Cệộng sản Đảng ra đời, các đồng chí tiên tiến hoạt động trong bộ phận Hội Việt Níam cách mạng thanh niên tại Trung Quôc nhận định việc thành lập một Đảng Cộộng sản là phù hợp với yêu cầu
Trang 1NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO
ĐẤU TRANH GIẢI PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT
ĐẤT NƯỚC
Trang 3NGHỆ THUẬT LÃNH ĐẠO CỦA ĐẢNG • • •
TRONG CUỘC ĐẤU TRANH GlẢl
PHÓNG DÂN TỘC, THỐNG NHẤT ĐÂT NƯỚC
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐỨC
Trang 4Tham gia tuyển chọn và biên soạn:
Nguyễn Ngọc Mai Lưu Ngọc Long
Lê Trung Kiên
Vũ Thị Quỳnh Liên
Ái Phương Thu Huyền
Trong quá trình biên soạn cuố^n sách này, chúng tôi có sử dụng tư liệu từ một ÍSỐ tác phẩm của các tác giả đã được xuâ"t bản hoặc đăng trên các phương tiện thônịg tin dại chúng.
Xin chân thành cáo lỗi với các tác giả và mong nhận được sự lượng thứ vì nhiềiu lí do chưa liên hệ, xin phép trước.
Trang 6LỜI GIỚI THIỆU
Từ khi ra đời đến nay, Đảng Cộng sản Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh
vĩ đại sáng lập và rèn luyện đã lãnh đạo cách mạng Việt Nam đi từ thắng lợi này đếm thắng lợi khác Đó là thắng lợi của cách mạng tháng Tám năm 1945 với sự ra đờíi Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Đây là kết quả tổng hợp của các phong trềào cách mạng liên tục diễn ra trong 15 năm sau ngày thành lập Đảng, từ cao trềào cách mạng 1930-1931 và Xô Viết Nghệ - Tĩnh, cuộc vận động dân chủ 1936- 19)39, đến phong trào giải phóng dân tộc 1939-1945 Cách mạng tháng Tám đã phiá bỏ chế độ phong kiến nửa thuộc địa ở nước ta, mở ra kỷ nguyên mới trong lịch sử' dân tộc, kỷ nguyên độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội; Đó là thắng lợii của các cuộc chiến oanh liệt để giải phóng dân tộc, bảo vệ tổ quốc, đánh thắng chiủ nghĩa thực dân cũ và mới, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thiực hiện thông nhất tổ quô'c, đưa cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội, góp phần quan trcọng vào cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và chiủ nghĩa xã hội.
Sự lãnh đạo của Đảng trước hết thể hiện ở sự hoạch định Cương lĩnh, đường lôii từ Hội nghị thành lập Đảng, các Đại hội đại biểu toàn quốc đến các Hội nghị Bain Chấp hành Trung ương Đảng các khóa Cương lĩnh, đường lôl đúng đắn của Đềảng là nhân tô' quyết định thắng lợi của cách mạng Tìm hiểu, nghiên cứu lịch sử Đảảng Cộng sản Việt Nam là mong muôn và cũng là yêu cầu bức thiết của cán bộ, đảing viên, cùng mọi tầng lớp nhân dân Điều đó đòi hỏi phải tìm hiểu có hệ thống
q u i a n điểm, đường lối của Đảng thông qua nội dung cơ bản của các kỳ Đại hội, các Hóội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng qua các nhiệm kỳ.
Tháng 10-1930, Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp Hội nghị lần thứ nhiất đã đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương và thciông qua Luận cương chánh trị của Đảng Cộng sản Đông Dương, bầu đồng chí Trrần Phú làm Tổng Bí thư của Đảng Những văn kiện của Hội nghị Trung ương ĐỂảng lần thứ hai (3-1931) nhấn mạnh nhiệm vụ hiện tại của Đảng và quyết định nhiững vấn đề tổ chức và cổ động tuyên truyền.
Trong những năm 1930-1931 mà dỉnh cao là Xô Viết Nghệ- Tĩnh, đã thể hitện sức mạnh, tinh thần yêu nước, cách mạng của nhân dân ta, nhất là giai cấp côĩng nhân và nông dân, đã khẳng định vai trò thực tế và năng lực lãnh đạo của ĐMng.
Với sự cố gắng của các tổ chức Đảng ở trong nước và các đồng chí hoạt động
ở ] nước ngoài, Đại hội đại biểu toàn quôc lần thứ nhất đã được triệu tập và diễn ra
ở ^Macao - Trung Quốc (3-1935) đề ra chủ trương đường lối và tổ chức, hoạt động củaa Đảng trong thời kỳ mới Đại hội đã bầu đồng chí Lê Hồng Phong làm Tổng Bí thiư của Đảng Đại hội I của Đảng đánh dấu sự khôi phục hệ thông tổ chức từ Trrung ương đến địa phương, thống nhất phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo
Trang 7của Ban Châp hành Trung ương mớij đem lại ĩiỊềm tin cho đảng viên và quầni chúng, chuẩn bị cho bước phát triển mới sau này.
Những năm 1936-1939, ,tình hình trong nước và thế giới có nhiều tỊạay đổi,i, các HộỊ nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng họp năm 1936, 1937 , và 1938 đã có ó những quyết định kịp thời về chuyểnJiựớng hình thức tổ chức và sử dụng nhữngg hình thức đấu tranh phù hợp, dấy lên cuộc vận động dân chủ rộng Ịớn - một hiệnti tượng hiếm có ở một nước thuộc địa Tháng 7-1936, đồng chí Hà Huy Tập đựực bầuu làm Tổng Bí thư Tháng 3-1938, dồng chí Nguyễn Văn Cừ được bạu làrp Tổng Bííí
, Chiến tranh th ế giới thứ hai bùng nổ, ngàỵ 1-9-1939 thựe ậân Pháp tángg cường đàm áp phong trào cách mạng, phật xít Nhật đánh chiếm Việt Nam vàà Đông Dương, làm cho mâu thuẫn giữa dạn tộc Việt Nam với thực dận Pháp vàà phát xít Nhật ngày càng ga.y gắt Hội nghị Ban Ghấp hành Trung ựơng Đảng (lỊ-:- 1939) đã nêu cao ngon cờ giải phóng dân tộc H ội‘nghị Ban Chấp hành Trungg ương Đảng (11-1940) tiếp tục chủ trựợng đỏK'1'háng 1-1941, ^ạu gạn SOr năiĩi họạtit động ở nước ngoài, lãnh tụ Nguyễn Ái Quôc về nước, cùng với Trung ựơng Đảngg trực tiếp lãnh đạo phong trào giải phóng ậân tộc Người đã trịệu tập và chủ trì-ì Hội nghị Trung ươụg Đảng (5-1941), đồng phí Trựờng ỌhinỊi đươc/bầu lặm TổiỊg Ẹíìí thư của Đảng Trong lãnh đạọ sự nghiệp giải phóng dân tộc, do hoạt động bí mậtit nên các đại biểu không có điều kiện họp Đại hội đại biểu toàn qụôc, định kỳ, cácc Hội nghị Trung ương, Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương và Hội íighỊ ọán bộộ Đảng có vai trò quan trọng Hội nghị Ban Thường YỤ Trung ương (2-1943) phátit triển, cụ thể hóa Nghị quyết Trung ương 5-194Ị Hội nghị Ẹan ThưỜỊig vụ Tíungg ương mở rộng (3-1945) và bản Chỉ thị “Nhật, Pháp bặij nhaụ và hàỉah, động^ củaa chúrig ta” phát động cạo trào kháng Nhật cứu nựớc< Hội nghị toàn quốc của Đảngg (8-1945) quyết.định tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước tạp nênn thắng lợi của Cách lỊiạng tháng Tám 1945,
Sau thắng lợi của Gách mạng tháng Tám nărn 1945, Đảng, đã nắm chínhh: quyền toàn quô"c, sau dó do hoàn cảnh lịch sử khó khăn, phức tạp, Đảng pầải rútit lui vào bí mật để thực hiện sự lănh đạọ kín đáo yà khôn khéo Các Hội nghị Bạnn Thường vụ Trùng ương Đảng đã trực tiếp quyết định những vấn đề chiến lược và à sách lược của Đảng và Nhà nước cách mạng, về xây dựng chê độ mới và khángg chiên chông thực dân Pháp xâm lược Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảngg (11-1945) với bản Chỉ thị “Kháng chiến, kiến quốc” Hội nghị Ban Chấp hànhh Trụng ương Đảng mở rộng (3-1946) với chụ trương hòa để tiến. Hội nghị Bann Thường vụ Trung ựơng Đảng mở rộng (12-1946) với bản Chỉ thị “Toàn dân khángg chiến”.
Những năm đầu của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược đếnn trước Đại hội II của Đảng đã diễn ra các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươngg Đảng mở rộng; Hội nghị cạn bộ Trung ương; Hội nghị toàn quôx của Đảng đểể quyết định những vấn đề quan trọng của cuộc kháng chiến.
Trang 8Đại hội t o à n quốc lần thứ II của Đảng Cộng sản Đồng Dương họp (2-1951) tại Ghiêm Hóa, Tuyên Quang- vùng căn cứ địa kháng chiến Việt Bắc Đại hội có nhiiệm vụ tổng kết 21 năm Đảng lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, 5 nărm Đảng lãrih đạo chíĩih quyền và công cuộc kháng chiến kiến quQc, bựức đầu làrtii rõ những kinh nghiệm, bài học và ỉý luận cách mạng dân tộc dân chủ và chitến tranh nhân, dân, đánh giá bước phát triển của nửa đầu và dự báo sự phát triểm của căch mạng nướè ta nửa sau thế kỷ XX Đại hội phát triển đường lộ'i kháíng chiến vả đề ra những chính sách cụ thể để đưa kháng chiến đến thắng lợi; chuiẩn bị nhữíig tiền đề đi lên chủ nghĩa xã hội, sau khi kháng chiến thành công
Do yêu cầu của sự nghiệp cáeh mạng, kháng chiến, Đại hội quyết định xây dựng ở mỗii nước Đông Dương một Đảng cách mệnh riêng, ơ nước ta, Đảng lấy tên là Đảing Lao động Việt Nam, đổng chí Hồ Chí Minh được bầu làrri Chủ tịch Đảng và đồmg chí Trường Chinh được, bầu làm Tổng Bí tkư.
Nhiệm kỳ; khóa II từ 1,951 đến Ị960, trong đó GÓ 4 năm tiếp tục kháng chiến chốmg thực dâỉi Pháp và 5 năm xây dựng miền Bắc từ quá độ lên chủ nghĩa xã hội
và đẩy mạnh cách mạng dâií tộc dân chu nhân dân ở miền Nam Các Hội nghị Bain Chấp hằnh Trung ưang Đảng, Bộ Ghính trị đã có những quyết định quan trọmg, giành thắng lợi trong cuộc kháng chiến chông thực dân Pháp và thúc đẩy
sự nghiệp ,cách, mạng trong thời kỳ mới Hội nghị Ban Chấp hầnh Trung ương Đảing mở rộng lần thứ mười (9-Ị956) đã kiểm điểm về sai lầm, khụyết điểm trong cải cách ruộng đất Hội nghị đã đồng ý để đồng chí Trường Chinh thôi giữ chỨG Tọrng Bí thư, dồng chí Hồ Chí Minh - Chủ tịch Đảng kiêm Tổng Bí thư ở nhỢng thờíi điểm có ý nghĩa bước ngoặt, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng
đã đề rá đường lối, chủ trựơiỊg đúng đắĩ>; như Hội nghị Bạn Chấp hành Trung ương Đảing mở rộng lầh thứ'sáu (7-1954), Hội nghị Ban Ghạp hành Trung ương Đảng mởrrộag nărn 195 ì 9, với I^ghị qụỵết ,15 lịch, sử Một số Hội nghị Trung ương bàn và
ra cỊuyết định khôỉ phục phát, triện kình tế - xã hội và nhiệm vụ cải: tạo xã hội
cbủả:n,ậtóai ,
Đại kội đại biểu toàn quốc lần thứ thứ III của Đảng họp (9-1960) tại thủ đô Hài Nộì, ;Pại hội tổng kết 3Ọ nâiĩi lãnh đạo của Đảng, nêu lên những bài học có ý nglrhĩa lý luận và thực tiễn của cách mạng Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng ĐạiỊ hội phân tích những đặc điểm của cách mạng Việt Nam và quyết định đường lối cạch mạag iXã hội qhủ nghĩạ và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đưèờng lốỊ (?ách mạng Việt Nam nhằm giải phóng miền Nam thốxig nhất đất nước Chaủ tịch Hồ Chí Minh nêu rộ: “Đại hội lần này là Đại hội xây dựng,chủ nghĩa xã hộii ở miền Bắc ưà đấu tranh hòa bình thống nhất nước nhạ’*. Đồng chí Hồ Chí Miinh được bầu lại làm Ghủ tịch Đảng và đồng chí Lệ Duẩn được bầu làm Bí thư ttn^ýí nhất Đạn Chấp hành Tx^ung ựơng Đảng.
’ Đồảng Cộng sản V iệt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2002, tậ p 21 (1960), tr.468
9
Trang 9Trong lãnh đạo xây dựng chủ nghĩa xã hội miền Bắc, Ban Chấp hành Trunng ương Đảng khóa III đã có nhiều Hội nghị với những nghị quyết quan trọng, cụ tbhể hóa Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc: Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươĩtng Đảng lần thứ năm (1961) bàn về phát triển nông nghiệp. Hội nghị Ban Cháấp hành Trung ương Đảng lần thứ bảy (1962) bàn về nhiệm vụ và phương hướng xaây dựng, phát triển công nghiệp. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thhứ tám (1963) về kế hoạch phát triển kinh tế quốc dân. Hội nghị Ban Chấp hàr.nh Trung ương Đảng lần thứ mười (1964) tập trung bàn về thương nghiệp và giá ccả
Các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ mười chín (1971), lần tbhứ hai mươi (1972) và lần thứ hai mươi hai (1973) về khôi phục kinh tế quốc dân I ở miền Bắc.
