Mục đích nghiên cứu Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất quy trình xây dựng và cách thức sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở các trường THPT theo định hướng phát triển n
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HOÀNG THỊ VIỆT HÀ
XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
Chuyên ngành: Sư Phạm Địa Lý Khóa 16 (2016 - 2020)
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Giáo viên hướng dẫn: TS Nguyễn Văn Thái
Đà Nẵng - 2019
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn, sự tri ân sâu sắc tới thầy giáo Nguyễn Văn Thái - giảng viên khoa Địa lý – Trường ĐHSP Đà Nẵng là người đã trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ, động viên tạo mọi điều kiện để tôi được nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận
Tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn tới quý thầy cô giáo trong khoa Địa lý – Trường Đại học Sư phạm – ĐHĐN đã giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu đề tài Xin được gửi lời cảm ơn đến Ban Giám hiệu, thầy cô giáo và các em học sinh trường THPT Thanh Khê - TP Đà Nẵng đã giúp đỡ tôi trong quá trình điều tra, khảo sát và thực hiện nội dung liên quan đến đề tài khóa luận
Xin chân thành cảm ơn
Hoàng Thị Việt Hà
Trang 3MỤC LỤC
Trang
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC HÌNH
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 2
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 2
5 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu 3
6 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu 5
7 Cấu trúc của đề tài 6
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 7
1.1 DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 7
1.1.1 Năng lực 7
1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực 9
1.2 BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG THPT 12
1.2.1 Khái niệm 12
1.2.2 Vai trò của bài tập 12
1.2.3 Phân loại bài tập 13
1.3 ĐẶC ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ 12 THPT 14
1.3.1 Mục tiêu của chương trình Địa lí 12 THPT 14
1.3.2 Nội dung chương trình Địa lí 12 THPT 15
1.3.3 Những thuận lợi, khó khăn đối với xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực 18
1.4 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 12 THPT 20
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT 20
1.4.2 Trình độ nhận thức của HS THPT 20
1.5 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG THPT 21
Trang 41.5.1 Kết quả điều tra GV 21
1.5.2 Kết quả điều tra HS 24
1.5.3 Nguyên nhân của thực trạng 26
CHƯƠNG 2: CÁCH THỨC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 27
2.1 NGUYÊN TẮC KHI XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG THPT 27
2.1.1 Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức với HS 27
2.1.2 Đảm bảo tính thực tiễn 27
2.1.3 Đảm bảo tính giáo dục 27
2.1.4 Đảm bảo tính tự lực và phát triển tư duy HS 28
2.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC 28
2.2.1 Quy trình xây dựng bài tập 28
2.2.2 Sử dụng bài tập trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực 41
CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 45
3.1 MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ, NGUYÊN TẮC THỰC NGHIỆM 46
3.1.1 Mục đích thực nghiệm 46
3.1.3 Nguyên tắc thực nghiệm 46
3.2 NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP THỰC NGHIỆM 47
3.2.1 Nội dung thực nghiệm 47
3.2.2 Phương pháp thự nghiệm 48
3.3 ĐỐI TƯỢNG THỰC NGHIỆM 47
3.4 KẾT QUẢ THỰC NGHIỆM 47
3.4.1 Xử lý kết quả thực nghiệm 47
3.4.2 Nhận xét kết quả thực nghiệm 49
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 52
TÀI LIỆU THAM KHẢO 54
PHỤ LỤC 55
Trang 5PHỤ LỤC
PL 1: PHIẾU ĐIỀU TRA GIÁO VIÊN 55
PL 2: PHIẾU ĐIỀU TRA GIÁO VIÊN 57
PL 3: MỘT SỐ BÀI TẬP XÂY DỰNG THEO ĐỊNH HƯỚNG 58
PL 4: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 59
PL 5: PHIẾU HỎI Ý KIẾN GV SAU KHI THỰC NGHIỆM 73
Trang 6DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT Viết tắt Viết đầy đủ
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG
1 Bảng 1.1 So sánh dạy học theo chương trình định hướng nội dung
và dạy học theo chương trình định hướng năng lực
11
3 Bảng 1.3 Nhận thức của GV về việc xây dựng và sử dụng bài tập
đánh giá năng lực trong môn Địa lí 12 THPT
21
4 Bảng 1.4 Mức độ xây dựng và sử dụng các bài tập trong dạy học
Địa lí 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực
22
5 Bảng 1.5 Cảm nhận của HS về mức độ hứng thú với bài học khi GV
sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực
9 Bảng 2.3 Sản lượng thủy sản của nước ta ( nghìn tấn) 45
10 Bảng 3.1 Bảng tổng hợp kết quả bài kiểm tra kiến thức HS sau khi
học xong 2 bài thực nghiệm ở nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng
48
Trang 8DANH MỤC CÁC HÌNH
1 Hình 2.1 Quy trình xây dựng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở
trường THPT theo định hướng phát triển năng lực
28
2 Hình 2.2 Gió mùa mùa đông ở khu vực Châu Á 35
4 Hình 3.1 Biểu đồ so sánh kết quả thực nghiệm giữa lớp thực
nghiệm và lớp đối chứng
49
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong thế kỉ 21, xu hướng giáo dục theo định hướng phát triển năng lực được đặc biệt chú ý bởi: định hướng phát triển năng lực nhằm đảm bảo đầu ra của quá trình dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho học sinh năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp trong tương lai Dạy học theo quan điểm phát triển năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa hoạt động nhận thức của HS về trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với các tình huống của cuộc sống Chương trình Địa lí 12 có mục tiêu là giúp học sinh hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông, cơ bản về đặc điểm tự nhiên, dân cư và tình hình phát triển kinh
tế - xã hội của Việt Nam; những vấn đề đặt ra đối với cả nước nói chung và các vùng, các địa phương nói riêng Bên cạnh đó còn củng cố và phát triển kĩ năng học tập và nghiên cứu Địa lí: quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện tượng Địa lí; vẽ lược đồ, biểu đồ; phân tích, sử dụng bản đồ, Atlat, lát cắt, số liệu thống kê Rèn luyện cho các em kĩ năng thu thập, xử lí, tổng hợp và thông báo thông tin Địa lí, kĩ năng vận dụng tri thức địa lí để giải thích các hiện tượng, sự vật Địa lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả năng của học sinh
Học sinh lớp 12 THPT, các em đã được trang bị các kiến thức về Địa lí đại cương và Địa lí Thế giới Do vậy việc tìm hiểu Địa lí đất nước thông qua các bài tập nhận thức theo định hướng phát triển năng lực không chỉ giúp các em hoàn thiện kiến thức, kĩ năng cơ bản mà còn giúp các em hình thành và phát triển các năng lực như: tính toán, năng lực vận dụng kiến thức khoa học, năng lực đọc hiểu Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực là rất cần
thiết trong việc giảng dạy bộ môn Địa Lí nói chung và Địa lí lớp 12 nói riêng
Ở nước ta hiện nay, việc xây dựng và sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực ở trường THPT nói chung và đối với môn Địa lí nói riêng, trong đó có Địa lí lớp 12 được tiến hành theo hướng nội dung Mục đích chủ yếu là coi trọng HS nắm vững hay không các kiến thức lí thuyết đã học và xem nhẹ về kỹ năng vận dụng kiến thức lí thuyết đã học để giải quyết những vấn đề mang tính thực tiễn, chưa phát
Trang 10huy được tính độc lập sáng tạo của HS, vì thế chưa kích thích được sự yêu thích học tập của HS với bộ môn Địa Lí Tình trạng này đã dẫn đến nhiều hạn chế mà trong quá trình đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nước ta trong giai đoạn hiện nay đang chú trọng để khắc phục, trong đó việc xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí ở trường phổ thông được xem là khâu then chốt và có tính đột phá
Từ những lí do trên, để góp phần nâng cao chất lượng dạy học Địa lí nói chung
và Địa lí lớp 12 nói riêng, nhằm đạt được những mục tiêu trong dạy học Địa lí, tôi đã
chọn đề tài: “ Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực”, làm nội dung nghiên cứu
