1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Ebook phòng và trị bệnh theo phương pháp thực hành ohsawa phần 2

133 11 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 17,54 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1 B ệ n h d o Âm: Bệnh sinh ra do tác động của quá nhiều u tố Âm như thiếu vận động thân thể, thường xuyên sống ng lo âu, buồn bã, chán chường, trong môi trường ẩm ướt ặc quá lanh, bị nh

Trang 1

Phần Hai

“Khi trị bệnh dùng thức ăn thay thuốc có phần lợi hơn”.

HẢI THƯỢNG LÃN ÔNG

Đ ại Y Sư V iệt Nam th ế k ỷ 18.

“Thức ăn là thuốc”.

HXPPOCRATE Ong Tổ củ a Tây Y.

Trang 3

í ăn uống, lao động thể lực lẫn tinh thần, ngủ nghỉ cho hợp

trậ t tự và điều hòa Nếu cuộc sống hàng ngày, nhất là ăn

Ìg, trở nên vô trậ t tự, m ất điều hòa, nghĩa là không phù hợp nhu cầu sinh học tự nhiên của bản thân cũng như với ững đổi thay m ang tính qui luật của thiên nhiên, hoạt động thể sẽ m ất ổn định và bệnh phát sinh

Nhìn chung, có thể chia mọi bệnh về thể chất lẫn tâm thần

anh ba dạng chính: (1) Bệnh do A m (nguyên nhân dư Am);

Bệnh do Dương (nguyên nhân dư Dương); và (3) Bệnh do

n lẫn Dương (nguyên nhân vừa dư Âm vừa dư Dương).

(1) B ệ n h d o Âm: Bệnh sinh ra do tác động của quá nhiều

u tố Âm như thiếu vận động thân thể, thường xuyên sống )ng lo âu, buồn bã, chán chường, trong môi trường ẩm ướt

ặc quá lanh, bị nhiễm chất độc hoặc phóng xạ, chơi bời trác

ng, thưởng thức nhiều phim, ảnh, truyện và nhạc ủy mị đồi

jy, và chủ yếu do tiêu thụ quá mức những thứ thịnh Âm như

a túy, gia vị hóa học (như bột ngọt), nước đá, kem lạnh, trái

y, đường (nhất là đường cát trắng và đường hóa học), sữa, [ỢU, cà phê, thực phẩm tinh chế, v.v

Bệnh do Âm thường xuất hiện ở những cơ quan rồng, nở

iư dạ dày, ruột, bàng quang, túi mật, da, tử cung, vú, miệng

Trang 5

lý, trật tự và điều hòa Nếu cuộc sống hàng ngày, n hất là ăn uống, trở nên vô trậ t tự, m ất điều hòa, nghĩa là không phù hợp với nhu cầu sinh học tự nhiên của bản thân cũng như vứi những dổi thay mang tính qui luật của thiên nhiên, hoạt động

cơ thể sẽ m ất ổn định và bệnh phát sinh

Nhìn chung, có thể chia mọi bệnh về thể chất lẫn tâm thần

thành ba dạng chính: (1) Bệnh do A m (nguyên nhân dư Am); (2) Bệnh do Dương (nguyên nhân dư Dương); và (3) Bệnh do

Âm lẫn Dương (nguyên nhân vừa dư Âm vừa dư Dương).

(1) B ệ n h d o Âm: Bệnh sinh ra do tác động của quá nhiều yếu tố Ảm như thiếu vận động thân thể, thường xuyên sống trong lo âu, buồn bã, chán chường, trong môi trường ẩm ướt hoặc quá lạnh, bị nhiễm chất độc hoặc phóng xạ, chơi bời trác táng, thưởng thức nhiều phim, ảnh, truyện và nhạc ủy mị đồi trụy, và chủ yếu do tiêu thụ quá mức những thứ thịnh Âm như

ma túy, gia vị hóa học (như bột ngọt), nước đá, kem lanh, trái cây, đường (nhất là đường cát trắng và đường hóa học), sữa, rượu, cà phê, thực phẩm tinh chế, v.v

Bệnh do Am thường xuất hiện ở những cơ quan rỗng, nở như dạ dày, ruột, bàng quang, túi mật, da, tử cung, vú, miệng

Trang 6

(trừ lưỡi); hoặc ở các bộ phận nở lớn, hướng lên, phần ngoài củí

cơ quan hoặc của hệ thống; thí dụ phần thân (túi) của dạ dày phần đi lên của ruột già, thần kinh ngoại biên hoặc mút thầr kinh, đại não, v.v Những bệnh thuộc dạng này thường thấy (

số người sống trong vùng nhiệt đới hoặc bán nhiệt đới và C( tập quán ăn phần lớn thảo mộc

Dạ dày V Thãn A Ruột non V Đại tràng xuống V Bàng quang V

HÌNH 26 : Áni Dương của nội tạng

(2) B ện h do Dương: Bệnh sinh ra do tác động của quế nhiều yếu tó Dương như lao lực quá độ, thường xuyên sống trong ganh tỵ, hận thù, bất mãn, trong môi trường ngột ngạt nóng bức, sống cố lẻ (nhất là sau tuổi 35), tiếp xúc nhiều vớ phim ảnh, truyện và nhạc kích động bạo lực, và chú yếu do tiêi

Trang 7

thụ quá mức những thứ thịnh Dương như thuốc ngừa thai thuốc lá (nhiều nicôtin và lưu huỳnh hoặc tẩm hóa chất), thịt trứng, phô-mai mặn, muối tinh chế, v.v

Bệnh do Dương thường xuất hiện ở các cơ quan chắc, đặ< như phổi, tim, gan, thận, lách tuỵ, buồng trung, tuyến tiền liệt lưỡi; hoặc ở các bộ phận co nhỏ, hướng xuống, phần trong củí

cơ quan hoặc của hệ thống, thí dụ phần cuống ruột, ruột thừa phần đi xuống của ruột già, thần kinh trung ương, tiểu não v.v Những bệnh thuộc dạng Dương thường t h ấ y trong S(

người sống ở vùng hàn đới hoặc ôn đới và có tập quán ăn phầr lớn thực phẩm gốc động vật

Cần lưu ý cách phân định bệnh trên đây chỉ là tương đối

vì mặc dù bệnh do dư yếu tố này hoặc yếu tó kia, nhưng nhữnị yếu tố đối lập cũng có vai trò quan trọng như là chất xúc tá< hoặc kích thích Thí dụ người Eskimo ở xứ lanh ăn phần lớr thực phẩm gốc động vật vẫn không bị ung thư cho đến khi di nhập những thực phẩm “văn minh” như đường cát trắng, sô-cô

la, rượu công nghiệp, hóa chất tổng hợp, v.v Những thứ thịnỉ

Âm này đã kích thích những yếu tố thịnh Dương trong cách ăr của họ làm phát sinh nhiều dạng ung thư Trái lại, người dí đen ở châu Phi ăn nhiều thực phẩm thịnh Âm như sắn (khoa mì), chuối vẫn khỏe manh; nhưng khi sang Mỹ ăn theo lối Mj (nhiều thịt, trứng, sữa) thì phát sinh chứng thiếu máu do hồn| cầu bị khuyết (có triệu chứng lên cơn động kinh định kỳ, ngườ

co quắp, m ất trí nhớ và bệnh nhân thường chết) Thật ra, bệní tình của con người ngày nay rất khó phân định, vì cách sốn£

|Uấ và ăn uống của họ đã trở nên hỗn tạp Họ ngốn ngấu đủ thứ d

'ng thịnh Am lẫn thịnh Dương, khiến cơ thể bị chao đảo nặng n(

ạt, dẫn đến rối loạn thường xuyên và tâm tính sinh ra thay đổ:

/ối bất thường Như vậy, bệnh của phần đông loài người hiện na3

êu có nguyên nhân do dư Âm lẫn Dương

Trang 8

(3) B ện h do Âm lẫ n Dương: Bệnh dạng này có ảnh hưởng toàn cơ thể, nhất là các cơ phận hoặc chức năng quan trọng như tủy xương, trưng não, hệ di truyền (ADN, ARN), hệ thần kinh giao cảm tự trị (điều khiển tiềm thức và hoạt động

vô thức), cơ chế miền nhiễm (lực lượng kháng bệnh), v.v Bệnh do Âm lẫn Dương thường thấy nhiều trong dân cư ở các nước công nghiệp tiên tiến và đô thị lớn