Đối với sự nghiệp cách mạng miền Nam chống Mĩ, cứu nước, Bộ Chính ttrị
và Ban Chấp hành Trung ương Đảng đã giành nhiều Hội nghị với những ngÌỊhị quyết quan trọng để lãnh đạo và chỉ đạo kịp thời Hội nghị Bộ Chính trị (1-19631)
ra Chỉ thị về phương hướng và nhiệm vụ công tác trước mắt của cách mạng miẽền Nam. Tháng 2-1962 Bộ Chính trị ra Nghị quyết về công tác cách mạng miẽền Nam. Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ chín (12-1963) bàn ^về
phương hướng ưà nhiệm vụ của cách mạng miền Nam và đường lối quốc tế cuủa Đảng trong tinh hình mới. Các Hội nghị Trung ương lần thứ mười một (3-1965) \và lần thứ mười hai (12-1965) bàn về tình hình ưà nhiệm vụ cấp hách trước mắt, I về tình hình và nhiệm vụ mới trong cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Hội nglĩhị Trung ương lần thứ mười ba (1967) về đẩy mạnh đấu tranh ngoại giao. Chủ trươnng
mở cuộc tổng tiến công và nổi dậy mùa xuân 1968 được đề ra tại Hội nghị Trunng ương lần thứ mười bốn (1968) Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần tbhứ mười tám (1970) với chủ trương đánh bại chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranhh” của đế quốc Mĩ. Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần tbhứ mười chín (1971) là kiên trì đẩy mạnh cuộc kháng chiến chống Mĩ, cứu nước. Sóau khi kí Hiệp định Pari, đế quô"c Mĩ và chính quyền tay sai vẫn ngoan cố tiếp titục chiến tranh, vi phạm Hiệp định Trước tình hình đó, Hội nghị Ban Chấp hànnh Trung ương Đảng lần thứ hai mươi mô't (1973) đã có Nghị quyết quan trọng khẳnng định con đường cách mạng miền Nam là con đường cách mạng bạo lực, phát trièển lực lượng về mọi mặt để giành thắng lợi hoàn toàn. Những quyết định chiến lưược
về phương án giải phóng miền Nam đã được Hội nghị Bộ Chính trị họp các ngàày 30-9 đến 8-10-1974 và từ 18-12-1974 đến 8-1-1975 thông qua và trực tiếp đưa đễến thắng lợi hoàn toàn của đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miềền Nam, thông nhất đất nước.
Mỗi Đại hội đại biểu toàn quốc và Hội nghị Ban Chấp hành Trung ươnng Đảng đã in đậm vai trò lãnh đạo của Đảng trong nghệ thuật chỉ đạo, phương phááp đấu tranh cách mạng Sự lãnh đạo của Đảng là nhân tô' quyết định mọi thắng Llợi của cách mạng Việt Nam.
Trang 10Để giúp chơ cán bộ, đảng viên và bạn đọc có thêm những kiến thức để tìm hiểểu nghiên cứu về lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam; về nghệ thuật chỉ đạo, phuưcng pháp đấu tranh cách mạng thông qua Cương lĩnh chính trị của Đảng, các
kỳ Pại hội đại biểu toàn quốc, các Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương các kháÓ£, ; từ đó đúc rút kinh nghiệm lãnh đạo và những vấn đề lịch sử làm nên thắắng lợi của cách mạng Việt Nam Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản cuô"n sách:
“N f g h ệ t h u ậ t l ã n h d ạ o c ủ a Đ ả n g t r o n g c u ộ c d ấ u t r a n h g i ả i p h ó n g d ã n t ộ c ,
thô ống nhất đất nước’*
Cuô^n sách mang nhiều ý nghĩa về giá trị về lịch sử, được khai thác từ nhiều nguuền tư liệu khac nhau, hi vọng sẽ giúp cho độc giả có nhiều thông tin bổ ích Tro org quá trình tuyển chọn, sưu tầm, biên soạn những tư liệu cũng như các sự kiệện là rất khó, do vậy sự thiếu sót là điều khó tránh khỏi Chúng tôi T ắ t mong nhậậr được sự cảm thông, đóng góp ý kiến của độc giả để lần xuất bản sau cuôn sác.ch được hoàn thiện hơn.
Trân trọng giới thiệu cuôri sách cùng bạn đọc./.
NHÀ XUẤT BẢN HỒNG ĐÚC
11
Trang 11P hần th ứ nhất.
HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐẢNG CỘNG SẢN VIỆT NAM VÀ CÁC HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG ĐẾN ĐẠI HỘI ĐẠI BlỂU TOÀN QUỐC LẢN THỨ II
Trang 12Lược SỬ
HỘI NGHỊ THÀNH LẬP ĐANG CỘNG SẢN VIỆT NAM*
Giữa thế kỷ XIX, Việt Nam bị đế quôc Pháp 3{âm lựợc và thống trị Nhân diân Việt ]>íạm, đặc biệt là các giai cấp cần Ịao, rơi ,vào số phận nô Ịệ, Quyền độc lcập,_ quyện sông v.à quyền con người bị chà đạp.
Khát vọng giải phóng ấp ủ từ lâu trong lòng dân tộc Việt Nam càng thêm mung nấu Muôn sông, muôn độc lập, tự do thì phải đấu tranh, phải làiĩi cách rmạng Sọng, tất cả các cuộc yận động cứụ nướọ củạ các sĩ phụ theo cách thức pihong kiến vạ ọác CUỘC; vận động cạch mạng ^heo xu hựớng tư sản đựợng thời đều láạn lựợt thất bại Qiại cấp công nhận và phoĩiẸ tràỌi pông phân y iệ t Nam chựa trở tlhành n;ột lực Ịựợng chính trị, độc lập trong phong trào, dận tộc Những 4ám mây đỉẹn vạn bạo phủ tịắụ tròi Việt Narn : ■ ' ;
Giữa lúc đó, Nguyễn Tất Thành người thanh niên ýêu nước và câ"p tiến đã xtuất dương (6-1911) để tìm hiểu cuộc sống của các dân tộc, nghiên cứuj tìm tòi con diường giải phóng cho dân tộc mình í
Sau nhiều năm; bôn ba qua các lựG địa, hoạỉt độiìg và khảo sát cáéh mạng, Nígười đã vượt qua nhiều thử thách về lập trườngỉ yêu nước, tích tụ đượé vốn tri tlhức sâu rộng nhiều mặt về cuộc đấu tranh của cáo dân tộc bị nô dịch và của giai
Sau Cách niạng Tháng Mười Nga, Nguyễn Tất Thằrứì lấy têĩi mới là 'N^yễn ÁVi QuốG,itídi cực hoạt động trong phong tĩăo công nhần Phẳp và đã nhánh chong tirở thânh; một jchiến sĩ cách mạng nhiệt tìnhi trở thàch đảng viẽh- Đảrig xã íìội P^háp, chíiih đảng của gíầi cấp cồng nhân Pháp/ Tháng 7 ỉiắm 1920, Ngùyễii Ái Qụốc đọc bản Sợ thảo lậíỊ thứ nhật những đề cương^ về vấp đề dân tỘG yà vấn đề tỉhụộc địạ ẹụa Lênin với biết haọ sung sựớng nhự n ^ ờ ị,4 ị đvtòng đang khạ^ gặp niựớc ụông, đang dói mệt ỊCỘ cơrp ặn, dạng đi trpng bóng; tôi gặp nguồrx ánh sáng, b)ởi Ngưgíi CQÌ đấy một cẩiu nang thần kỵ cho con đường giảị phóng dân tộc« Tại E»ại hội Tua tháng 12-1920 Người đã dứt khoát đụTng vệ phía Quôc tế Cộng sản, tiham gíấ sẩ i^ iập Đấng bộrỉg sản Phảp.
diân tộc, không có con đường nào khác con đường cá.ph mạng YÔ sản" Người kêu g<ọi phải tuyên truyền chủ nghĩa xã hội trong tất' cẵ các riừớc thuốc địa và khẳng điịnh chế; độ cộng sản cồ thể áp dụng ồ châu Á nóĩ cỊíííng Vằ Đôhg t)ươrig nói riêng 'TSự đầu độc có hệ thống của bọn tư bản thực dân khôiig thể làĩĩi tê riệt^sữc sống, ccạng không thể làiĩi ,tê liệt tư tưởxỊg cácỊỊ.mạng 9ủạị,người Đông Dương; , ; ,
'^ g u ồ n :'B á o đỉện iử Đảrig Cộng sđn Việt Nam ' ' ' ■' ' ■'
^ 3
Trang 13Sự tàn bạo của chủ nghĩa tư bản đã chuẩn bị đất rồi: Chủ nghĩa xã hộ)i chỉ còn phải làm cái việc là gieo hạt giông của công cuộc giải phóng nữa thôi".
Giữa những năm 20 của thế kỷ này, Nguyễn Ái Quôc quyết định tìm điường trở về Tổ quốc để phát động và tổ chức phong trào cách mạng của nhân dân,, của dân tộc Việt Nam, trước hết là chuẩn bị tổ chức ra một đảng cách mạng tiên phong của giai cấp công nhân và của dân tộc ta Vì muốn làm cách mạng thắnj.g lợi trước hết phải có đảng cách mạng, đảng có vững thì cách mạng mới thành c;ông Đảng muôn vững thì phải có lý luận cách mạng, nhất là chủ nghĩa Lênin.
Tháng 6-1925, Nguyễn Ái Quốc đã tổ chức ra Hội Việt Nam Cách miạng Thanh niên (Việt Nam Thanh niên cách mạng dồng chí Hội), một tổ chức "qu;áí độ" đặt cơ sở cho một Đảng Cộng sản về sau Người ra báo Thanh niên, huấn liuiyện, đào tạo cán bộ, tổ chức tuyên truyền lý luận cách mạng giải phóng dân tộc củ;ai chủ nghĩa Lênin, tư tưởng cách mạng của Người vào phong trào công nhân và p'hiong trào yêu nước ở Việt Nam; cách mạng hoá quần chúng và dân tộc, nâng nhân dân
và dân tộc ta vươn lên ngang tầm cách mạng của thời đại Phong trào cách miạng của nhân dân ta ngày càng phát triển mạnh và có ý thức chính trị vô sản rõ r’fệt.
Sự kết hợp ngày càng chặt chẽ chủ nghĩa Mác - Lênin với phong trào (công nhân và phong trào yêu nước sục sôi của nhân dân ta dã thúc dẩy sự ra đời của các tổ chức cộng sản ở Việt Nam.
Tháng 3-1929, chi bộ cộng sản đầu tiên ở Việt Nam được thành lập tại nhà sô" 5D phô' Hàm Long, Hà Nội, gồm có bảy đảng viên: Trịnh Đình Cửu, Ngc) Gia
Tự, Trần Văn Cung, Đỗ Ngọc Du, Nguyễn Đức Cảnh, Dương Hạc Đính, Ngriuyễn Tuân Chi bộ chủ trương phải tích cực vận động thành lập một Đảng Cộngĩ sản thay tổ chức Việt Nam cách mạng thanh niên để lãnh đạo cách mạng Việt Na.rni.
Ngày 17-6-1929, tại nhà số 312 phô" Khâm Thiên, Hà Nội, đại biểu c.-áic tổ chức cơ sở đảng ở miền Bắc đã họp quyết định thành lập Đông Dương CộngT sản Đảng, thông qua Tuyên ngôn, Điều lệ của Đảng, quyết định xuất bản báo Búa Liềm - cơ quan ngôn luận của Đảng - và cử ra Ban Chấp hành Trung ương của Đầiing.
Căn cứ vào tình hình kinh tế, xã hội và chính trị ở Đông Dương lúc mày, Tuyên ngôn của Đông Dương Cộng sản Đảng đã xác định tính chất của cuộc ccách mạng ở Đông Dương trong thời kỳ đầu tiên là tư sản dân chủ cách mệnh Nlhiiệm
vụ của giai cấp vô sản phải thực hiện khối công nông liên hiệp để;
Trang 14Cệộng sản Đảng ra đời, các đồng chí tiên tiến hoạt động trong bộ phận Hội Việt Níam cách mạng thanh niên tại Trung Quôc nhận định việc thành lập một Đảng Cộộng sản là phù hợp với yêu cầu của phong trào cách mạng trong nước và quyết địinh hành động nhanh chóng để thành lập một đảng cộng sản tập trung, đúng với đitều lệ của Đệ tam Quốc tế.
Ngày 25-7-1929, trong một bức thư của các đồng chí tiên tiến trong bộ phận Viiệt Nam Cách mạng thanh niên đồng chí hội hoạt động ở Trung Quôc gửi cho Đcông Dương Cộng sản Đảng báo tin rằng các đồng chí đó định tổ chức một Đảng Cộ)ng sản bí mật còn "Thanh niên” thì cứ giữ nguyên để chỉnh đô"n lại Các chi bộ cộing sản lần lượt được thành lập ở Nam kỳ, ỗ Trung kỳ và ở Xiêm Các đảng viên hoiạt động ở Trung Quốc được tập hợp trong một chi bộ mang tên chi bộ An Nam Cộ)ng sản Đảng, chi bộ này đã liên lạc và được sự giúp đỡ của Đảng Cộng sản Trrung Quô"c và đã liên lạc với Quốc tế Cộng sản Theo Hồng Thế Công, An Nam CộỊng sản Đảng ra đời vào tháng 8-1929 Đảng có cơ sở quần chúng ở các xí ngíhiệp và trong giới thợ thủ công ở Sài Gòn và một sô' tỉnh ở phía Nam An Nam CộỊng sản Đảng đã nhiều lần gửi thư cho Đông Dương Cộng sản Đảng bàn việc hợp nhiất đảng, song không đạt được sự nhất trí.
