Trung tâm và Đông Rồng
- Nhóm đứt gãy Nam Trung tâm Rồng
- Nhóm đứt gãy Đông Nam Rồng
Hệ đứt gãy này hoạt động mạnh sau tầng SH-11, đồng trầm tích trong các tầng SH-8, SH-7 và tái hoạt động sau Oligocen (sau SH-5 và SH-3) Một vài đứt gãy hình thành do tải trọng trầm tích có phương này
c Hệ đứt gãy phương á kinh tuyến
Gồm có 3 nhóm chính:
- Nhóm đứt gãy Đông Bắc Rồng
- Nhóm đứt gãy Trung tâm Rồng và Đông Rồng
- Nhóm đứt gãy Đông Nam Rồng
Nhìn chung các đứt gãy nhóm này được hình thành và phát triển vào Oligocen muộn (sau SH-11), chúng có thể là các đứt gãy tái hoạt động của các đứt gãy cổ hoạt động trong Jura muộn - Creta
d Hệ đứt gãy phương Tây Bắc – Đông Nam
Nhóm đứt gãy này phát triển chủ yếu ở Nam Trung tâm Rồng Đứt gãy phát triển kế thừa từ móng, hoạt động trầm tích trong Oligocen và tái hoạt động sau Oligocen (sau SH-3)
Tóm lại kết quả nghiên cứu cho thấy: hoạt động đứt gãy tắt dần vào cuối Oligocen, chỉ có các đứt gãy sâu là ranh giới của các khối cấu tạo Rồng có hướng Đông Bắc – Tây Nam, á vĩ tuyến và Tây Bắc – Đông Nam, hoạt động
kế thừa từ móng, có biên độ dịch chuyển lớn tới hơn 1000m, phần lớn chúng tái hoạt động sau Oligocen Hệ đứt gãy chờm nghịch hướng Đông Bắc – Tây Nam hình thành và hoạt động trong pha nén ép đầu Oligocen (cuối SH-10)
Trang 191.3 Đặc điểm tầng đá móng nứt nẻ
Theo tài liệu của các giếng khoan trên mỏ Rồng, đá móng trước Kainozoi
bao gồm các đá macma và biến chất, thành phần chủ yếu là đá granit, granodiorit và diorit Ở vùng Đông Nam Rồng (Giếng khoan R-14) trên móng diorite thạch anh có phủ một lớp cuội núi lửa hạt thô Đá macma ở mỏ Rồng (diorite thạch anh) có tuổi tuyệt đối theo phóng xạ K-Ar biến đổi từ 50-78 triệu năm ở vùng Đông Nam Rồng, còn ở vùng Đông Bắc Rồng (Giếng khoan R-7) là 170 triệu năm và gabro ở giếng khoan R-16 vùng Nam Trung tâm Rồng là 50-59 triệu năm Đặc trưng đá móng ở vùng Trung tâm cho thấy đá móng bị nứt nẻ, đôi khi có hang hốc, các nứt nẻ được lấp đầy canxit và zeolit, đôi chỗ có gnei bắt gặp trong giếng R-23 (độ sâu 3685-3690,8m)
Trên cơ sở kết quả phân tích tài liệu địa vật lý giếng khoan, phân tích đặc tính chứa của đá móng với khoảng cách mỗi 50m từ nóc móng cao nhất, độ rỗng nứt nẻ biến đổi theo diện và theo độ sâu, giá trị độ rỗng nứt nẻ tăng dần
về phía đứt gãy, đặc biệt là đứt gãy nghịch Tuy nhiên do giếng khoan phần lớn tập trung ở vùng giếng khoan R-14 nên số liệu chưa phản ánh toàn thể xu thế độ rỗng nứt nẻ
Trang 201.4 Đặc điểm cấu trúc địa chất tầng móng vùng Đông Nam Rồng
Hình 1.2 Cột địa tầng tổng hợp vùng Đông Nam mỏ Rồng
Trang 21Theo những quan điểm mới, mỏ Rồng có cấu tạo phức tạp, bao gồm 32 thân dầu khí, cacbuahydro xác định được trong cấu tạo Rồng, Đông Rồng và Đông Nam Rồng Theo trạng thái pha, có 30 thân dầu, 2 thân khí condensate Hai thân khí condensate thuộc trầm tích Oligocen trên (1 thân) và Oligocen dưới (1 thân) ở cấu tạo Rồng Các thân dầu được phát hiện ở khoảng chiều sâu 1770 – 4250m, tầng chứa dầu khí – 2480m
Theo thành phần, mỏ Rồng có chứa khí condensate Tuy nhiên, do phần khí condensate có khối lượng không đáng kể so với tổng trữ lượng, nên có thể coi đây là mỏ dầu Về con số trữ lượng thu hồi đây là mỏ trung bình