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở đánh giá thực trạng, đề tài đề xuất quy trình xây dựng và cách thức sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở các trường THPT theo định hướng phát triển năng lực Qua đó, góp phần vào việc đổi mới hoạt động dạy và học môn Địa lí nói chung, đặc biệt là trên địa bàn nghiên cứu
3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Cách thức xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Đia Lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí theo định hướng phát triển năng lực cho HS
- Điều tra thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập trong day học Địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực hiện nay
- Đề xuất quy trình xây dựng bài tập và cách thức sử dụng chúng trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực
Trang 11- Thực nghiệm sư phạm nhằm đánh giá tính phù hợp và hiệu quả của việc xây dựng và sử dụng các bài tập đã xây dựng
5 Tổng quan các vấn đề nghiên cứu
5.1 Trên thế giới
Phần lớn giới học thuật cho rằng dạy học theo định hướng phát triển năng lực được phát triển từ đào tạo sư phạm cuối những năm 1960 rồi dần dần được áp dụng ở Tiểu học, Trung học phổ thông, và dạy nghề vào những năm 1970 Xu hướng này được tiếp nhận trong chương trình dạy nghề ở Anh và Đức vào những năm 1980 và chương trình đào tạo nghiệp vụ ở Oxtraylia vào những năm 1960
Việc xây dựng và sử dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực trong dạy
và học cũng từ đó được đặt ra từ thập kỉ 60 của thế kỉ XX bởi một nhà khoa học người Nga tên là I Lerner, thông qua tác phẩm Bài tập nhận thức, do hai dịch giả Nguyễn Cao Lũy và Văn Chu chuyển ngữ sang tiếng Việt Tác phẩm đã đưa ra những quan niệm về bài tập nhận thức, vị trí của bài tập nhận thức trong dạy học ở nhà trường phổ thông Tuy nhiên tác phẩm chưa đưa ra được cách xây dựng cũng như cách sử dụng bài tập nhận thức trong các môn học ở trường phổ thông
Hiện nay ngoài công trình nghiên cứu của I Lerner thì chưa có công trình nghiên cứu nào đề cập một cách hệ thống, chưa có ấn phẩm nào về bài tập theo định hướng phát triển năng lực được xuất bản làm tài liệu tham khảo cho GV Trong điều kiện như vậy việc tìm ra cách thức xây dựng và sử dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học Đị Lí 12 ở trường THPT và áp dụng vào thực tế giảng dạy một cách có hiệu quả là cần thiết
Các bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho HS đều là các câu hỏi dựa trên các tình huống của đời sống thực, nhiều tình huống được lựa chọn không phải chỉ
để HS thực hiện các thao tác về tư duy, mà còn để HS ý thức về các vấn đề xã hội, vấn
đề toàn cầu Đặc biệt, bài tập theo định hướng phát triển năng lực chú trọng đến những dạng câu hỏi để HS bộc lộ tư duy và quan điểm cá nhân, năng lực của bản thân trong các lĩnh vực như: đọc hiểu, tính toán, khoa học, giải quyết vấn đề
Do vậy việc xây dựng và sử dụng các bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT là một hướng mới trong dạy học nói chung và dạy học Địa lí nói riêng Người
GV không đơn giản là xây dựng các bài tập thông thường mà xây dựng các bài tập gắn
Trang 12với các tình huống trong thực tế để phát huy năng lực của các em
5.2 Ở trong nước
Ở nước ta hiện nay cũng đã có một số công trình nghiên cứu đến việc vận dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho HS vào trong dạy học ở nhà trường phổ thông và được coi như một giải pháp đổi mới dạy học ở nhà trường phổ thông Hiện nay có nhiều công trình nghiên cứu về bài tập phát triển năng lực nói riêng
Nghiên cứu “Chương trình đánh giá HS quốc tế ” của Nguyễn Thị Phương Hoa
trên Tạp chí Khoa học Đại học Quốc gia Hà Nội số 25/2000 đã đề cập đến mục đích, tiến trình thực hiện, các kết quả chính của bài tập nhận thức định hướng phát triển năng lực cho HS Bài báo giới thiệu về phát triển năng lực, chương trình nghiên cứu so sánh, đánh giá trình độ HS Ngoài việc trình bày mục đích, phương pháp, tiến trình thực hiện, bài báo cũng đã phân tích các kết quả chính của phát triển năng lực của HS qua các kì và các nguyên nhân cơ bản dẫn đến các kết quả này
Ngô Thị Hải Yến (2014) trong công trình “Xây dựng và sử dụng bài toán nhận thức theo định hướng PISA trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông” đã đưa ra
quy trình xây dựng các bài toán nhận thức theo định hướng PISA trong dạy học Địa lí
Trang 136 Quan điểm và phương pháp nghiên cứu
6.1 Quan điểm nghiên cứu
Các quan điểm được vận dụng trong nghiên cứu đề tài này bao gồm:
- Quan điểm hệ thống: Các yếu tố cấu thành quá trình dạy học đều có mối liên
hệ mật thiết trong một thể thống nhất Quan điểm này định hướng việc xây dựng bài tập phải căn cứ và dựa trên các yếu tố có liên quan khác như mục tiêu, nội dung dạy học, đặc điểm trình độ HS… tất cả đều hướng đến mục tiêu đạt hiệu quả dạy học cao nhất
- Quan điểm phát triển năng lực: Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
không chỉ chú ý tích cực hoá HS về hoạt động trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn với những tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp Quan điểm này định hướng việc xây dựng bài tập phải dựa trên những bối cảnh, tình huống thực tiễn, chú trọng sự vận dụng kiến thức, kĩ năng của HS
- Quan điểm dạy học lấy HS làm trung tâm: Dựa trên quan điểm này, việc sử
dụng các bài tập được định hướng phải theo hướng gắn liền với các phương pháp dạy học lấy HS làm trung tâm, sử dụng bài tập để tổ chức hoạt động nhận thức, tự tìm tòi tri thức và giải quyết vấn đề cho HS
- Quan điểm thực tiễn: Quan điểm thực tiễn trong nghiên cứu khoa học đòi hỏi
nghiên cứu cần bám sát thực tiễn và phục vụ cho thực tiễn và xã hội Mọi đề tài nghiên cứu đều phải có tính cấp thiết xuất phát từ thực tiễn và phải có ý nghĩa lí luận và thực tiễn Trên quan điểm này, việc xây dựng các bài tập phải xuất phát từ yêu cầu đổi mới chương trình, SGK phổ thông hiện nay, chú trọng để khả năng vận dụng vào thực tế dạy học trong môi trường phổ thông, quy trình được xác lập phải có tính khả thi
6.2 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp phân tích tổng hợp tài liệu: được sử dụng để thu thập số liệu,
thông tin có liên quan đến vấn đề nghiên cứu, từ đó tiến hành xử lí và vận dung các thao tác phân tích, tổng hợp để đưa ra những đánh giá, nhận xét Các dữ liệu nghiên cứu trong đề tài được thu thập chủ yếu liên quan đến thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập của GV hiện nay, cách thức xây dựng bài tập hiện hành của GV, hiệu quả của việc sử dụng các bài tập đã xây dựng Các tài liệu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau, chẳng hạn như sách, báo khoa học, các đề tài nghiên cứu, mạng Internet…
Trang 14- Phương pháp khảo sát điều tra: Được sử dụng để thu thập thông tin về thực
trạng xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT Điều tra theo hướng này sử dụng bảng hỏi bán cấu trúc để thu thập các thông tin về nhận thức, thực hành xây dựng bài tập của GV Phương pháp này cũng được sử dụng để điều tra hiệu quả của quy trình, việc sử dụng các bài tập trong quá trình thực nghiệm
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng để kiểm chứng tính khả thi
và hiệu quả của cách thức xây dựng và sử dụng các bài tập đã đề xuất Thực nghiệm sư phạm được tiến hành ở trường THPT Thanh Khê - TP Đà Nẵng, tiến hành dạy thực nghiệm ở các lớp 12/1; 12/7 theo hướng xây dựng và sử dụng các bài tập định hướng phát triển năng lực
- Phương pháp chuyên gia được sử dụng để xin ý kiến của các chuyên gia, các
giảng viên và giáo viên có nhiều kinh nghiệm về quy trình xây dựng và phương hướng sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực hiện nay
- Phương pháp thống kê toán học được sử dụng để để xử lí, đánh giá điểm số,
phân tích các kết quả điều tra, thực nghiệm, đối chứng mà đề tài đã thực hiện
7 Cấu trúc của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Phụ lục và Tài liệu tham khảo, nội dung của khóa luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực
Chương 2: Cách thức xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 15Chương 1:
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG
BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ
THÔNG THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1 DẠY HỌC THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
1.1.1 Năng lực