Vì mọi bệnh về thể chất và tâm thần đều có chung nguồn gốc, đó là sự mất quân bình giữa tình trạng cơ thể và diễn biến của môi trường thiên nhiên, nên tất cả có liên quan mật thiết với nhau và phát triển giống nhau Xét theo triệu chúng, bệnh thường phát triển qua các giai đoạn sau:

G iai đ o ạ n 1 - MỆT MỎI: Cảm thấy lừ đừ, mệt mỏi là đã bệnh rồi Tinh trạng này thường kèm theo sự căng cứng bắp thịt, đi tiểu liên tục và đổ mồ hôi thường xuyên, thỉnh thoảng tiêu chảy hoặc táo bón, cảm thấy lanh hoặc sốt trong thời gian ngắn Về tinh thần, suy nghĩ bắt đầu kém sáng suốt, nhận thức kém linh hoạt và đối ứng thiếu chính xác

G iai đ o ạ n 2 - ĐAU NHỨC: Khi cảm giác mệt mỏi trở thành tình trạng thường xuyên, cơ thể bắt đầu phát ra đau nhức ở nơi nào đó như đau cơ bắp, nhức đầu, chuột rút (vọp bẻ) Đôi khi lên cơn khó thở, tim đập không đều, sốt và ớn lanh, cử động khó khăn, về tinh thần, thỉnh thoảng thấy chán năn, lo

âu và có cảm giác bất ổn

G iai đ o ạ n 3 - BỆNH VỀ MÁU: Nếu bệnh nhân tiếp tục sống và ăn uống mất quân bình, máu — gồm các tế bào máu đỏ (hồng cầu) và các tế bào máu trắng (bạch cầu) và huyết tương —

Trang 9

bị biến chất, không còn thích hợp cho việc duy trì mối tương quan hòa hợp giữa nội môi (cơ thể) và ngoại môi (thiên nhiên)

Vả lại, máu là chất liệu xây dựng và nuôi dương các tế bào cơ thể; vì vậy, máu xấu sẽ tạo ra các tế bào và mô kém phẩm chất, từ đó sinh ra nhiều loại bệnh Máu bị chua (acid hóa), huyết áp cao hoặc thấp, thiếu máu, sốt xuất huyết, ung thu máu, hoại huyết, v.v thuộc giai đoạn này, kể cả hen suyễn, động kinh và bệnh da liễu, v ề tinh thần, giai đoạn này thường biểu hiện qua các triệu chứng như dề bị kích động, quá nhạy cảm, lúc nào cũng chán nản, rụt rè, và mất phương hướng trong cuộc sống

L ym phocite M onocyte H óng c ắ u

HÌNH 27 : Các dạng tế bào máu

G iai đ o ạ n 4 - Rốl LOẠN CẢM XÚC: Nếu máu tiếp tục bi

dơ bẩn trong thcd gian lâu dài, nhiều rối loạn cảm xúc sẽ xảy

thường xuyên: bị phấn khích, nổi nóng, giận dữ, gắt gỏng VỀ

cảm thấy chán chường hầu như hàng ngày Cách giải quyếi một vấn dề không còn tế nhị, khách quan nữa, và thường cc

Trang 10

cảm giác sợ hãi cùng những biểu hiện không cần thiết về thủ lẫn công khi phải đối phó với những tành huống khó khăn không quen thuộc Cử động của cơ thể bắt đầu trở nên cứng nhắc.

G iai đ o ạ n 5 - BỆNH c ơ QUAN: Nếu máu tiếp tục suy thoái, các cơ quan và những tuyến hạch bị biến đổi dần về phẩm chất lẫn chức năng và cấu trúc Xơ cứng mạch máu, tiểu đường, sỏi thận và sỏi mật, nhiều dạng ung thư, xơ bản đa phát, v.v đều thuộc giai đoạn này Óc cố chấp, thành kiến, bảo thủ, hẹp hòi, ảo tưởng trở nên rõ ràng hơn

G iai đ o ạ n 6 - BỆNH THAN KINH: Từ giai đoạn 5 khuynh hướng suy thoái tiến sâu hơn thành rối loạn thần kinh, kể cả tình trạng bại liệt thể xác và bại liệt tinh thần như bại não và vọng tưởng cuồng (hoang tưởng) Hoạt động hài hòa giữa tâm

lý và sinh lý trong nhiều cơ năng bị giảm dần Bắt đầu có cái nhìn tiêu cực trong cuộc sống hàng ngày, thường có ảo tưởng phá hoại và tự tử

G iai đoạn 7 - BỆNH TÂM LINH (Bệnh ăn sâu vào tiềm

thức): Sinh hoạt và ăn uống không đúng đắn trong nhiều năm

sẽ dẫn đến mức bệnh nặng nhất là xơ cứng tư tưởng và hành động, mặc dù trong các giai đoạn trước đã có nhưng chưa biểu hiện rõ ràng Tự kiêu, ích kỷ, hợm hĩnh, cực đoan, độc đoán, cố chấp, lúc nào cũng cho mình hoàn toàn đúng là một sô triệu chứng chung Bệnh tâm linh là giai đoạn phát triển cuối cùng của bệnh, đồng thời là nguyên nhân của các bệnh khác, của cùng khốn và bất hạnh Người mắc bệnh này thường có cặp

mắt “tam bạch” (xem Chương 9, mục III 5b), dễ chấm dứt đời

mình một cách bi thảm, tự sát hoặc bị giết

Cũng có thể chia bệnh thành hai dạng: PHẢN ỮNG ĐIỀU CHỈNH và BỆNH SUY THOÁI Các giai đoạn bệnh từ 1 đến 4

Trang 11

có thể liệt vào dạng phản úng điều chinh; còn các giai đoạn tù

5 đến 7 tượng trưng cho bệnh suy thoái

1 P h ả n ứng đ iều chỉnh: Khi một yếu tố độc hại từ bên

ngoài xâm nhập vào người, cơ thể liền tập trung sức đề kháng

và gây ra một số phản ứng để thải trì/ chất độc Thí dụ khi một người ăn uống đúng đắn lâu ngày bất ngờ ăn phải món lạ liền sinh ra tiêu chảy, đau bụng, sốt, ói hoặc nổi mụn nhọt Người

ta thường xem những triệu chứng như th ế là bệnh, nhưng thật

ra đấy chỉ là phản ứng thải trừ chất độc Một thí dụ khác là a- mi-đan (hạch đầu họng) sưng viêm khi hệ thống bạch huyết cc kìm giữ các chất độc đã vào cơ thể Trong trường hợp này, cơn sốt kèm theo có mục đích “thiêu hủy chất độc” Cũng như mội phụ nữ ăn uống m ất quân bình sẽ có kinh nguyệt không đều hoặc người dùng quá nhiều rượu, thịt, cơ thể bốc mùi khó chịi

và thích nói chuyện huyên thuyên; đây không gì khác hơn là cc thể đang “phản ứng” để thải bỏ những chất bất lợi Giận dĩ cũng là hình thức phản ứng xả bỏ chất dư thừa Nhờ hiệr tượng “tự điều chỉnh” này mà cơ thể duy trì được trạng th á trung hòa hoặc quân bình

2 B ện h su y thoái: Đây là bệnh thật sự vì phẩm chất vè

chức năng của các cơ quan trong người dã bị suy thoái nghiên trọng Thí dụ bệnh liệt kháng AIDS, đang là nguy cơ tiêu diệi loài người, có nguyên nhân là sống trác táng và ăn uống bừí bãi, nhất là hấp thu quá nhiều hóa chất như thuốc men, ma tự;

làm suy yếu sinh lực và làm tê liệt cơ chế miễn nhiễm t\

nhiên Một dạng bệnh suy thoái khác là do thường xuyên ăr quá nhiều đường tinh chế và nước đá làm máu bị chua và làn suy yếu xương, răng Bệnh ung thư, tiểu đường, bệnh tim mạch động kinh và nhiều bệnh mới phát sinh trong thế giới hiệr tiền đều thuộc dạng bệnh này