Mỏ này thuộc loại đa vỉa, nhiều thân khoáng Có 29 thân dầu thuộc cấu tạo Rồng, 2 thân thuộc Đông Rồng và 1 thân thuộc Đông Nam Rồng 30 thân dầu được phát hiện trong trầm tích lục nguyên Theo dạng bẫy các thân dầu thuộc loại vỉa và tập trung ở các tầng cát kết – bột của Oligocen dưới, Oligocen trên
và Miocen dưới Thân dầu lớn nhất của mỏ có liên quan đến trầm tích phủ nằm ở Oligocen dưới, đứng thứ hai về trữ lượng là thân dầu trong Miocen dưới, thứ ba nằm trong Oligocen trên
Trong đá móng đã phát hiện 2 thân dầu ở cấu tạo Đông Nam Rồng và ở Đông Rồng Trong đó lớn nhất về trữ lượng là thân dầu trên cấu tạo Đông Nam Rồng
Cấu trúc địa chất vùng Đông Nam Rồng: Thân dầu thuộc cấu tạo cùng tên,
theo bản đồ cấu trúc mặt móng có đường đẳng sâu khép kín ngoài cùng – 2975m diện tích là 20,3km2, biên độ chiều cao là 885m
Trên cấu tạo đã tiến hành thăm dò địa chấn 3D và khoan 3 giếng khoan thăm dò (R-14, R-21, R-22) và 4 giếng khoan khai thác (R-201, 203, 206 và 305), các tài liệu rất phù hợp với nhau và cho ra khái niệm tin cậy về hình thái cấu trúc theo mặt móng
Trang 22Phần đỉnh vòm của cấu tạo trong vùng các giếng khoan 14, 21,
R-203, R-206 và R-305 và được khoanh định bởi đường đẳng sâu -2500m Cấu tạo bị phức tạp bởi nhiều đứt gãy kiến tạo cả dạng phay thuận và phay nghịch Biên độ trong đường khép kín không quá 300m Đứt gãy chạy theo 3 hướng: Đông Bắc, á kinh tuyến và á vĩ tuyến, chúng chia cấu tạo thành 7 khối: Khối Bắc, khối Tây Bắc (giếng khoan R-305), khối Đông Bắc, khối Trung Tâm (R-21), khối Tây Nam (R-201 và R-14), khối Nam (R-206), khối Đông Nam(R-203) Mỗi khối đặc trưng có độ nghiêng mặt móng khác nhau Góc nghiêng lớn nhất (trong khoảng bình độ - 2500 đến -2975m) thấy ở khối Tây Nam (300) và khối Đông Bắc (400) Góc nghiêng của mặt móng thoải hơn là ở các khối Tây – Bắc (80), khối Nam (130) và khối Đông Nam (120), do vậy diện tích trong đường biên – 2975m lớn hơn đáng kể so với các khối trung tâm, khối Tây Nam và Đông Bắc Những khối thoải thường có vòm nhỏ và lún chìm, một phần trong đó có dạng biên khép kín và biên độ chiều cao không quá 50m
Lát cắt địa chất thuộc vùng Đông Nam Rồng gồm: đá móng, đá lục nguyên phun trào thuộc Oligocen trên, chủ yếu là đá lục nguyên và trầm tích tuổi từ Miocen đến đệ tứ Việc phân chia địa tầng trong các giếng khoan cho thấy rằng: trên phần đã khoan ở Đông Nam Rồng vắng trầm tích Oligocen dưới Phần còn lại, lát cắt tương tự với các vùng khác của mỏ Trong lát cắt Đông Nam Rồng không thấy các đới dị thường áp suất tăng và giảm, Gradient áp suất vỉa tăng cực đại ở trên mức thủy tĩnh 1,15 lần thấy ở lớp sét thuộc Oligocen trên, nằm phủ trên đá móng, nó là màn chắn cho thân dầu ở vùng Đông Nam Rồng Mất dung dịch khi khoan trong đá móng là bằng chứng về dùng dung dịch khoan nặng và là chỉ số tin cậy tồn tại đá chứa
Trang 23Thân dầu trong đá móng Đông Nam Rồng được phát hiện đầu tiên là giếng khoan R-14, khi thử vỉa đã thu được dầu lưu lượng 860m3/ngày Lưu lượng cực đại là 1316m3/ngày đo được ở giếng khoan R-21