1.1.1.1 Khái niệm năng lực
Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Theo các nhà tâm lí học, năng lực là thuộc tính phức tạp của cá nhân phù hợp với những yêu cầu đặc trưng của một hoạt động nhất định, nhằm đảm bảo các hoạt động dạy hiệu quả cao Các tác
giả khác như Thesaurus (1979) thì cho rằng “Năng lực: Cá nhân thể hiện khả năng thực hiện, tức là, có được các kiến thức, KN và những đặc điểm nhân cách cần thiết để đáp ứng yêu cầu hoặc đòi hỏi cụ thể của từng tình huống” Barnnet thì định nghĩa:
“Năng lực là một tập hợp các kiến thức, KN và thái độ phù hợp với hoạt động thực tiễn Chú trọng hơn đến tính thực hành của năng lực”
Ở Việt Nam, khái niệm năng lực được nhiều tài liệu đề cập đến Theo từ điển
Tâm lí học (Vũ Dũng, 2000), “Năng lực là tập hợp các tính chất hay phẩm chất tâm lí
cá nhân đóng vai trò là điều kiện bên trong, tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện
tốt một dạng hoạt động” Tác giả Phạm Minh Hạc dịnh nghĩa “Năng lực là đặc điểm tâm lí cá nhân đáp ứng những đòi hỏi của hoạt động nhất định nào đó là điều kiện để thực hiện có kết quả hoạt động đó” Còn theo Đặng Thành Hưng thì “Năng lực là thuộc tính cá nhân cho phép cá nhân thực hiện thành công hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong từng trường hợp cụ thể” Thuộc tính đó được thực hiện ở tổ
hợp những hành động vật chất và tinh thần tương ứng với dạng hoạt động nhất định dựa vào những đặc điểm cá nhân (tâm lí, sinh học, giá trị xã hội), được thực hiện tự giác và dẫn đến kết quả phù hợp với trình độ thực tế của hành động
Có thể thấy, dù không có sự thống nhất cao khi đưa ra khái niệm về năng lực nhưng đã có những điểm tương đồng trong cách hiểu và xác định nội hàm của khái niệm này Chính vì thế, trong khóa luận này, năng lực được định nghĩa là khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng, thái độ và các giá trị để thực hiện thành công một hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong bối cảnh cụ thể
Trang 161.1.1.2 Cấu trúc của năng lực
Để hình thành và phát triển năng lực cho người học cần xác định rõ cấu trúc của năng lực Tùy thuộc vào yêu cầu của công việc khác nhau lại có nhiều loại năng lực khác nhau Ví dụ năng lực của người giáo viên bao gồm các nhóm năng lực sau: Năng lực dạy học, năng lực giáo dục, năng lực đánh giá, năng lực phát triển nghề nghiệp; năng lực chẩn đoán và tư vấn Theo Meir và Nguyễn văn Cường, khi nói đến năng lực
là năng lực hành động thì cấu trúc của năng lực bao gồm: năng lực phương pháp, năng lực chuyên môn, năng lực cá thể, năng lực xã hội Điều này được thể hiện như sau:
(1) Năng lực chuyên môn: Được hiểu là khả năng nắm được nội dung chuyên
môn và phương pháp chuyên môn, thực hiện nhiệm vụ chuyên môn Trong đó bao
gồm cả khả năng tư duy logic, phân tích, tổng hợp, khát quát hóa, trừu tượng hóa; (2) Năng lực phương pháp: là khả năng thực hiện những hành động có mục đích, có kế
hoạch trong việc giải quyết nhiệm vụ đặt ra bao gồm cả phương pháp chuyên môn và
phương pháp chung; (3) Năng lực xã hội: Là khả năng thực hiện những mối quan hệ
xã hội, cũng như trong các mối quan hệ xã hội; (4) Năng lực cá thể: Là sự phát triển cá
nhân, xác định được cơ hội, năng khiếu của cá nhân, những quan điểm, chuẩn mực đạo đức chi phối đến thái độ và hành vi ứng xử cá nhân
Theo Mô hình năng lực theo OECD (các nước có nền kinh tế phát triển), người ta
chia năng lực thành hai nhóm chính: Năng lực chung và năng lực chuyên môn Nhóm
năng lực chung gồm: Khả năng hành động độc lập thành công; khả năng sử dụng công
cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ; Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất Nhóm Năng lực chuyên môn, phụ thuộc vào từng môn học riêng biệt Ví dụ: năng lực chuyên môn trong môn Địa lí bao gồm: nhận thức
Trang 17khoa học Địa lí; tìm hiểu địa lí; vận dung kiến thức, kĩ năng đã học
1.1.2 Dạy học theo định hướng phát triển năng lực
1.1.2.1 Khái niệm
Giáo dục dựa trên năng lực là một hướng tiếp cận trong phát triển giáo dục dựa vào kết quả đầu ra Bên cạnh tiếp cận dạy học này, một tiếp cận khác được áp dụng phổ biến trong giáo dục trước đây đó là giáo dục định hướng nội dung hay định hướng đầu vào Việc sử dụng các từ ngữ “đầu ra” và “đầu vào” như một cách gọi tên các tiếp cận giáo dục này đã phần nào cho thấy sự khác nhau về bản chất giữa chúng trong việc thực hiện dạy học
Dạy học theo định hướng nội dung chú trọng việc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học theo các môn học đã được quy định trong chương trình dạy học Điều này cho thấy, ưu điểm lớn nhất của nó là giúp người học nắm vững một khối lượng tri thức khoa học lớn và có hệ thống trong thời gian ngắn nhất Nhưng ở chiều ngược lại, việc quy định nội dung dạy học chi tiết, cố định cả về cấu trúc, thời gian và mục tiêu dạy học thường được đưa ra một cách chung chung, không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được một cách cụ thể đã dẫn đến những nhược điểm lớn của tiếp cận giáo dục này
Đó là việc tổ chức dạy học theo hướng truyền thụ, đánh giá nặng về tái hiện kiến thức, chưa chú trọng đến khả năng vận dụng chúng để giải quyết tình huống thực tiễn Do
đó chương trình giáo dục này không đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của xã hội
và thị trường lao động đối với người lao động về năng lực hành động, khả năng sáng tạo và tính năng động
Dạy học theo định hướng phát triển năng lực thực hiện dạy và học dựa trên các năng lực (kết quả đầu ra) Năng lực đóng vai trò là điểm xuất phát, được quy định thông qua các hành vi Chương trình giảng dạy tạo điều kiện phát triển các năng lực cụ thể, được mô tả chi tiết để có thể dễ dàng quan sát, đánh giá được HS cần đạt được những kết quả đầu ra quy định trong chương trình Tiếp cận dạy học này chú trọng vào từng người học có khả năng làm một việc gì đó trong một tình huống nghề nghiệp nhất định theo tiêu chuẩn đề ra Đối với HS, có thể hiểu đó là những tình huống có tính thực tiễn Việc đưa ra các chuẩn đào tạo cũng là nhằm đảm bảo quản lý chất lượng giáo dục theo định hướng kết quả đầu ra
Trang 18Từ những phân tích trên tác giả cho rằng, dạy học theo định hướng phát triển năng lực là việc bố trí, sắp xếp và tác động đến các thành tố của QTDH nhằm hình thành và phát triển ở HS các năng lực cần thiết Việc tổ chức và tác động đến các thành tố của QTDH theo định hướng phát triển năng lực được thực hiện một cách toàn diện ở tất cả các khâu, từ việc xác định mục tiêu, nội dung, phương pháp đến hình thức
tổ chức dạy học cũng như hoạt động đánh giá
1.1.2.2 Đặc điểm của dạy học theo định hướng phát triển năng lực
Cách tiếp cận xây dựng chương trình giáo dục có ảnh hưởng rất lớn, thậm chí chi phối đến việc tổ chức dạy học và các yếu tố liên quan khác Meier B và Nguyễn Văn
Cường (2014) đã nhấn mạnh:“giáo dục định hướng năng lực nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học, thực hiện mục tiêu phát triển toàn diện các phẩm chất nhân cách, chú trọng năng lực vận dụng tri thức trong những tình huống thực tiễn nhằm chuẩn bị cho con người năng lực giải quyết các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp” Do đó, thay vì quy định những nội dung dạy học chi tiết, chương trình tiếp cận
năng lực quy định những kết quả đầu ra mong muốn Chính sự khác biệt trong cách tiếp cận này đã dẫn đến những đặc điểm riêng của dạy học theo định hướng phát triển năng lực so với dạy học theo định hướng nội dung Điều này đã được đề cập bởi Cao Danh Chính (2012), Meier B và Nguyễn Văn Cường (2014), Bộ GD&ĐT (2014) khi so sánh hai tiếp cận này để làm rõ những điểm khác biệt
Theo đó, sự khác biệt của dạy học theo định hướng phát triển năng lực so với dạy học theo định hướng nội dung thể hiện trong hầu hết các yếu tố liên quan đến QTDH Những đặc điểm này đồng thời định hướng và gợi ý những vấn đề cần chú trọng trong dạy học theo định hướng phát triển năng lực Các nội dung dạy học qua các bài học, chủ đề cụ thể cần phải có sự liên hệ, chú trọng sự liên quan của chúng đến các kết quả đầu ra PPDH, hình thức dạy học phải thúc đẩy các tương tác sư phạm, tăng cường sự tham gia của HS trong các hoạt động gắn với thực tiễn cuộc sống Đánh giá KQHT của HS cần xem xét mức độ đáp ứng các yêu cầu đầu ra cần đạt theo quy định và trước khi thực hiện điều đó, hoạt động đánh giá cần hướng đến việc hỗ trợ HS trong hoạt động học tập nhằm đạt các mục tiêu mong muốn Một số điểm khác nhau được tổng hợp và trình bày ở bảng dưới đây:
Trang 19Bảng 1.2: So sánh dạy học theo chương trình định hướng nội dung và dạy học
theo chương trình định hướng năng lực
Yếu tố Dạy học theo chương trình
định hướng nội dung
Dạy học theo chương trình định hướng năng lực
Mục tiêu Mục tiêu dạy học được mô tả
không chi tiết và không nhất thiết phải quan sát, đánh giá được
Kết quả học tập cần đạt được mô tả chi tiết và có thể quan sát, đánh giá được; thể hiện được mức độ tiến bộ của HS một cách liên tục
Nội dung
dạy học
Việc lựa chọn nội dung dựa vào các khoa học chuyên môn, không gắn với các tình huống thực tiễn Nội dung được quy định chi tiết trong chương trình
Lựa chọn những nội dung nhằm đạt được kết quả đầu ra đã quy định, gắn với các tình huống thực tiễn Chương trình chỉ quy định những nội dung chính, không quy định chi tiết PPDH Giáo viên là người truyền thụ
tri thức, là trung tâm của QTDH HS tiếp thu thụ động những tri thức được quy định sẵn
Giáo viên chủ yếu là người tổ chức,
hỗ trợ HS tự lực và tích cực lĩnh hội tri thức Chú trọng sự phát triển khả năng giải quyết vấn đề, giao tiếp,…
- Chú trọng sử dụng các quan điểm, phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực; các PPDH thực hành
Tiêu chí đánh giá dựa vào năng lực đầu ra, có tính đến sự tiến bộ trong quá trình học tập, chú trọng khả năng vận dụng trong các tình huống thực tiễn
Trang 201.2 BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.2.1 Khái niệm
Khái niệm bài tập: Bài tập là các nhiệm vụ học tập mà GV đặt ra cho người học thực hiện, được trình bày dưới dạng câu hỏi hay những yêu cầu hoạt động buộc người học tái hiện những kiến thức, giải quyết vấn đề trên cơ sở nh ững điều đã biết hoặc kết nối những kiến thức, giải quyết vấn đề dựa trên việc tìm kiếm phương pháp mới qua
đó nắm vững tri thức, rèn luyện và phát triển kĩ năng
Bài tập là đối tượng nhận thức của học sinh, bất kì bài tập nhận thức nào cũng chứa đựng bên trong nó một tình huống xung đột, mâu thuẫn giữa cái đưa ra và cái cần tìm Mà việc nhận thức nó là nguồn gốc tư duy
Hiện nay có thể hiểu rằng bài tập là một dạng bài học lĩnh hội kiến thức mới, nhưng thay vì cấu trúc giờ dạy cũ (thầy giảng, trò nghe) thì HS phát hiện những kiến thức mới qua việc nghiên cứu, giải bài tập mà không có sự tham gia trực tiếp của GV
Khi bàn về bài tập B.P Ex Pov (Nhà Sư phạm Nga) nói: “Công tác độc lập của học sinh được đưa vào quá trình dạy học là công tác được thực hiện không có sự tham gia trực tiếp của giáo viên nhưng theo bài tập giáo viên giao cho trong khoảng thời gian dành riêng cho nhiệm vụ này ở đây học sinh tự giác vươn tới đích đã được vạch trong bài làm, làm biểu lộ mọi lĩnh vực của mình và thể hiện hoạt động trí tuệ hoặc thể hiện kết quả hoạt động trí tuệ hoặc hoạt động thể lực của mình dưới một mặt nào đó ”
1.2.2 Vai trò của bài tập
Lí luận và thực tiễn giáo dục đã chứng tỏ rằng HS chỉ tỏ ra vững kiến thức khi họ
tích cực, độc lập về nhận thức của mình Theo Kharlamop: "Tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt động của HS, đặc trưng bởi khát vọng học tập, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức Tính tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự giác có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến
và vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, vận dụng chúng vào học tập và thực tiễn"
Việc giải các bài tập theo định hướng phát triển năng lực sẽ giúp phát huy mức
độ cao nhất tính tích cực và độc lập nhận thức, vì vậy bài tập là con đường quan trọng hình thành kiến thức mới và hoàn thiện kiến thức đã có Thông qua các bài tập HS tự tìm hiểu và khai thác tài liệu, tự mình phân tích, so sánh, đánh giá và tổng hợp các dấu
Trang 21hiệu bản chất Qua đó hình thành cho HS kĩ năng cơ bản về Địa lí
Bài tập sẽ góp phần phát triển tư duy có hiệu quả, vì để giải các bài tập thì HS không chỉ có kiến thức, kĩ năng mà còn phải nắm vững một số phương pháp hoạt động trí tuệ nhất định Tư duy được coi là phương tiện để HS tiếp thu một cách có ý thức những kiến thức thực thế, những quy luật một cách logic
Giải bài tập còn tạo điều kiện phát triển các năng lực thực hành ở HS Các năng lực thực hành được hình thành dần trong quá trình nhận thức của HS, nhưng nó cũng
là phương tiện để HS chiếm lĩnh tri thức
Bài tập còn có thể coi là một phương tiện quan trọng để hình thành thế giới quan khoa học cho HS Thông qua việc giải các bài tập, HS sữ tự tìm hiểu về các quan niệm, tự mình thiết lập các mối quan hệ và đi đến những kết luận khái quát Như vậy,
các tư tưởng và thế giới quan dần được hình thành trong nhận thức HS
1.2.3 Phân loại bài tập
1.2.3.1 Phân loại theo chức năng
Theo chức năng lý luận dạy học, bài tập có thể bao gồm: Bài tập học và bài tập đánh giá (thi, kiểm tra):
Bài tập học: Bao gồm các bài tập dùng trong bài học để lĩnh hội tri thức mới,
chẳng hạn các bài tập về một tình hướng mới, giải quyết bài tập này để rút ra tri thức mới, hoặc các bài tập để luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã học
Bài tập đánh giá: Là các kiểm tra ở lớp do GV ra đề hay các đề tập trung như
kiểm tra chất lượng, so sánh; bài thi tốt nghiệp, thi tuyển
Thực tế hiện nay, các bài tập chủ yếu là các bài luyện tập và bài thi, kiểm tra Bài tập học tập, lĩnh hội tri thức mới ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập học tập dưới dạng học khám phá có thể giúp HS nhiều hơn trong làm quen với việc tự lực tìm tòi và
mở rộng tri thức
1.2.3.2 Phân loại theo tính chất đóng mở
Theo dạng của câu trả lời của bài tập “mở” hay “đóng”, có các dạng bài tập sau:
Bài tập đóng: Là các bài tập mà người học (người làm bài) không cần tự trình
bày câu trả lời mà lựa chọn từ những câu trả lời cho trước Như vậy trong loại bài tập này, GV đã biết câu trả lời, HS được cho trước các phương án có thể lựa chọn
Bài tập mở: Là những bài tập mà không có lời giải cố định đối với cả GV và HS
Trang 22(người ra đề và người làm bài); có nghĩa là kết quả bài tập là “mở” Chẳng hạn GV đưa ra một chủ đề, một vấn đề hoặc một tài liệu, HS cần tự bình luận, thảo luận về đề tài đó Các đề bài bình luận văn học không yêu cầu học theo mẫu, HS tự trình bày ý kiến theo cách hiểu và lập luận của mình là các ví dụ điển hình về bài tập mở
Bài tập mở được đặc trưng bởi sự trả lời tự do của các cá nhân và không có một lời giải cố định, cho phép các cách tiếp cận khác nhau và dành không gian cho sự tự quyết định của người học Nó được sử dụng trong việc luyện tập hoặc kiểm tra năng lực vận dụng tri thức từ các lĩnh vực khác nhau để giải quyết các vấn đề Tính độc lập
và sáng tạo của HS được chú trọng trong việc làm dạng bài tập này Tuy nhiên, bài tập
mở cũng có những giới hạn như có thể khó khăn trong việc xây dựng các tiêu chí đánh giá khách quan, mất nhiều công sức hơn khi xây dựng và đánh giá cũng không phù hợp với mọi nội dung dạy học Trong việc đánh giá bài tập mở, chú trọng việc người làm bài biết lập luận thích hợp cho con đường giải quyết hay quan điểm của mình Trong thực tiễn giáo dục trung học hiện nay, các bài tập mở gắn với thực tiễn còn ít được quan tâm Tuy nhiên, bài tập mở là hình thức bài tập có ý nghĩa quan trọng trong việc phát triển năng lực HS Trong dạy học và kiểm tra đánh giá giai đoạn tới,
GV cần kết hợp một cách thích hợp các loại bài tập để đảm bảo giúp HS nắm vững kiến thức, kỹ năng cơ bản và năng lực vận dụng trong các tình huống phức hợp gắn với thực tiễn
1.3 ĐẶC ĐIỂM CHƯƠNG TRÌNH ĐỊA LÍ 12 THPT
1.3.1 Mục tiêu của chương trình Địa lí 12 THPT
- Kiến thức: Hiểu và trình bày được các kiến thức phổ thông, cơ bản, cần thiết về + Đặc điểm tự nhiên Việt Nam
+ Đặc điểm dân cư Việt Nam
+ Tình hình phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam
+ Những vấn đề đặt ra đối với cả nước nói chung và các vùng, các địa phương nơi HS đang sinh sống nói riêng
- Kĩ năng:
Củng cố và phát triển các kĩ năng:
Trang 23+ Kĩ năng học tập và nghiên cứu địa lí: quan sát, nhận xét, phân tích, so sánh, đánh giá các sự vật, hiện tượng địa lí; vẽ lược đồ, biểu đồ; phân tích, sử dụng bản đồ, Atlat, biểu đồ, lát cắt, số liệu thống kê