Trang 12

Đế hiểu rồ diễn biến của bệnh qua hai dạng trên, ta có thể xem thí dụ sau đây: Nếu một người ăn chay hoặc ít ăn thịt cá trong nhiều năm bỗng ăn mỡ, thường đương sự sẽ nôn mửa, đi tiêu chảy hoặc đi kiết (phản ứng điều chỉnh) Nếu cơ thể không phản ứng sau khi ăn nhầm một thức ăn không phù hợp, các thứ độc hại này sẽ tích lũy trong người và làm suy yếu sức khỏe (bệnh suy thoái) Có thể những triệu chứng phản ứng không xuất hiện trong thời gian lâu, có khi 20 hoặc 30 năm, nhưng các cơ năng trong người, kể cả trí óc yếu dần đi, nếu trong thcd gian đó người ta vẫn tiếp tục ăn uống sinh hoạt sai lầm Những người ở vào tình trạng này, khi được khuyên sửa đổi cách ăn uống và lối sống, thường ngạc nhiên, nhiều lúc họ tỏ thái độ:

"Tôi ăn uống và sống như thế đã mấy chục năm nay mà vẫn thấy khỏe mạnh, tội gì phải kiêng với cữ?" Tuy nhiên, những người này thường chết vì lên cữn động tim hoặc ung thư, hoặc

bị liệt kháng

Ta cũng có thể xét qua sự khác biệt giữa tình trạng sức khỏe đang có và thể chất bẩm sinh Vì tình trạng sức khỏe chịu ảnh hưởng của ăn uống hằng ngày nên thường biến đổi Trái lại, thể chất bẩm sinh rất khó thay đổi Có thể xem thể chất bẩm sinh là tình trạng sức khỏe gốc, vốn có từ khi còn nằm trong bụng mẹ và do những gì người mẹ hấp thụ tạo ra Thường thì bệnh suy thoái ảnh hưởng đến thể chất bẩm sinh, còn những phản ứng điều chỉnh biểu hiện sự đổi thay của tình trạng sức khỏe đang có

Như vậy, không có gì là “định mệnh” hay “số phận an bài”,

vì tất cả đều có thể biến đổi theo cách ăn cách ở hàng ngày

Trang 13

CHƯƠNG 9

KHÁM BỆNH

Khám bệnh theo phương pháp Thực Dư&ng là một nghệ thuật Không cần đến những dụng cụ phức tạp, ta vẫn có thể đoán định bệnh cho mình hoặc cho người bằng cách hỏi, nhìn,

sờ mó, nghe, ngửi và cảm nhận sóng sinh học Tất cả đều dựa vào NGUYÊN LÝ VÔ SONG ÂM DƯƠNG Nếu bạn thực hành PHƯƠNG PHÁP TH ựC DƯỜNG tự chữa lành bệnh và càng ngày càng củng cố sức khỏe, thì bạn càng biết cách giúp người khác phòng, trị bệnh tậ t thống khổ, dù họ không hay không biết gì về bản th ân mình Trí phán đoán của bạn ngày càng trở nên sắc bén và bạn sẽ khám phá ra nhiều triệu chứng bất thường ở những người thường cho mình khỏe m ạnh về thể xác lẫn tinh thần Không có gì che giấu được bạn Bạn có thể xác định giai đoạn bệnh của người mà bạn đang khám, và biết đấy là m ất quân bình về sinh lý hay cơ năng, về tâm lý hay tinh thần Thật ra, mọi bệnh trong người đều có liên quan mật thiết với nhau và có nguồn gốc chung là ăn ở trái tự nhiên hay

Trang 14

Ngoài ra, có thể hỏi thêm về nơi sinh sống, nhà cửa, khí hậu, hoàn cảnh sinh hoạt, đời sống gia đình, v.v

n NGHE (VĂN CHẨN)

Lắng nghe người ta nói chuyện, bạn vẫn có thể biết được tình trạng sức khỏe của họ Người nói huyên thuyên thường bị rối loạn ỏ nhừng cơ quan chắc đặc như gan do ăn quá nhiều thứ thịnh Dương như trứng, thịt, muối Trái lại, người không thích trò chuyện thường mắc bệnh ở các cơ quan rỗng nở như ruột,

dạ dày, v.v Người nói giọng mít ướt thường do yếu thận Giọng nói hùng hồn mà không lưu loát cho thấy bệnh ở tim Lời nói chuyện nặng nề, trầm uất cho thấy phổi bị nghẽn

m NHÌN (VỌNG CHẨN)

Đây là cách chẩn đoán đáng quan tâm nhất vì tương đối dễ dàng và phổ thông Dùng mắt quan sát hình tướng và những dấụ hiệu đặc trưng lộ ra bên ngoài, bạn có thể tự chẩn bệnh cho mình, cho người khác, kế cả trẻ sơ sinh, người bệnh liệt giường hoặc người khó tiếp cận

Vì thức ăn có ảnh hưởng to lớn đến sức khỏe, nên điều quan trọng nhất và trước hết là phải biết việc ăn uống hàng ngày có quân bình hay không Như đã nói ở phần "Dưỡng Sinh", món

ăn thức uống khi vào người phần lớn biến thành máu, phần còn lại là cặn bã hay chất thừa sẽ tích lũy trong các cơ quan hoặc được bài tiết ra ngoài Vì vậy, muốn kiểm tra việc ăn uống đúng hay sai thì có thể xem phân và nước tiểu hằng ngày (xem

Trang 15

tình trạng quân bình Âm Dương được tái lập Điều này cho thấy tự mỗi người có thể cải đổi hình tướng của mình băng cách tu chỉnh bản thán trong ăn uống và sinh hoạt hằng ngày.Như đã biết ở Phần Một, mọi sự vật trong vũ trụ đều hàm chứa hai khuynh hướng đối lập nhưng bổ túc cho nhau, đó là

Âm và Dương Ở cơ thế con người cũng vậy, tình trạng đối - bổ

này thế hiện trong mối tương quan giữa: 1 Phần trên và phần

dưới của cơ thể; 2 Phần triíớc và phần sau của cơ thể; 3 Bên trái và bên phải của cơ thể', 4 Phần ngoài và phần trong của cơ thể; và 5 Những bộ phận và toàn cơ thể.

1 P h ần trên và phần dưới của cơ thể:

Dùng cổ làm điểm phân chia cơ thể làm hai theo chiều ngang, thì đầu là phần trên và thân là phần dưới Xét về cấu trúc, đầu chắc đặc hơn, nên Dương hơn phần thân có hình dạng nở lớn hơn; do đó, phần thân Âm hơn đầu Vì Âm và Dương bổ túc nhau, nên phần thân xảy ra điều gì, thì điều đó cũng phản ánh ở đầu theo chiều đối lập Như vậy, tình trạng của tim, phổi, ruột và các cơ quan trong phần thân đều có biểu hiện tương ứng ở phần đầu, mà ta có thể thấy được nhờ quan sát vùng mặt

Từ cổ, xem như phần giữa cơ thể, đầu phát triển hướng lên, trong khi thân phát triển hướng xuống Vì vậy, những cơ quan nằm ở vùng dưới của thân sẽ lộ ra ở vùng trên của khuôn mặt, những cơ quan nằm giữa thân sẽ lộ ra ở vùng giữa khuôn mặt,

và những cơ quan nằm ở vùng trên của thân sẽ lộ ra ở vùng dưới của khuôn m ặt (xem hình 28)

a) Tim: Tình trạng tim hiện ra chót mũi Chót mũi nở lớn cho thấy tim phồng to, nếu có thêm màu đỏ nghĩa là tim làm việc quá sức kèm theo triệu chứng huyết áp bất thường Giữa chót mũi có vết nứt nẻ cho thấy tim bị hở (hai phần phải và

Trang 16

Hình 28: Các vùng mặt liên hê với các cơ quan trong người.

trái của tim không dính vào nhau) và có tiếng thổi, kèm theo triệu chứng tim đập loạn nhịp

b) Phổi: Phổi lộ ra ở má Khi má đỏ bừng, phổi đang bị viêm Má nổi tàn nhang, mụn nhọt cho thấy phổi ứ đờm và chất béo Màu da má nhợt nhạt cho thấy phổi yếu

c) Cuống phổi: Tình trạng cuống phổi lộ ra hai lỗ mũi Lỗ mũi rộng cho thấy cuống phổi thông, lỗ mũi hẹp cho thấy cuống phổi nhỏ yếu Hai cánh mũi đỏ cho thấy cuống phổi bị viêm

d) Dạ dày và Tụy tạng : Tình trạng của dạ dày và tụy phản

ánh lên vùng sống mũi và gốc mũi Nếu vùng này có màu tím bầm thì dạ dày và tụy đã bị rắc rối