Đá chứa là dăm kết núi lửa, gặp ở một số giếng khoan trong phần nóc thân dầu, cũng thấy đá diorite thạch anh nứt nẻ hang hốc phân bố trong biên chứa dầu phần chính của đá móng Mặt móng (SH – móng ) có đặc điểm cấu trúc được mô tả như trên nóc phần thấm chứa của thân dầu Thân dầu được xếp vào dạng khối, được lót đệm bằng nước đáy đều khắp cấu tạo Ranh giới dầu nước theo kết quả thử vỉa xác định ở độ sâu -2975m Chiều cao thân dầu – 885m, hệ số lấp đầy bẫy chứa là 1 Do biên độ của các đứt gãy không vượt qua chiều cao thân dầu, nó được coi như là một hệ thống thủy lực duy nhất
1.5 Cấu trúc giếng Khoan
Tùy thuộc vào sự phức tạp của địa tầng, chiều sâu giếng khoan mà cấu trúc
giếng khoan và chiều sâu ống chống có thể khác nhau Do đặc điểm mặt cắt địa chất của vùng Đông Nam Rồng là không có tầng Oligocen dưới, mặt khác tầng Oligocen trên có hệ số dị thường áp suất vỉa khoảng 1,10 -1,15 Cấu trúc giếng khoan được phân làm 2 loại như sau:
+ Cấu trúc giếng khai thác:
- Ống cách nước Ф720mm được thả tới độ sâu 120m, khi khoan để thả ống chống này chúng ta sử dụng choòng 660,4mm và mở rộng thành giếng đến 914mm Ống chống này được trám xi măng toàn bộ tới đáy biển
- Ống dẫn hướng Ф508mm được thả tới độ sâu 250m để gia cố các tầng của Pliocen cũng như để lắp đặt thiết bị đầu giếng và đối áp nhằm đảm bảo an toàn cho quá trình khoan giếng, khoảng thân giếng khoan bằng choòng 660,4mm
- Ống kỹ thuật Ф340mm được thả tới độ sâu 1100m là nóc của tầng Miocen sớm để gia cố các lớp sét, cát bở rời, không bền vững của tầng Pliocen,
Trang 24Miocen trên và dưới Khoảng thân giếng này được khoan bằng choòng 444,5mm Xi măng được trám toàn bộ thân ống
- Ống khai thác Ф245mm được thả tới nóc móng Khoan thả ống bằng choòng 311,1mm, được trám xi măng từ nóc móng tại chiều sâu 2200m lên tới phía trên cách chân đế ống chống Ф340mm khoảng 150m
- Thân trần trong móng Ф215,9mm tới đáy giếng thiết kế
+ Cấu trúc giếng khai thác/bơm ép:
Trang 25Hình 1.3 Cấu trúc giếng khai thác sử dụng cho vùng Đông Nam mỏ Rồng
Trang 26Hình 1.4 Cấu trúc giếng bơm ép sử dụng cho vùng Đông Nam mỏ Rồng
Trang 271.6 Các sự cố và phức tạp khi khoan qua tầng móng
Trên cơ sở phân tích thời gian thi công cũng như theo dõi tại thực tế hiện trường quá trình khoan mở vỉa sản phẩm tầng móng vùng Đông Nam mỏ Rồng có áp suất vỉa thấp, chúng ta có thể thấy rằng phức tạp chủ yếu là mất dung dịch còn các phức tạp khác chỉ là hệ quả của việc mất dung dịch
1.6.1 Mất dung dịch
Mất dung dịch là mối quan tâm hàng đầu khi khoan mở vỉa trong tầng
móng vùng Đông Nam mỏ Rồng Thời gian xử lý mất dung dịch chiếm trên 13% thời gian thi công trong tầng móng Tuy nhiên, thực tế thi công đã chứng minh khi tốc độ mất dung dịch càng cao thì đá móng với độ nứt nẻ và độ thấm càng lớn và có khả năng khai thác dầu càng lớn Tốc độ mất dung dịch tại mỏ
là rất khác nhau, từ vài thùng/giờ cho đến mất hoàn toàn
Hoạt động khoan tại vùng Đông Nam mỏ Rồng được tiến hành đồng thời
cả khoan thăm dò – thẩm lượng và khoan khai thác Do vậy, việc xem xét và
xử lý mất dung dịch cần phải được chia làm hai trường hợp:
- Các giếng khoan tại vùng chưa khai thác, nơi áp suất tầng sản phẩm vẫn còn cao, tương đương áp suất thủy tĩnh ban đầu, giá trị áp suất vỉa thường trong khoảng 1,0 -1,10
- Các giếng tại vùng đã khai thác, nơi có áp suất tầng sản phẩm thấp so với
áp suất vỉa ban đầu, thường chỉ còn trong khoảng 0,9