+ Kĩ năng thu thập, xử lí, tổng hợp và thông báo thông tin địa lí.trình bày các thông tin địa lí về một số
+ Kĩ năng vận dụng tri thức địa lí để giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí và bước đầu tham gia giải quyết những vấn đề của cuộc sống phù hợp với khả nămg của
1.3.2 Nội dung chương trình Địa lí 12 THPT
Đặc điểm chương trình SGK Địa lí 12 có những ảnh hưởng nhất định đến việc xây dựng và sử dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực Cụ thể:
Chương trình địa lí 12 cơ bản được biên soạn dựa theo chương trình giáo dục phổ thông môn địa lý Về cấu trúc, SGK địa lí 12 theo chương trình chuẩn bao gồm 45 bài, trong đó có 37 bài lý thuyết và 8 bài thực hành Chương trình bao gồm 5 phần: địa lí tự nhiên, địa lí dân cư, địa lí các ngành kinh tế, địa lí các vùng kinh tế, địa lí địa phương (từ năm học 2011 -2012 đã giảm bài 4, bài 5 của phần địa lý tự nhiên và một số nội dung các bài học khác) Mỗi phần có một vai trò nhất định trong việc trang bị kiến thức cho HS để tạo nên chương trình tổng thể, tương đối hoàn chỉnh về địa lý tổ quốc trên cơ sở kế thừa và phát triển chương trình địa lí ở THCS
Trang 24Bảng 1.2: Cấu trúc SGK địa lí 12 cơ bản Các nội dung theo chương trình số bài Chia ra
Về nội dung chương trình địa lí 12 THPT: Địa lí 12 Địa lí Việt Nam bao gồm 2 mảng nội dung chính: địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế xã hội Việt Nam, được tiếp nối
và nâng cao từ chương trình địa lí THCS Điểm khác biệt quan trọng trong chương trình Địa lí 12 là tính nâng cao và đòi hỏi HS không chỉ nhận biết mà còn giải thích các hiện tượng địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế xã hội Các kỹ năng được nâng cao hơn nhiều với những bài tập đòi hỏi phải tổng hợp kiến thức với nhiều thao tác tư duy, trình bày các báo cáo ngắn Các bài thực hành có 10 bài chiếm 20% thời lượng nhằm nâng cao các kỹ năng: vẽ lược đồ, vẽ biểu đồ, phân tích bản đồ, biểu đồ, số liệu thống
kê, thu thập tổng hợp các thông tin để viết báo cáo ngắn theo chủ đề Nội dung bao gồm:
Trang 25Bài 1: Nhằm giới thiệu bối cảnh quốc tế và trong nước, những thành tựu đã đạt được trong công cuộc đổi mới và hội nhập, những định hướng chính để nước ta tiếp tục hội nhập và phát triển
Phần Địa lí tự nhiên: Có nhiệm vụ trang bị những kiến thức về địa lí tự nhiên
Việt Nam và được thiết kế với 4 nội dung sau:
tự nhiên sẽ được vận dụng khi học Địa lí kinh tế xã hội, cách trình bày tạo ra một thể thống nhất cần thiết trong chương trình sách giáo khoa
Phần Địa lí dân cư:
- Đặc điểm dân số và phân bố dân cư
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
- Một số vấn đề phát triển và phân bố nông nghiệp
- Một số vấn đề phát triển và phân bố công nghiệp
- Một số vấn đề phát triển và phân bố các ngành dịch vụ
Địa lí kinh tế được bắt đầu từ cái nhìn tổng quan về sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế Trên nền của 3 khu vực kinh tế lớn (Nông - lâm - ngư nghiệp, Công nghiệp - xây dựng, Dịch vụ) các vấn đề phát triển và phân bố các ngành đã được lựa chọn phân tích
Trang 26và tổng hợp Những kiến thức đã được lựa chọn giúp HS hiểu được cơ cấu nhành của nền kinh tế và nền tảng để nắm vững được các vấn đề kinh tế xã hội của các vùng
Phần Địa lí vùng kinh tế: Cũng là nội dung không thể thiếu được về vấn đề phát
triển kinh tế xã hội các vùng Phần này không trình bày thuần túy về các vùng như chương trình lớp 9 mà là các vấn đề kinh tế xã hội trên nền kiến thức HS đã có Tùy theo điều kiện cụ thể của mỗi vùng mà các vấn đề được lựa chọn có sự khác nhau Ngoài ra, trong chương trình còn nhấn mạnh đến biển Đông, các đảo và quần đảo cũng như 3 vùng kinh tế trọng điểm của nước ta hiện nay Nội dung chương trình được thiết
kế theo thứ tự như sau:
- Vấn đề khai thác thế mạnh ở trung du miền núi Bắc Bộ
- Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo ngành ở đồng bằng sông Hồng
- Vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở Bắc Trung bộ
- Vấn đề phát triển kinh tế xã hội ở duyên hải Nam Trung Bộ
- Vấn đề khai thác thế mạnh ở Tây Nguyên
- Vấn đề sử dụng hợp lí và cải tạo tự nhiên ở đồng bằng sông Cửu Long
- Vấn đề khai thác lãnh thổ theo chiều sâu ở Đông Nam Bộ
Phần Địa lí địa phương: Phần này chủ yếu là sự là sự làm việc tích cực tự giác
của HS thông qua các gợi ý SGK để HS hiểu và nắm vững đặc điểm nổi bật vị trí địa lí, đặc điểm tự nhiên, tài nguyên thiên nhiên, đặc điểm kinh tế xã hội, một số ngành kinh tế chính của tỉnh (thành phố) nơi HS đang sinh sống từ đó có thêm tình yêu quê hương đất nước, ý thức xây dựng và tự hào về quê hương
1.3.3 Những thuận lợi, khó khăn đối với xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực
1.3.3.1 Những thuận lợi
Các kiến thức Địa lí 12 là những kiến thức về Địa lí Việt Nam ( tự nhiên - kinh tế -
xã hội) nên rất gần gũi với đời sống của HS GV có thể dễ dàng trong việc xây dựng và
sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho HS Phần lớn các HS bây giờ rất thích kiểu đánh giá quá trình với các dạng bài tập định hướng phát triển năng lực, đặc biệt là dạng bài tập gắn với các vấn đề thực tiễn Đòi hỏi HS phải có sự tư duy logic để áp dụng các kiến thức được học để giải quyết vấn đề HS không thích đánh giá theo kiểu truyền thống gắn liền với các kiến thức lí thuyết
Trang 27Có thể sử dụng linh hoạt cho tất cả các đối tượng HS, bất kể nền tảng kiến thức hoặc trình độ hiểu biết Việc xây dựng và sử dụng các bài tập đánh giá theo các mức năng lực sẽ giúp cho từng đối tượng dễ dàng tự đánh giá được mức độ hiểu bài của mình và khả năng áp dụng các kiến thức lí thuyết vào giải quyết các vấn đề thực tiễn Các em sẽ biết được trình độ năng lực hiện tại của bản thân để có thể điều chỉnh và có sự cố gắng nhằm cải thiện khả năng học Địa lí cũng như tình yêu với môn Địa lí
Giúp loại bỏ sự bất bình đẳng trong quá trình học tập, HS nắm chắc “chất lượng kiến thức” Các bài tập theo định hướng phát triển năng lực không nhất thiết chỉ được sử dụng cho mục đích đánh giá tổng kết mà cần được sử dụng nhiều hơn cho đánh giá quá trình Cách đánh giá này phù hợp với xu thế đổi mới ngành giáo dục, đó là đánh giá vì sự tiến bộ của HS, giúp HS tự tin, thích học, học tốt, không so sánh HS này với HS khác Có thể cung cấp cho phụ huynh và HS những phản hồi cụ thể về kết quả học tập, từ đó, có thể dẫn đến những hiểu biết rõ ràng hơn về tiến bộ và kỹ năng đạt được theo thời gian của người học
1.3.3.2 Những khó khăn
Việc xây dựng và sử dụng các bài tập trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực có thể gây khó khăn cho một số GV, đặc biệt là một số người đã sử dụng cách giảng dạy truyền thống trong suốt quá trình công tác trước kia của họ
Hiện nay, những kiến thức được dạy trong một tiết học Địa lí 12 là khá nhiều, đôi khi không có nhiều thời gian để cho GV có thể sử dụng các bài tập để góp phần định hướng năng lực cho HS
Một số HS còn cảm thấy khá nhàm chán với việc học môn Địa lí, đối với họ thì học các kiến thức lý thuyết cũng đã là khá mệt mỏi và họ cảm thấy việc GV sử dụng các bài tập định hướng phát triển năng lực là khá nặng với bản thân họ
Các bài tập theo định hướng phát triển năng lực phải được xác định và phân loại cho phù hợp với từng đối tượng, điều này rất khó khăn trong quá trình áp dụng thực tế bài tập theo định hướng phát triển năng lực phải có ý nghĩa và sáng tạo hơn thay vì các bài kiểm tra đơn thuần như trước kia Phải kích thích được sự hứng thú, tìm tỏi, sáng tạo trong học tập của HS
Giáo viên phải liên tục phải nhận thức được sự tiến bộ của HS, và do đó phải làm việc vất vả hơn để có thể giúp HS đạt được các chuẩn đầu ra về năng lực
Trang 281.4 ĐẶC ĐIỂM TÂM SINH LÝ VÀ TRÌNH ĐỘ NHẬN THỨC CỦA HỌC SINH LỚP 12 THPT
1.4.1 Đặc điểm tâm sinh lý của HS THPT
Học sinh THPT còn gọi là tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên được tính từ 15 đến 25 tuổi, được chia làm 2 thời kì: Thời kì từ 15 -18 tuổi: gọi là tuổi đầu thanh niên; Thời kì từ 18 -
25 tuổi: giai đoạn hai của tuổi thanh niên (thanh niên sinh viên)
Tuổi thanh niên cũng thể hiện tính chất phức tạp và nhiều mặt của hiện tượng, nó được giới hạn ở hai mặt: sinh lí và tâm lý Đây là vấn đề khó khăn và phức tạp vì không phải lúc nào nhịp điệu và các giai đoạn của sự phát triển tâm sinh lý cũng trùng hợp với các thời kỳ trưởng thành về mặt xã hội Có nghĩa là sự trưởng thành về mặt thể chất, nhân cách trí tuệ, năng lực lao động sẽ không trùng hợp với thời gian phát triển của lứa tuổi Nhìn chung ở tuổi này các em có sức khỏe và sức chịu đựng tốt hơn tuổi thiếu niên Thể chất của các em đang ở độ tuổi phát triển mạnh mẽ rất sung sức Sự phát triển thể chất ở lứa tuổi này sẽ có ảnh hưởng đến sự phát triển tâm lý và nhân cách đồng thời nó còn ảnh hưởng tới sự lựa chọn nghề nghiệp sau này Ở lứa tuổi HS THPT, các em có hình dáng người lớn, có những nét của người lớn nhưng chưa phải là người lớn, còn phụ thuộc vào
người lớn Thái độ đối xử của người lớn với các em thường thể hiện tính chất hai mặt đó
là : Một mặt người lớn luôn nhắc nhở rằng các em đã lớn và đòi hỏi các em phải có tính độc lập, phải có ý thức trách nhiệm và thái độ hợp lý Nhưng mặt khác lại đòi hỏi các em phải thích ứng với những đòi hỏi của người lớn…
1.4.2 Trình độ nhận thức của HS THPT
Hoạt động học tập vẫn là hoạt động chủ đạo đối với HS THPT nhưng yêu cầu cao hơn nhiều đối với tính tích cực và độc lập trí tuệ của các em Muốn lĩnh hội được sâu sắc các môn học, các em phải có một trình độ tư duy khái niệm, tư duy khái quát phát triển
đủ cao Những khó khăn trở ngại mà các em gặp thường gắn với sự thiếu kĩ năng học tập trong những điều kiện mới chứ không phải với sự không muốn học như nhiều người nghĩ Hứng thú học tập của các em ở lứa tuổi này gắn liền với khuynh hướng nghề nghiệp nên hứng thú mang tính đa dạng, sâu sắc và bền vững hơn
Thái độ của các em đối với việc học tập cũng có những chuyển biến rõ rệt Học sinh đã lớn, kinh nghiệm của các em đã được khái quát, các em ý thức được rằng mình
Trang 29đang đứng trước ngưỡng cửa của cuộc đời tự lập Do vậy, giáo viên phải làm cho các em
HS hiểu ý nghĩa và chức năng giáo dục phổ thông đối với giáo dục nghề nghiệp và đối với sự phát triển nhân cách toàn diện của HS Mặt khác, ở lứa tuổi này các hứng thú và khuynh hướng học tập của các em đã trở nên xác định và được thể hiện rõ ràng hơn Các
em thường bắt đầu có hứng thú ổn định đặc trưng đối với một khoa học, một lĩnh vực tri thức hay một hoạt động nào đó Điều này đã kích thích nguyện vọng muốn mở rộng và đào sâu các tri thúc trong các lĩnh vực tương ứng Đó là những khả năng rất thuận lợi cho
sự phát triển năng lực của các em
1.5 THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG THPT
Để tìm hiểu về thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập đánh giá năng lực trong môn Địa lí 12 ở trường THPT, tôi đã tiến hành phát phiếu thăm dò ý kiến cho GV và HS để tiến hành khảo sát, phỏng vấn 8 giáo viên dạy Địa lí tại trường THPT Thanh Khê - TP Đà Nẵng và 80 HS đang học tập tại trường THPT Thanh Khê - TP Đà Nẵng Thời gian khảo sát, điều tra được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 9 năm 2019 đến tháng 12 năm 2019 Nội dung phiếu điều tra: Điều tra GV và HS về thực trạng xây dựng và sử dụng bài tập đánh giá năng lực trong dạy học Địa lí 12 trường THPT Sau khi tiến hành điều tra khảo sát, tôi rút ra nhận định như sau:
1.5.1 Kết quả điều tra GV
- Về nhận thức liên quan đến xây dựng và sử dụng bài tập đánh giá năng lực trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT: Nhìn chung tất cả các GV đều cho rằng việc xây dựng
và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực là khá cần thiết và rất cần thiết Kết quả điều tra như sau:
Bảng 1.3: Nhận thức của GV về việc xây dựng và sử dụng bài tập đánh giá năng
lực trong môn Địa lí 12 THPT
Trang 30Kết quả trên đã phản ánh sự nhận thức của GV về sự cần thiết của việc xây dựng và
sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực, không có GV nào cho rằng việc Xây dựng và sử dựng bài tập là không cần thiết hay
có cũng được mà không có cũng được Điều này cho thấy tầm quan trọng của các bài tập định hướng phát triển năng lực trong dạy học Địa lí 12 THPT
- Về việc xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 THPT:
Bảng 1.4 : Mức độ xây dựng và sử dụng các bài tập trong dạy học
Địa lí 12 THPT theo định hướng phát triển năng lực
Mức độ thường xuyên Số lượng GV Tỷ lệ (%)
Sử dụng đều đặn sau mỗi bài học 1 12,5
Có tới 75% GV xây dựng và sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực ở mức độ khá thường xuyên trong các tiết học Theo các GV này thì để sử dụng đều đặn các bài tập phát triển năng lực trong dạy học Địa lí 12 là một điều thực sự khó khăn, đôi khi trong một số bài học thì HS chỉ cần theo dõi và nắm bắt những kiến thức mà GV
đã truyền đạt là được Trong khi đó, vẫn còn 12,5% GV rất ít khi xây dựng và sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực, theo họ thì các kiến thức Địa lí 12 là khá dài đòi hỏi tốn nhiều thời gian trong việc giảng dạy, và mức độ nắm bắt bài học của HS
là khá hạn chế nên họ rất ít khi sử dụng các bài tập như vậy để đánh giá Không có GV
Trang 31nào không xây dựng và sử dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực
- Về việc sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 THPT: Khi được hỏi về mức độ
sử dụng các bài tập định hướng phát triển năng lực dưới dạng các bài tập thực tiễn để đánh giá HS, thì 100% các giáo viên đều trả lời là có sử dụng thường xuyên Bởi vì một
số lí do cụ thể họ đưa ra như sau:
+ Giúp HS hiểu bài rất nhiều;
+ Vì việc sử dụng các bài tập thực tiễn sẽ giúp HS áp dụng được kiến thức đã học vào thực tế của cuộc sống Từ đó, HS sẽ ghi nhớ nhanh kiến thức đã học lâu hơn và yêu thích môn học hơn
+ Vì nó tốt hơn kiến thức sách vở và kích thích tư duy của HS
- Về việc tự xây dựng bổ sung hệ thống bài tập nhận thức phục vụ công tác giảng dạy bên cạnh hệ thống bài tập trong SGK, sách bài tập, sách hướng dẫn ôn thi: Kết quả
cho thấy GV thường xuyên tự lập bài tập nhận thức phục vụ cho công tác giảng dạy còn rất khiêm tốn, có 2 GV chiếm 25 % cho rằng thỉnh thoảng, 4 GV chiếm 50 % cho rằng ít
và 2 Gv chiếm 25% cho rằng chưa Đây thực sự là khó khăn rất lớn đối với việc nâng cao chất lượng dạy học môn Địa lí nói chung và Địa lí 12 nói riêng
- Về việc xây dựng hệ thống bài tập theo định hướng phát triển năng lực có xuất phát từ tình huống thực tiễn: Chỉ có 2 GV chiếm 25% cho rằng thường xuyên, có tới 6
GV chiếm 75% cho rằng rất ít khi và không có GV nào cho rằng không Nếu GV xuất phát từ bối cảnh và tình huống thực tiễn khi xây dựng bài tập phục vụ cho giảng dạy là
GV đã chú trọng năng lực vận dụng tri thức vào các tình huống của cuộc sống và nghề nghiệp trong tương lai Đó cũng là mục tiêu của dạy học theo định hướng phát triển năng lực, trên thực tế tỉ lệ GV THPT làm được điều này chiếm tỉ lệ còn quá nhỏ
- Ở một khía cạnh khác, đối với câu hỏi về việc có hay không chú ý đến việc phát huy năng lực cho HS khi xây dựng hệ thống bài tập Địa lí, kết quả cho thấy 6 GV cho rằng có chiếm tỉ lệ 75%, vẫn còn 2 GV chiếm 25% cho rằng chưa
Từ kết quả trên cho thấy:
- Những bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho HS xây dựng và sử dụng xuất phát từ những bối cảnh, tình huống trong thực tiễn, phát huy năng lực, tư duy khoa học của HS đã được sử dụng nhưng còn hạn chế
- Chưa khai thác triệt để các ứng dụng của Địa lí trong thực tế và các vấn đề thực
Trang 32tiễn có liên quan đến kiến thức Địa lí vào nội dung bài tập nhận thức nên tính thực tiễn của môn học chưa cao
- GV ít để ý đến ý kiến cá nhân của HS, HS lĩnh hội kiến thức còn bị động, phụ thuộc nhiều vào GV
- GV còn ngại trong việc xây dựng bổ sung các bài tập theo định hướng phát triển năng lực để phục vụ cho công tác giảng dạy
Như vậy có thể thấy, dạy học Địa lí trong các trường THPT cũng đã có những định hướng phát triển năng lực, tuy nhiên chưa đồng bộ và thường xuyên Có thể thấy GV mới chỉ phát huy năng lực của HS ở mức độ thấp, chưa đáp ứng đầy đủ những yêu cầu của định hướng đổi mới giáo dục nước ta
1.5.2 Kết quả điều tra HS
- Về hứng thú của HS đối với các bài tập để đánh giá năng lực:
Bảng 1.5: Cảm nhận của HS về mức độ hứng thú với bài học khi GV sử dụng các
bài tập theo định hướng phát triển năng lực