Trang 17

e) Thận: Thận có liên hệ với tai và mắt Tai nhỏ và không

có trái tai cho thấy th ận và sinh lực vốn yếu kém Nếu mắt có quầng thâm, th ận đã bị co rút do ăn quá nhiều món thịnh Dương nhất là muối và có thể là hậu quả của chứng cuồng dâm Nếu phần th ịt dưới m ắt bị húp, mọng, th ận đã bị trương giãn

do ăn nhiều món Âm, nhất là quá nhiều nước Nếu tàn nhang, mụn nhọt nổi ở vùng này cho thấy thận bị ứ đờm và chất béo; nếu những ehất này “đông cứng” lại do tác động của thức ăn thịnh Âm như nước đá, trái cây, sẽ sinh ra sỏi thận

f) Gan và lách: Gan liên hệ với vùng trá n giữa hai lông mày (ấn đường); nếu vùng này có những đường hằn dọc thì gan đã

bị rối loạn Trong khi lách liên hệ với vùng trán ở đuôi lông mày (thái dương, màng tang), nếu da ở vùng này đổi màu cho

thấy lách đã bị tổn thương

g) Ruột và bàng quang: Những cơ quan này hiện ra ở trán

Trán tiết mồ hôi nhiều cho thấy bàng quang bị ứ nước Trán nổi tàn nhang, mụn nhọt cho thấy ruột bị xáo trộn, nếu nổi nhiều nếp nhăn thì ruột và bàng quang bị suy yếu

h) Các cơ quan sinh dục: Những cơ quan này có liên hệ với

tóc Tóc chẻ hoặc khô giòn cho thấy khả năng tình dục bị suy giảm Ngoài ra, tình trạng của hệ thống sinh dục cũng phản ảnh lên vùng miệng Nếu người phụ nữ có râu mép thì hệ thống sinh dục, nhất là hai buồng trứng đã bị rối loạn

i) Hệ tiêu hóa: Vùng miệng cũng phản ánh tình trạng của

hệ tiêu hóa Môi dưới phồng, dày hoặc trề ra cho thấy ruột bị trương giãn không hoạt động bình thường Môi trên phồng, dày cho thấy dạ dày bị giãn nở Sự biến đổi màu sắc của môi cũng liên quan đến tình trạng của hệ tiêu hoá Những nốt trắng nổi ở môi cho thấy ruột ứ đờm và chất béo, còn những nốt sậm màu cho thấy ruột hoặc dạ dày bị viêm loét

Trang 18

2 P h ầ n trư ớ c v à p h ầ n s a u c ủ a c ơ th ể :

Tình trạng của các cơ quan nội tạng nằm ở phần trước cũng

lộ ra ở phần lưng Quan sát hình dạng của cột xương sống như cong ra trước hoặc ra sau, nghiêng bên phải hoặc bên trái, cũng như xem màu sắc của da lưng, chúng ta có thể đoán định các cơ quan binh thường hay rối loạn

3 B ên trái và bên phải của cơ thể:

Các bộ phận nằm bên phải

và bên trái của cơ thể thường ảnh hưởng lẫn nhau theo đường chéo Thí

dụ vai bên phải của một người nhô hơn và rộng hơn vai bên trái, điều đó cho thấy phổi phải bị giãn nở hoặc Âm hơn; do đó, yếu hơn phổi trái Phổi phải yếu sẽ ảnh hưởng chéo đến các cơ quan bên trái nằm dưới hoành cách mạc.Tình trang suy yếu củaHình 29 : Liên hè chéo trái-phài _ , , ,

những cơ quan này lại anhhưởng chéo đến các bộ phận bên phải như chân phải khiếnchân này bị yếu đi

4 P hần ngoài và phần trong của cơ thể:

Mọi biến chuyển trong cơ quan nội tạng đều lộ ra mặt ngoài

cơ thể, như móng tay xù xì hoặc gãy, lông ở vùng da nào đó mọc dày ra hoặc rụng bớt, cũng như tàn nhang, nốt ruồi, mụn

Trang 19

nhọt nổi ở nơi nào đều cho thấy tình trạng mất quân bình ít nhiều trong quá khứ hoặc hiện tại của những cơ quan tương ứng trong người.

Theo Nguyên Lý Vô Song, vũ trụ là một thể thống nhất, nghĩa là mỗi tạo vật, dù nhỏ hay lớn, đều phản ánh toàn vũ trụ, nói cách khác toàn vũ trụ "hàm chứa" trong tíùig tạo vật Đối với con người cũng thế, mỗi bộ phận đều phản ảnh tình trạng toàn cơ thể Có thể dùng con m ắt làm thí dụ

a) Tròng mắt : Nếu chia m ắt thành hai phần theo đường

ngang Phần m ắt trên phản ảnh phần cơ thể trên, và phần mắt dưới phản ảnh các cơ quan ỏr phần cơ thể dưới Nếu chia mắt theo đường dọc, sẽ có hai phần ngoài và phần trong Phần trong (gần sống mũi) Dương hơn, liên hệ với phần cơ thể cố cấu trúc chắc đặc như lưng và cột sống Phần mắt ngoài Âm hơn, liên hệ với phần cơ thể trước có cấu trúc mềm và giãn nở hơn

Ta cũng có thể chia m ắt thành mười hai vùng tương ứng với những cơ phận đặc biệt (xem hình 30 ở dưái) để khám xét

Trang 20

Nếu vùng nào đó của mắt nổi những vết máu đò thì bộ phận

cơ thể liên hệ dã có vấn đề Thí dụ vùng mắt liên hệ với não nổi đỏ cho thấy các mạch máu vi ti trong não bị viêm hoặc bị

phồng Những vết đỏ nổi ở vùng mắt liên hệ với các cơ quan

sinh dục cho thấy những mao mạch trong các cơ quan này bị phồng trướng hoặc ứ huyết Đôi khi người phụ nữ có kinh cũng xuất hiện những vết này, nhưng dứt kỳ kinh thì chúng biến mất Nếu chúng không mất, thì đó là một triệu chứng rối loạn

ở cơ quan sinh dục.

Nếu phần mắt trên nối những vết nâu sẫm hoặc đen, thì trong xoang mũi đang xảy ra tình trạng vôi hóa và hệ hô hấp

đã có vấn đề Nếu những vết này nổi ở phần mắt dưới, chúĩig

tỏ thận đang kết sỏi hoặc trong buồng trứng đang hình thành

u bướu

Nếu tròng trắng mắt bị vàng, gan và túi mật hoạt động kém Màu mắt hơi tối chứng tỏ thận và bàng quang rối loạn, nếu có màu hồng thì tim và ruột non không còn hoạt động bình thường Mắt có màu xám cho thấy gan bị bệnh, màu xanh tái cho thấy phổi và ruột già bị bệnh, và có màu lục nhạt cho thấy một dạng ung thư đang phát triển trong cơ thể

Cũng có thể phát hiện ung thư ở nơi nào đó khi thấy vùng mắt liên hệ trở nên trong suốt, hoặc nổi ra những vết trắng hoặc vàng Nếu những vết này xuất hiện ở phần mắt dưới (ở sau mí mắt) chứng tỏ cơ thể phần dưới, nhất là chung quanh các cơ quan sinh dục đang ứ đờm và chất béo ơ phụ nữ, đây là dấu hiệu của bệnh bạch đới mãn tính, còn ở nam giới thì tuyến tiền liệt có bệnh

b) Mắt tam bạch : Mắt bình thường có lòng đen nằm chính giữa, lòng trắng chia đều ở hai bên Còn mắt tam bạch có lòng đen lọt một phần vào sau mí mắt trên và bày thêm phần lòng trắng ở phía dưới (xem hình 31)

Trang 21

Theo diễn tiến tự nhiên về sinh học, từ 60 tuổi trở đi, lòng đen con mắt có khuynh hướng chạy lên, và mắt người chết có lòng đen lọt hẳn vào sau mi m ắt trên Nhưng dưới tuổi đó mà

có mắt tam bạch là dấu hiệu xấu cho thấy sinh lực suy yếu toàn

bộ Người bị tam bạch thường đa nghi, hay sợ, dễ đổi ý, khó giữ

lời, hoang phí thời giờ, trí nhớ kém, phản ứng chậm, và thường

bệnh nặng ở tim, phổi, gan, thận, cơ quan sinh dục Người này

thường chấm dứt cuộc đời một cách bi thảm nếu không biết sửa đổi cách ăn ở hàng ngày cho đúng đạo

Bình thường Tam bạch Mắt lồi

Hình 31 : Các dạng mắt

c) Mắt lồi : Mắt lồi (mắt cá đỏ, m ắt ốc bưu) cũng tương tự mắt tam bạch Người m ắt lồi thường bị bệnh tim, yếu tình dục, rối loạn các tuyến nội tiết (bị bệnh bướu cổ ác tính Basedow chẳng hạn), kinh nguyệt không đều, v.v Cuộc đời của người này thường lắm khó khăn và có thể chết không êm thắm

IV XEM M Ạ C H (THIẾT CHAN)

Đây là một phương pháp chẩn bệnh tinh vi và có phần phức tạp; vì vậy, trong tập sách phổ thông này chỉ đề cập đến những

điểm cần lưu ý (muốn biết rồ hơn, xem sách “Thực Dưỡng Liệu

Pháp” của Ngô Thành Nhân).

Có nhiều vị trí đế xem mạch và nhận định tình trạng khí huyết cũng như tình trạng vận hành của từng cơ quan trong người; những vị trí đó là động mạch ở cổ tay, ở đùi, ở bụng, ống

Trang 22

quyển chân, ở lưng bàn chân, v.v ; nhưng rõ ràng nhất và dễ xem nhất là mạch ở cổ tay.

Trước hết nên nhớ qui luật căn bản: nam và nữ tương phản

và bổ túc cho nhau, nên mạch của nam giới và mạch của nữ giới trái ngược nhau Thí dụ: mạch tim, gan, thận của đàn ông nàm ở cổ tay trái, nhưng của đàn bà nằm ở cổ tay phải

Kế đến, khi xem mạch nên chú ý đến độ vồng (biên độ) hơn

là cường độ và tốc độ Vì độ vồng cho thấy tình trạng khí vơi đầy trong các cơ quan Cũng cần biết chu kỳ hàng năm của khí trong cơ thể không hoàn toàn phù hợp về thời gian với chu kỳ

vũ trụ Do tính trì hoãn cố hữu của mọi hệ thống trong người,

cơ thể phản ứng lại sự thay đổi thời tiết có phần chậm trễ Mạch thường đổi chậm hơn thcd tiết khoảng 3 tuần lễ Chính vào khoảng 24 ngày sau các thời kỳ phân mùa và chí điểm khó xem mạch nhất; vào những lúc đó, mạch có tính chất trung gian giữa mạch mùa trước và mạch mùa sau

Sau cùng, để kiểm chứng, có thể dùng đầu ngón tay cái (hoặc đầu tròn của que đũa gỗ, tre hoặc thủy tinh) ấn vào các

huyệt dùng chẩn đoán (xem sách "Thực Dưỡng Liệu Pháp"),

nếu thấy đau (hoặc bệnh nhân nhăn mặt) thi cơ quan hoặc hệ thống liên hệ đã bị bệnh Sau khi trị liệu cũng nên khám lại bằng cách đó

Theo Nguyên Lý Vô Song, các cơ quan trong người đều có thể phân định là Âm hay Dương Những cơ quan Dương (hình thể chắc đặc và nằm sâu trong cơ thể) gồm có gan, tim, tụy, lách, phổi và thận; đấy là những trung tâm vận chuyển, tồn trữ

và phân phối Những cơ quan Âm (hình thể rỗng, mềm và nằm ngoài hơn) gồm có túi mật, ruột non, dạ dày, ruột già và bàng quang; chúng đảm nhiệm việc dinh dưỡng và bài tiết Mỗi cơ quan Dương đều được một cơ quan Âm bổ túc theo từng cặp như sau cho thấy:

Trang 23

C ơ QUAN HÌNH THỂ DÒNG KHÍ CHẢY

TRONG KINH LẠC

Cặp 3 Tụy-lách Dương (A) Âm (V)

Điều này cho thấy tại sao những yếu tố Âm thường tác độngtên những cơ quan Âm, và nhũùìg yếu tố Dương tác động đến ửiững cơ quan Dương như đã nói ở mục “I Nguyên nhân sinh

)ệnh” của Chương 8 Theo qui luật Âm và Dương thu hút nhau Định lý 4 và 9 của Nguyên Lý Vô Song, trang 24), dòng khí có

,inh chất Âm hoặc Dương trong mỗi cơ quan thu hút mạnh ohững yếu tố đối lập hơn là nhũùig yếu tố đồng tính Dòng khí thu hút yếu tố Dương, và dòng khí Dương thu hút yếu tố

\m Theo luật ‘lượng biến đổi phẩm”, khi những yếu tố đối lập /ượt khả năng hấp thụ và đồng hóa của dòng khí thì sẽ gây rối

loạn ờ cơ quan liên hệ.

IV ĐỊNH BỆNH THEO TÂY Y

Đây cũng là nhận định tương đối, vì cực Âm sinh Dương, và cực Dương sinh Âm Vả lại, hai bệnh khác nhau có thể có một số triệu chứng giống nhau, và một bệnh có thể do nguyên nhân Âm hoặc Dương Vì vậy, muốn chẩn bệnh chính xác, nên phối hợp nhiều cách, nhất là cần thực hành lâu dài để rút kinh nghiệm

Trang 24

Rối loạn ỗ Hệ thống Sinh dục (18)

Triệu chứng đặc trưng

Rối loạn chủ yếu ở Rối loạn chủ yếu ở Rối loạn ở cơ quan sinh

cơ quan sinh dục nam cơ quan sinh dục nữ dục nam hoặc nữSưng, tấy chảy nu&c Đôi lúc sưng, tấy

nhưng khô hơn

Đôi lúc suhg, tấyMất tình dục Tình dục thái quá

Bệnh

Tình dục không đều

Âm nang thụy thủng Không có tình hoàn u mỡ vú

Phì đại tuyến tiền liệt Tinh hoàn ẩn, đơn

Hạ cam mềm

Vài trường hợp hẹp Vài tnlờng hợp hẹp

Viêm tinh nang Hẹp bao qui đầu

Tử cung nghiêng sau Tử cung nghiêng truớc

Lậu

Âm đạo co đau

Giang mai

Chu kỳ kinh dài (trồi) Chu kỳ kinh ngắn (sụt) Kinh không đềuVài dạng u buớu Vài dạng u buớu Vài dạng u bướuUng thư vú Ung thư buồng triftig

Ung thư tụyến tiền liệt

Ung thư tử cung

(18) Âm Dương của tế bào sinh dục: Sự phát triển của tinh trùng chịu ảnh hưởng của lực ly tâm Âm nhiều hơn; trong khi trứng (noãn) phát triển dưới sự chi phối nhiều hơn của lực hướng tâm Dương Khi lọt vào cơ thể người nữ, tinh trùng (mang điện tích Âm) có khuynh hướng đi lên; trái lại, trứng (mang điện tích Dương) có khuynh hướng

đi xuống Lúc đó trứng như là trung tâm hạt nhân thu hút đám tinh trùng như nhũng electron xoáy vào tâm Vì vậy, khi giao phối, nam giới khỏe mạnh và năng động hơn sẽ sinh con gái; còn nữ giới mạnh

và chủ động hơn sẽ sinh con trai

Trang 25

Rối loạn ở Hệ thống Tiêu hóa

âu răng; viêm lợi Mòn răng

ảo bón và tiêu chả)* Táo bón nhất thời Béo phệ

ánh nièn

L9) Âm Dương của dịch tiêu hóa:

1 Nước miếng : là một chất lỏng tính alkalin (A), có tác dụng

hủ yếu tiêu hóa và phân giải chất bột (carbohydrat)

2 Dịch vị : là chất lỏng có tính acid (V), chủ yếu tiêu hóa và phân iải chất đạm và chất béo

3 Mật và dịch tụy : là những chất lỏng alkalin (A), chủ yếu tiêu

óa và phân giải chất béo, chất đạm và chất bột

4 Dịch trường : là chất lỏng acid (V), tiêu hóa và phân giải chất

ột, chất đạm và chất béo Các phân tử thức ăn được phân giải ở đây

ẽ biến thành máu sau khi hấp thụ, và máu có tính alkalin (kiềm) yếu

Trang 26

Rối loạn ở Hệ thống Thần kinh

Đờ đẫn Toát mồ hôi Lạnh, cứng nguời

Bệnh

Suy nhược tâm thần Bệnh nhân cách Vọng tuởng cuồng Nổi cộc, giận dữ Bụt bội

Ganh ghét, cố chấp Thiển cận

Do V lẫn A

Giãn hoặc co Đôi trường hợp viêm

Lảo đảo, không vững Cảm thấy bất an

Buông xuôi Phẩn uất, oán hậnĐục thủy tinh thể Loạn thị

Điếc phần trung uơng Mất thăng bằng Tai loe

Ac mộng

Trang 27

Rối loạn ở Hệ thống Hô h ấ p <201

Bạch hầu thanh quản

xanh tím (cyanose) xanh tím (cyanose)

Ung thư cuống họng

Hắc hơi; nấc cụt

Thở dài, khóc núc nở

Đôi ừuờng họp ho Đôi trường họp ho Đồi trường họp ho

(20) Vấn đề hút thuốc và ung thư phổi: Sò liệu thống kê cho thảy ung thư phổi phát triển mạnh ở những nước công nghiệp tiên tiến hơn

là ở những nơi còn sống theo cổ truyền, và người ta quy trách nhiệm cho hút thuốc Thật ra, nguyên nhàn chính của ung thư phổi là sự tiêu thụ quá nhiều thúc ăn uống thịnh Âm (như đi&ng, cà phê, rượu, nước đá, hóa chất, v.v ) và thịnh Dương (như thực phẩm gốc động vật) làm chất

máu xấu đi tạo điều kiện cho bệnh dễ phát sinh, dồng thời sinh nhiều

chất đờm nhầy bám trong các túi khí của phổi (xem tiếp trang sau)

Trang 28

Rối loạn ở Hệ thống Nội tiết

ỉuớu giáp Basedow

!ệnh to đầu, chân, tay

ưy tuyến sinh dục

ài truờng hợp rối

Tăng truởng co nịch

Dễ cáu gắt

Bệnh

Buớu cổ lànhBệnh phù niêm (Gull) Lùn

Sựy teo tựyến yèn Tiểu đường lạt Thặng tiết insulin Viêm xuơng xơ hóa Hội chứng Cushing Hội chứng rối sinh dục thuợng thận Dậy thì sớm Nam hóa Thiếu tính dục Vài truờng hợp rối loạn kinh nguyệt

tiết không đều

và mất cân đối Tăng truởng không đều Chán nàn vô cớ

Tăng trưởng bất thiỀmg

Suy tiết insulin

Sinh lụt và tình dục táng giảm bất thuờng Kinh ngụyệt không đều

~'iếp theo trang trước)

liến dễ bắt dính khói, hơi, bụi Và lại, các loại thuốc lá được sản xuất leo qui trình công nghiệp hiện đại đều có tẩm hóa chất và huơng liệu

)C hại Nếu những chất này tích tụ vượt mức chịu đưng của phổi sẽ

ch thích mầm bệnh bộc phát

Điều đó giải thích vì sao dân quê Việt Nam hút thuốc nhiều mà ung

ư phổi rất hiếm Tụy nhiên khói thuốc lá (mộc, ngụyên chất) hít vào rất -íơng; vì vậy, không nên lạm dụng vì có thể gây ra những xáo trộn bất

i cho thể chất, tâm thần và xã hội, nhất là đối với phụ nữ và trẻ em

Trang 29

Rối loạn Máu và Thể dịch<a>

(lÊt chảy máu)

Ung thư máu

Bệnh

Bệnh hoại hụyết (Scorbut)

Do V lẫn A

Vài trường hợp cứng động mạch Nhồi máu cơ tím

Suy tim

Vài trường hợp tim

có tiếng thổi

Mệt mỏiMạch máu xơ cứng

Số luỢng hụyết cầu mất cân đối Máu nhiều cholesterol

và chất béoThiếu máu cấpBệnh hụyết khối (máu dóng cục) Lymphô bào ác tính Lymphô sạc-côm Vài tnỀmghợp cứng động mạch Bệnh thấp timHuyết áp cao, thấp

Xơ cứng động mạch

Xơ vữa động mạch

(21) Theo Giáo sư Ohsawa, trong mười ngày ăn uống đúng đắn, phẩm chất máu sẽ đổi mới và xem như sức khỏe phục hồi Để hiểu rõ hơn có thể nghiên cứu máu theo sinh lý học hiện đại Máu người gồm có các hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu và huyết tương Khi ta thay đổi cách dinh duỡng thì phẩm chất môi trường huyết tương và tất cả huyết cầu cũng thay dổi, nhanh hoặc chậm tùy từng loại như sau: (xem tiếp trang sau)

Trang 30

Rối loạn Xutcng và Khớp W)

Triệu chứng đặc trưng

ình trạng nhiễm trùng Không cử động đuợc Cứng ngắc

iêm bao hoạt dịch

Igón chân cái

ệnh to đầu, chân tay Gù lưng

rật xuơng thuờng xuyên

ẹo cột sống

niếp theo trang trước)

- Huyết tương đổi mới hoàn toàn trong khoảng 10 ngày

- Bạch cầu : đổi mới hoàn toàn trong 20-80 ngày

- Hồng cầu : đổi mới hoàn toàn trong khoảng 120 ngày.Như vậy, sau 10 ngày ăn uống theo cách mới, toàn bộ hoạt động

ưn sinh lý dã bắt đầu hướng theo xu thế mới và ổn định sau khoảng tháng

12) Tác hại của dường đối vói xương: Khi ăn đường, nhất là -íờng cát trắng, vào cơ thể sẽ gây ra tình trạng gọi là “phản ứng acid”

m chua máu Để trung hòa, cơ thể phải vận dụng các chất khoáng liất là chất vôi (calcium) có trong người Vì vậy, nếu ăn đường thường

jyên, xương và răng sẽ yếu hư vì mất nhiều chất vôi

Trang 31

Rối loạn ò Hệ thống Cơ gân

Co giật (kinh lụyến)

Loạn dưỡng cơ

Truơng lực cơ (cuờngcơ)

Do V lẫn A

Liệt hẳn

Co rút cơ

Cứng cổ và vai Viêm khớp thấp Vẹo cơ cổ (trật cổ) Teo cơ

Nhược cơ trầm trọng

Rối loạn ở Da-rà Tốc

Triệu chứng đặc trưng

Bệnh

Rối loạn xúc giác máu thiếu oxy

cuờng tuyến giáp bĩ trúng nắng

Trang 32

Rối loạn à Hệ thống Bài tiết

Nước tiểu sẫm

BệnhThiểu niệu Đái khóVài trường hợp ung thư Vài trường hợp đái mè

Vài truờng hợp phù nề Vài trường hợp phù nề

Đổ mồ hôi nhiều

Tăng urè huyết Viêm thận Ung thư thận Ung thư bàng quang, Thận nhiễm mỡ Sỏi thận

Vài tnimg hợp phù nềCác triệu chúng của bệnh liệt kháng AIDS

1 Suy sụp chung về sức khỏe, mệt mỏi, kém ăn, sụt cân nghiêm trọng không có nguyên nhân

2 Sốt không có nguyên nhân kéo dài quá 3 tuần lễ

3 Ngứa toàn thân hoặc từng vùng, nổi các vết đỏ sậm hoặc như mụt nước (Kaposi’ Sarcoma)

4 Tổn thương ở da và các niêm mạc, nhất là trong miệng

5 Rối loạn trí nhớ, người bần thần, lãnh đạm với chung quanh, thay đổi tính nết và cách cư xử

6 Đổ mồ hôi trộm ban đêm, ướt đảm cả quần áo và chăn nệm, nhất là vào khoảng nửa đêm đến sáng

7 Tiêu chảy dai dẳng không có nguyên nhân; thỉnh thoảng

no hơi và táo bón

8 Nuốt khó; cảm thấy nóng trong ngực ở sau xương ức

9 Ho khan kéo dài không rõ nguyên nhân, thường kèm

theo sốt cao, đặc biệt vào chiều tối hơn ban ngày

10 Khó thở càng ngày càng tăng

11 Chảy máu dưới da và chảy máu ở các khiếu tự nhiên

12 Rối loạn thị giác

Trang 33

CHƯƠNG 10

CHỮA BỆNH

Người đời thường xem những tình trạng như viêm nhiễm, sưng u, đau nhức chỗ này, chồ nọ là bệnh, và nghĩ rằng chỉ cần dẹp bỏ các chướng ngại này, thí dụ uống thuốc giảm đau, thuốc chống viêm hoặc cắt bỏ u bướu, v.v , là bệnh được chữa lành Thật ra, những tình trạng này chỉ là triệu chứng biểu hiện của bệnh, mà bệnh hiểu cho thấu đáo chính là tình trạng rối loạn, mất quân bĩnh Âm Dương trong cơ thể Vì vậy, chỉ chú trọng loại trừ triệu chứng (đối chứng trị liệu) là chưa đủ và đôi khi bất lợi (vì có thể ngăn chặn phản ứng tự điều chỉnh của cơ thể, hoặc chữa chỗ này có thể làm tổn hại đến chồ khác), mà còn phải tạo điều kiện cho cơ thể phục hồi sức khỏe tức trạng thái quân bình ổn định vốn có, đồng thời giúp bệnh nhân biết cách dưỡng sinh, phòng bệnh, và đấy chính là mục đích của Y HỌC THƯC DƯỠNG Mục đích này được thực hiện đồng thời trên

hai mặt: thể chất lẫn tâm thần.

Về th ể chất: Như đã biết, xác thân con người được xây

dựng và nuôi dưỡng chủ yếu bởi thức ăn, nghĩa là tình trạng sức khỏe thể chất tùy thuộc phần lớn vào món ăn thức uống hằng ngày Do đó, khi chữa bệnh, việc quan trọng cần làm trước hết

là điều chỉnh chế độ ăn uống theo hướng quân bình Âm Dương

để cung cấp nguyên liệu thích hợp cho cơ thể dùng tu bổ những nơi hư hỏng và tăng cường củng cố những nơi chưa suy yếu.Mặc dù ăn uống đúng đắn là yếu tố trị liệu cơ bản, cũng cần lưu tâm đến những khía cạnh khác trong sinh hoạt hằng ngày như vận động thân thể (cử động chân tay, đi lại, tự xoa bóp,

Trang 34

tập thể dục vừa sức), tắm rửa và lau chà mình mẩy, ngủ sớm, dậy sớm, v.v (xem Phần Một “Dưỡng Sinh”).

Về tâm thần: Vì mọi hành động của con người đều do tâm

tư chỉ đạo, nên điều kiện tiên quyết để việc trị liệu theo phương pháp Thực Dưỡng đạt kết quả tốt là phải có QUYET TÂM Quyết tâm này không do cuồng tín mà phát xuất từ một NIEM TIN HỢP l ý h ợ p t i n h nhờ có nghiên cứli cẩn thận về lý thuyết và thực tế Không những thế, Ổ n ĐINH TINH THÂN cũng là điều cần thiết, vì tâm tư, thông qua hệ thần kinh, ảnh hưởng đến hoạt động của cơ thể, dù là hoạt động vô thức như

sự đập nhip của tim, sự hô hấp của phổi, sự co bóp của dạ dày, v.v Khi ăn uống đúng đắn, thể chất, gồm cả các tế bào thần kinh, được cải thiện thì tư tưởng và cảm xúc cũng trở nên tích cực hơn Tuy nhiên, “thức ăn hàng ngày” không chỉ là vật chất

mà có cả tinh thần; do đó, bệnh nhân cũng cần mở rộng tâm tư đón nhận những điều hay lẽ đẹp ở đời hoặc qua sách vở, và xem khó khăn trở ngại là cơ hội để rèn luyện bản thân Đồng thời, để củng cố niềm tin và ý chí, bệnh nhân nên tìm sự ủng

hộ và khuyến khích của những người đang quan tâm theo đuổi cùng mục đích với mình Khi sức khỏe dần dần hồi phục, bệnh nhân nên làm những điều có thể làm để giúp đỡ người khác, nhất là chia xẻ cho họ những hiểu biết cùng kinh nghiệm về phương pháp Thực Dưỡng Công việc này sẽ đem lại niềm vui,

và nhờ đó khơi sâu thêm mạch nguồn hạnh phúc

Các nhà y học xưa nay đều công nhận tầm quan trọng của thái độ tinh thần trong dưỡng sinh và trị liệu Điều này đã được Bác sĩ Carl Simonton (người Mỹ) chứng minh cụ thể Ông đưa một số kỹ thuật nâng cao tâm lý (tĩnh tâm, quán tưởng) vào chương trình chữa bệnh ung thư và đạt được thành công đáng kể Ông cho biết nhừng tình cảm tích cực như vui tươi thoải mái sẽ tăng cường hệ thống miễn nhiễm (sức đề kháng)

Trang 35

giúp cơ thể có điều kiện đẩy lùi bệnh tật và phục hồi sức khỏe như sơ đồ sau cho thấy.

Cùng với việc điều trị thân tâm, nếu có điều kiện, bệnh nhân nên tìm nơi an dưỡng thích hợp (thí dụ: người bệnh Âm nên tránh nơi ẩm ướt, lạnh lẽo, tối tăm; người bệnh Dương tránh nơi khô nóng, ngột ngạt, chói chang), vì môi trường sống

có ảnh hưởng quan trọng đến sức khỏe con người Dù sao, đối với mọi bệnh do Âm hay Dương, môi trường an dưỡng tốt nhất vẫn là nơi yên tĩnh, trong lành, gần thiên nhiên và chan chứa tình người

Trang 36

I ĂN UỐNG CHỮA BỆNH

Ăn uống để chữa bệnh theo phương pháp Thực Duững có

2 cách chính: (1) Ăn triệt để và (2) Ăn rộng, với một cách phụ (3) Nhịn ăn (Các con số đi kèm với chữ món là số món ăn thức uống, xem cách làm ở Chương 5).

1 Ăn triệt để (Thực đơn 1 - TĐ1): còn gọi là cách ăn sổ 7

(xem mười cách ăn theo Giáo sư Ohsawa ở Chương 3) gồm

100% gạo lứt (ăn cơm là tốt nhất, nhưng có thể dùng cháo, cháo tán, bột hoặc gạo rang tùy tình hình sức khỏe và khả năng nhai nuốt) với muối mè và tương (tương đặc, tương nước, tương rang; khi dùng tương thì bớt muối) Uống nước lã đun

chín hoặc trà gạo lứt {món 50), trà ba năm (món 52) hoặc các

loại trà đặc trị như trà củ sen trị bệnh đường hô hấp, trà ngải cứu trị giun sán và bệnh về máu, trà bồ công anh trị u bướu, v.v Nên nhớ mỗi ngày chỉ nên uống tối đa 172 lít (nếu trời nóng bức, có thế uống đến 2/3 lít) Đây là cách ăn đơn giản nhất, quân bình nhất, dễ dàng nhất và có hiệu quả cao Tuy nhiên, cách ăn này đòi hỏi bệnh nhân phải có sự kiên quyết và niềm tin tuyệt đối, vì có thể gây ra những phản ứng thải độc

mạnh (xem mục III của Chương 10 này) dễ làm bệnh nhân

hoang mang dao động xử lý sai lầm hoặc đâm ra “phá giới” nặng nề sẽ phát sinh những phản ứng nguy hiểm khó lường

Để dễ dàng hơn, bệnh nhân có thể ăn 90% gạo lứt muối mè, tương và 10% thức ăn phụ (nhất là nhừng món ãn đặc trị) Thí

dụ bệnh tiểu đường có thể dùng thêm bí đỏ và đậu đỏ, bệnh đường hô hấp dùng thêm củ sen, thiếu máu dùng xà lách xon bướu cổ dùng rau câu, bệnh gan dùng rau má, V V

Liũi ý: khi ăn theo thực đơn 1 không được dùng thêm bất

kỳ kỹ thuật y khoa (như xạ trị, hóa trị) và/hoặc một loại thuốc men nào ngoài những món ăn thức uống qui định

Trang 37

2 Ăn rộng (Thực đơn 2 - TĐ2): Ăn uống theo Chê độ Ăn

uống dưỡng sinh (xem Chiíơng 4), nhưng tránh các thứ thịnh

Âm hoặc thịnh Dương như đường, cà, măng, nấm, trái cây, thực phẩm gốc động vật (trừ trường hợp đặc biệt) Cách ăn này

dễ áp dụng hơn cách ăn triệt để, nhưng thời gian chữa trị lâu dài hơn, thường dùng cho những bệnh nhân mãn tính hoặc đã trải qua các kỹ thuật trị liệu nặng nề như xạ trị, hóa trị (để tránh sự thay đổi đột ngột gây phản úng manh cho cơ thể).Cũng có thể ăn theo cách này trong lúc còn điều trị bằng chiếu xạ, thuốc men (ngoài những món ăn thức uống của Thực Du&ng qui định) để tăng sức chống chịu tác dụng phụ do những

kỹ thuật y khoa hoặc thuốc men gây ra

3 N hịn ăn: Nhịn ăn hay “tuyệt thực” thường có tác dụng manh và nhanh hơn cách ăn triệt để Tuy nhiên, nếu áp dụng

sai sẽ dẫn đến tình trạng nguy hiểm Vì vậy, chỉ nên nhịn ăn

khi thấy thật cần thiết, và nên nhờ ngiẩù có kinh nghiệm theo dõi chăm sóc cẩn thận, c ầ n nhớ nhịn ăn theo phương pháp

Thực Dưững chỉ được uống nước lã nấu chín để ấm bằng thân

nhiệt (37°C) (cũng có thể uống trà gạo lứt rang - món 50, nhưng

tác dụng sẽ yếu hơn), và khi ăn lại phải cẩn thận, nhất là sau thời gian nhin ăn lâu dài Thí dụ: một hai ngày đầu chấm dứt

nhịn ăn chỉ nên uống trà gạo lứt rang (món 50); ngàv sau ăn cháo tán (món 7); sau đó ăn cháo gạo lứt (món 8); khi dạ dày

tiêu hóa bình thường mới ăn cơm (nhớ nhai kỹ)

Thay vì nhịn ăn ngay, bệnh nhân có thể giảm ăn từ từ; thí

dụ ngày đầu ăn cháo gạo lứt, ngày thứ 2 bớt nửa lương cháo, ngày thứ 3 uống nước cháo loãng, ngày thứ 4 khởi sự nhịn hoàn toàn

Cần lưa ý là không nên nhịn ăn khi người quá yếu hoặc

nhịn ăn quá lâu vì có thể làm suy kiệt sinh lực khó phục hồi (nhất là trong trường hợp ung thư, dù u bướu có tiêu bớt)

Trang 38

Sau đây là chương trình ăn ưống chữa bệnh mẫu không

kèm theo những kỹ thuật y khoa và thuốc men, các bạn có thể

áp dụng linh động:

Giai đoạn 1 Áp dụng cách Ăn Triệt Để (TĐ1) trong 10

ngày hoặc đến khi bệnh thuyên giảm 70 - 80% Có thể nhịn ăn trước từ 1 - 7 ngày tùy tình hình sức khỏe và chứng bệnh.Trong giai đoạn này, cũng như các giai đoạn sau, nên điều tiết tỷ lệ muối mè, lượng muối hoặc gia vị có muối (như tương), lượng dầu ăn (chỉ dùng dầu mè) và nước (dùng nấu ăn và uống) tùy theo bệnh Âm hay Dương Thí dụ:

Bệnh do Âm (V) do Dương ( A) do V lẫn Dương

* Tỷ lệ mè I muối

6/1 - 8/1 10/1 - 14/1 8/1 - 10/1

* Gia vị mặn (muối, tương)

Nêm hơi mặn Nêm nhạt Nêm trung bình

* Dầu ăn (dầu mè) mỗi ngày

Dùng tối đa Dùng tối đa Dùng tối đa

1 muỗng canh 2 muông canh 1 muỗng canh rưởi

* Nước dùng hàng ngày

Nấu khô hơn Có thể ăn lỏng hơn Ăn khi khô khi lỏngUống càng ít uống tối đa Uống tói đacàng tốt 1/2 - 2/3 lít 1/3 - 1/2 lít

Giai đoạn 2: Ăn nới rộng hơn (có thế theo cách Ăn Rộng -

TĐ 2, trang 137), thêm đậu (bệnh Âm dùng đậu đỏ tốt hơn; bệnh Dương có thể dùng đậu xanh, đậu đen; bệnh do Âm lẫn Dương có thể dùng đậu ván) và các loại rau củ khác như củ sen

và hạt sen, bí đỏ, xà lách xon, cà rốt, rau cải, rau má, củ cải củ sam (hoành tinh), khoai mài (hoài sơn), v.v Lúc đầu dùng chút ít và sau đó tăng dần về số lượng cũng như về loại (bệnh

Âm có thể dùng các loại rề củ nhiều hơn, bệnh Dương có thể dùng rau lá xanh nhiều han) cho đến 30% toàn bữa ăn

Trang 39

Giai đ o ạ n 3: Ăn uống theo Chế Độ Ăn Chay Dưỡng Sin

(xem Chương 4) Muốn dùng thực phẩm gốc động vật nên ch đến khi bệnh ổn định hoàn toàn hoặc lành hẳn Ban đầu cl nên ăn chút tôm, cá, sau đó mới đến thịt vịt, gà, chim

Trong lúc ăn nới rộng và qua giai đoạn 3, nếu có sai phạ sinh phản ứng xấu thì xem lại thực đơn để điều chỉnh hoi quay về cách ăn triệt để, hoặc nhịn ăn vài bữa

Thêm vào đó, bệnh nhân cần tuân theo những nguyên ti tuyển chọn thực phẩm, nấu nướng chế biến, nhai, uống đã ( nghị ở Phần Một “Dưỡng Sinh”

Đồng thời, để tăng nhanh tiến trình trị liệu, các bạn có tl

sử dụng một sô trợ phương như các loại cao dán, nước ngâm á xoa bóp, day huyệt và những thức uống đặc biệt

II TRỢ PHƯƠNG

(Viết tắt là tp.)

Những liệu pháp dưới đây rất đơn giản, dễ làm và CÔI hiệu, nhưng chỉ có tính cách tạm thời, nham loại trừ tri chứng và chữa từng bộ phận (đau đâu chữa đó) Vì vậy, chi n xem đây là những “trợ phương” hỗ trợ cho “chính phương”

ăn uống theo nguyên lý quân bình Âm Dương đã nói trên

1 Áp nước gừng

Cho 150 gram gừng tươi mài hoặc giã nát (hoặc 1 muỗng phê gừng bột khô) vào một túi vải, cột chặt miệng túi Nấu ; 3-4 lít nước rồi bớt lửa, thả túi gừng vào để 10 phút (thỉ thoảng ép túi vải cho nước gừng chảy ra) Nhúng 1 cái kh lông vào nước gừng nóng, vắt bớt nước và áp vào chò đau (r quá nóng, có thể dỡ khăn lên vài lần cho nguội bớt); bên ng phủ thêm khăn lông khô để giữ hơi nóng Độ 2 phút sau, nhí

Trang 40

cái khăn lồng khác, cũng vắt bớt nước đem thay khàn trước Áp liên tục như vậy chừng 10 phút (cho trẻ em trên 2 tuổi) đến 30 phút (cho người lớn), da sẽ đỏ lên Để một cái khăn nguội lạnh, lấy khăn nóng ra và áp khăn lạnh vào 1 phút là xong Ngày có thể áp 1- 3 lần tùy bệnh nặng nhẹ Có tác dụng kích thích máu

và thể dịch lưu thông; làm tan máu ứ, vết sưng, u bướu; trị kiết

Riêng trường hợp ung thư, chỉ áp nước gừng trên vùng da

có khối u độ 5-7 phút vừa đủ kích thích máu lưu thông, rồi

lấy khăn nóng ra và đắp ngay cao khoai sọ (tp 2) vào chỗ đó

(không cần áp khăn lanh)

Hình 32 : Áp nước gừng

Ngày đăng: 21/05/2021, 13:26

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w