Trên cơ sở các kết quả nghiên cứu về việc mất dung dịch trong tầng đá móng vùng Đông Nam mỏ Rồng, chúng ta có thể đưa ra các nhận định và đánh giá sau:
Các giếng khoan tại vùng đã khai thác do áp suất vỉa thấp hơn nhiều so với áp suất vỉa ban đầu nên tốc độ và khối lượng mất dung dịch cao hơn nhiều so với các giếng khoan tại vùng mới
Trang 28Trong khi đó việc xử lý mất dung dịch tại các giếng khoan thẳng đứng và giếng khoan xiên lại phức tạp hơn so với các giếng khoan ngang vì tại các giếng khoan này sự chênh áp tăng lên khi chiều sâu thẳng đứng tăng lên, trong khi giếng khoan ngang thì chiều sâu thẳng đứng gần như không thay đổi
Trong khi đó, không có mối quan hệ nào giữa tỷ trọng của dung dịch khoan hay số mét khoan được với khối lượng của dung dịch khoan bị mất Không có nghĩa là cứ tỷ trọng dung dịch càng cao thì khối lượng mất dung dịch càng lớn hay số mét khoan càng dài thì khối lượng mất càng nhiều Khối lượng và tốc độ mất dung dịch được quyết định bởi 3 yếu tố chính: Kích thước của nứt nẻ, chiều dài của khe nứt và sự chênh lệch áp suất giữa
áp suất thủy tĩnh và áp suất vỉa Thực tế thi công cho thấy tốc độ khoan tăng lên và dung dịch bị mất đi khi gặp phải các khe nứt của đá móng Tuy nhiên, nếu việc mất dung dịch nhanh chóng chấm dứt chứng tỏ các khe nứt này không liên thông Còn nếu tốc độ mất dung dịch thấp hơn 100 thùng/giờ và giảm đi khi tiếp tục khoan nhưng không dừng hẳn thì chứng tỏ khe nứt này
có liên thông nhưng kích thước khe nứt được khoan qua không lớn
1.6.2 Các sự cố và phức tạp liên quan đến việc mất dung dịch
a Lưu thể vỉa xâm nhập vào giếng khoan
Nếu tốc độ mất dung dịch vào vỉa sản phẩm lớn hơn lưu lượng bơm dung dịch (hay nước biển) vào trong giếng khoan thì sẽ làm cho chiều cao của cột dung dịch trong giếng khoan giảm dẫn đến áp suất thủy tĩnh giảm và làm cho khí xâm nhập vào trong giếng khoan và hòa trộn với chất lỏng trong giếng khoan làm cho trọng lượng riêng của dung dịch bị giảm đi và đến một giới hạn nào đó sẽ làm cho cột áp suất tạo bởi dung dịch khoan thấp hơn áp suất vỉa và dẫn đến giếng khoan bị phun trào
Trang 29b Sập lở thành giếng khoan
Như đã trình bày ở trên sau khi giếng khoan bị mất dung dịch hoàn toàn thì cột áp suất của dung dịch giảm đi và đến một giới hạn nào đó khi thấp hơn áp suất vỉa thì sẽ làm cho lưu thể vỉa xâm nhập đồng thời cũng kéo theo hiện tượng sập lở thành giếng khoan do cột áp suất thủy tĩnh của dung dịch không đủ lớn để khống chế thành giếng
c Mức độ làm sạch giếng khoan kém
Rất khó để đánh giá sự thành công của việc làm sạch giếng khoan khi trong quá trình khoan xảy ra hiện tượng mất dung dịch từng phần hay mất dung dịch hoàn toàn Số lượng mùn khoan được vận chuyển lên phía trên không nhiều dẫn đến sự tích tụ mùn khoan ở đáy giếng Trong quá trình khoan định hướng, mùn khoan có thể bị lắng đọng lại ở đáy giếng khoan Tuy nhiên, từ thực tế thi công cho thấy khối lượng mùn khoan nằm ở phía dưới là rất ít vì nó đã chui phần lớn vào các khe nứt
Bên cạnh vật liệu chống mất dung dịch (LCM) thì đây là tác nhân chính gây ra sự nhiễm bẩn vỉa Tuy nhiên, không có hóa chất nào có thể hòa tan hay
di chuyển được lượng mùn khoan nằm trong các khe nứt này vào giếng và đưa lên bề mặt
d Sự cố đứt gãy cần khoan