Sự ra đời của Đông Dương Cộng sản Đảng (6-1929) và An Nam Cộng sản Đảỉng (8-1929) đã có tác động mạnh mẽ đến sự phân hoá của đảng Tân Việt Nl-nững phần tử tiên tiến của Tân Việt đã tách ra lập các chi bộ cộng sản, xúc tiến việệc chuẩn bị thành lập đảng cộng sản Tháng 9-1929, bản Tuyên đạt của Đông Diương Cộng sản liên đoàn đã tuyên bố; "Những người giác ngộ Cộng sản chân chiính trong Tân Việt cách mệnh đảng trịnh trọng tuyên ngôn cùng toàn thể đảng viéên Tân Việt cách mệnh đảng, toàn thể thợ thuyền, dân cày và lao khổ biết rằng chiúng tôi đã chánh thức lập ra Đông Dương Cộng sản liên đoàn Đông Dương Cộìng sản liên đoàn lấy chủ nghĩa Cộng sản làm nền móng, lấy công, nông, binh liêìn hiệp làm đôl tượng vận động cách mệnh để thực hành cách mệnh cộng sản troDng xứ Đông Dương, làm cho xứ sở của chúng ta hoàn toàn độc lập, xoá bỏ nạn ngĩười bóc lột áp bức người, xây dựng chế độ công nông chuyên chính, tiến lên cộng sảin chủ nghĩa trong toàn xứ Đông Dương".
Như vậy, trong vòng không đầy bôn tháng (từ giữa tháng 6 đến tháng 9- 19Ỉ29) đã có ba tổ chức đảng ở Việt Nam lần lượt tuyên bô' thành lập Cơ sở tổ chức dảing và cơ sở quần chúng của đảng đã phát triển khắp cả ba miền Sự ra đời nhianh chóng các tổ chức cộng sản lúc bấy giờ là một xu thế tất yếu của cách mạng Viẹệt Nam Song, sự tồn tại ba đảng biệt lập có nguy cơ dẫn đến chia rẽ lớn Yêu
c ầ L U bức thiết của cách mạng Việt Nam là phải có một Đảng Cộng sản thống nhất troDng cả nước Quôc tế Cộng sản đã gửi thư cho những người cộng sản Đông Dương nhiấn mạnh rằng: "Xu hướng chia rẽ của các nhóm và sự tranh đấu lẫn nhau sẽ có ảnìh hưởng rất hại cho cuộc vận động cách mạng ở Đông Dương Nhiệm vụ tuyệt đốii cần kíp của tất cả những người cộng sản Đông Dương là sáng lập một đảng
15
Trang 15cách mạng của giai cấp vổ sản Đảng ây phải là một đảng độc nliất và ở ©ông
Dương chỉ có một đảng ấy là tổ chức cộng sản mà thôi Phẳi hợp nhất lặi các rphần
tử chân chính cộng sản đương ở tíoiig các nhóm cộng sản bây giờ-để lập ra ĐDảng
Cộiig sản Đông Dương" Với tư cách là phái viên của Quốc tế Gộhg sản có đầiy đủ
quyền quyết định mọi vấn đề liên quan đến phong trào oách mạtĩig ồ'Đông Duíơng,
Nguyễn Ặi Quốc đã triệu tập hội nghị đại biểu cụạ Đôíig Dựơng Cộng sản Đảnig và
An Nam Cộng gản Đảng để bàn yiệc thông nhất tM nh rxỊỘt đảng Hộị ngH
tại Cửụ Long gần Hương Cảng (Trung Quốc) dưới sự chủ tri củ ạ Nguyễn Ái Qụốc
Tham dự hộị nghị có Trịnh Đình Cửu và Nguyệĩi Đức Gảnh là đại biểu của IĐppg
Dựơng Cộng sản Đảng, Clạâu Vãn Liêm yà Nguyễn 'iThiệụ là đại biểụ của An ỊSíạm
Cộng sản Đảng, Người^ đã nói rộ với các đại, biểu về i>hữrỊ;g ổại lầip của các lẸlậng
và họ đã nhất trí hợp nhất Đông Dưotog CỘỊỊg sản Đảng và ,An Nạm QộngỊ sản
Đảng để lập ra một dảiig duy nhất lạy tên Đảng Cộng sản Việt Nam thôngỊ qua
Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, Chượnglrình tóm tắt, Điềụ lệ vắn tắtt của
Đảng và các Điều lệ vắn tắt của Công hội, Nông,hội, ,Ẹ)oàn th,anh niên, Hộit phụ
nữ, Hội phản đế đồng minh và Hội cứu tế do Nguyễn Ái Quốc soạn thảo,
Chánh cương vắn tắ t của Đảng n êu rõ:
"Tư bản bản xứ đã thuộc tư bản Pháp, vì tư bấn Pháp hết 'sức ngăn trcở sức
sinh sản làìti cho công nghệ bản xứ không thể mở maríg được: 'Gòn v^ riông nghệ
một ngày mật tập trung đã phát sinh ra lấm khủng hoảng, nông dân thất hg^kiệp
nhiều Vậy tư bẩn bản xứ khôríg cồ thể lực gì tá không nên nổi cho họ đi về p}he đế
quốc được, chỉ bọn đại địa chử mới có thế íựe ưà đửng hẳìi vế phe đế quổcz chủ
nghĩa nên chủ trương ỉầm tư sản dân quyền meh mạrig và‘thổ địá cáốh mậmg để
Chánh cương vắn tắt dã nêu ra nhiẹm vụ của cuộc, cẩcỉi rnạng đó vlề các
phươiig diện chínlỉ t!ri, kinh tế, xã hội: Đẩnb đo đe quốc chủ nghĩa Pháp vài bọn
phorig kiến, làm cho hước Nam được hoan toàn độc lập, dựrig ra Chmh pìiủ cổng
nống binh, to ciìức ra quân đội công nôrig, thủ tiêu iiết các thứ quốc trái, tĩiLu hết
sắn nghiệp lớn (như công nghiẹp, vặn tải, ngậii liàng, v.v.) củầ tư bản đế qpổcc chủ
nghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công liôĩig bính, thu hết rủộíig đẩt của đế quôc
chủ nghĩa làih của công và chia cho dâri cày nghèo, rtìiễn thuế cho dân íighèeo mở
mang công nghiệp và nông nghiệpị thí hành luật ngày làm tẩm giờ, đấ-n ‘ctỉỉíúng
được tự do tổ chức, nam nữ bìnỉi quyềĩi, phổ thôlng giáo dụẻ theo côrig iiôĩlg hữôá;
Sách lược vắn tắt xá c định:
"1, Đảng là đội tiên phong của vô sản gỉại cấp, phải thu phục cho ặượơẹ đại
bộ phân giai cấp mình, phải ịàm chọ giai cấp TTiình lãnỉi đạo được dân chúng
2 Đảng phải thu phục chỏ được đậi bọ phặk dãn iỉầy và phẩi đựa vàớ rhặng dân cày nghèo làm thổ địa cách mạng đánh trứè bọn đại địả chủ và pỉỉóng kiéến.
Trang 163 Đảng phải làm cho các đoàn thể thợ thuyền và dẫn cày (công hội, hợp tác xăỉj khỏi ở dưới quyền lực và ảnh hưởng của bọn tư bản quốc gia.
4 Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niién, Tăn Việt, v.v để kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú ninng, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì pHiải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cáich mạng (Đảng Lập hiến, u.ư.) thì phải đánh đổ.
5 Trong khi liên lạc với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nỉhượng hộ một chút lợi ích gì của công nông mà đi vào đường lối thoả hiệp, trong kỉhi tuyên truyền cái khẩu hiệu nước An Nam độc lập, phải đồng tuyên truyền và thiực hành liên lạc với bị áp bức dân tộc và vồ sản giai cấp thế giới, nhất là vô sản gũai cấp Pháp”.
3 Đảng giải phóng công nhân và nông dân thoát khỏi ách tư bản.
4 Đảng lôi kéo tiểu tư sản, trí thức và trung nông về phía giai cấp vô sản; Đcảng tập hợp hoặc lôi kéo phú nông, tư sản và tư bản bậc trung, đánh đổ các đcảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, v.v
5 Không bao giờ Đảng lại hi sinh quyền lợi của giai cấp công nhân và nông dcân cho một giai cấp nào khác.
Đảng phổ biến khẩu hiệu "Việt Nam tự do" và đồng thời Đảng liên kết với nhhững dân tộc bị áp bức và quần chúng vô sản trên thế giới nhất là với quần chiúng vồ sản Pháp".
Điều lệ vắn tắt của Đảng nêu rõ tôn chỉ; "Đảng Cộng sản Việt Nam tổ chức rai để lãnh đạo quần chúng lao khổ làm giai cấp tranh đấu để tiêu trừ tư bản đế quiôc chủ nghĩa, làm cho thực hiện xã hội cộng sản".
Nhân dịp Đảng ra đời, Nguyễn Ái Quôc thay mặt Quốc tế Cộng sản và Đảng Cệộng sản Việt Nam đã viết Lời kêu gọi công nhân, nông dân, binh lính, thanh niiên, học sinh, anh chị em bị áp bức, bóc lột Lời kêu gọi có đoạn:
"Đảng Cộng sản Việt Nam đã được thành lập Đó là Đảng của giai cấp vô sảxn Đảng sẽ dìu dắt giai cấp vô sản lãnh đạo cách mạng An Nam đấu tranh nhnằni giải phóng cho toàn thể anh chị em bị áp bức, bóc lột chúng ta Từ nay anh chiị em chúng ta cần phải gia nhập Đảng, ủng hộ Đảng và đi theo Đảng để:
17
Trang 171 Đánh đổ đế quôc Pháp, phong kiến An Nam và giai cấp tư sản phản cỂách mạng.
2 Làm cho nước An Nam được độc lập.
3 Thành lập Chính phủ công nông binh.
4 Tịch thu tất cả các nhà băng và cơ sở sản xuất của đế quốc trao cho Chíính phủ công nông binh.
5 Quốc hữu hoá toàn bộ đồn điền và đất đai của bọn đế quôc và địa cchủ phản cách mạng An Nam chia cho nông dân nghèo.
6 Thực hiện ngày làm 8 giờ.
7 Huỷ bỏ mọi thứ quốc trái và thuế thân, miễn các thứ thuế cho nông dlân nghèo.
8 Đem lại mọi quyền tự do cho nhân dân.
9 Thực hành giáo dục toàn dân.
10 Thực hiện nam nữ bình quyền".
Hội nghị đã quyết định thành lập cơ quan ngôn luận, tuyên truyền của Đảing
là tạp chí Đỏ và báo Tranh Đấu Hội nghị kết thúc, các đại biểu trở về nước ng^ày
8 tháng 2 năm 1930.
Sau khi về nước các đại biểu đã tích cực thực hiện kế hoạch hợp nhất các cơ
sở đảng ở trong nước, lập ra Ban Chấp hành Trung ương lâm thời của Đảng gcồm
có bảy uỷ viên: Trịnh Đình Cửu, Trần Văn Lan, Nguyễn Văn Hới, Nguyễn PhoDng Sắc, Hoàng Quốc Việt, Phạm Hữu Lầu, Lưu Lập Đạo, do Trịnh Đình Cửu đứng đíầu Tiếp đến các xứ uỷ cũng được thành lập Đỗ Ngọc Du là Bí thư Xứ uỷ Bắc Ikỳ, Nguyễn Phong sắc, Bí thư Xứ uỷ Trung kỳ, và Ngô Gia Tự, Bí thư Xứ uỷ Nam kjỳ.
Đông Dương Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng đã hợp nhất thàinh Đảng Cộng sản Việt Nam Song Đông Dương Cộng sản Liên đoàn vẫn còn là imột đảng riêng lẻ Việc hợp nhất Đông Dương Cộng sản liên đoàn vào Đảng Cộng Sỉản Việt Nam cũng là một yêu cầu khách quan Trong bản báo cáo gửi Quốc tế Cộjng sản, Nguyễn Ái Quốc nhận định: "ở Trung kỳ, một tổ chức cộng sản mới ra (đời gồm những phần tử ưu tú nhất của Đảng Tân Việt Tổ chức cộng sản mới mày vẫn còn là một tổ chức riêng lẻ, nhưng chúng tôi tin chắc rằng sắp đến, tổ chiức này sẽ hợp nhất với chúng tôi" Trong bản Tuyên đạt thành lập đảng của mìmh, Đông Dương Cộng sản liên đoàn cũng chủ trương phải hợp nhất với Đông Dươíng Cộng sản Đảng và An Nam Cộng sản Đảng "thành một tổ chức cộng sản ở xứ Đông Dương để cho sức mạnh cộng sản vững chắc và duy nhất mới có thể thiực hiện cách mạng cộng sản" Vì thế, sau Hội nghị hợp nhất, Đông Dương Cộng ssản liên đoàn đã yêu cầu gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Ngày 24-2-1930, Chiâu Văn Liêm và Nguyễn Thiệu cùng với hai uỷ viên của Ban Chấp hành Trung ươíng
Trang 18lâm thời là Hoàng Quốc Việt và Phạm Hữu Lầu cùng Ngô Gia Tự, Bí thư Xứ uỷ Na;m kỳ của Đảng Cộng sản Việt Nam, đã họp quyết định chấp nhận Đông Dương Cộng sản liên đoàn gia nhập Đảng Cộng sản Việt Nam Cả ba tổ chức cộng sản Việt Nam đã thống nhất trọn vẹn vào một đảng cộng sản duy nhất: Đảng Cộng sảrii Việt Nam.
Hội nghị hợp nhâ^t các tổ chức cộng sản ở Việt Nam mang tầm vóc lịch sử của một Đại hội thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam.
Đảng ra đời là một mốc son chói lọi đánh dấu bước ngoặt lịch sử vĩ dại của cáclh mạng Việt Nam, là kết quả tất yếu của sự kết hợp chủ nghĩa Mác - Lênin với phcing trào công nhân và phong trào yêu nước ở nước ta trong những năm 20 của thế ky XX.
Nguyễn Ái Quô"c là người có công đầu trong việc tiếp thu và truyền bá chủ nghĩa Mác - Lênin vào Việt Nam, người sáng lập ra Đảng và vạch ra Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam- một cương lĩnh cách mạng giải phóing dân tộc đúng đắn và sáng tạo, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượm tính dân tộc và tính nhân văn Độc lập tự do là tư tưởng chủ yếu, là viên ngọ c quý nhất được khảm trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng Vừa mới
ra đời "Đảng ta liền gương cao ngọn cờ cách mạng, đoàn kết và lãnh đạo toàn dần
ta tiến lên đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp Màu cờ đỏ của Đảng chó i lọi như mặt trời mới mọc, xé tan cái màn đen tối, soi đường dẫn lối cho nhân dâiii ta vững bước tiến lên con đường thắng lợi trong cuộc cách mạng phản đế, phản phong".
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời giữa lúc chủ nghĩa tư bản diễn ra cuộc khủing hoảng sâu sắc về kinh tế và ở Đông Dương thì "sự áp bức và bóc lột vô nhân đạo của đế quôc Pháp đã làm cho đồng bào ta hiểu rằng có cách mạng thì sôn;g, không có cách mạng thì chết" Chính vì vậy một làn sóng đấu tranh dân tộc
và (dân chủ sôi nổi đã diễn ra trong toàn quốc, dẫn đến đỉnh cao là Xô viết Nghệ Tĩnh Cuộc đấu tranh giữa nhân dân ta với đế quốc Pháp và tay sai trở nên quyết liệt và đẫm máu Đảng Cộng sản Việt Nam, đứng đầu là Ban Chấp hành Trung ươn g lâm thời, vừa mới ra dời đă bước ngay vào cuộc thử thách trên cương vỊ tiên pho ng lãnh đạo cuộc đấu tranh đó của dân tộc.
19
Trang 19HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG
LẦN THỨ NHẤT*
(Tháng 10-1930)
Tháng 4-1930, đồng chí Trần Phú sau thời gian học tập ở Liên Xô đã trcở về nước hoạt động Theo đề nghị của Nguyễn Ái Quôc, đồng chí Trần Phú tham gia Ban Chấp hành Trung ương lâm thời và được phân công cùng Ban ThườngỊ vụ Trung ương chuẩn bị kỳ họp lần thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương và dự tthảo bản Luận cương chính trị.
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ nhất diễn ra từ ngày 14 đến ngày 31-10-1930 tại Hương Cảng (Trung Quôc), do đồng chí Trần Phú chủ trì., dã thông qua Nghị quyết về tình hình và nhiệm vụ cần kíp của Đảng, dự thảo L-iuận cương chính trị của Đảng, Điều lệ các tổ chức quần chúng Theo chỉ thị của Quốc
tế Cộng sản, Hội nghị đổi tên Đảng Cộng sản Việt Nam thành Đảng Cộng sản Đông Dương. Hội nghị bầu Ban Chấp hành Trung ương chính thức của Đíảng, trong đó có Trần Phú, Nguyễn Trọng Nhã, Trần Văn Lan, Nguyễn Phong iSắc, Ngô Đức Trì*, Ban Thường vụ Trung ương gồm có Trần Phú, Ngô Đức Triì và Nguyễn Trọng Nhã Đồng chí Trần Phú là Tổng Bí thư.
Dự thảo Luận cương chính trị được Hội nghị thông qua đã phân tích sâui sắc tình hình thế giới và trong nước Luận cương nhận định thời kỳ tạm ổn định, của chủ nghĩa tư bản đã chấm dứt, chủ nghĩa tư bản đang lâm vào cuộc tổng khiủng hoảng; phong trào cách mạng vô sản và cách mạng thuộc dịa đã lên đến trìnlh dộ cao Phong trào cách mạng thế giới ảnh hưởng rất mạnh đến phong trào cách rmạng Đông Dương Vì vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động Đông Dương Ịphải liên hệ chặt chẽ với cách mạng thế giới.
Về tính chất xã hội của ba nước Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campucỉhia), Luận cương chính trị chỉ rõ đó là xă hội thuộc địa nửa phong kiến Thực dân p^háp chủ trương không phát triển công nghiệp nặng, kìm hãm công nghiệp nhẹ,, cột chặt nền kinh tê thuộc địa vào nền kinh tế chính quốc Kinh tế Đông Dương vẫn
là kinh tế nông nghiệp, ớ Đông Dương mâu thuẫn giai câ'p giữa "một bên thìi thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ; một bên thì dịa chủ, phong kiến, tư bổn
và dế quôc chủ nghĩa""'.
Tính chất cách mạng Đông Dương lúc đầu là cách mạng tư sản dân qựiyền, sau đó bỏ qua thời kỳ tư bản chuyển sang giai đoạn cách mạng xã hội chủ ng?hĩa.
* Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
* Năm 1931, Ngô Đức Trì bị định bắt và đã phản bội sự nghiệp cách mạng.
Đ ảng Cộng sán Việt N am : Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxh CTQG, H, 2000, tập 2y tr.90
Trang 20ở giai đoạn đầu, cách mạng "có tánh chất thổ địa và phản cụ thể là đánh đổ
đế quốc giành độc lập dân tộc và đánh đổ địa chủ đem lại ruộng đất cho dân cày Hai nhiệm vụ chông đế quốc và phong kiến có mối quan hệ khăng khít với nhau,
"có đánh đổ đế quôc chủ nghĩa mới phá được cái giai cấp địa chủ và làm cách mạmg thổ địa được thắng lợi; mà có phá tan chê độ phong kiến thì mới đánh đổ đượ c đế quôc chủ nghĩa"'^^
Về lực lượng cách mạng, Luận cương chính trị chỉ rõ: Giai cấp vô sản vừa là độag lực chính vừa là giai cấp lãnh đạo nhân dân lao động đấu tranh Dân cày là độnig lực mạnh Các phần tử lao khổ ở thành phô'^ như người bán rao, thủ công nghiệp nhỏ do đời sông cực khổ nên đều tham gia cách mạng.
Về phương pháp cách mạng, Luận cương chính trị chỉ rõ: Phải tùy tình hình
mà đặt khẩu hiệu tôì thiểu để bênh vực quyền lợi cho quần chúng Đến lúc thực lực cáclh mạng lên cao, giai cấp thông trị lung lay, giai cấp trung gian muốn ngả về phía cách mạng thì Đảng phải lãnh đạo quần chúng để giành chính quyền Phải
sử dụng bạo lực cách mạng của quần chúng để giành chính quyền: "Vo trang bạo độnig không phải là một việc thường phải theo khuôn phép nhà binh"'^’.
Về Đảng, Luận cương chính trị khẳng định: "Điều kiện côt yếu cho sự thắng lợi của cuộc cách mạng ở Đông Dương là cần phải có một Đảng Cộng sản có một đườíng lối chánh trị đúng, có kỷ luật, tập trung, mật thiết liên lạc với quần chúng,
và từng trải đấu tranh mà trưởng thành Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp' lấy chủ nghĩa Các Mác và Lênin làm
Về quan hệ quốc tế, Luận cương chính trị chỉ rõ: cách mạng Đông Dương và các;h mạng thế giới phải có liên lạc chặt chẽ với nhau, giai cấp vô sản Đông Dương phầi có quan hệ mật thiết với giai cấp vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp.
Hội nghị Trung ương tháng 10- 1930 với việc thông qua Luận cương chính trị đã khẳng định những vấn đề cơ bản về chiến lược cách mạng mà Chánh cương vắm tắt và Sách lược vắn tắt đã nêu, như: vai trò lãnh đạo của Đảng Cộng sản troing cuộc cách mạng; hai giai đoạn cách mạng từ cách mạng tư sản dân quyền chcíng đế quốc và phong kiến nhằm thực hiện mục tiêu độc lập dân tộc và người cày' có ruộng và sau đó chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa; hai nhiệm
vụ chông đế quôc và chông phong kiến có quan hệ khăng khít với nhau; lực lượng chí:nh của cách mạng là giai cấp công nhân, giai cấp nông dân, trong đó giai cấp cônig nhân là lực lượng lãnh đạo cách mạng; sử dụng bạo lực cách mạng của quần
Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 2, tr.93
Đ ảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 2, tr.94
kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 2, tr.io o
V^ổn kiện Đảng toàn tập, Sđd, tập 2, tr.l02
21
Trang 21chúng để giành chính quyền; cách mạng Việt Nam có liên hệ mật thiết với cách mạng thế giới.
Bên cạnh đó, Hội nghị Trung ương tháng 10-1930 có hạn chê là chưa chỉ ra được mâu thuẫn chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với đế quôc Pháp, từ
đó không đặt nhiệm vụ chống đế quôc lên hàng đầu, đánh giá chưa khách quan vai trò và thái độ cách mạng của tiểu tư sản và mặt yêu nước của tư sản dâm tộc cũng như một bộ phận địa chủ nhỏ Sở dĩ có hạn chế đó là do Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 10-1930 chưa nắm vững đặc điểm của xã hội thuộc địa, nửa phong kiến Việt Nam, vận dụng máy móc đường lối của Quôc tế Cộng sản vào hoàn cảnh nước ta; chưa nhận thức rõ những quan điểm sáng tạo của đồng chí Nguyễn Ái Quốc đã nêu ra trong các văn kiện được thông qua tại Hội nghị thiành lập Đảng.
Những hạn chế ấy được Đảng ta từng bước khắc phục, bổ khuyết trong tiến trình cách mạng Việt Nam.
Trang 22HỘI NGHỊ BAN CHẤP h à n h t r u n g ư ơ n g *
(Tháng 3-1931)
Hội nghị được triệu tập từ ngày 20 đến ngày 26-3-1931 tại Sài Gòn, dưới sự chủ trì của Tổng Bí thư Trần Phú Hội nghị diễn ra trong khi phong trào cách mạng cả nước nói chung và Xô viết Nghệ - Tĩnh nói riêng đang bị thực dân Pháp khủng bố trắng.
Đánh giá tình hình thế giới, Hội nghị chỉ ra những vấn đề lớn: khủng hoảng kinh tê thế giới tư bản chủ nghĩa ngày càng nghiêm trọng, nước Pháp cũng chịu ảnh hưởng nặng nề của cuộc khủng hoảng dó; Liên Xô đạt nhiều thành tựu to lớn trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội, càng khẳng định tính ưu việt của chế
độ mới đôl lập với chủ nghĩa tư bản; phong trào cách mạng thế giới dưới sự soi sáng của Cách mạng Tháng Mười phát triển mạnh mẽ trong khi thế giới tư bản khủng hoảng; sự khủng hoảng của chủ nghĩa tư bản đã đẩy chiến tranh đế quồc lên đến đỉnh cao, nhất là sự xâm chiếm tranh giành thuộc địa.
Về tĩnh hình Đông Dương, Hội nghị cho rằng, cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới tư bản đã có tác động nhiều mặt, làm cho đời sông quần chúng cần lao thêm khô n khổ; phong trào đấu tranh của quần chúng phát triển Trong khi đó, đế quôc Pháip tăng cường bóc lột, đàn áp, khủng bô' phong trào cách mạng, đồng thời sử dụng nhiều thủ đoạn mị dân bỉ ổi để lừa bịp quần chúng.
Hội nghị khẳng định; trước những bước chuyển biến lớn lao của tình hình thế giới và trong nước, Đảng thể hiện rõ vai trò lãnh đạo trong việc "khuếch trương nền tảng tổ chức cách mạng ra và đă ảnh hưởng càng ngày càng rộng trong quần chúng công nông"^‘\ Tuy vậy, "những sự thắng lợi đó chưa được bao nhi êu là vì rất nhiều cản trở"'^\ Hội nghị đã phê phán những sai lầm của các đảng
bộ địa phương trong việc thực hiện các nghị quyết của Đảng Nhiều cán bộ, đảng viêm còn quan niệm Đảng Cộng sản là đảng của quần chúng lao khổ; không hiểu rằng, Đảng Cộng sản là của giai cấp công nhân Các đảng bộ còn coi thường cả công tác thanh niên, không hiểu rằng: "Tổ chức ra Cộng sản Thanh niên Đoàn là mỘTt nhiệm vụ thâu phục một bộ phận quan trọng của vô sản giai cấp là một vấn
đề 'Cần kíp raà Đảng phải giải quyết"^^\
Hội nghị phê phán những biểu hiện sai lầm hữu khuynh và "tả" khuynh như the o đuôi quần chúng, lo tổ chức đã rồi mới dấu tranh, khi đấu tranh lại đấu tranh
♦ Nguồn: Báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
\^ăn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, 1999, tập 3 (1931), tr.89
Văn kiện Đảng Toàn tạp, Nxh CTQG, 1999, tập 3 (1931), tr.89- 90
Văn kiện Đảng Toàn tạp, Nxb CTQG, 1999, tạp 3 (1931), tr.91
23
Trang 23liên miên không có lối ra, Hội nghị cho rằng, những biểu hiện hữu khuynh và
"tả" khuynh nêu trên đều là do tư tưởng tiểu tư sản chi phôi, nên dẫn tới ngả nghiêng và mất phương hướng trước khủng bô" trắng của thực dân Pháp.
Trên cơ sở đánh giá khách quan tình hình và sự lãnh đạo của Đảng, Hội nghị đã xác định những "nhiệm vụ cần kíp" là:
Về nhiệm vụ tổ chức của Đảng, Hội nghị yêu cầu phải: chỉnh đốn sức chỉ huy
và phát triển người công nhân chỉ huy; khai chiến quả quyết với hoạt đầu chủ nghĩa trong Đảng; xoay hướng về chi bộ nhất là chi bộ nhà máy; cần kíp tổ chức
ra Cộng sản Thanh niên Đoàn, Đảng cần kíp đánh tan cái thái độ hững hờ lãnh dạm với vấn đề đó; tập trung Công hội và phát triển công tác trong sản nghiệp; thực hành chính sách nông dân vận động của Đảng cho đúng; vận động tr'0ng quần đội; chú trọng tổ chức phụ nữ lao động; cần phải tổ chức thành Hội Cứiu tế
Đỏ Để thực hiện những yêu cầu đó, Nghị quyết Hội nghị chỉ rõ nguyên tắc h;àng đầu là phải giữ vững bản chất giai cấp của Đảng "Đảng Cộng sản là đảng của vô sản giai cấp, là bộ tham mưu lãnh đạo vô sản giai cấp làm cách mạng, phá đổ chế
độ tư bản mà thực hiện chế độ cộng sản Vậy cho nên cách tổ chức của Đảng khác hẳn với các đảng chánh trị khác"'^\ Hội nghị yêu cầu cần tập trung vào những vấn
đề bức xúc là: chấn chỉnh các ban xứ ủy; tăng cường thành phần công nhân vào các cơ quan lãnh đạo; đi sâu vào các đồn điền và xí nghiệp để xây dựng các tổ ehức
cơ sở của Đảng và đoàn thể cách mạng trong công nhân; đấu tranh chông "tả" khuynh và hữu khuynh trong Đảng, chủ yếu chông hữu khuynh.
Về nhiệm vụ lãnh đạo quần chúng, Hội nghị chỉ rõ: "Nhiệm vụ thâu p)hục quảng đại quần chúng là nhiệm vụ duy nhất hiện tại của Đảng nhưng thực hiành nhiệm vụ đó không thể làm ngoài vòng giai cấp tranh đấu của quần chúng được"^®\.
Hội nghị khẳng định, Đảng phải làm cho đường lôl của mình được xác lập rộng rãi và vững chắc trong quần chúng Vì vậy, gắn liền với việc thành lập, c:ủng cô" các tổ chức quần chúng là phải đẩy mạnh cổ động, tuyên truyền bằng nlniều hình thức khác nhau (thông qua đảng viên, thông qua sách báo, .).
Hội nghị toàn thể Ban Chấp hành Trung ương cuôi tháng 3-1931 có ý nghĩa rất quan trọng trong chỉ đạo cao trào cách mạng lúc bấy giờ đang bị thực dân Pháp khủng bô" ác liệt, nhất là củng cô" tổ chức Đảng và vận động quần chúng Hội nghị đã khẳng định bản chất giai cấp công nhân của Đảng, làm rõ những nguiyên tắc tổ chức và hoạt động của một đảng mácxít, đồng thời chỉ rõ được tính tất yếu
mở rộng đoàn kết, tập hợp rộng rãi quần chúng, trước hết là công nông.
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tậ p 3, tr.l0 7
Vãn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tậ p 3, tr.107
Trang 24HỘI NGHỊ BAN CHỈ HUY ở NGOÀI CỦA ĐẢNG CỘNG SẢN ĐÒNG DƯƠNG<’^ VÀ ĐẠI DIỆN CÁC T ổ CHỨC ĐẢNG ở TRONG NƯỚC*
(Tháng 6 - 1934)
Sau Cao trào cách mạng 1930-1931, Đảng bị khủng bố dữ dội Hàng chục vạn chiễn sĩ cộng sản và quần chúng yêu nước bị bắt và giết hại Cơ quan lãnh đạo của Đảttg ở Trung ương và hầu hết các cơ quan Đảng ở địa phương lần lượt bị phá vỡ Năm 1932, theo chỉ thị của Quốc tế Cộng sản, đồng chí Lê Hồng Phong cùng một số cán bộ chủ chốt đã bắt tay gây dựng lại tổ chức Đảng Tháng 6-1932, Đảng Cộng sản Đông Dương đã ra bản Chương trình hành động được Quốc tế Cộng sản công nhận ThựCc hiện Chương trình hành động, tổ chức Đảng và phong trào đấu tranh của quần chúng từng bước phục hồi ở nhiều nơi Dưới sự chỉ đạo của Quốc tế Cộng sản, tháng 3-
1934, tại Ma Cao, Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương được thành lập, đồng chí Lê Hồng Phong làm Thư ký (Bí thư) Ban Chĩ huy ở ngoài kiêm Ban Chẫ'p hành Trung ương lâm thời, có nhiệm vụ liên lạc giữa Đảng Cộng sản Đông Dươtig với Quốc tế Cộng sản và các đảng anh em, đào tạo cán bộ cho đất nước, ra Tạp
chí Bônsơưích- cơ quan lý luận của Trung ương Đảng Ban Chỉ huy ở ngoài đã tập hợp
và phục hồi các cơ sở Đảng thành hệ thống, đào tạo và bồi dií&ng cán bộ, lãnh đạo thực hiện Chương trình hành động của Đảng, chuẩn bị triệu tập Đại hội Đảng lần thứ nhất.
Hội nghị của Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng diễn ra trong bôi cảnh đó, từ ngày 16 đến ngày 21-6-1934, gồm có Ban Chỉ huy ở ngoài và đại diện các tổ chức Đảng ở trong nước Đó là các đồng chí Lê Hồng Phong, Hà Huy Tập, Nguyễn Văn Dựt,, Nguyễn Văn Tham và Trần Văn Chấn Hội nghị dã thông qua Nghị quyết
Chí.nh trị và Nghị quyết về các vấn đề tổ chức.
- Sau cao trào cách mạng 1930-1931, trước khủng bố trắng của thực dân Pháp, Ban Chấp hànih Trung ương Đảng được bầu ờ Hội nghị Trung ương tháng 10 - 1930 bị bắt Từ năm 1932, Quốic tế Cộng sản đã cử đồng chí Lê Hồng Phong cùng một số cán bộ về chắp nối liên lạc, gây dựỉiịg lại phong trào cách mạng Tháng 3 - 1934, thực hiện quyết định của Đông phương Bộ Quốc
tế C'.ộng sản, Ban Chỉ huy ở ngoài được thành lập, do đồng chí Lê Hổng Phong làm thư ký (Bí thư) Ban Chỉ huy ở ngoài thực hiện chức năng một Ban Chấp hành Trung ương lâm thời Từ Đại hội J của Đảng Cộng sản Đông Dương (3-1935), mặc dù Ban Chấp hành Trung ương đã được bầu, nhưtng Quốc tế Cộng sản vẫn yêu cầu duy tri Ban Chỉ huy ờ ngoài Đại hội I đã bầu đồng chí Lê Hồmg Phong làm Tổng T hư ký (Tổng Bi thư) Đảng Cộng sản Đông Dương; lúc này, Ban chỉ huy ở ngocâi do đổng chí Hà Huy Tập làm Thư ký (Bí thư) Ban Chỉ huy ở ngoài tồn tại song song với Ban Chấp hành Trung ương của Đảng, nhưng có nhiệm vụ đặc biệt Thời gian tồn tại Ban Chỉ huy ở ngoài do Quốc tể Cộng sản quyết định (Xem: Đảng Cộng sản Việt Nam : Văn kiện Đảng Toàm tập, Nxb CTQG, H, 2002, tập 5, tr 502-503).
♦ NgỊuồn; Báo điện t ử Đảng Cộng sản Việt N am
25
Trang 25Sau khi đánh giá tình hình thế giới, tình hình Đông Dương và thực trạng
của Đảng ta từ sau đợt khủng bố" trắng của thực dân Pháp, Nghị quyết Chính trị
dã chỉ rõ những nhiệm vụ của Đảng:
1 "Tổ chức nội bộ", Đảng phải tập trung hết sức nhằm liên hệ giữa các tổ
chức đảng, kết nạp những đảng viên mới, củng cô" và mở rộng các tổ chức đả ng ở
mọi nơi, kết hợp hoạt động bí mật với hoạt động công khai, tăng cường thành lập
các tổ chức quần chúng, tổ chức đảng từng cấp phải giữ môl liên lạc với nhau., với
cấp trên và chủ động giải quyết những vấn đề của địa phương.
2 "Cần phải mở rộng cuộc tranh đấu", “Đảng cần phải phôi hỢp chặt chẽ
công tác tổ chức với cuộc tranh đấu, bởi vì chỉ có qua cuộc tranh đấu thì tổ chức
mới có thể phát triển được, nhưng nếu cuộc tranh đấu tiến hành vô tổ chức tlhì sẽ
không thành công”^‘\
3 “Tranh đấu trên hai mặt trận", cần phải sử dụng rộng rãi tự phê bình
Bônsơvích để tranh đấu chống chủ nghĩa bè phái và dao động, chông lại lý luận
cho rằng trước tiên phải được tổ chức và sau đó mới tranh đấu, lý luận này dẫỉĩi tới
bị động và xa rời Đảng với quần chúng.
4 "Công tác tuyên truyền và huấn luyện", các tổ chức đảng cần khôi phục
các cơ quan ấn loát và báo chí, sách tuyên truyền, truyền đơn, in lại các tài liệu cũ
của Đảng, để nâng cao trình độ lý luận của đảng viên và tuyên truyền rộng rãi
chính sách của Đảng trong phong trào cách mạng, để nâng cao trình độ chín'h trị
của đông đảo quần chúng lao động.
Ngoài các nhiệm vụ đó, Nghị quyết Chinh trị còn chỉ rõ "Công tác Tlnanh
niên cộng sản Đoàn", "Nhiệm vụ của các Công hội đỏ", "Công tác của các nông hội”,
"Về công tác trong quân đội và về cuộc tranh đấu chống chiến tranh đế quốc", "(Công
tác trong các tổ chức quần chúng khác" Kết luận của Nghị quyết Chính trị ĩĩihấn
mạnh: "Trong việc thực hiện những nhiệm vụ đã được nêu trên, các tổ chức (đảng
phải xem chương trình hành động như là một cơ sở lý luận".
Nghị quyết về các vấn đề tổ chức của Hội nghị quy định cơ cấu tổ chúíc và
nhiệm vụ của Ban Chỉ huy ở ngoài của Đảng Cộng sản Đông Dương:
- Ban Chỉ huy ở ngoài gồm 5 người (3 người do Quô"c tế Cộng sản chỉ địmh và
2 người do Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương chỉ định) Ban chỉ huy ở mgoài
bầu Ban Thường vụ và thư ký của Ban Thời hạn tồn tại của Ban Chỉ huy ở mgoài
do Quôc tế Cộng sản quy định Các hội nghị toàn thể của Ban Chỉ huy ở mgoài
được triệu tập ít nhất ba tháng một lần.
Đảng Cộng sản Việt N am : Văn kiện Đ ảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1999, tập 4 (1932-19:34),
tr l6 6
Trang 26- Ban Chĩ huy ở ngoài là đại diện của Đảng trong quan hệ và liên lạc với Quô c tế Cộng sản và các Đảng Cộng sản anh em.
- Ban Chỉ huy ở ngoài chỉ đạo đường lôl chính trị chung của Trung ương Đảng Ban có quyền cử đại biểu để tham gia công tác và kiểm tra toàn bộ công tác của các cấp ủy đảng trong nước.
- Những nghị quyết quan trọng nhất của Trung ương phải được bàn bạc nhất trí với Ban Chỉ huy ở ngoài Trong trường hợp Trung ưcfng Đảng Cộng sản Đông Dưcfng không đồng ý với Ban Chỉ huy ở ngoài, Trung ương có quyền khiếu nại Nghị quyết lên Quôc tế Cộng sản Trước khi Quôc tế Cộng sản quyết định vấn đề tranh cãi thì Trung ương có nhiệm vụ phải thực hiện các chỉ thị của Ban Chỉ huy
ở ngoài.
- Trong trường hợp Trung ương Đảng bị vỡ và mất liên lạc và dể tránh mất
sự lãnh đạo thường xuyên, các Xứ ủy Đảng (Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Nam Kỳ, Lào, Cao Miêíĩi) phải liên lạc với Ban Chỉ huy ở ngoài Trong trường hỢp Trung ương bị vỡ, Ban Chỉ huy ở ngoài có thể thay thế Trung ương lãnh đạo trực tiếp tất cả các tổ chức đảng ở trong nước /^'
Hội nghị Ban Chỉ huy ở ngoài có ý nghĩa quan trọng trong quá trình phục hồi Đảng, phục hồi phong trào đấu tranh của quần chúng và chuẩn bị trực tiếp cho Đại hội đại biểu toàn quô'c lần thứ I của Đảng vào tháng 3-1935.
Điảng Cộng sản Việt N am : Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 1999, tập 4 (1932-1934),
tr 175-176.
27
Trang 27ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU TOÀN QUỐC LAN THỨ I
Đại hội được tiến hành trong bối cảnh lịch sử thế giới và trong nước có nhiều chuyển biến quan trọng Trên thế giới, phong trào cộng sản và công nhân quôc tế tiếp tục phát triển có lợi cho cuộc đấu tranh của các dân tộc thuộc địa Những thành tựu to lớn về mọi mặt của công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Liên Xô có tác động to lớn tới phong trào cách mạng ở các nước thuộc địa Các nước tư bản chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng kinh tế sâu sắc ớ Đông Dương, phong trào đấu tranh của công nhân đã từng bước hồi phục Các tầng lớp nhân dân ở thành thị và nông thôn tham gia đấu tranh bằng nhiều hình thức như bãi khoá của học sinh, bãi thị của thương nhân, biểu tình chông thuế của nông dâ.n.
Đảng cũng từng bước hồi phục sau các cuộc khủng bô" trắng, về tổ chức, Ban lãnh đạo hải ngoại đã liên hệ được với những cơ sở và tổ chức trong nước,, đưa đảng viên ở nước ngoài về nước phối hợp với đảng viên trong nước hoạt động;; tiếp tục củng cô' và phát triển những cơ sở và tổ chức còn lại, đồng thời xây dựng những cơ sở mới.
Trên cơ sở phong trào cách mạng đã được phục hồi và sự chuẩn bị trướíc đó,
từ ngày 28 đến 31-3-1935 Đại hội đại biểu lần thứ nhất của Đảng đã họp tạii một địa điểm ở phố Quan Công, Ma Cao (Trung Quôc) nhằm xác định đường lô'i cho thời kỳ đấu tranh mới khi Đảng đã phục hồi Tham dự Đại hội có 13 đại biểu, lúc này đồng chí Nguyễn Ái Quốc đang công tác ở Quôc tế Cộng sản, đồng chií Lê Hồng Phong dẫn đầu đoàn đại biểu Đảng ta đi dự Đại hội Quốc tế Cộng sản lần thứ VII, nên không tham dự được.
Trên cơ sở dánh giá tình hình thế giới và trong nước, Đại hội đề ra 3 n.hiệm
vụ chủ yếu của toàn Đảng trong thời gian trước mắt là củng cô" và phát triển Đảng, tranh thủ quần chúng rộng rãi, chông chiến tranh đế quôc.
Về nhiệm vụ phát triển và củng cô" Đảng, tăng cường phát triển đảng vào các xí nghiệp, đồn điền, hầm mỏ, đường giao thông quan trọng, biến mỗi xí nghiệp thành một thành luỹ của Đảng; đồng thời phải đưa nông dân lao động và trí thức cách mạng đã trải qua thử thách vào Đảng Phải chăm lo tăng cường các đảng
* Nguồn: Báo điện tử Đ ảng Cộng sản Việt N am
Trang 28viên ưu tú xuât thân từ công nhân vào các cơ quan lãnh đạo của Đảng Để bảo đảm sự thống nhất về tư tưởng và hành động, các đảng bộ cần tăng cường phê bình và tự phê bình dấu tranh trên cả hai mặt chông “tả” khuynh và “hữu” khuynh, giữ vững kỷ luật của Đảng.
Về “thâu phục quảng đại quần chúng”, Đại hội chỉ rõ Đảng mạnh là căn cứ vào ảnh hưởng và thể lực của Đảng trong quần chúng Nếu Đảng không mật thiết liêa lạc với quần chúng, không được quần chúng tán thành và ủng hộ những khẩu hiệu của mình thì những những nghị quyết cách mạng đưa ra vẫn chỉ là lời nói không Muốn thâu phục quảng đại quần chúng thì nhiệm vụ trung tâm, căn bản, cần kíp trước mắt của Đảng là; Bênh vực quyền lợi của quần chúng; củng cô' và phát triển các tổ chức quần chúng Đại hội chủ trương tổ chức quần chúng chủ yếu theo hình thức bí mật, bất hợp pháp, đồng thời coi trọng những hình thức công khai, hợp pháp.
Phải đẩy mạnh chông chiến tranh đế quôc, vạch trần luận điệu “hoà bình” giả dối của bọn đế quô"c, giải thích cho quần chúng thấy rõ chiến tranh đế quô"c đã bắt đầu Đại hội xem nhiệm vụ chông chiến tranh đế quốc bảo vệ Liên bang Xô
V iết là nhiệm vụ của Đảng và của toàn thể cách mạng Đại hội quyết định thành lập Ban Chông chiến tranh đế quôc do Đảng lãnh đạo, bao gồm đại biểu nhiều tổ chức cách mạng và cá nhân yêu nước, hoà bình và công lý.
Đại hội đã bầu ra Ban Chấp hành Trung ương Đảng, gồm 13 uỷ viên (9 uỷ viêTi chính thức và 4 uỷ viên dự khuyết), đồng chí Lê Hồng Phong được bầu làm Tổng Bí thư Ban Châp hành Trung ương nhất trí cử đồng chí Nguyễn Ái Quốc là đại biểu của Đảng bên cạnh Quô"c tế Cộng sản.
Ban Văn kiện
29
Trang 29Hội nghị họp vào tháng 7-1936 tại Thượng Hải (Trung Quô"c), do Tổng Bí' thư
Lê Hồng Phong chủ trì Hội nghị đã đề ra những chủ trương thích hợp để đưa cách mạng nước ta tiến lên trong tình hình mới, bổ khuyết những thiếu sót của Đại hội đại biểu lần thứ nhất.
Hội nghị diễn ra trong hoàn cảnh lịch sử thế giới và trong nước có những diễn biến phức tạp Trước nguy cơ chủ nghĩa phát xít chuẩn bị phát động cihiến tranh thế giới, Quốc tế Cộng sản có sự chuyển hướng chỉ đạo chiến lược là: xác định nhiệm vụ trước mắt của giai cấp công nhân quốc tế chưa phải là đấu tranh lật đổ chủ nghĩa tư bản nói chung, mà là đâu tranh chông chủ nghĩa phát xíít và ngăn ngừa chiến tranh thế giới, giành dân chủ và hoà bình; chủ trương xây dựng mặt trận nhân dân rộng rãi để tập hợp lực lượng đấu tranh Tháng 5-1936, Mặt trận nhân dân Pháp, gồm Đảng Cộng sản, Đảng Xã hội, Đảng Xã hội cấp tiến, giành thắng lợi trong cuộc tổng tuyển cử Chính phủ của Mặt trận nhân dân lên cầm quyền, ban hành nhiều chính sách tiến bộ có lợi cho thuộc địa.
Căn cứ vào diễn biến tình hình thế giới, trong nước và đường lối của Quốc tế Cộng sản, Hội nghị xác định: “Xét về tình hình quần chúng vận động hiện thiời cả
về chính trị và về tổ chức chưa tới trình độ trực tiếp đánh đổ đế quôc Pháp,, lập chính quyền công nông, giải quyết vấn đề điền địa”*‘l Kẻ thù chủ yếu trước mắt
của nhân dân Đông Dương chưa phải là chủ nghĩa đế quốc Pháp và phong kiến nói chung, mà là bọn phản động thuộc địa và bè lũ tay sai của chúng; mục tiêu và nhiệm vụ trực tiếp trước mắt là đấu tranh chông chế độ phản động thuộc địa, chống phát xít và chiến tranh, đòi dân chủ, dân sinh và hoà bình Hội nghị qiuyết định thành lập Mặt trận nhân dân phản đế Đông Dương. Mặt trận có nhiệm vụ tập hợp rộng răi "các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và ân xá hết chính trị phạm, ngày làm việc 8 giờ; các luật lao động cho thợ thuyền; mở rrộng các cơ quan kinh tế, tài chính, hội đồng quản hạt, các viện dân biểu, T;hích ứng với sự chuyển hướng nhiệm vụ, Hội nghị quyết định thay đổi các hình thức tổ chức và phương pháp đấu tranh của quần chúng, từ tổ chức bí mật, đấu tranh bất hợp pháp là chủ yếu chuyển sang tổ chức và đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp là chủ yếu.
• Nguồn; Bảo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam
Văn kiện Đảng Toàn tạp, Nxb CTQG, 2000, tập 6 (1936-1939), tr.l4 4
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.l44
Trang 30Mối quan hệ giữa chiến lược và chỉ đạo chiến lược, giữa mục tiêu lâu dài và mục tiêu trước mắt, giữa vấn đề giải phóng dân tộc và điền địa, đã được Hội nghị làm sáng tỏ Văn kiện Chung quanh vấn đề chiến sách mới ghi rõ: " chiến lược của Đảng Cộng sản Đông Dương là phải làm cách mạng tư sản dân quyền - phản đế và điền địa - lập chính quyền của công nông bằng hình thức Xô viết, để
dự bị điều kiện đi tới cách mạng xã hội chủ nghĩa, đó là mục dích cuối cùng của cuộc cách mạng trong giai đoạn này, nhưng làm sao đi tới mục đích ấy là vấn đề chiến sách"^^^ và "Cuộc dân tộc giải phóng không nhất định phải kết chặt với cuộc cách mạng điền địa ( )•
Nhiệm vụ cuộc cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương là đuổi đế quôc Pháp ra khỏi xứ, tẩy sạch tàn tích phong kiến, Đông Dương hoàn toàn độc lập! Chủ trương ấy không bao giờ di dịch, nhưng chưa phải là nhiệm vụ trực tiếp lập tức của Mặt trận nhân dân phản đế trong lúc hiện tại ở Đông Dương, mà nó là mục đích cuôl cùng của Mặt trận nhân dân phản
Về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị chủ trương trong khi sử dụng hình thức đấu tranh công khai hợp pháp, càng phải củng cô" tổ chức và công tác bí mật của Đảng hơn nữa và hết sức chú trọng kết nạp đảng viên và củng cố hàng ngũ.
Sau Đại hội đại biểu lần thứ nhất, 8 đồng chí ưỷ viên Trung ương bị bắt, công tác của Ban Chấp hành Trung ương do Ban chỉ huy ở ngoài của Đảng dảm nhiệm Tháng 7-1936, dồng chí Hà Huy Tập được phân công về nước để tổ chức lại Ban Chấp hành Trung ương (đã bị tan rã) và giữ chức Tổng Bí thư của Đảng cho đến tháng 3-1938.
Những quyết định của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 7-1936 đánh dấu bước trưởng thành mới của Đảng trong việc chỉ đạo chiến lược và sách lược cách mạng Đông Dương Trên cơ sở nắm vững mục tiêu chiến lược của cả tiến trìnih cách mạng, Đảng đã định ra mục tiêu cụ thể của từng thời kỳ cách mạng trước mắt phù hợp với những diễn biến tình hình mới, Đảng nhận thức đầy dủ hơm về vị trí chiến lược của công tác mặt trận, có chủ trương linh hoạt để tập hợp lực lượng một cách rộng rãi, lôi cuốn mọi lực lượng, dù là tạm thời, vào cuộc đấu tranh nhằm thực hiện mục tiêu trước mắt Đảng lại biết lợi dụng một cách khôn khèo và đúng lúc khả năng đấu tranh công khai hợp pháp và nửa hợp pháp để dẩy mạ:nh phong trào cách mạng của quần chúng, kết hợp chặt chẽ cách mạng Đông Dương với cách mạng thế giới, cách mạng Đông Dương với cách mạng Pháp, tranh thủ những điều kiện thuận lợi của tình hình thế giới dể thúc đẩy cách mạng Đông Dương phát triển, góp phần vào sự nghiệp cách mạng thế giới Những quyết định của Hội nghị này phản ánh Đảng ta đã vận dụng đúng đắn, sáng tạo đường lối của
V ă n kiện Đ ảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.l3 9
V ă n kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.l5 2
31
Trang 31Quốc tê Cộng sản vào điều kiện cụ thể của các dân tộc Đông Dương trong bối cảnh lúc bấy giờ.
Hạn chế của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 7-1936 là chưai nêu được những khẩu hiệu thích hợp về dân tộc trong lúc còn tạm gác khẩu hiệu chiến lược đánh đổ đế quốc Pháp giành độc lập dân tộc cho các dân tộc Đông Dương Mặt trận thông nhất nhân dân phản đế Đông Dương mà Hội nghị thành lập chưa thích ứng với hoàn cảnh cụ thể của Đông Dương thời kỳ này Bởi vì, yêu cầu lịch
sử đặt ra lúc này là cần có một hình thức Mặt trận rộng rãi hơn để tập hợp iquần chúng đấu tranh đòi quyền dân chủ, chông chiến tranh, chông phát xít, bảo v ệ hoà bình Các Hội nghị Trung ương Đảng sau dó tiếp tục bổ sung và phát triển thêìxn.
Trang 32Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương mở rộng diễn ra trong hai ngày 13 và 14-3-1937, trong bôl cảnh cuộc đấu tranh chông chiến tranh, chông phát xít, chông bọn phản động thuộc địa, đòi tự do, cơm áo, hoà bình phát triển mạnh mẽ Phong: trào phát triển sâu rộng, cuốn hút đông đảo quần chúng tham gia, các cuộc bãi công, bãi thị, bãi khoá diễn ra khắp nơi, từ thành thị đến nông thôn, từ công nhân, nông dân đến trí thức, học sinh, Chỉ tính 6 tháng cuôl năm 1936 có 361 cuộc dâu tranh của các tầng lớp nhân dân, trong đó có 236 cuộc đấu tranh của công nhân, đã thu được những kết quả quan trọng bước đầu Tuy vậy, trong công tác tổ chức còn xuất hiện những sai lệch, nhất là quan niệm hẹp hòi trong tập hợp quần chúng Vì vậy, Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương mở rộng (3- 1937) được triệu t:ập để xác định những chủ trương mới, phát huy những thành quả, khắc phục khuyết điểm, thúc đẩy phong trào đấu tranh phát triển.
Hội nghị khẳng định: “Đường lôl chính trị của Đảng do Hội nghị Trung ương tháng 7- 1936 vạch ra là đúng đắn, nhưng đường lôl tổ chức chưa chuyển kịp cho phù htợp vái đường lối chính trị, vì vậy phải “sửa đổi lại các kế hoạch tổ chức”^’\ Do
đó, "hoàn cảnh mới, nhiệm vụ mới bắt buộc Đảng ta phải có con đường chánh trị mới, con dưrờng chánh trị mới lại bắt buộc phải có một đường tổ chức
Hội nghị chỉ rõ: “Những bài học về công tác tổ chức trong phong trào dân chúng’” ở Bắc Kỳ, Trung Kỳ và Nam Kỳ cho thấy: thực tiễn của phong trào quần chúng chứng minh rằng sự cần thiết phải liên hiệp các giai cấp, tầng lớp, thành lập m ặt trận thông nhất rộng rãi, nếu Đảng chưa làm được việc đó là do "năng lực
tổ chứ'c của Đảng ta còn kém"^^\ Vì vậy, Hội nghị chủ trương phải lợi dụng hoàn cảnh c;ông khai và bán công khai mà tổ chức quần chúng, không quá câu nệ về tên gọi, dù là tổ chức công hội, nông hội hay là các hội ái hữu, tương tế, học đêm, thể thao, 'V.V miễn là để bênh vực quyền lợi cho các tầng lớp dân chúng Chúng ta phải dùng những cách tổ chức đơn sơ như vậy mới phù hỢp với trình độ dân chúng,, từ đó mới bảo đảm thu hút nhiều tầng lớp dân chúng Đưa ra một hình thức tiên gọi tổ chức quần chúng đơn sơ, phù hợp raà thu hút được nhiều quần chúng,, còn hơn đưa ra những hình thức tổ chức quần chúng "lấy tên là cách mệnh
mà không có quần chúng"^'‘\ Đối với các tổ chức quần chúng cần định ra những tiêu chuẩn thích hợp để có thể thu hút được đông đảo quần chúng, còn đôl với tổ
HỘI NGHỊ BAN CHẤP h à n h
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG MỞ RỘNG*
(Tháng 3-1937)
» Nguồm: Báo điện tử Đ ảng Cộng sản Việt N am
Văn ikiện Đảng Toàn tập, Sđd, tậ p 6, tr.224
Văn ikiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.222
Văn ìkiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.227
Văn ikiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.228
33
Trang 33chức Đảng lại phải hết sức chặt chẽ trong việc phát triển Đảng: "Về nguyên tắc tổ chức Đảng, chúng ta chú trọng về chất lượng hơn là sô" lượng, còn về tổ chức quần chúng thì chúng ta lại hết sức chú trọng về sô" lượng ( )• Nói chung là phải bỏ các
xu hướng đầu cơ, di tích tả khuynh hẹp hòi, phải dùng hết các hình thức mà kéo đại đa sô' dân chúng vào hàng ngũ tổ chức"^^’.
Về vấn đề tổ chức Đảng, Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu kết nạp đản;g viên mới, không hạn chế về tuổi tác Chú trọng kết nạp công nhân ưu tú vào Đầng và
đề bạt cán bộ xuâ't thân từ công nhân vào các câp lãnh đạo, nhưng không quiên kết nạp và đề bạt những người ưu tú xuất thân từ nông dân, tiểu tư sản và cá c tầng lớp khác Đảng phải xử lý đúng đắn mối quan hệ với các tổ chức quần chúng: Đảng chỉ đạo về chính trị nhưng không nên áp đặt cho các tổ chức quần chúng, m.à phải gián tiếp chỉ đạo bằng đảng đoàn, bằng việc đưa ra những khẩu hiệu phù hợp (để giải thích và khuyến khích mọi người thực hiện chủ trương của Đảng.
Để hình thành mặt trận dân chủ rộng rãi, Hội nghị quyết định: Tựỳ theo điều kiện từng nơi, có thể lập mặt trận từ trên xuống dưới, nghĩa là lập mặit trận với các đảng phái, các tổ chức ở Trung ương, rồi mới lập ra các tổ chức ở địa phương; hoặc ngược lại, có thể lập mặt trận ở địa phương trước rồi sẽ thônịg nhất lên trên sau Mặt trận lúc này phải rộng rãi, không những bao gồm đại đa số nhân dân trong nước mà còn phải thu hút cả những người Pháp dân chủ, tiỉến bộ, nhằm đoàn kết và thông nhất hành động xung quanh một chương trình tôl thiểu Cần vận động các đảng phái đã hoạt động công khai hợp pháp, dù là cải lương (như Đảng Lập hiến), và các đoàn thể công khai của nhân dân (như Hội Á i hữu) đứng ra thành lập các uỷ ban liên hiệp hành động, các ban thông tin, điể từng bước thông nhất lực lượng dân chủ Nhiệm vụ cấp thiết của các đảng bộ là phải lo xây dựng cơ sở của mặt trận, nghĩa là lập ra các hội quần chúng có tính chấít công khai và nửa công khai để lấy danh nghĩa các đoàn thể ấy mà cử đại biểu th;am gia các cơ quan của mặt trận, đồng thời làm nòng cô't cho mặt trận Hội nghị đã đề ra phương thức tổ chức và đấu tranh của các đoàn thể như thanh niên, công nhân, nông dân, phụ nữ, tổ chức binh lính, hội cứu tế bình dân.
Hội nghị chủ trương: Bên cạnh phong trào "thỉnh nguyện”(*) và phomg trào đấu tranh đòi các quyền về dân sinh, dân chủ, cần mở một phong trào sáich báo công khai mạnh mẽ; đồng thời cần và có thể tham gia các cuộc tuyển cử v'ào các viện dân biểu, hội đồng quản hạt, hội đồng thành phô", v.v
Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương mở rộng tháng 3-1937 đã bổ Ikhuyết những hạn chế của Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương tháng 7-1936, mhấ^t là khắc phục các biểu hiện hẹp hòi trong tập hợp quần chúng, đáp ứng được những
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.232
Phong trào đưa đơn, thư đòi chính quyền thực dân Pháp ở Đông Dương mở rộng quyền ttự do
dân chủ.
Trang 34đòi hỏi của thực tiễn cách mạng, có ý nghĩa thúc đẩy phong trào cách mạng và củng cố tổ chức Đảng trong tình hình mới.
35
Trang 35Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương mở rộng diễn ra từ ngày 25-8-1937 đến ngày 4-9-1937 tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định Trên cơ sở đánh giá tình hình thế giới và trong nước, phân tích những thành tích và kiểm điểm những sai lầm, khuyết điểm trong công tác xây dựng Đảng, tổ chức quần chúng, xây diựng mặt trận , Hội nghị đã đề ra những chủ trương cụ thể nhằm thúc đẩy phong trào cách mạng của quần chúng phát triển.
Về công tác xây dựng Đảng, Hội nghị yêu cầu củng cố các đảng bộ đă có, khôi phục cơ sở Đảng ở Ai Lao, Cao Miên, đẩy mạnh phát triển Đảng ở các vùng kinh tế quan trọng "Tổ chức các mối liên lạc giữa các cấp đảng bộ cho mật thiiết, Đảng phải dùng cách chỉ đạo các hội quần chúng về mặt chính trị một cách xác đáng và lanh lẹ, tuy nhiên phải tránh sự bao biện, tránh sự làm mất tư cách độc lập của các đoàn thể quần chúng về mặt tổ chức; các đảng đoàn hoặc công klhai, hoặc bí mật không dược thủ tiêu (tức không được bỏ hình thức hoạt động bí m ật - tác giả chú), nhưng phải đổi lối làm việc một cách khôn khéo, mềm mỏng, lĩnục đích cô"t đem quan niệm của mình mà giải thích cho dân chúng và thuyết phục: họ theo mình chớ không phải lấy lối mệnh lệnh mà chỉ đạo các đoàn thể quần chùng; các cấp đảng bộ phải chú ý lấy những phần tử công nhân, nông dân, phụ nữ, người dân tộc thiểu sô" và người lao động ngoại quốc vào cơ quan chỉ đạo của Đảng; các đảng bộ phải đem những phần tử chân thành, triệt để xuất thân ở các giai cấp trung gian và các lớp dân chúng khác vào Đảng; ở các thành thị và trước nhất là ở Sài Gòn, Hà Nội, Huế, Ban Trung ương và các xứ uỷ phải lập ra những uỷ ban hay chi bộ công khai hoặc bán công khai của Đảng"^'\ Hội nghị cũng đặt ra yêu cầu phải chú ý mở các lớp huấn luyện, đào tạo các cán bộ am hiểu đường lôl chínhi trị
và chính sách, biết đối phó với các biến cố xảy ra do thời cuộc thay đổi, nhằm bảo đảm đủ năng lực lãnh đạo quần chúng trong cuộc đấu tranh đòi tự do hoà bìnhi và cơm áo.
Căn cứ vào tình hình mới được tạo ra trong quá trình thực hiện Nghị quiyết Hội nghị Trung ương tháng 7-1936, Hội nghị tập trung thảo luận những chủ trương, biện pháp, nhằm xúc tiến thành lập Mặt trận dân chủ.
Về nhiệm vụ tổ chức quần chúng, Hội nghị nêu rõ: "tuỳ hoàn cảnh, tuỳ trình
độ của quần chúng mà tổ chức các hội ái hữu, tương tế, hợp tác xã, dân chủ, văn hoá, thể thao, âm nhạc, công khai và bán công khai"*^\ Hội nghị đề ra cách vận
HỘI NGHỊ BAN CHẤP h à n h
TRUNG ƯƠNG ĐẢNG MỞ RỘNG*
(Tháng 8-1937)
» Nguồn: Báo điện tử Đ ảng Cộng sản Việt N am
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tậ p 6, tr.288-289
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tậ p 6, tr.290
Trang 36động công nhân, nông dân, thanh niên, phụ nữ thực hiện cứu tế bình dân Chú
t r ọ n g c á c h t u y ê n t r u y ề n , tổ chức q u ầ n c h ú n g đ ấ u t r a n h c h ố n g p h á t x í t v à c h iế n
tranh đế quôc, chông bọn phản động thuộc địa Pháp và bọn tờrôtkít phá hoại
Hội nghị cũng nhấn mạnh nhiệm vụ đâu tranh chống tư tưởng hữu khuynh, thoiả hiệp với bọn tờrôtkít: "Trong cuộc vận động dân chúng, chủ nghĩa Tờrốtxky
là nguy hiểm nhất, không triệt để chống chủ nghĩa Tờrốtxky thì khó thi hành được chiến thuật lập Mặt trận nhân dân thống nhất Đông Dương và ủng hộ mặt trậ.n bình dân thế giới chông phát xít và đế quốc chiến tranh"^^\
Ngày 10-9-1937, Trung ương Đảng đã gửi Nghị quyết Hội nghị để báo cáo với Quôc tế Cộng sản Báo cáo này cho biết vào thời điểm bấy giờ: ở Nam Kỳ tổ chữc Đảng được thiết lập ở 15 tỉnh trong tổng số 20 tỉnh, với 590 đảng viên; ở
Trung Kỳ tổ chức Đảng có ở 8 tỉnh, với 218 đảng viên, riêng Nghệ An có 167 đảng viên, Phú Yên có 20, Quảng Trị có 10, các tỉnh khác chỉ có 1 hoặc 2 chi bộ; ở Bắc
Kỳ tổ chức Đảng được thiết lập tại 7 tỉnh trong tổng số 24 tỉnh, có 117 đảng viên;
ở V^ân Nam có 3 chi bộ và 15 đảng viên Tổng cộng là 925 đảng viên‘‘*\ Bắc Kỳ và Nam Kỳ có Xứ uỷ, còn Trung Kỳ chưa có diều kiện tổ chức Xứ uỷ Vì vậy, Ban Trung ương đã quyết định đặt các tổ chức của Thanh, Nghệ, Tĩnh dưới sự lãnh đạo củai Xứ uỷ Bắc Kỳ; và thành lập một Uỷ ban liên tỉnh để lãnh đạo hoạt động của các tỉnh khác, ú y ban này đặt dưới sự lãnh đạo của Ban Trung ương Trung ương Đảmg cũng tìm cách liên lạc với các tổ chức ỏ' Ai Lào và Cao Miên.
Về công cụ tuyên truyền, có 16 tờ báo bâ't hợp pháp của Đảng (tức những tờ báo nằm ngoài vòng kiểm soát của chính quyền thực dân - tác giả chú) và của các
tổ 'chức quần chúng (2 tờ ở Bắc Kỳ, 1 tờ ở Trung Kỳ, 13 tờ ở Nam Kỳ), v ề tuyên trựyền hợp pháp, Đảng có 3 tờ báo hàng tuần bằng tiếng quốc ngữ và hai tờ ra hàing ngày bằng tiếng Pháp.
Các tổ chức quần chúng gồm; Tổ chức công đoàn có 5.070 công nhân là đoàn viê.n các công đoàn hoặc các hội tương trợ (Nam Kỳ có 3.200, Bắc Kỳ có 1.070, Trung Kỳ có 800); Tổ chức của nông dân có 9.000 nông dân tham gia (Nam Kỳ có
4.31OO, Bắc Kỳ có 3.100, Trung Kỳ có 1.600); Tổ chức phụ nữ Nam Kỳ có 945, Ng.hệ An có 75; Tổ chức thanh niên Nam Kỳ có 250, Nghệ An có 25 người
\^ăn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.293
Eiáo cáo cho biết: đây là những đảng viên hoạt động bí mật, bất hợp pháp, chưa tính những đảnig viên hoạt động hỢp pháp (Xem: Văn kiện Đảng Toàn tập, Nxb CTQG, H, 2000, tập 6 (19136-1939), tr.300-301)
\^ăn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.301-302
37
Trang 37Hội nghị họp tại Bà Điểm, Hóc Môn, Gia Định trong hai ngày 29 và 30-3-
1938 Hội nghị được triệu tập trong hoàn cảnh phong trào đâu tranh đòi dân sinh, dân chủ đã đạt được nhiều kết quả quan trọng, nhưng trong tổ chức đấu tranh icòn xuất hiện những khuynh hướng lệch lạc Trong đó nổi bật là tính cô độc, hẹp hòi khi tập hợp lực lượng; nhiều nơi đảng viên xem nhẹ hình thức hoạt động bí mật, bất hợp pháp; việc hợp tác với tờrôtkít có xu hướng thoả hiệp Các biểu hiện đó vừa có tính châ't "tả" khuynh, vừa hữu khuynh Vì vậy, Hội nghị uốn nắn những sai sót, đề ra những chủ trương thích hợp để thúc đẩy phong trào đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ phát triển.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá tình hình và hoạt động của Đảng, Hội nghị
đã dề ra nhiệm vụ về lập Mặt trận dân chủ, về công tác quần chúng, về nội bộ Đảng Hội nghị khẳng định chủ trương thành lập Mặt trận dân chủ "là một nhiiệm
vụ trung tâm của Đảng trong giai đoạn hiện nhằm đưa hết các tổ chức qiuần chúng do Đảng lãnh đạo vào Mặt trận, liên hiệp hành động với các tổ chức qiưần chúng, các nhóm dân chủ và tiến bộ Đến đây, Đảng đã hoàn chỉnh chủ trươngí về Mặt trận trên cả nội dung và hình thức Mặt trận dân chủ bao gồm mọi lực lưíỢng dân chủ và tiến bộ, không phân biệt cách mạng, quốc gia hay cải lương; khiông phân biệt người Pháp hay người Việt, cùng liên hiệp đấu tranh chông chủ ngrhĩa phát xít và chiến tranh, chồng phản động thuộc địa và tay sai, đòi tự do dân chủ, cải thiện đời sống và hoà bình Mặt trận dân chủ là một bộ phận của Mặt trận nhân dân thế giới chống chủ nghĩa phát xít, nhưng lại là một hình thức của Mặt trận dân tộc thông nhất chông chủ nghĩa đế quốc ở Đông Dương trong tình h ình mới.
Thời kỳ này, chủ nghĩa phát xít quô"c tế đang ráo riết chuẩn bị gây ra chừến tranh thế giới Do đó, Hội nghị chỉ rõ cuộc vận động đòi các quyền dân sinh, (dân chủ ở Đông Dương phải gắn liền với cuộc đấu tranh chông chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh thế giới Hội nghị đã ra Nghị quyết về phòng thủ Đông Dưiơng
nhằm phát động quần chúng nâng cao cảnh giác chông âm mưu xâm lược của pihát xít Nhật; chông âm mưu đầu hàng, thoả hiệp đôi với Nhật của dế quốc Pháp; đòi Pháp phải mở rộng việc thực hiện những cải cách dân sinh, dân chủ, phải vũ trang cho dân chúng để thiết thực thực hiện việc phòng thủ Đông Dương.
Để Mặt trận dân chủ phát huy trên thực tế, Hội nghị chủ trương chiông khuynh hướng cô độc, hẹp hòi, đưa ra những khẩu hiệu cách mạng quá cao, khiông
HỘI NGHỊ BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG*
(T háng 3-1938)
* Nguồn: Báo điện tử Đ ảng Cộng sản Việt N am
Trang 38thích hợp, làm cho giai cấp tư sản và các đảng phái cải cách xa lánh Mặt trận Đi đôi với chông xu hướng cô độc, Hội nghị cũng chủ trương chông khuynh hướng hữu khuynh, chỉ chú trọng giao thiệp với tầng lớp trên, với những người cầm đầu các đảng phái, mà coi nhẹ phong trào quần chúng, nhất là phong trào công nông.
Hội nghị nhấn mạnh yêu cầu tăng cường tính thông nhất và tập trung của Đảng, nhất là giải quyết môi quan hệ giữa bộ phận công khai và bộ phận bí mật, khắc phục những lệch lạc của một số đồng chí hoạt động công khai có khuynh hướng tách rời sự lãnh đạo của cấp uỷ bí mật Hội nghị khẳng định: "Bí mật với công khai là làm cho công tác của Đảng được thông nhất và chóng phát triển, vô
l u ậ n 'C Ô n g khai hay b í m ậ t dều p h ả i p h ụ c tùng cơ q u a n chĩ h u y của Đảng, b ộ p h ậ n
công khai không phải là một cơ quan bình hàng (có nghĩa là ngang hàng - tác giả chú) với Trung ương hay các cấp bộ tương đương, nó chỉ là một bộ phận trong công tác của Đảng; vậy những chỗ nào những đảng bộ bí mật không chỉ đạo nổi công tác công khai thì các đồng chí bí mật và công khai phải thương lượng với nhau mà làm "V^iệc Công tác công khai cần phải chỉnh đô"n lại, lựa những phần tử chắc chắn trung thành mà tổ chức các chi bộ công khai, tập hợp các người cảm tình chung quanh các chi bộ ấy, đối với các tờ báo công khai Đảng cần có chỉ thị thường xuyên và phải chỉ trích cho mau lẹ về các phương diện”*^"'.
Hội nghị đã phê phán khuynh hướng thoả hiệp và hỢp tác với tờrốtkít trong việc xuất bản tờ báo Lalutte. Nghị quyết Hội nghị nhấn mạnh: đôl với bọn tờrô^tlkít, "vô luận chỗ nào, nó thò đầu ra là đập ngay, không nên cho rằng chúng chưa có mầm mông”^^^
Để kiện toàn cơ quan lãnh đạo của Đảng, Hội nghị Trung ương tháng 3-1938 bầu đồng chí Nguyễn Văn Cừ vào Ban Thường vụ Trung ương và được cử giữ chức Tổng Bí thư của Đảng.
Thực tiễn cách mạng lúc bấy giờ đã chứng tỏ chủ trương của Hội nghị tháng 3-1938 là đúng đắn, phù hỢp với tình hình và nguyện vọng của quần chúng.
Văm kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.359
Văm kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.365
39
Trang 39Ngày 1-9-1939, phát xít Đức tiến công Ba Lan, mở màn cuộc Chiến tranh thế giới lần thứ hai ớ Đông Dương, thực dân Pháp ra sức vơ vét của cải, tiền bạc, sức người để phục vụ cho chiến tranh Chứng thẳng tay đàn áp, khủng bô' phong trào cách mạng, thủ tiêu những quyền dân chủ tối thiểu mà nhân dân ta đã giành được trong những năm 1936-1938 Mâu thuẫn giữa các dân tộc Đông Dươing với thực dân Pháp trở nên gay gắt Do đó, trong các ngày 6, 7, 8-11-1939, Trung ương Đảng họp ở Bà Điểm, Hóc Môn (Gia Định) để bàn các chủ trương của Đảng trong tình hình mới, dưới sự chủ trì của đồng chí Nguyễn Văn Cừ Tham dự Hội n.ghị có các đồng chí Lê Duẩn, Phan Đăng Lưu, Võ Văn Tần
Hội nghị phân tích sâu sắc tính chất, hậu quả của cuộc chiến tranh th(ế giới; vai trò, vị trí của Đông Dương trong cuộc chiến tranh đó; bản chất sâu xa trong các chính sách phản động của thực dân Pháp; thái độ chính trị của các gi;ai cấp trong xã hội Việt Nam trước biến động của thời cuộc và vạch ra đường lối chính trị, phương hướng, nhiệm vụ cách mạng Việt Nam trong tình hình mới.
Hội nghị nhận định, Chiến tranh thế giới thứ Hai là kết quả tất yếu ciủa các mâu thuẫn phát triển đến độ sâu sắc giữa các tập đoàn đế quốc, là cuộc xâu Vié lẫn nhau giữa chúng mà chủ yếu một bên là khối trục phát xít Đức - Ý- Nhật V 'à bên kia là khối đế quô"c Anh - Pháp- Mĩ Hội nghị vach rõ giữa các tập đoàn đế quôc- phát xít tuy mâu thuẫn với nhau về quyền lợi, nhưng lại thông nhất trong âm mưu chống Liên Xô, chông các lực lượng cách mạng, lực lượng giải phóng trên thiế giới Cuộc chiến tranh do chúng gây ra sẽ gieo rắc đau thương, tang tóc không sao kể xiết cho nhân loại Nhưng tiền đồ của cách mạng là tươi sáng: “Một thế giới quang minh rực rỡ sẽ thay cho cái thế giới tôl tăm mục nát này”''\
Hội nghị nhận định, phát xít Nhật sẽ chiếm Đông Dương Bộ máy caii trị ở
Đông Dương đang từng bước phát xít hoá, một thứ phát xít thuộc địa tàn b»ạo và những kẻ đứng đầu bộ máy đó đang mưu toan thoả hiệp, đầu hàng phát xít Nhật Các chính sách phản dộng của đê quốc Pháp dẩy nhân dân đến chỗ cùng cụíc, lay động hầu hết các giai cấp, tầng lớp xã hội, làm cho mâu thuẫn xă hội vôn sÉâu sắc giữa Pháp với các tầng lớp nhân dân càng thêm sâu sắc, đòi hỏi được giải (quyết
“Khủng bô', lừa gạt chưa đủ, đế quôc Pháp còn dùng chính sách chia rẽ Chiia rẽ dân Việt Nam với dân Việt Nam, chia rẽ dân Việt Nam với các dân tộc thiiểu sô" ( ) Dù sao trước cái nguy cơ kinh tế và chính trị của chế độ tư bản ngày càng nặng
HỘI NGHỊ BAN CHẤP h à n h
TRUNG ƯỠNG LẦN THỨ SÁU*
(Tháng 11-1939)
* Nguồn: Báo điện tử Đ ảng Cộng sản Việt N am
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tậ p 6, tr.516
Trang 40nề, trước phong trào cách rnệnh thế giới ngày càng sôi nổi, bao nhiêu mưu mô phản
đ ộ n g c ủ a đ ế q u ố c c ũ n g k h ô n g t h ể l à m n g ừ n g d ư ợ c b á n h x e t i ế n h ó a c ủ a l ị c h
Những nhận định và phân tích tình hình đó là cơ sở cho việc định ra phương hướng hành động của toàn Đảng, toàn dân đi tới giải phóng dân tộc, giành chính quyền về tay nhân dân.
Hội nghị khẳng định hai nhiệm vụ cơ bản của cuộc cách mạng tư sản dân quyền là đánh đổ đế quốc và giai cấp địa chủ phong kiến không thay đổi, nhưng phải được áp dụng cho phù hợp với tình hình mới Trong điều kiện chiến tranh
th ế giới dã nổ ra và bọn thông trị ở Đông Dương thi hành các chính sách vô cùng tàn bạo, chà đạp lên mọi quyền sống của nhân dân, Hội nghị xác dinh kẻ thù cụ thể, nguy hiểm nhất của cách mạng Đông Dương lúc này là chủ nghĩa đế quôc và bọn tay sai phản bội dân tộc, tính chất cuộc cách mạng hiện tại là cách mạng giải phóng dân tộc Nhiệm vụ trung tâm trước mắt của cách mạng Việt Nam nói riêng vải cách mạng Đông Dương nói chung là đánh đổ đế quôc và tay sai, giành hoàn toiàn độc lập cho dân tộc: "Bước đường sinh tồn của các dân tộc Đông Dương không cc)n có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chông tất cả ách ngoại xâm, vô luận da trắng hay da vàng để giành lấy giải phóng dộc lập"'^\
Để tập trung đông đảo lực lượng dân tộc, Hội nghị quyết định thay đổi một scí khẩu hiệu, chuyển hướng hình thức tổ chức và hình thức đấu tranh:
- Tạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của giai cấp địa chủ; chỉ chủ trương
tụch thu ruộng đất của đế quốc và tay sai.
- Không nêu khẩu hiệu lập Chính phủ Xô viết công nông mà đề ra khẩu hiệu thành lập Chính phủ Liên hang Cộng hoà dân chủ Đông Dương.
- Quyết định thành lập Mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương
thay cho Mặt trận dân chủ Đông Dương, nhằm liên hiệp các lực lượng dân chủ và
ti ến bộ, kể cả các tổ chức cải lương, đấu tranh đòi dân sinh, dân chủ Đây là “hình thức liên hiệp tất cả các dân tộc Đông Dương dưới nền thông trị đế quốc Pháp, tất
cầ các giai cấp, các đảng phái, các phần tử phản đế muôn giải phóng cho dân tộc,
để tranh đấu chông đế quốc chiến tranh, chống xâm lược phát xít, đánh đổ đế quôc P'háp, vua chúa bổn xứ và tất cả bọn tay sai của đế quôc đòi hòa bình, cơm áo, thực hiện nền độc lập hoàn toàn cho các dân tộc Đông Dương với quyền dân tộc tự
quyết”^''’
Vân kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.517-518
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.536
Văn kiện Đảng Toàn tập, Sđd, tập 6, tr.537
41