vì cảm thấy các kiến thức lí thuyết đã quá nặng nề, việc giao thêm các bài tập khiến cho
họ cảm thấy mệt mỏi Và theo cảm nhận của HS thì không có HS nào là không hứng thú đối với bài tập theo định hướng phát triển năng lực mà GV đã xây dựng
Trang 33Bảng 1.6: Tổng hợp kết quả khảo sát HS khối 12 trường THPT Thanh Khê
số HS
Nội dung trả lời
Kết quả
Số HS Tỉ lệ (%)
1 Các em đã gặp những bài tập
Địa lí gắn liền với các vấn đề thực
Thường xuyên 10 12,5 Thỉnh thoảng 20 25
3 Theo em bài tập Địa lí dạng này
giúp cho các em được vận dụng
kiến thức khoa học Địa lí vào thực
để đạt được mục tiêu giáo dục yêu cầu HS phải vận dụng được kiến thức đã học vào thực tiễn Vì vậy trong dạy học, GV cần tăng cường đưa những bài tập mang tính thực tiễn vào để HS cọ sát và vận dụng
Về việc các em có hứng thú với các bài tập dạng này không thì có tới 75% các em cho rằng rất thích, tỉ lệ nhỏ cho là bình thường và không có HS trả lời không thích Đặc biệt 100% HS cho rằng đây là dạng bài tập các em vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn Mặc dù kết quả chưa cao, các em cũng chưa hài lòng về kết quả bài làm của mình, xong nhìn chung HS rất hào hứng với các dạng bài tập Địa lí mới mẻ với các em
Qua khảo sát đối với HS, chúng tôi rút ra nhận xét như sau:
- HS còn bỡ ngỡ với bài tập nhận thức Địa lí mang tính thực tiễn
Trang 34- Năng lực đọc hiểu, năng lực vận dụng kiến thức khoa học Địa lí vào giải quyết vấn đề thực tiễn còn thiếu
- Dạng bài tập định hướng phát triển năng lực Địa lí mang tính thực tiễn đã mang lại
sự hứng thú trong tìm tòi, khám phá tri thức Địa lí
Sau khi nghiên cứu về bài tập theo định hướng phát triển năng lực chúng tôi thấy rằng các bài tập sẽ góp phần khắc phục những tồn tại trong dạy học Địa lí tại các trường THPT hiện nay và đưa dạy học Địa lí theo hướng phát triển năng lực
1.5.3 Nguyên nhân của thực trạng
- Trong một số bài học, một số GV vẫn chưa nắm vựng nội dung cần xây dựng bài tập, chưa thấy hết vai trò to lớn của bài tập định hướng phát triển năng lực cho HS trong dạy học Địa lí, hoặc trong việc xây dựng và sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực cho HS còn lúng túng, chưa phát huy hết các năng lực của HS và chưa khắc sâu được kiến thức của bài học
- Khi chuẩn bị cho kế hoạch bài dạy của mình, mọt số GV còn chưa chú trọng đến việc xây dựng bài tập cho HS khai thác các kiến thức, nội dung câu hỏi và bài tập còn rời rạc, phương pháp dẫn dắt không hợp lí nên không khắc sâu được nội dung bài học
- Trong quá trình tổ chức cho HS khai thác kiến thức và giao bài tập cho HS thì GV chưa giao nhiệm vụ rõ và hướng dẫn cụ thể cho HS do vậy các em chưa định hướng rõ ràng được nhiệm vụ của bản thân mình, chính vì thế mà các em còn lúng túng và chưa phát huy được năng lực của bản thân mình
- Ngoài ra, một số bài tập mà GV chuẩn bị cho HS còn chưa tạo hứng thú đúng mức để kích thích sự tìm tòi, tư duy sáng tạo và say mê học tập của HS
- Các bài tập tốn khá nhiều thời gian để xây dựng, và thời gian của mỗi bài học là khá dài, nên khó có thể áp dụng các bài tập đánh giá năng lực
Trang 35Chương 2:
CÁCH THỨC XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG TRUN HỌC PHỔ THÔNG
THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
2.1 NGUYÊN TẮC KHI XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP ĐÁNH GIÁ NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG THPT
2.1.1 Đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức với HS
Khi xây dựng bài tập nhận thức cho HS khối 12 THPT cần đảm bảo tính khoa học, vừa sứac đối với HS trên một số khía cạnh sau: (1) Bài tập Địa lí theo định hướng phát triển năng lực phải chính xác, đa dạng, có nội dung thiết thức, phải đáp ứng được các nội dung trong chương trình Địa lí lớp 12 THPT và phù hợp với trình độ nhận thức, tâm sinh lí của HS; (2) Nội dung bài tập phải thật ngắn gọn, súc tích, không quá năng nề
về tính toán mà cần đưa vào các tình huống có vấn đề trong các bài tập, qua đó rèn luyện phát triển các năng lực nhận thức, tư duy Địa lí và hành động cho HS Khi xây dựng tình huống có vấn đề cần phải dựa vào các thế mạnh đặc thù của bộ môn Địa lí như tranh ảnh, bản đồ, bảng số liệu, thông tin khoa học Địa lí…
2.1.3 Đảm bảo tính giáo dục
Để đảm bảo nguyên tắc này trong dạy học, khi xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học địa lí 12 THPT theo theo định hướng phát triển năng lực cần phải quan tâm đến một số vấn đề sau: (1) Mỗi đơn vị kiến thức, mỗi hoạt động nhận thức tuyệt đối tránh gò
bó, gán ghép một chiều; (2) Cần phải quan tâm đến thực tế của bản thân HS, quan tâm đến hành động, suy nghĩ của các em để từ đó có biện pháp giáo dục thích hợp; (3) Xây dựng và sử dụng bài tập theo định hướng phát triển năng lực phải có tính thuyết phục
Trang 36cao, làm chuyển biến tư tưởng tình cảm của các em với đất nước, địa phương mà các em sinh sống
2.1.4 Đảm bảo tính tự lực và phát triển tư duy HS
Khi xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học Địa lí 12 THPT cần phải thiết kế sao cho HS có thể tự lực phân tích các sự kiện, hiện tượng Địa lí, biết khái quát hóa, hệ thống hóa, điển hình hóa cũng như vận dụng các tri thức Địa lí vào thực tiễn dưới sự hướng dẫn
và chỉ đạo của GV Để đảm bảo nguyên tắc này, việc kết hợp sử dụng các bài tập theo định hướng phát triển năng lực với các phương pháp dạy học tích cực, hiện đại là rất cần thiết
2.2 QUY TRÌNH XÂY DỰNG VÀ SỬ DỤNG BÀI TẬP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ 12 Ở TRƯỜNG THPT THEO ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC
2.2.1 Quy trình xây dựng bài tập
2.2.1.1 Quy trình
Phần này trình bày quy trình xây dựng bài tập đánh giá KQHT của HS trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT theo định hướng phát triển năng lực Quy trình khái quát được trình bày dưới đây (hình 2.1):
Hình 2.1: Quy trình xây dựng bài tập trong dạy học Địa lí 12 ở trường THPT
theo định hướng phát triển năng lực
Xác định mục đích, mục tiêu, đối tượng và phương pháp đánh giá
Phát triển ý tưởng và phác thảo
bài tập
Thu thập, biên tập thông tin, tư liệu và các dạng đồ họa Hoàn thiện bài tập đánh giá
Đáp án/bảng kiểm/rubric
Theo cách thức riêng đối với từng công cụ
Trang 372.2.1.2 Kĩ thuật thực hiện quy trình
Bước 1: Xác định mục đích, mục tiêu, đối tượng, phương pháp đánh giá
- Mục tiêu của môn học là những gì HS cần phải đạt được sau khi học xong môn học,
nó bao gồm các thành tố:
+ Hệ thống các kiến thức khoa học gồm cả các phương pháp nhận thức
+ Hệ thống kĩ năng kĩ xảo
+ Khả năng vận dụng kiên thức vào thực tế
+ Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội
- Mục đích học tập là những gì HS cần có được sau khi đã học xong một đơn vị kiến thức, một quy tắc nào đó Mục đích học tập có thể bao gồm các phần sau đây:
+ Lĩnh hội tri thức nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhiên và xã hội;
+ Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và cuộc sống; + Thu thập những kinh nghiệm để có thể độc lập nghiên cứu, hoạt động sau này Giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá hoạt động học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập được xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được yêu cầu đề
ra của công việc đánh giá kết quả học tập của HS Mục tiêu của môn học và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung chương trình, phương pháp, hình thức và quy trình dạy học và học tập Đồng thời nó cũng là cơ sở để chọn phương pháp, hình thức và quy trình đánh giá hoạt động học tập của HS Đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục
- Tất cả các HS đều là đối tượng được sử dụng các bài tập đánh giá KQHT trong dạy môn Địa lí lớp 12 THPT Trong dạy học môn Địa lí lớp 12 THPT, căn cứ vào mục tiêu và yêu cầu của việc đánh giá các năng lực, khi thực hiện có thể tiến hành đánh giá đối với tất cả HS của một lớp, một số HS của lớp (nhóm HS hoặc một số HS bất kì trong lớp học) hoặc một cá nhân HS cụ thể của lớp
Trang 38- Tùy theo mục tiêu và yêu cầu của việc đánh giá các năng lực mà các bài tập có thể được sử dụng các phương pháp như kiểm tra viết dự án, thuyết trình… cho hình thức đánh giá tổng kết hay là đánh giá quá trình cho phù hợp.
Bước 2: Phát triển ý tưởng và phác thảo bài tập
Ý tưởng về bài tập là những suy nghĩ ban đầu của GV về cách thức và cấu trúc của bài tập sẽ xây dựng Chẳng hạn, xây dựng bài tập dựa trên các hình ảnh có nội dung địa lí; xây dựng bài tập dựa trên bản đồ, đoạn thông tin kết hợp với hình ảnh, biểu đồ và các dạng đồ họa khác Các ý tưởng về bài tập cần được hình thành dựa trên
cơ sở những hiểu biết về năng lực, các thành tố đánh giá năng lực và nội dung đánh giá đã được xác định GV trên cơ sở nghiên cứu kĩ nội dung bài học, dựa vào những nội dung đánh giá đã xác định để hình thành ý tưởng ban đầu Các ý tưởng về bài tập liên quan đến các thành tố đánh giá là rất phong phú, đòi hỏi ngoài hiểu biết chuyên môn và khả năng tư duy sáng tạo, GV cần huy động thêm vốn kiến thức xã hội Bên cạnh nghiên cứu SGK, GV có thể dựa vào những định hướng sau đây để có thêm các ý tưởng xây dựng bài tập:
- Nghiên cứu hệ thống bản đồ đa dạng, gắn liền với các chủ đề dạy học trong Átlát Địa lí Việt Nam để tìm ra những ý tưởng liên quan đến việc xây dựng bài tập
- Tìm hiểu, nghiên cứu các vấn đề diễn ra xung quanh cuộc sống Chẳng hạn như các vấn đề về dân số, lao động, việc làm, môi trường, tai biến thiên nhiên để yêu cầu HS liên hệ, giải thích, đề xuất giải pháp giải quyết một số vấn đề Các bài tập được xây dựng dựa trên những ý tưởng này thường có tính thực tiễn cao
- Ngoài ra, GV có thể thông qua việc nghiên cứu các tài liệu chuyên khảo, các bài báo khoa học, công trình nghiên cứu hoặc thông qua các thông tin trên báo chí, truyền hình, mạng Internet… để có thêm ý tưởng về bài tập cần xây dựng
Dựa trên ý tưởng đã được phát triển GV tiến hành các phác thảo về bài tập (có thể lựa chọn ý tưởng tốt nhất trong trường hợp có nhiều ý tưởng về bài tập) Cấu trúc của một bài tập thường có phần dẫn và câu hỏi, trong trường hợp sử dụng câu hỏi trắc nghiệm sẽ có thêm phần các phương án lựa chọn Do đó các phác thảo ban đầu cần chỉ
ra được nguồn lực để xây dựng phần dẫn Chẳng hạn, phần dẫn được xây dựng dựa trên một bản đồ, hình ảnh, biểu đồ… Tiếp đó GV phác thảo một số câu hỏi, những yêu
Trang 39cầu và các tiêu chí đánh giá kèm theo (nếu có)
Bước 3: Thu thập dữ liệu, biên tập thông tin và các dạng đồ họa
GV dựa vào ý tưởng và phác thảo đã thực hiện ở bước trên để xác định các dữ liệu cần thu thập cho bài tập Các ý tưởng về bài tập đánh giá KQHT của HS trong dạy học Địa lí 12 theo định hướng phát triển năng lực thường cần đến các nguồn thông tin và/hoặc các dạng đồ họa Giáo viên dựa vào những phác họa đầu tiên về bài tập để tiến hành tìm kiếm tư liệu cần thiết để xây dựng bài tập Một ý tưởng về nội dung đánh giá
có thể cần nhiều nguồn tư liệu khác nhau Giáo viên có thể sử dụng các tư liệu có sẵn
và đưa ra câu hỏi dựa trên các tư liệu này Trong nhiều trường hợp khác, các ý tưởng
về bài tập được phát triển một cách sáng tạo và đa dạng sẽ đòi hỏi các tư liệu cần được biên tập theo ý đồ riêng của họ Ví dụ: GV có thể xây dựng tư liệu cho bài tập bằng cách việc sử dụng các thao tác tóm tắt, cắt ghép thông tin của một hoặc một số bài báo, đoạn văn có nội dung địa lí Giáo viên cũng cần phát triển các bài tập dựa trên các bản đồ, sơ đồ, biểu đồ hay video clip do mình biên tập
Để xây dựng bài tập, GV cần có nguồn thông tin và dữ liệu đa dạng Vì thế, không nên dựa vào số lượng hạn chế các bài tập có sẵn trong SGK Thông tin và hệ thống tư liệu trong SGK để xây dựng bài tập cũng hạn chế, thiếu tính cập nhật Trong khi đó, đánh giá theo định hướng phát triển năng lực đòi hỏi GV phải tăng cường xây dựng bài tập có tính thực tiễn Do đó, GV cần đa dạng hóa nguồn thông tin và dữ liệu
để xây dựng bài tập một cách hiệu quả thông qua nghiên cứu để đưa vào trích dẫn các phân tích, kết luận, kết quả nghiên cứu trong các sách chuyên khảo, sách tham khảo lĩnh vực Địa lí và lĩnh vực khác có liên quan, các kết quả nghiên cứu trong lĩnh vực
Địa lí đã được xuất bản hoặc công bố trên các tạp chí khoa học; tìm kiếm và đưa vào
câu hỏi, bài tập một số hiện tượng địa lí tự nhiên và địa lí kinh tế - xã hội diễn ra trong
thực tế Giáo viên đồng thời có thể tìm kiếm, cập nhật các thông tin về một số vấn đề
có tính thời sự liên quan đến nội dung môn học từ các nguồn trên Internet, báo chí…
Các nguồn thông tin và dữ liệu sau khi đã tìm kiếm được GV có thể đưa vào sử dụng trực tiếp hoặc biên tập lại để xây dựng bài tập Thông thường, GV thường phải biên tập lại để có thể xây dựng câu hỏi, bài tập theo các ý tưởng của riêng mình, phục
vụ hiệu quả cho hoạt động đánh giá Giáo viên cần lưu ý, đối với các thông tin và dữ
Trang 40liệu đưa vào xây dựng bài tập đánh giá dù là sử dụng trực tiếp hay qua biên tập và xây dựng đều phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu sau đây:
- Phải đảm bảo tính khoa học và giáo dục, tức là các thông tin hay kênh hình được xây dựng phải có nội dung chính xác, đồng thời phải phản ánh hoặc kiến tạo nội dung đánh giá mà GV muốn hướng đến;
- Các thông tin được tổng hợp phải ngắn gọn, diễn đạt dễ hiểu, phù hợp với từng mục đích đánh giá cụ thể và trình độ của HS Thông tin và các dữ liệu thu thập được phải có nguồn rõ ràng và được trích dẫn;
- Phải phù hợp với phương pháp đánh giá lựa chọn, góp phần phát huy được tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS;
- Đối với hình ảnh, bảng số liệu, bản đồ, biểu đồ video clip… Giáo viên sưu tầm và biên tập để sử dụng cho mục đích đánh giá cũng phải đảm bảo các yêu cầu khác giống như yêu cầu đối với một phương tiện dạy học bình thường
Bước 4: Hoàn thiện bài tập đánh giá
Trên cơ sở ý tưởng về câu hỏi, bài tập đã phác thảo và dữ liệu đã thu thập hoặc xây dựng, GV tiến hành biên soạn và hoàn thiện bài tập Bài tập đánh giá năng lực HS thường có cấu trúc bao gồm phần dẫn, phần câu hỏi và phần các phương án lựa chọn (nếu có) Câu dẫn của bài tập có thể được trình bày dưới dạng một đoạn văn (chữ viết), hoặc sử dụng hình ảnh, biểu đồ, bản đồ, các dạng đồ họa khác, hoặc kết hợp giữa chúng Câu dẫn có thường mô tả sự kiện, vấn đề hoặc tình huống thực tiễn và có tác dụng kích thích hứng thú cho HS Phần câu hỏi cũng có thể được thể hiện bằng nhiều cách, có thể là câu hỏi trắc nghiệm khách quan Bài tập sau khi hoàn thiện cần đảm bảo các yêu cầu:
- Đảm bảo tính chính xác, tức là làm bộc lộ chính xác những nội dung muốn hỏi hoặc yêu cầu HS thực hiện Như vậy, phần lệnh phải đặt ra yêu cầu, nhiệm vụ để người học hiểu chính xác yêu cầu nhiệm vụ, nghĩa là không lạc đề
- Bám sát nội dung hoạt động dạy học nhằm đảm bảo tính thống nhất với nội dung dạy học, mục đích giáo dục và năng lực cần phát triển ở HS Bài tập phải hướng vào việc thu nhận TTPH là sự phản ánh mức độ đạt được các mục tiêu dạy học đề ra sau một bài học hoặc giai đoạn học tập nhất định