Trong quá trình khoan định hướng nếu gặp hiện tượng mất dung dịch từng phần hay hoàn toàn thì thường gặp phải trường hợp mô men xoắn của bộ cần khoan tăng cao do mức độ làm sạch giếng khoan kém dẫn đến lượng mùn khoan tích tụ ở đáy giếng
Đối với các giếng khoan ngang và khoan xiên có độ lệch lớn thì mô men xoắn phổ biến khi xảy ra hiện tượng mất dung dịch là khoảng 25kftlbs Trong nhiều trường hợp khi chiều sâu của giếng khoan tăng lên 5000 – 6000m thì mô men xoắn lên đến xấp xỉ 35kftlbs, tương đương giới hạn bền
Trang 30cho phép của cần khoan 5’’ Mô men xoắn cao là nguyên nhân dẫn đến các sự
cố đứt gãy bộ khoan cụ, tốc độ khoan chậm và làm tăng thời gian thi công khoan
Bên cạnh những yếu tố trên, do dung dịch bị mất hoàn toàn nên nhiều khi phải sử dụng nước biển để khoan, đây là dung dịch chưa qua xử lý nên khả năng ăn mòn rất mạnh và làm cho cần khoan bị mòn nhanh dẫn đến thủng
và đứt cần khoan trong quá trình thi công
e Kẹt cần khoan
Kẹt cần khoan là một trong những sự cố khoan phức tạp và phổ biến Hiện tượng kẹt cần xảy ra khi lực kéo căng cần cho phép nhỏ hơn lực giữ cần khoan tại điểm kẹt Trong nhiều trường hợp, kẹt cần không thể khắc phục được phải bỏ lại bộ cần khoan, thậm chí cả giếng khoan Đối với tầng móng
có áp suất vỉa thấp thì nguyên nhân cơ bản gây ra kẹt cần là do cơ học
Do mất dung dịch, phải khoan không tuần hoàn nên mùn khoan không được vận chuyển kịp thời ra khỏi giếng khoan, chúng tích tụ dần và lắng đóng gây ra kẹt cần Vị trí kẹt cần thường xảy ra ở điểm chuyển tiếp đường kính của bộ khoan cụ và thường xuất hiện trong các đoạn khoan có sự thay đổi lớn
về đường kính mà ở đó vận tốc dòng chảy dung dịch trong vành xuyến có sự đột biến từ vận tốc lớn qua vận tốc nhỏ hoặc phía thấp của thân giếng khoan xiên mà nguyên nhân chính có thể do tốc độ khoan quá nhanh so với tốc độ tuần hoàn, chế độ thủy lực không hợp lý hay chất lượng dung dịch kém
f Suy giảm tốc độ khoan khi chiều sâu giếng tăng lên
Khi giếng khoan bi mất dung dịch hoàn toàn, phải khoan không tuần hoàn nên không đưa được mùn khoan lên trên bề mặt làm cho chúng bị lắng đọng ở đáy giếng khoan dẫn đến hiệu quả phá hủy đất đá kém đi Răng choòng không thể cắm sâu vào trong đất đá, hố lõm phá hủy nông và nhiều khi choòng khoan phải nghiền lại chính mùn khoan đã phá vỡ trước đó Bên
Trang 31cạnh đó, do khối lương mùn khoan lớn tích tụ dưới đáy giếng nên cũng cản trở và làm giảm tốc độ quay của choòng khoan và thậm chí có thể làm kẹt bộ khoan cụ
Theo số liệu phân tích thời gian thi công thì trên 30% thời gian thi công trong tầng móng là thời gian kéo thả và tháo lắp bộ cần khoan Điều này chứng tỏ tuổi thọ của choòng khoan trong đá móng là thấp nên số lần yêu cầu
để thay choòng khoan cao
Thực tế chứng minh, số mét khoan được trung bình cho mỗi choòng khoan trong đá móng chỉ là 126m với tốc độ khoan trung bình chỉ là 6,1m/giờ Con số này rất thấp so với số mét khoan được và tốc độ khoan trung bình của choòng khoan kim cương nhân tạo (PDC) trong tầng sét mỏ Bạch Hổ là 1500m/choòng và 25m/giờ
Trang 32CHƯƠNG 2: CÔNG TÁC SỬ DỤNG DUNG DỊCH KHOAN MỞ VỈA SẢN PHẨM TẦNG ĐÁ MÓNG VÙNG ĐÔNG NAM MỎ RỒNG ĐÃ
VÀ ĐANG ÁP DỤNG
Do tính chất thạch học của tầng móng phong hóa nứt nẻ và gradient áp suất của tầng móng ngày càng suy giảm do tác động của quá trình khai thác, chỉ còn trong khoảng từ 0,9 – 1,0 nên dẫn đến hiện tượng mất dung dịch là phức tạp lớn nhất khi khoan mở vỉa sản phẩm trong tầng móng Các phức tạp khác như dầu khí xâm nhập, khả năng làm sạch giếng khoan kém, mô men xoắn tăng cao, giảm tải trọng lên choòng chỉ là các yếu tố phức tạp liên quan đến việc mất dung dịch
Do đó lựa chọn dung dịch khoan phù hợp và áp dụng công nghệ khoan hợp lý trong việc xử lý mất dung dịch đảm bảo giảm thiểu tối đa việc vỉa sản phẩm bị nhiễm bẩn là yếu tố then chốt trong quá trình mở vỉa sản phẩm trong tầng móng Khi ta giải quyết thành công vấn đề này thì các phức tạp liên quan cũng sẽ cơ bản được giải quyết
Hiện nay, có hai hệ dụng dịch khoan chính đang được các Nhà thầu Dầu khí sử dụng để khoan mở vỉa sản phẩm tầng móng vùng Đông Nam mỏ Rồng là hệ dung dịch polimer ít sét có bổ sung chất hoạt tính bề mặt và hệ dung dung dịch muối (NaCl, CaCl2 hoặc KCl) Đi cùng với việc sử dụng các
hệ dung dịch trên là các công nghệ khoan tương ứng được các nhà thầu dầu khí sử dụng để khoan và xử lý mất dung dịch khi khoan qua tầng móng
2.1 Phương pháp sử dụng hệ dung dịch Polimer ít sét có bổ sung chất hoạt tính bề mặt (P.IS + PAV)
Hệ dung dịch này được sử dụng chủ yếu ở xí nghiệp Liên doanh Dầu khí Việt – Nga Vietsovpetro (VSP) để khoan mở vỉa sản phẩm trong tầng móng của vùng Đông Nam Rồng mỏ Rồng, nhằm bảo vệ tối đa khả năng
Trang 33thẩm thấu của vỉa Hệ dung dịch Polimer ít sét có bổ sung chất hoạt tính bề mặt (P.IS + PAV) có thành phần – đơn pha chế như sau:
Bảng 2.1: Đơn pha chế hệ dung dịch P.IS + PAV
Diệt khuẩn Chống lên men và thối rữa dung dịch 1,5 – 2
Bôi trơn Tăng tính bôi trơn và chống kẹt mút
cần khoan, giảm mô men quay
15 – 20
Ngoài các thành phần nêu trên, có thể bổ sung thêm Polimer silic hữu cơ để tăng tính bền nhiệt, chất làm cải thiện các tính chất thấm chứa tự nhiên của tầng sản phẩm Tuy nhiên, trọng lượng riêng của hệ dung dịch trên lớn hơn 1 (khoảng 1,05 ± 0,02 G/cm3) với trọng lượng riêng như vậy hệ dung dịch P.IS + PAV chỉ phù hợp để khoan các giếng khoan tại vùng chưa khai thác, nơi áp suất tầng sản phẩm vẫn còn cao (1,0 – 1,10), trong khi gradient áp suất trong tầng móng tại vùng Đông Nam Rồng hiện nay chỉ còn khoảng 0,9 nên mất dung dịch là không thể trách khỏi khi khoan tại vùng này
Cùng với hệ dung dịch trên thì vì nhiều lý do chủ quan cũng như khách quan nên công nghệ khoan thông thường vẫn được áp dụng tại VSP kể từ khi phát hiện ra dầu trong tầng móng vùng Đông Nam Rồng Tuy nhiên, rất nhiều giải pháp kỹ thuật khác nhau nhằm giảm thiểu và ngăn ngừa hiện tượng mất
Trang 34dung dịch cũng nhƣ nâng cao hiệu quả công tác khoan mở vỉa đã đƣợc ứng dụng và thu đƣợc các kết quả đáng ghi nhận
Bảng 2.2: Thông số hệ dung dịch P.IS + PAV
Trang 352.1.1 Ngăn ngừa tình trạng mất dung dịch
a Giảm trọng lượng riêng của dung dịch khoan:
Đây là nguyên tắc cơ bản nhất để ngăn ngừa tình trạng mất dung dịch xảy ra Tuy nhiên, khi gradient áp suất vỉa thấp dưới 1 thì không thể giảm thêm trọng lượng riêng của dung dịch Polimer hay Polimer ít sét có bổ sung chất hoạt tính bề mặt được nữa vì trọng lượng riêng của nước (khi chưa pha thêm hóa chất, phụ gia) đã là 1G/cm3 Do vậy một số hỗn hợp dung dịch khác nhau đã được dự định, thử nghiệm và ứng dụng tại VSP
b Duy trì các tính chất của dung dịch khoan:
Trước hết cần phải duy trì độ bền gel, điểm chảy tỏa và độ nhớt ở mức phù hợp như thiết kế để đảm bảo làm sạch giếng khoan một cách hiệu quả vì
độ nhớt cao sẽ làm tăng trọng lượng riêng của dung dịch tuần hoàn tương đương (ECD) trong lúc tuần hoàn Để làm được việc này, phải duy trì hàm lượng sét cũng như pha rắn trong dung dịch ở mức thấp nhất, bên cạnh đó khống chế độ thải nước thấp để ngăn ngừa việc tạo vỏ mùn quá dày làm phát sinh lực ma sát trong quá trình kéo thả dẫn đến áp suất của cột dung dịch tăng lên do hiện tượng piston
b Giảm thiểu áp suất phát sinh trong quá trình kéo thả:
pha thêm chất bôi trơn vào dung dịch khi xuất hiện mô men xoắn và lực
ma sát lớn hơn giữa cần khoan và thành giếng đồng thời định kỳ và khi điều kiện giếng khoan yêu cầu bơm các hỗn hợp dung dịch có độ nhớt cao (Hivis Sweep) để làm sạch mùn khoan trong giếng
Như ta đã biết, nếu tốc độ thả cần khoan quá nhanh sẽ làm áp suất của cột dung dịch trong giếng tăng và trong điều kiện áp suất vỉa thấp thì sẽ rất dễ dẫn đến mất dung dịch Do vậy phải khống chế tốc độ thả cần khoan, đặc biệt
là khi thả qua đới gây mất dung dịch để ngăn ngừa hiện tượng trên
Trang 36Bên cạnh đó, để áp suất của cột dung dịch không bị tăng đột ngột thì phải quay cần để giảm độ bền gel của dung dịch trước khi bơm đồng thời phải bơm từ lưu lượng nhỏ sau mới đến lưu lượng lớn
c Giữ trọng lượng riêng của dung dịch tuần hoàn tương đương thấp:
Thực chất là giảm thiểu sự chênh lệch giữa trọng lượng riêng của dung dịch và trọng lượng riêng của dung dịch khi tuần hoàn bằng cách dung trì chế
độ thủy lực (lưu lượng bơm) ở mức yêu cầu thấp nhất đủ để làm sạch giếng khoan
d Khống chế hàm lượng pha rắn trong dung dịch:
Trong quá trình khoan, mùn khoan sẽ đi vào dung dịch Khi hàm lượng mùn khoan trong dung dịch (pha rắn) cao sẽ làm cho trọng lượng riêng của dung dịch tăng lên và làm cho cột áp suất của dung dịch tăng dẫn đến mất dung dịch Do vậy, thực tế thi công cho thấy cần phải khống chế hàm lượng pha rắn trong dung dịch không vượt quá 4% bằng cách thường xuyên và khi điều kiện giếng khoan yêu cầu phải bơm các hỗn hợp dung dịch có độ nhớt cao để làm sạch giếng khoan
2.1.2 Các biện pháp xử lý việc mất dung dịch
Mất dung dịch là phức tạp lớn nhất khi khoan trong tầng móng Mất dung dịch nặng thường dẫn đến nhiều phức tạp khác và làm ảnh hưởng xấu đến vỉa sản phẩm Để xử lý việc mất dung dịch trong tầng móng XNLD Việt – Nga Vietsovpetro đã sử dụng các hỗn hợp dung dịch khác nhau Những hỗn hợp dung dịch này được làm từ các vật liệu khác nhau như sét trộn với vỏ trấu CMC, polyacrylamide và các vật liệu mà axit có thể hòa tan Tuy nhiên, không một hỗn hợp dung dịch nào trong các hỗn hợp trên có thể ngăn ngừa được việc mất dung dịch khi khoan qua đới mất dung dịch nặng và giảm thiệu được tác động xấu đến tầng sản phẩm
Trang 37Để cải thiện việc chống mất dung dịch trong tầng móng cũng như bảo quản vỉa sản phẩm Trong những năm gần đây, một số hỗn hợp như dung dịch polime, dung dịch polime hàm lượng sét thấp đã được sử dụng để xử lý khi xảy ra hiện tượng mất dung dịch Thành phần và chức năng chính của các hỗn hợp dung dịch này như sau:
Bảng 2.3: Thành phần và chức năng của các hỗn hợp vật liệu
chống mất dung dịch
Thành phần
Chức năng
Nước ngọt Môi trường phân tán Tạo trọng lượng riêng
Polyacrylamide Chất tạo độ nhớt
OBK (đá vôi xốp) Chất lấp nhét Trọng lượng riêng thấp, hòa
tan trong axit Bentonite Lấp nhét, tạo gel Khống chế mất dung dịch
Trang 38Bảng 2.4: Thành phần, tính chất và kết quả xử lý của dung dịch polimer
AV cps
PV Cps
YP lb/
1000ft2
Gel 1/10
FL ml/3 0’
γ T/m
3
Trước khi bơm
K1 (mD)
Sau khi bơm
K2(mD)
Sau khi xử
lý axit
K3(mD) Nước ngọt,
Hỗn hợp dung dịch này không độc hại với môi trường và thực tế sử dụng cho thấy dung dịch này trong điều kiện nhiệt độ cao nhưng tính chất dung dịch ổn định, OBK có trọng lượng riêng thấp và dễ dàng hòa tan bằng axit, với nồng độ 5% OBK hạt mịn có thể dễ dàng khống chế việc mất dung dịch Qua kết quả thí nghiệm cho thấy hỗn hợp dung dịch này gần như không gây hư hại cho vỉa sản phẩm vì sau khi xử lý bằng axit thì độ thấm của vỉa đã phục hồi trên 75%
b Biện pháp chống mất dung dịch với tốc độ trên 6m 3 /giờ:
Hỗn hợp dung dịch polymer hàm lượng sét thấp đã được VSP sử dụng thành công để khống chế hiện tượng mất dung dịch với tốc độ mất của dung dịch lớn hơn 6m3/giờ
Trang 39Bảng 2.5: Thành phần, tính chất và kết quả xử lý của dung dịch Polimer hàm lượng sét thấp
Độ thấm của mẫu lõi đá
móng
FV sec
AV cps
PV cps
YP lb/
1000ft2
Gel 1/10
FL ml/30’
γ T/m3
Trước khi bơm
K1 (mD)
Sau khi bơm
K2(mD)
Sau khi
xử lý axit K3(mD) Nước ngọt,
Trang 40lượng sét 3% góp phần làm tăng độ bền gel, chịu nhiệt và khả năng lấp nhét OBK có trọng lượng riêng thấp với kích thước hạt từ mịn đến trung bình và
có thể hòa tan trong axit có tác dụng lấp nhét các nứt nẻ Dung dịch Polymer hàm lượng sét thấp làm giảm khả năng hư hại vỉa sản phẩm, dung dịch này không độc hại, giá thành thấp và khả năng hòa tan bằng axit cao
Kết quả tại phòng thí nghiệm cho thấy vỉa sản phẩm gần như không bị
hư hại vì sau quá trình xử lý bằng axit thì độ thấm của mẫu lõi đã phục hồi gần như hoàn toàn 505mD/529mD
c Biện pháp chống mất dung dịch hoàn toàn:
Thực tế thi công nhiều năm qua tại XNLD Vietsovpetro cũng như các Nhà thầu Dầu khí khác tại bồn trũng Cửu Long cũng như vùng Đông Nam Rồng cho thấy khi xảy ra hiện tượng mất dung dịch hoàn toàn thì việc ngăn ngừa và khống chế là rất khó khăn, nhiều biện pháp khác nhau đã được áp dụng nhưng hiệu quả thành công lại rất thấp Cho đến nay khi gặp mất dung dịch hoàn toàn XNLD Vietsorpetro vẫn áp dụng phương pháp khoan thuần túy và kết hợp bơm các hỗn hợp vật liệu chống mất dung dịch như vỏ trấu, mùn cưa để giảm thiểu tốc độ mất dung dịch Do vậy thời gian để xử lý hiện tượng này thường kéo dài, hiệu quả không cao và dễ kéo theo các phức tạp khác trong quá trình thi công như làm tắc choòng khoan và động cơ đáy, lưu thể vỉa xâm nhập vào trong giếng và gây kẹt cần khoan làm cho chi phí khoan tăng cao trong khi đó vỉa sản phẩm lại bị nhiễm bẩn nặng hơn
Bên cạnh biện pháp truyền thống trên, hệ dung dịch bọt nhớt đàn hồi (Visco-elastic mud pill) cũng đang được xem xét để áp dụng tại XNLD VSP Trong phòng thí nghiệm thì dung dịch này đã thành công, với tính chất và kết quả như sau: