4.3 Kết quả điều tra nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng 4.4 Diện tích các loại hình canh tác chính tại 6 thôn, 3 xã nghiên 4.5 Biểu phỏng vấn cán bộ huyện Vị Xuyên cho câu hỏi: Cô
Trang 2LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS TRẦN QUANG BẢO
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, ngoài sự nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được rất nhiều sự hướng dẫn, giúp đỡ nhiệt tình của các thầy giáo, cô giáo, các tổ chức, cá nhân
Tôi rất hạnh phúc khi được làm việc và biết ơn rất nhiều đối với PGS.TS Trần Quang Bảo, người thầy đã bồi dưỡng, khuyến khích, và truyền đạt những kiến thức và kinh nghiệm quý báu cho tác giả trong suốt thời gian học tập cũng như thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn lãnh đạo và các thầy giáo, cô giáo Khoa Đào tạo Sau đại học, Bộ môn Lâm sinh, Trường Đại học Lâm nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ nhiệt tình và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan trọng, giúp tôi nâng cao chất lượng luận văn
Qua bản luận văn này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn đến toàn thể cán
bộ Chi cục Lâm nghiệp Hà Giang, Chi cục Kiểm lâm Hà Giang, Hạt kiểm lâm
Vị Xuyên và nhân dân 3 xã Trung Thành, Lao Chải, Thuận Hòa - nơi triển khai đề tài, đã tạo điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi trong suốt thời gian thu thập, điều tra số liệu hiện trường
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn và mong nhận được những ý kiến, chỉ dẫn của các nhà khoa học và đồng nghiệp
Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan Các hình ảnh minh họa trong luận văn là của tác giả
Xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm 2015
Tác giả
Phạm Tuấn Dũng
Trang 4MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
LỜI CẢM ƠN i
MỤC LỤC ii
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG v
DANH MỤC CÁC HÌNH vi
ĐẶT VẤN ĐỀ 1
Chương 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
1.1 Ở ngoài nước 3
1.2 Ở trong nước 6
Chương 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 12
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 12
2.1.1 Mục tiêu tổng quát 12
2.1.2 Mục tiêu cụ thể 12
2.2 Đối tượng nghiên cứu 12
2.3 Phạm vi nghiên cứu 12
2.4 Nội dung nghiên cứu 12
2.5 Phương pháp nghiên cứu 13
2.5.1 Chọn điểm nghiên cứu 13
2.5.2 Phương pháp chuyên gia 13
2.5.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu 14
Chương 3: ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ, XÃ HỘI: KHU VỰC NGHIÊN CỨU 17
3.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương 17
Trang 53.1.1 Điều kiện tự nhiên 17
3.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội 21
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 28
4.1 Thực trạng và nguyên nhân cháy rừng ở huyện Vị Xuyên 28
4.1.1 Thực trạng cháy rừng ở huyện Vị Xuyên 28
4.1.2 Nguyên nhân gây cháy rừng ở Vị Xuyên 30
4.1.3 Thực trạng công tác PCCCR ở huyện Vị Xuyên 38
4.2 Thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư 40
4.2.1 Mô hình PCCCR cấp xã 41
4.2.2 Mô hình PCCCR cấp thôn 47
4.3 Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản 55
4.3.1 Đề xuất mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản 55
4.3.2 Các biện pháp để nâng cao hiệu quả mô hình 61
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KHUYẾN NGHỊ 75
1 Kết luận 75
2 Tồn tại 76
3 Khuyến nghị: 77
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 64 KNKL Khuyến nông khuyến lâm
5 FAO Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp Liên Hợp Quốc
( Food and Agriculture Organization)
6 PCCCR Phòng cháy chữa cháy rừng
Trang 74.3 Kết quả điều tra nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng
4.4 Diện tích các loại hình canh tác chính tại 6 thôn, 3 xã nghiên
4.5 Biểu phỏng vấn cán bộ huyện Vị Xuyên cho câu hỏi: Công tác PCCCR ở địa phương được triển khai như thế nào? Cơ
chế phối hợp với các đơn vị khác?
39 4.6 Tổng hợp các mô hình PCCCR cấp thôn đang được áp dụng 53
Trang 9ĐẶT VẤN ĐỀ
Rừng là tài nguyên vô cùng quý giá của quốc gia, là lá phổi xanh khổng
lồ của nhân loại Rừng có vị trí vai trò to lớn đối với đời sống của con người, rừng đem lại cho con người những sản phẩm như lâm sản, phi lâm sản Rừng
là một thành phần quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, có ý nghĩa đặc biệt trong việc bảo vệ môi trường sinh thái, bảo vệ sự sống của con người Con người và rừng đã gắn bó với nhau từ thuở sơ khai, rừng đem lại cho con người rất nhiều lợi ích, nhưng ngược lại con người lại quá lạm dụng các lợi ích đó và đã làm cho rừng ngày càng nghèo kiệt Diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp mà một nguyên nhân chính là thảm hoạ cháy rừng
Cháy rừng là một thảm họa thường xảy ra ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam Theo thống kê của Cục kiểm lâm thì cháy rừng đã thiêu huỷ hàng ngàn ha rừng làm thiệt hại tiền của, môi trường và cả tính mạng con người
Theo số liệu của Cục kiểm lâm, Hà Giang cũng là một trong những địa phương có tình hình cháy rừng hết sức phức tạp Là một tỉnh miền núi thuộc khu vực phía Đông Bắc của nước ta Hiện nay, kinh tế của tỉnh đã có những bước phát triển rõ rệt nhưng chiếm tỷ trọng lớn vẫn là các nguồn thu từ hoạt động phát triển sản xuất nông lâm nghiệp Hà Giang có tổng diện tích tự nhiên là 791.488,9ha, trong đó diện tích đất có rừng là 437.277,7ha; đất không có rừng là 354.261,2 ha Độ che phủ đạt 54,3% (Theo Báo cáo số 19/BC-KL ngày 26/02/2014 của Chi cục Kiểm lâm Hà Giang về số liệu hiện trạng rừng và đất lâm nghiệp năm 2013) Với tài nguyên rừng trên địa bàn tỉnh là hết sức đa dạng, phong phú như vậy nhưng trong những năm gần đầy nguồn tài nguyên này liên tục suy giảm do nhiều nguyên nhân khác nhau; một trong những nguyên nhân quan trọng đó là tình hình cháy rừng trên địa bàn tỉnh vẫn rất khó kiểm soát Theo số liệu của phòng quản lý bảo vệ rừng thuộc
Trang 10Chi cục Kiểm lâm Hà Giang (số liệu được tính từ năm 2010 trở lại đây): năm
2010 thống kê được 144 vụ thiệt hại 1174.58 ha; năm 2011 xảy ra 5 vụ thiệt hại 9.47 ha; năm 2012 xảy ra 50 vụ thiệt hại 298.03 ha
Cháy rừng gây nên những tổn thất về của cải, tài nguyên, môi trường và
cả tính mạng con người Thiệt hại về kinh tế, nông nghiệp, thiệt hại về rừng, ô nhiễm không khí, ô nhiễm nước, thiên tai, hạn hán,… là không thể phủ nhận
Vì vậy phòng cháy, chữa cháy rừng (PCCCR) là một trong những nội dung rất quan trọng của công tác quản lý bảo vệ tài nguyên rừng và môi trường PCCCR có nhiều phương pháp và để công tác PCCCR đạt hiệu quả tốt, cần phải có sự tham gia của cộng đồng Cháy rừng thường xuất phát chủ yếu do các phương thức canh tác còn lạc hậu, do sự chủ quan, lơ là… của đông đảo người dân (đặc biệt đối với các đồng bào dân tộc) Chính vì thế nghiên cứu công tác PCCCR trong cộng đồng sẽ góp phần nâng cao hiệu quả PCCCR trong quần chúng, ngăn ngừa vấn đề cốt lõi của cháy rừng Hiện nay, mô hình PCCCR trong cộng đồng tại nhiều địa phương vẫn còn rất mơ hồ và lạc hậu
Để góp phần nâng cao hiệu quả của công tác PCCCR trong cộng đồng
dân cư của tỉnh Hà Giang, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực
trạng, đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình quản lý lửa rừng trong cộng đồng thôn bản thuộc huyện Vị Xuyên - tỉnh Hà Giang”
Trang 11Chương 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 1.1 Ở ngoài nước
Theo FAO (2005), trên toàn thế giới có hơn 350 triệu ha diện tích rừng
và đồng cỏ bị đốt cháy mà trong đó có đến 95% nguyên nhân xuất phát từ các hoạt động của con người, đó là các hoạt động như mở rộng sản xuất nông nghiệp, chuyển đổi mục đích sử dụng đất ở các nước đang phát triển; tăng cường sử dụng rừng cho các mục đích giải trí và du lịch ở các nước phát triển
và đang phát triển
Để hạn chế tình trạng mất rừng do cháy rừng và việc dùng lửa thực sự đem lại hiệu quả tích cực thì cần phải nâng cao nhận thức cho cộng đồng về công tác PCCCR, trong đó cộng đồng chính là người trực tiếp tham gia vào công tác quản lý, tổ chức và thực hiện việc PCCCR Mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư hay mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng đã được nhiều nước trên thế giới thực hiện
Thuật ngữ quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng (CBFIM) được đặt ra bởi Sameer Karki tại Trung tâm đào tạo Lâm nghiệp cộng đồng (RECOFTC) tại Bangkok, Thái Lan năm 2000 Kể từ khi thuật ngữ này được công nhận đã có nhiều bài báo, phân tích, nghiên cứu, các chương trình đào tạo về vấn đề này được triển khai tại nước này
Zhang và các cộng sự (2003) định nghĩa quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng như một cách tiếp cận trong đó người dân có sự hiểu biết sâu sắc về phòng cháy chữa cháy và tự nguyện tham gia trong việc quản lý lửa
Mô hình quản lý lửa rừng dựa vào cộng đồng cũng đã được thực hiện ở một số nước trên thế giới trong đó có các nước Châu Phi, Mỹ la tinh, Bắc Mỹ,
Úc, Ấn độ, Philippin…
- Tại Namiba
Trang 12Năm 1996, Cục Lâm nghiệp thuộc Bộ môi trường và Du lịch chọn khu vực Caprivi (đông bắc Namibia) là khu vực thí điểm để phát triển một mô hình kiểm soát cháy rừng dựa vào cộng đồng (Jurvelius, 1999; Kamminga, 2001) Khu vực thí điểm bao gồm 1,2 triệu ha tài nguyên rừng tốt nhất của Namibia và thuộc khu vực cận nhiệt đới Hầu hết các khu vực này là đất của địa phương, nhưng một phần quan trọng là rừng của nhà nước, công viên quốc gia và khu bảo tồn động vật hoang dã Trước khi bắt đầu dự án, 70-80% rừng trong khu vực thí điểm bị cháy mỗi năm và hầu hết các vụ cháy là do con người
Chương trình đã thu hút sự tham gia của rất nhiều người dân địa phương,
họ tham gia ở các hoạt động khác nhau như: tham dự chương trình phim truyền hình, học hỏi làm thế nào để chống cháy Những nỗ lực này đã làm giảm 54 % những diện tích bị cháy hàng năm trong khu vực Cuộc khảo sát cũng kết luận rằng chính phủ nên chuyển giao trách nhiệm và thẩm quyền phòng cháy chữa cháy rừng cho người dân
- Tại Ấn độ
Ở Ấn Độ, ủy ban quản lý rừng đã được thành lập ở cấp thôn bản liên quan đến người dân trong bảo vệ và bảo tồn rừng Hiện nay có 36.165 ủy ban trong cả nước, bao phủ một diện tích hơn 10.240.000 ha (Bahuguna và Singh , 2001; Kumar , 2001) Các ủy ban cũng đã được trao trách nhiệm bảo vệ và phòng chống cháy rừng Với mục đích này, kế hoạch kiểm soát cháy rừng hiện đại đang được sửa đổi và các ủy ban này là một phần không thể thiếu trong chiến lược phòng chống cháy rừng hiện nay ở Ấn độ bởi việc PCCCR bằng máy bay đã thực sự chưa hiệu quả và khá tốn kém
- Tại Philipin
Để thúc đẩy và khuyến khích sự tham gia của cộng đồng trong việc thực hiện các biện pháp phòng cháy chữa cháy rừng, mục tiêu của chương trình là:
Trang 13- Tổ chức và tăng cường thành viên cộng đồng để họ có thể làm việc hướng tới một nỗ lực chung;
- Tăng cường ý chí chính trị của cộng đồng và các đơn vị chính quyền địa phương đối với việc bảo tồn/ bảo vệ tài nguyên rừng;
- Kết hợp các sáng kiến bảo tồn/ bảo vệ rừng vào nỗ lực phát triển ở cấp cộng đồng
Để đạt được những mục tiêu này, các mục tiêu cụ thể được quy định như sau:
- Giới hạn/ ngăn chặn, nếu không hoàn toàn loại trừ, sự xuất hiện của cháy rừng ở các cộng đồng của tỉnh;
- Điều chỉnh việc sử dụng lửa của nông dân thông qua việc cấp giấy phép để theo dõi;
- Theo dõi và ghi lại các lần xuất hiện của lửa tại các khu vực rừng của mỗi cộng đồng một cách thường xuyên;
- Tiếp tục điều tra nguyên nhân vụ cháy và đề xuất chính sách cho các cơ quan có liên quan để xử lý
Một cách thức khác của chiến lược này đó là huy động tất cả các cộng đồng tham gia vào kế hoạch khen thưởng Đó là cộng đồng nào không để xảy
ra cháy rừng, không khai thác gỗ bất hợp pháp hoặc ít bị cháy rừng sẽ được khen thưởng trị giá 200.000 peso (khoảng 4.000 USD (Pogeyed, 1998)
Có thể thấy rằng mặc dù các phương pháp và phương tiện phòng chống cháy rừng đã được phát triển ở mức cao, song những thiệt hại do cháy rừng vẫn rất khủng khiếp ngay cả ở những nước phát triển có hệ thống phòng chống cháy rừng hiện đại như Mỹ, Úc, Nga v.v… Trong nhiều trường hợp việc khống chế các đám cháy vẫn không hiệu quả Người ta cho rằng, ngăn chặn nguồn lửa để không xảy ra cháy vẫn là quan trọng nhất Vì vậy, đã có những nghiên cứu về đặc điểm xã hội của cháy rừng và những giải pháp xã
Trang 14hội cho phòng chống cháy rừng (Cooper, 1991) Hiện nay, các giải pháp xã hội phòng chống cháy rừng chủ yếu được tập trung vào tuyên truyền, giáo dục tác hại của cháy rừng, nghĩa vụ của công dân trong việc phòng chống cháy rừng, những hình phạt đối với người gây cháy rừng Trong thực tế còn
ít những nghiên cứu về ảnh hưởng của thể chế và chính sách quản lý sử dụng tài nguyên, chính sách chia sẻ lợi ích, những quy định của cộng đồng, những phong tục, tập quán, những nhận thức và kiến thức của người dân đến cháy rừng Cũng còn rất ít những mô hình phòng cháy chữa cháy rừng do chính cộng đồng bản địa tổ chức và thực hiện, hoặc có nhưng nó vẫn thuộc các chương trình và có sự tác động của bên ngoài cũng như từ các chính sách của nhà nước mà chưa phải là các mô hình do chính cộng đồng tự khởi xướng và thực hiện vì chính bản thân họ Rất ít những nghiên cứu, đánh giá hay các mô hình cho thấy được cộng đồng địa phương là những người quan trọng nhất, có vai trò lớn nhất trong việc phòng cháy chữa cháy rừng Đây sẽ
là những căn cứ quan trọng để xây dựng giải pháp kinh tế - xã hội cho phòng chống cháy rừng
1.2 Ở trong nước
- Về công tác PCCCR nói chung
Những năm qua Nhà nước ngày càng quan tâm chỉ đạo và đầu tư cho công tác PCCCR, Hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng từng bước được hoàn thiện Cụ thể đã ban hành các văn bản như:
- Chỉ thị số 12/2003/CT-TTg ngày 16/5/2003 vê việc tăng cường các biện pháp cấp bách để bảo vệ và phát triển rừng;
- Chỉ thị số 08/2006/CT-TTg ngày 08/3/2006 của Thủ tướng Chính phủ
về việc tăng cường các biện pháp cấp bách ngăn chặn tình trạng chặt phá, đốt rừng, khai thác rừng trái phép;
Trang 15- Chỉ thị số 3318/CT-BNN-KL, ngày 06/11/2008, của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng, PCCCR và chống người thi hành công vụ;
- Chỉ thị số 3767/CT-BNN-KL ngày 18/11/2009 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc tăng cường các biện pháp cấp bách trong công tác bảo vệ rừng và PCCCR mùa khô 2009 - 2010;
- Chỉ thị số 270/2010/CT-TTg ngày 12/02/2010 của Thủ tướng Chính phủ
về việc triển khai các biện pháp cấp bách phòng cháy, chữa cháy rừng;
- Chỉ thị số 25/CT-BNN-TCLN ngày 06/01/2011 Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về việc triển khai các biện pháp bảo vệ rừng
và PCCCR;
- Chỉ thị số 1685/CT-TTg ngày 27/9/2011 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường chỉ đạo thực hiện các biện pháp bảo vệ rừng, ngăn chặn tình trạng phá rừng và chống người thi hành công vụ;
- Quyết định số 07/2012/QĐ-TTg ngày 08/02/2012 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành một số chính sách tăng cường công tác bảo vệ rừng;
- Công điện số 300/CĐ-TTg ngày 06/3/2012 của Thủ tướng Chính phủ về việc phòng cháy, chữa cháy rừng
- Ban hành nhiều văn bản chỉ đạo, hướng dẫn các Chi cục Kiểm lâm ở địa phương tăng cường công tác quản lý bảo vệ rừng và phòng cháy, chữa cháy rừng hoặc trình cấp có thẩm quyền tổ chức chức các hội nghị, cuộc họp toàn quốc triển khai các Chỉ thị, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ
Có thể thấy rằng hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật về phòng cháy và chữa cháy rừng từng bước được hoàn thiện; chủ trương xã hội hóa công tác bảo vệ và phát triển rừng được thể chế hoá Ban chỉ đạo Trung ương
về các vấn đề cấp bách trong bảo vệ rừng và PCCCR (nay là Ban chỉ đạo Nhà nước về Kế hoạch bảo vệ và phát triển rừng); Ban Chỉ huy PCCCR cấp tỉnh,
Trang 16huyện, xã ở những nơi có nhiều rừng được thành lập và đi vào hoạt động có hiệu quả Vai trò của chủ rừng bước đầu được tăng cường Ý thức của cộng đồng và toàn xã hội về PCCCR có chuyển biến tích cực Kinh nghiệm chỉ đạo, điều hành và kiểm tra, kiểm soát cháy rừng của chính quyền các cấp và lực lượng chữa cháy rừng từng bước được cải thiện Phương châm 4 tại chỗ trong chữa cháy rừng đã được quán triệt và phát huy hiệu quả Những tiến bộ trong công tác PCCCR nói trên đã góp phần giảm thiểu nguy cơ cháy rừng trong thời gian qua Ở hầu hết các địa phương đều đã được thành lập các ban chỉ huy PCCCR các cấp, tổ đội PCCCR cấp thôn bản và từng bước đi vào hoạt động có quy củ, sẵn sàng tham gia PCCCR
- Một số các nghiên cứu về cháy rừng trong nước
Năm 1988, Phạm Ngọc Hưng đã đưa ra phương pháp dự báo nguy cơ cháy rừng theo số ngày khô hạn liên tục Ông xây dựng một bảng tra cấp nguy hiểm của cháy rừng căn cứ vào số ngày khô hạn liên tục cho các mùa khí hậu trong năm
Các dự án thử nghiệm: Phó Đức Đỉnh (1993) đã thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông non 2 tuổi tại Đà Lạt; Phan Thanh Ngọ thử nghiệm đốt trước vật liệu cháy dưới rừng thông 8 tuổi ở Đà lạt (Phan Thanh Ngọ, 1995)
Từ đầu năm 2003 Cục kiểm lâm đã cộng tác với nhóm nghiên cứu thuộc đề tài KC.08.24 của Trường Đại học Lâm nghiệp để xây dựng "Phần mềm cảnh báo lửa rừng"
Năm 2005 Vương Văn Quỳnh và các cộng sự đã thực hiện đề tài KHCN cấp nhà nước “Nghiên cứu đề xuất các giải pháp phòng chống và khắc phục hậu quả cháy rừng cho vùng U Minh và Tây Nguyên”
Trang 17Từ năm 2006 đến 2007, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã phê duyệt thực hiện đề tài "Nghiên cứu hoàn thiện phương pháp và phần mềm cảnh báo nguy cơ cháy rừng ở Việt Nam" (Bế Minh Châu, 2010)
Mặc dù đạt được những kết quả nhất định Tình hình cháy rừng ở nước
ta vẫn diễn biến rất phức tạp Trong giai đoạn 10 năm qua (2002-2011), cả nước đã xảy ra 7.380 vụ cháy rừng; diện tích thiệt hại: 49.837ha Bình quân 715 vụ/năm; với diện tích 4.984ha rừng bị thiệt hại/năm Đặc biệt là vào những năm nắng hạn bất thường và vào thời kỳ cao điểm của hiện
tượng El Nino thì tình hình cháy rừng xảy ra rất nguy hiểm, năm 2002 xảy ra
1.198 vụ cháy rừng, thiệt hại 15.548 ha rừng, trong đó hai vụ cháy rừng U Minh Thượng và U Minh Hạ thiệt hại 5.415 ha, giá trị lâm sản thiệt hại ước tính khoảng 290 tỷ đồng chưa kể hàng chục tỷ đồng chi phí cho chữa cháy và chi phí để phục hồi rừng của Nhà nước, và đầu năm 2010 xảy ra vụ cháy rừng tại Vườn quốc gia Hoàng Liên làm cháy hơn 800 ha rừng, năm 2012 đã xảy ra cháy rừng tại Khu rừng phòng hộ Nam Hải Vân, Thành phố Đà Nẵng làm thiệt hại hơn 100 ha rừng; chi phí huy động lực lượng để chữa cháy rừng là rất lớn, đời sống người dân tại địa phương xảy ra cháy rừng bị đảo lộn, ảnh hưởng của cháy rừng lên hệ sinh thái kéo dài và cần thời gian mới khôi phục được
- Về các mô hình cộng đồng tham gia PCCCR ở Việt Nam
Việc phát động cộng đồng tham gia PCCCR đã được triển khai ở hầu khắp các địa phương, tuy nhiên ở phần lớn các địa phương đều chưa có mô hình PCCCR trong cộng đồng một cách bài bản, đặc biệt là mô hình cộng đồng tự nguyện PCCCR mà trên thực tế cộng đồng địa phương chỉ tham gia khi được huy động chữa cháy rừng khi có đám cháy xảy ra tại địa phương Đây chính là lý do dẫn đến việc phát hiện đám cháy cũng như công tác chữa cháy rừng thời gian qua tại các địa phương thực sự chưa hiệu quả, thường thì chúng ta mới thực hiện việc chữa cháy chứ chưa phòng được cháy tại chính
Trang 18cộng đồng Trên thực tế có thể thấy rằng, công việc chữa cháy rừng phải đòi hỏi nhiều nhân lực do địa hình đồi núi phức tạp, việc tiếp cận đám cháy thường khó khăn và nguy hiểm Do đó nếu chỉ dựa vào lực lượng PCCCR là các tổ đội thì hiệu quả PCCCR sẽ không đạt kết quả như mong đợi
Nghiên cứu về vấn đề này đã có một số tác giả đề cập đến giải pháp xã hội cho phòng chống cháy rừng (Lê Đăng Giảng,1974; Đặng Vũ Cẩn,1992; Phạm Ngọc Hưng, 1994) Các tác giả đã khẳng định rằng việc tuyên truyền về tác hại của cháy rừng, quy hoạch vùng sản xuất nương rẫy, hướng dẫn về phương pháp
dự báo, cảnh báo, xây dựng các công trình phòng chống cháy rừng, tổ chức lực lượng phòng chống cháy rừng, quy định về dùng lửa trong dọn đất canh tác, săn bắn, du lịch, quy định về nghĩa vụ và quyền lợi của công dân v.v sẽ là những giải pháp xã hội quan trọng trong phòng chống cháy rừng Tuy nhiên, phần lớn những kết luận đều dựa vào nhận thức của các tác giả là chính Còn rất ít những nghiên cứu mang tính hệ thống về ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến cháy rừng
Mặc dù hiện nay tại nhiều địa phương đã thành lập các tổ đội PCCCR cấp thôn bản nhưng hiệu quả hoạt động của các tổ đội này thực sự chưa hiệu quả bởi trên thực tế thành phần tham gia tổ đội đều là cán bộ kiêm nhiệm, số lượng các thành viên trong tổ đội cũng hạn chế vì vậy họ gần như không hoặc rất ít thực hiện việc tuần tra phát hiện cháy rừng mà chỉ thực hiện công tác tổ chức chữa cháy rừng khi nhận được thông tin có đám cháy hoặc tổ chức chữa cháy khi được huy động từ cấp trên
- Về mô hình PCCCR trong cộng đồng ở Hà Giang
Mặc dù địa phương rất chủ động trong công tác PCCCR nhưng phương châm 4 tại chỗ đang áp dụng thực sự không có hiệu quả do chính quyền địa phương ở nhiều xã, huyện nơi xảy ra cháy rừng không huy động được lực lượng tại chỗ Xuất phát từ vấn đề này, để nâng cao hiệu quả trong công tác
Trang 19PCCCR ở các cộng đồng địa phương, hàng năm Hà Giang đều triển khai đồng loạt việc thành lập, kiện toàn các ban chỉ huy PCCCR cấp xã, các tổ đội xung kích PCCCR gắn với PCLB và TKCN, các tổ đội quần chúng bảo vệ rừng và PCCCR ở các thôn bản để thuận lợi hơn trong quá trình tổ chức và triển khai công tác PCCCR, nâng cao trách nhiệm và ý thức của người dân trong công tác PCCCR
Cho đến thời điểm hiện tại, các ban chỉ huy, các tổ xung kích và các tổ đội vẫn đang duy trì công tác này, tuy nhiên hiệu quả hoạt động của các mô hình này như thế nào, họ gặp khó khăn gì trong quá trình tổ chức và thực hiện, cần phải có những thay đổi gì, những giải pháp gì để nâng cao hiệu quả trong vấn đề này thì đến nay vẫn chưa có nghiên cứu đánh giá nào được thực hiện Do đó nghiên cứu thực trạng mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư tỉnh Hà Giang, qua đó đề xuất giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả PCCCR là cần thiết và thực sự cấp bách
Tóm lại: Đánh giá hiệu quả đề tài phòng cháy chữa cháy không chỉ xem xét tác động của đề tài về khía cạnh kinh tế mà bao quát cả khía cạnh xã hội
và môi trường Việc xác định phương pháp tiếp cận trong đánh giá một cách phù hợp phải tùy thuộc mục tiêu và các hoạt động của đề tài Tuy nhiên, phần lớn các nghiên cứu trên thường tập trung vào những chủ đề mang tính chung chung cho cả khu vực hoặc cả một tỉnh vì vậy đối với các đề tài có quy mô nhỏ, nhiều hoạt động thực tế ở cơ sở chưađược đánh giá một cách đầy đủ và chi tiết, đặc biệt đối với vùng núi tỉnh Hà Giang
Trang 20Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Đề tài nghiên cứu nhằm góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác PCCCR tỉnh Hà Giang
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Đánh giá được thực trạng mô hình PCCCR trong cộng đồng dân cư
- Đề xuất được các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản
2.2 Đối tượng nghiên cứu
Công tác PCCCR, các mô hình PCCCR trong cộng đồng
2.4 Nội dung nghiên cứu
- Nghiên cứu thực trạng và nguyên nhân dẫn đến cháy rừng ở các cộng đồng thôn bản
- Nghiên cứu thực trạng thực hiện mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản
- Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả mô hình PCCCR trong cộng đồng thôn bản
Trang 212.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Chọn điểm nghiên cứu
Sau khi khảo sát sơ bộ các xã của huyện Vị Xuyên, đồng thời phỏng vấn nhanh cán bộ Chi cục Lâm nghiệp tỉnh Hà Giang, cán bộ KNKL huyện
Vị Xuyên và chính quyền địa phương các xã của huyện Vị Xuyên, tác giả đưa
ra một số kết luận về địa điểm nghiên cứu như sau:
- Trên toàn huyện nghiên cứu sẽ lựa chọn 03 xã là Lao Chải, Thuận Hòa
và Trung Thành, ở tại mỗi xã sẽ chọn 02 thôn, các xã và thôn này đều có các đặc điểm đại diện cho khu vực nghiên cứu như: Có diện tích rừng đủ lớn, rừng của các xã, thôn này có nhiều trạng thái khác nhau, đã từng bị xảy ra cháy rừng hoặc có nguy cơ bị cháy rừng, có mô hình PCCCR trong cộng đồng
- Tại mỗi thôn sẽ chọn 20 hộ gia đình để phỏng vấn Số cán bộ huyện được phỏng vấn là 7 người trong đó có 5 người của Hạt kiểm lâm và 2 người
ở các phòng ban phụ trách các hoạt động liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp của huyện và một số cán bộ xã, thôn tại khu vực nghiên cứu với số lượng là 12 người (6 cán bộ xã và 3 cán bộ mỗi thôn)
- Khi tiến hành xây dựng các mô hình cũng như đề xuất các giải pháp đề tài tiến hành tổ chức tại mỗi thôn một nhóm thảo luận và tiến hành hội thảo trong 3 lần Đối với cán bộ huyện, xã tiến hành hội thảo lấy ý kiến đóng góp, đánh giá
2.5.2 Phương pháp chuyên gia
Phương pháp này được thực hiện trong suốt quá trình thực hiện đề tài, thông qua các hình thức: hội thảo, họp nhóm chuyên gia, bài nhận xét góp ý, phỏng vấn trực tiếp Các ý kiến của các chuyên gia sẽ được ghi nhận và tổng hợp Các nội dung về việc xin ý kiến chuyên gia như: phương pháp tiếp cận, phương pháp đánh giá,…
Trang 22Phương pháp chuyên gia được thực hiện ngay từ khi xây dựng thuyết minh đề tài, các đề cương chuyên đề, trong quá trình thực hiện và hoàn thiện các nội dung của đề tài
2.5.3 Phương pháp và công cụ thu thập số liệu
2.5.3.1 Nghiên cứu tài liệu thứ cấp
Các số liệu, tài liệu, thông tin sau đây sẽ được tác giả thu thập và kế thừa:
- Số liệu về diện tích rừng của huyện điều tra (cấp huyện, xã, thôn)
- Số liệu về diện tích rừng, loại rừng bị cháy hàng năm của tỉnh, huyện,
xã, thôn bản điều tra
- Nguyên nhân gây cháy rừng
- Các biện pháp PCCCR hiện đang được tỉnh cũng như huyện, xã, thôn bản thực hiện
- Các báo cáo, các dự án đang triển khai thực hiện có liên quan đến nghiên cứu
- Các loại bản đồ: Bản đồ giao đất giao rừng, bản đồ quy hoạch ba loại rừng
- Quyết định, nghị định, thông tư hướng dẫn thực hiện PCCCR tại địa phương
2.5.3.2 Phương pháp điều tra, thu thập số liệu hiện trường
Đề tài sử dụng các công cụ đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) sau đây để thu thập các thông tin và số liệu ngoài hiện trường:
- Phỏng vấn cá nhân: Phỏng vấn cán bộ kiểm lâm huyện, cán bộ kiểm lâm
phụ trách địa bàn, cán bộ xã, thôn phụ trách lâm nghiệp… của huyện, xã, thôn bản nghiên cứu Công cụ này sẽ được thực hiện trước khi đến thôn bản nhằm tìm hiểu tình hình chung về công tác quản lý bảo vệ rừng, công tác PCCCR của các thôn bản, các mô hình PCCCR tại địa phương, tình hình cháy rừng và các hoạt động của người dân liên quan đến rừng và đất rừng (chủ yếu là các hoạt động sinh kế như: canh tác nương rẫy, săn bắn, thu hái lâm sản, đốt
Trang 23- Phỏng vấn hộ gia đình: Được thực hiện thông qua bảng phỏng vấn bán
định hướng được chuẩn bị và kiểm tra trước Các HGĐ phỏng vấn được lựa chọn theo phương pháp ngẫu nhiên có hệ thống Chủ đề phỏng vấn gồm: Tác hại của cháy rừng, nguyên nhân của cháy rừng, thực trạng công tác PCCCR, giải pháp cho PCCCR, nhiệm vụ của mỗi đối tượng trong PCCCR, những khuyến nghị về chính sách cho PCCCR…
- Thảo luận nhóm: Nhóm thảo luận gồm 5-7 người hoặc lớn hơn tuỳ theo
số lượng hộ, sự phân tán của các hộ và đầy đủ thành phần kinh tế hộ trong thôn bản Phương pháp này được thực hiện sau khi thực hiện công cụ phỏng vấn HGĐ Các cuộc thảo luận được tiến hành dựa trên khung thảo luận chuẩn
bị sẵn Công cụ hỗ trợ cho quá trình thảo luận nhóm là công cụ phân tích cây vấn đề Công cụ này sẽ giúp những người dân trong cộng đồng tìm ra được những nguyên nhân gây ra cháy rừng tại địa phương, đâu là những nguyên nhân chính Công cụ này cũng giúp họ tự nhận thấy được những hậu quả mà cháy rừng gây ra cho chính cộng đồng và qua đó bản thân họ sẽ đưa ra những giải pháp mà họ cho là phù hợp để PCCCR cho chính cộng đồng của họ Quá trình thảo luận nhóm cũng sẽ giúp cộng đồng tự đánh giá được những kết quả
mà họ đã đạt được, xác định được những khó khăn mà họ phải đối mặt trong quá trình PCCCR và tư đó đề xuất được những giải pháp phù hợp cho mô hình PCCCR dựa vào cộng đồng
Kết quả phân tích vấn đề sẽ giúp cộng đồng xác định được những nguyên nhân gây ra cháy rừng, đâu là nguyên nhân chính Họ sẽ tự thảo luận
và tìm giải pháp, đâu là những giải pháp mà cộng đồng có thể tự giải quyết và
họ sẽ cần hỗ trợ những gì từ bên ngoài
Cộng đồng cũng phải tự xác định được những khó khăn mà họ gặp phải trong các mô hình PCCCR trong cộng đồng mà họ đã tham gia, đã biết và cũng chính họ sẽ phải tự tìm ra giải pháp để giải quyết những khó khăn này, đâu là những khó khăn nội tại, đâu là những khó khăn từ yếu tố bên ngoài, họ
Trang 24có thể khắc phục được những khó khăn nào và những khó khăn nào họ cần hỗ trợ từ bên ngoài thông qua quá trình cùng trao đổi trong nhóm
Kết quả thảo luận nhóm sẽ giúp cộng đồng xác định được những mô hình PCCCR trong cộng đồng mà người dân cho là phù hợp với hoàn cảnh của địa phương và lựa chọn mô hình tối ưu nhất
2.5.4 Phương pháp xử lý nội nghiệp
- Tiến hành tổng hợp và lượng hóa số liệu phỏng vấn
- Tiến hành phân tích ảnh hưởng của người dân đối với mỗi mô hình
- Xây dựng các tiêu chí đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức của từng mô hình:
+ Sự tham gia của người dân đối với mô hình
+ Hiệu quả mang lại
+ Kinh phí cho mô hình
+ Ưu, nhược điểm của mỗi mô hình
- Tổng kết và đưa ra nhận xét cho 3 nội dung nghiên cứu chính:
+ Đánh giá thực trạng và nguyên nhân cháy rừng tại Vị Xuyên
+ Đánh giá các hình thức PCCCR đang áp dụng tại Vị Xuyên
+ Đề xuất và đưa ra các mô hình nâng cao hiệu quả PCCCR
Trang 25Chương 3 ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN – KINH TẾ, XÃ HỘI
KHU VỰC NGHIÊN CỨU
3.1 Đặc điểm chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương 3.1.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1.1 Vị trí địa lý
Vị Xuyên là huyện vùng núi thấp của tỉnh Hà Giang, có tọa độ địa lý nằm trong khoảng từ 104O 23’ 30” đến 105O 09’ 30” Kinh độ Đông và từ 22O 29’ 30” đến 23O 02’ 30” Vĩ độ Bắc Trung tâm huyện là Thị trấn Vị Xuyên nằm trên trục Quốc lộ 2, cách Thị xã Hà Giang khoảng 20 km về phía Nam Huyện có địa giới hành chính như sau:
- Phía Bắc giáp biên giới với Trung Quốc; Thị xã Hà Giang và huyện Quản Bạ;
- Phía Nam giáp huyện Bắc Quang;
- Phía Đông giáp huyện Bắc Mê và tỉnh Tuyên Quang;
- Phía Tây giáp huyện Hoàng Su Phì
3.1.1.2 Địa hình
Huyện Vị Xuyên nằm trong vùng núi thấp của tỉnh Hà Giang, địa hình phức tạp, chia cắt mạnh Độ cao trung bình của huyện trên 500 m so với mực nước biển, độ dốc lớn tạo ra các tiểu vùng mang đặc điểm riêng biệt:
- Tiểu vùng núi cao: Bao gồm các xã Lao Chải, Xín Chải, Thanh Đức,
Thanh Thủy, Thượng Sơn, Quảng Ngần, Cao Bồ, Phương Tiến, vùng này có
độ cao trung bình trên 1.000 m, thuận lợi cho phát triển các cây đặc sản như chè Shan, quế, thảo mộc, chăn nuôi đại gia súc và phát triển nghề rừng
- Tiểu vùng núi trung bình: Bao gồm các xã Trung Thành, Bạch Ngọc,
Ngọc Minh, Ngọc Linh, Minh Tân, Thuận Hòa, Việt Lâm, Linh Hồ, vùng này
Trang 26có độ cao trung bình từ 500 - 800 m, thuận lợi cho phát triển các loại cây công nghiệp ngắn ngày, cây ăn quả, chè, chăn nuôi gia súc và trồng rừng
- Tiểu vùng thung lũng và núi thấp: Bao gồm các xã Tùng Bá, Phong
Quang, Kim Linh, Phú Linh, Kim Thạch, Đạo Đức, Thị trấn Vị Xuyên, Thị trấn Việt Lâm, vùng này có độ cao trung bình dưới 500 m, thuận lợi cho phát triển lúa nước, hoa màu, cây công nghiệp ngắn ngày và phát triển chăn nuôi
3.1.1.3 Thời tiết khí hậu
Huyện Vị Xuyên chịu ảnh hưởng của khí hậu vùng Đông Bắc với chế độ khí hậu nhiệt đới gió mùa Do huyện nằm sâu trong lục địa nên ít chịu ảnh hưởng của mưa bão trong mùa hè và gió mùa đông bắc trong mùa đông hơn vùng đồng bằng Bắc Bộ
Chế độ gió có sự tương phản rõ: Mùa hè có gió mùa Đông Nam và Tây Nam kéo dài từ tháng Năm đến tháng Mười, thời tiết nóng ẩm, mưa nhiều Mùa đông có gió mùa đông bắc kéo dài từ thàng Mười Một đến tháng Ba năm sau, thời tiết lạnh, khô, ít mưa Một số đặc điểm chính về khí hậu, thời tiết của huyện như sau:
- Nhiệt độ trung bình năm: 22,6 OC
- Nhiệt độ cao trung bình năm 27,5 OC
- Nhiệt độ thấp trung bình năm 19,6 OC
- Nhiệt độ thấp tuyệt đối 1,5 OC
- Độ ẩm không khí bình quân năm 80 %
- Số giờ nắng trung bình năm 1.500 giờ
- Số ngày có sương mù trong năm từ 33 - 34 ngày
Nhìn chung, huyện Vị Xuyên có điều kiện khí hậu thuận lợi cho phát triển nền nông nghiệp đa dạng và phong phú Mùa đông với khí hậu khô lạnh làm cho vụ đông trở thành vụ chính có thể trồng được nhiều loại rau màu ngắn ngày cho giá trị cao Yếu tố hạn chế nhất đối với sử dụng đất là mưa lớn
Trang 27tập trung theo mùa thường gây xói mòn, thoái hóa và sạt lở ở những nơi có địa hình dốc, hiểm trở
3.1.1.4 Đặc điểm thủy văn:
Huyện Vị Xuyên có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng phần lớn lại
là các suối nhỏ và có độ dốc lớn; chỉ có sông Lô là sông lớn nhất, bắt nguồn
từ tỉnh Vân Nam - Trung Quốc chảy về tới cửa khẩu Thanh Thủy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, qua Thị xã Hà Giang và huyện Vị Xuyên rồi chảy vào địa phận tỉnh Tuyên Quang Dòng sông có nhiều thác ghềnh, mùa khô mực nước trung bình dòng sông từ 0,6 - 1,5 m, bề rộng lòng sông trung bình từ 40
- 50 m Càng về hạ lưu lòng sông và chiều sâu cột nước càng tăng dần, dòng sông xuất hiện các bãi bồi, cát sỏi có thể khai thác làm vật liệu xây dựng Việc khai thác nguồn nước sông Lô phục vụ sản xuất có nhiều hạn chế do độ cao mặt nước về mùa khô có độ chênh cao khá lớn so với mặt đất sản xuất nông nghiệp Các hệ thống suối nhỏ do có độ dốc lớn, dòng chảy mạnh tạo ra tiềm năng lớn cho xây dựng các công trình thủy điện nhỏ phục vụ sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong huyện
Nguồn nước ngầm ở huyện hiện chưa có kết quả thăm dò đầy đủ nhưng qua sơ bộ khảo sát ở các giếng nước ăn của dân ở độ sâu trên 20 m cho thấy trữ lượng đủ dùng cho sinh hoạt của người dân kể cả mùa khô Do địa hình đồi núi dốc lớn, nguồn nước ngầm ở sâu nên việc đầu tư khai thác rất phức tạp và kém hiệu quả
3.1.1.5 Thảm thực vật:
Do ảnh hưởng của yếu tố địa hình, nhất là sự khác nhau lớn về độ cao và ảnh hưởng của các tiểu vùng khí hậu nên hệ thực vật của huyện khá phong phú Trên địa bàn huyện có các kiểu rừng như sau:
- Rừng trên núi đá vôi: Đây là kiểu rừng tồn tại trên núi đá vôi xương
xẩu Rừng thường có 2 tầng, tầng trên có chiều cao 15 - 20 m với ưu hợp phổ
Trang 28biến là Nghiến, Trai Tầng cây thấp là các loài Mạy Tèo, Ô rô, Thực vật ngoại tầng thường gặp một số loài phụ sinh như Phong Lan, Dây leo,
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới: Kiểu rừng này phân bố ở
độ cao trên 700 m Hoạt động sinh dưỡng diễn ra liên tục quanh năm nhưng sinh trưởng của rừng chậm vì càng lên cao nhiệt lượng càng giảm So với rừng những vùng thấp thì số loài nghèo hơn Rừng thường có 2 tầng cây gỗ, nhưng sự phân biệt không rõ rệt, chiều cao bình quân 15 - 20 m Trên đỉnh núi, do ảnh hưởng của gió, cây gỗ thường có chiều cao thấp hơn, thực vật thân leo rất hiếm, dương xỉ chiếm ưu thế, thực vật sống phụ rất nhiều, thường
là địa y, rêu Có thể phân thành 2 loại rừng chính là:
+ Rừng kín thường xanh, mưa ẩm á nhiệt đới: Cây họ Giẻ, họ Re chiếm
ưu thế
+ Rừng kín thường xanh, mưa ẩm: Cây lá rộng và cây lá kim chiếm
ưu thế
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm núi thấp: Phân bố ở độ cao dưới 700 m
Do đặc điểm khí hậu, rừng sinh trưởng liên tục, thường có 3 hoặc 2 tầng cây
gỗ, đôi khi có tầng cây vượt tán Thực vật phụ sinh rất nhiều, dây leo thân gỗ
và thân thảo lớn Tầng cây bụi chủ yếu là các loài cây thuộc họ cà phê, lớp thảm tươi phát triển mạnh Đây là kiểu rừng bị tác động mạnh nhất đang có nguy cơ bị nghèo kiệt, thoái hoá
- Rừng thứ sinh nhân tác: Do hoạt động của con người như khai thác,
đốt nương, làm rẫy, đã xuất hiện các ưu hợp sau:
+ Ưu hợp rừng tre nứa sau khai thác, chiếm tỷ lệ không đáng kể, tổ hợp thành loài đơn giản, nứa và giang chiếm ưu thế Lác đác còn một số cây thân gỗ phẩm chất xấu như Dẻ, Trâm, Kháo Do Giang, Nứa mọc dày đặc nên cây gỗ tái sinh rất hiếm
Trang 29+ Rừng phục hồi sau nương rẫy, tổ hợp thành các cây ưa sáng mọc nhanh như: Sau Sau, Thành Ngạnh, Trám Rừng chưa phân tầng rõ, kích thước cây nhỏ, tầng thảm tươi là Lau, Chít,
Ngoài ra, trong quá trình sản xuất của ngành nông nghiệp huyện cũng tạo ra một thảm thực vật nông nghiệp với các cây trồng chủ yếu như: lúa, ngô, khoai lang, sắn, rau xanh, mía, chè, cam, quít, vải, Những cây trồng ngắn ngày như lúa, ngô, khoai, rau, có thể trồng thâm canh được nhiều vụ
Tóm lại, do điều kiện địa hình và khí hậu đa dạng nên hệ thực vật của Vị Xuyên khá phong phú cả về số lượng loài và tính điển hình, trong đó có nhiều loài quý hiếm Tuy nhiên, do việc khai thác, phát nương làm rẫy bừa bãi đã làm cho tài nguyên rừng bị đe dọa, tầng, tán bị phá vỡ, chất lượng rừng ngày càng thấp, Vì vậy, Vị Xuyên cần có những biện pháp bảo vệ, khai thác rừng hợp lý và hiệu quả hơn
3.1.2 Điều kiện Kinh tế - Xã hội
3.1.2.1 Dân cư, lao động, việc làm và thu nhập
a, Dân số:
Theo số liệu thống kê đến tháng 7 năm 2006, dân số toàn huyện là 94.027 người với 17.952 hộ, xếp thứ 3 toàn tỉnh gồm 17 dân tộc anh em, trong đó các dân tộc Tày, Dao và Kinh chiếm đa số Dân số đô thị có 11.454 người với 2.799 hộ, bình quân 4,09 người/hộ Dân số nông thôn là 82.573 người với 15.153 hộ, bình quân 5,45 người/hộ
Những năm qua do làm tốt công tác truyền thông dân số nên tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hàng năm đều giảm Nếu năm 1996 tỷ lệ tăng dân số tự nhiên
là 1,98 % thì đến năm 2000 tỷ lệ này giảm còn 1,63 %, năm 2004 giảm còn 1,38 % và năm 2005 giảm còn 1,32 % Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân
có nhiều tiến bộ, tỷ lệ chết đã giảm từ 8 % năm 1996 xuống còn 6 % năm
2000 và 5,2 % năm 2005
Trang 30Mật độ dân số bình quân 62,8 người/km2 nhưng phân bố không đồng đều, mật độ dân số cao tập trung ở các thị trấn, trung tâm cụm xã như TT Vị Xuyên 465,8 người/km2; TT Việt Lâm 346,5 người/km2; xã Đạo Đức 123,7 người/km2; trong khi đó ở các xã vùng sâu vùng xa mật độ dân số rất thấp như Thượng Sơn 41,12 người/km2; Cao Bồ 32,6 người/km2
b Lao động:
Tổng số lao động toàn huyện năm 2006 là 40.182 người, chiếm 42,73 % dân số; trong đó số lao động là nữ 20.854 người Tuy nhiên, số người trong độ tuổi lao động không có việc làm ngày càng gia tăng Đây là một vấn đề mà các cấp các ngành của huyện cần quan tâm hơn để giải quyết công ăn việc làm cho số lao động dư thừa này trong các năm tới Lực lượng lao động tuy đông nhưng số lao động được đào tạo nghề chiếm tỷ lệ thấp dưới 5 %, tập trung chủ yếu ở khối cơ quan nhà nước và xí nghiệp công nghiệp
c Việc làm và thu nhập:
Tuy còn khó khăn nhưng huyện cũng đã thực hiện chương trình của quốc gia về giải quyết việc làm, hàng năm đều đạt và vượt kế hoạch Công tác xuất khẩu lao động đã được quan tâm Công tác đấu tranh phòng chống tệ nạn xã hội
có kết quả và hiệu quả hơn Mặt khác huyện cũng có chính sách khuyến khích
và tạo điều kiện cho cho các thành phần kinh tế, các hộ gia đình thi đua làm giàu chính đáng, nên đến nay đời sống vật chất và tinh thần của đồng bào các dân tộc, nhất là vùng sâu, vùng xa được cải thiện rõ rệt Năm 2006, thu nhập bình quân đầu người 4,5 triệu đồng/năm; vượt 13,5 % mục tiêu và tăng hơn 1,55 lần so với năm 2000 Tỷ lệ hộ nghèo theo tiêu chí cũ năm 2005 còn dưới
7 %, giảm 8 % so với năm 2000, hộ khá và giàu đạt 18 %
3.1.2.2 Đời sống, kinh tế
Tốc độ tăng trưởng GDP của huyện bình quân 5 năm (2000 - 2005) đạt 11,5 % (vượt mục tiêu Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ
Trang 31XX đề ra 0,5 %, cao hơn mức tăng trưởng bình quân thời kỳ 1996 - 2000 là 0,5 %) Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng: Tỷ trọng nông, lâm nghiệp năm 2005 đạt 38,4 %; vượt mục tiêu 9,6 % Công nghiệp - xây dựng đạt 37,1
%; vượt mục tiêu 7,1 %; tăng 8,1 % so với năm 2000 Thương mại - dịch vụ đạt 24,5 %; vượt mục tiêu 2,5 %, tăng 5,5 % so với năm 2000
Các cơ chế, chính sách đòn bẩy kinh tế được ban hành, bổ sung và điều chỉnh kịp thời, nhằm khai thác và phát huy nội lực trong các thành phần kinh tế; các hoạt động dịch vụ, vận tải, bưu chính viễn thông, điện, nước sinh hoạt, tín dụng, đã có bước phát triển, tạo điều kiện thu hút và thúc đẩy đầu tư phát triển công nghiệp, dịch vụ, du lịch, Vốn đầu tư cho phát triển ngày một lớn hơn, kể
cả đầu tư từ ngân sách nhà nước và của các thành phần kinh tế Khai thác chế biến khoáng sản, chế biến nông, lâm sản, sản phẩm hàng hóa tăng nhanh, một số sản phẩm hàng hóa truyền thống và sản phẩm mới đã nâng dần sức cạnh tranh và từng bước được mở rộng thị trường tiêu thụ ở nội địa và xuất khẩu
a Nông - lâm - thủy sản:
Trong 5 năm qua kinh tế huyện đã phát triển ổn định, chuyển dịch cơ cấu tích cực theo hướng sản xuất hàng hóa, góp phần quan trọng để đảm bảo ổn định xã hội, xóa đói giảm nghèo và xây dựng nông thôn mới
b Công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp
Huyện đã bước đầu hình thành, phát triển và phát huy được lợi thế của mình, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa Tỷ trọng ngành công nghiệp - xây dựng tăng từ 29 % năm 2000 lên 37,1 % năm
2005 Tổng giá trị sản xuất ngành công nghiệp từ 39 tỷ đồng năm 2000 lên 68,5 tỷ đồng năm 2005 tăng gấp 1,75 lần Đã có thêm các nhà máy sản xuất lắp ráp ô tô Trường Thanh công suất 3.500 xe/năm, nhà máy sản xuất và lắp ráp ô tô TRA-EMC, nhà máy gạch tuy nen 30 triệu viên/năm Các cơ sở khai
Trang 32thác chế biến khoáng sản: mangan ở Ngọc Linh, quặng chì, sắt ở Tùng Bá, Lũng Rầy - Thuận Hòa
Với cơ chế chính sách thu hút và ưu đãi đầu tư của tỉnh và huyện, một số nhà đầu tư đã và đang đầu tư xây dựng nhà máy thủy điện, sản xuất lắp ráp ô
tô, khai thác, chế biến Nhất là đầu tư vào công nghiệp điện, khai thác mỏ, chế biến nông lâm sản ở các xã Tùng Bá, Thuận Hòa, Ngọc Linh và Thị trấn Vị Xuyên Điện và lưới điện có bước phát triển vượt bậc, đến năm 2005 thì 100
% xã, thị trấn có điện lưới quốc gia, tỷ lệ hộ dùng điện 83 % vượt 3,8 % mục tiêu, tăng gấp 1,53 lần so với năm 2000
Sản xuất tiểu thủ công nghiệp tiếp tục phát triển, các hợp tác xã sản xuất hàng mây, tre đan được đưa vào hoạt động với hình thức liên kết, dạy nghề, cấy nghề ở TT Vị Xuyên, TT Việt Lâm, đã tạo đà phát triển cho nghề tiểu, thủ công nghiệp nông thôn, giải quyết lao động nông nhàn trong nhân dân và thu hút vốn đầu tư, tăng thu nhập hộ gia đình
c, Thương mại, dịch vụ và du lịch
Các hoạt động thương mại, du lịch, vận tải, bưu chính viễn thông và các dịch vụ khác của các thành phần kinh tế phát triển đa dạng, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao cho sản xuất và đời sống của nhân dân Các chợ nông thôn, chợ biên giới được mở rộng và hoạt động sôi động, hàng hoá phong phú, giá
cả ổn định, các dịch vụ nhà hàng, khách sạn hoạt động du lịch tiếp tục được
mở rộng, thu hút khách đến thăm Vị Xuyên Kinh tế cửa khẩu có bước phát triển: giá trị hàng hoá xuất, nhập khẩu trên địa bàn từ năm 2000 - 2005 đạt 7,8 triệu USD (vượt mục tiêu Nghị quyết đề ra) Đến năm 2006, 23/23 xã, thị trấn có điện thoại: tổng số có trên 1.598 máy, đạt tỷ lệ 1,8 máy/100 dân
Cho đến năm 2006 toàn huyện có 67 doanh nghiệp và các HTX, tăng 25
DN, HTX so với năm 2000, trong đó có: 21 doanh nghiệp ngoài quốc doanh,
Trang 3346 hợp tác xã; hơn 650 hộ kinh doanh, trên 564 hộ cơ sở sản xuất thủ công nghiệp
3.1.2.3 Cơ sở hạ tầng
Cùng với nguồn vốn hỗ trợ đầu tư của Trung ương và Tỉnh, Huyện đã huy động được các nguồn lực của các thành phần kinh tế cho đầu tư Tổng vốn đầu tư phát triển 5 năm qua (2000 - 2005) đạt 458,9 tỷ đồng; bình quân 91,8 tỷ đồng/năm; đầu tư được 314 công trình, trong đó: giao thông 85 công trình, vốn đầu tư 191 tỷ (mở rộng 182 km, nâng cấp 114 km) làm mới 10 cầu các loại, hoàn thành cầu cứng km 21 tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của 4 xã phía Đông sông Lô Xây dựng mới 14 trụ sở 2 tầng, tăng 15 nhà so với năm 2000; 18 trạm xá 2 tầng, tăng 16 nhà so với năm 2000, 100 % các xã
có trường học 2 tầng với 75 nhà lớp học 2 tầng, tăng 69 nhà so với năm 2000
Với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, nhiều công trình
nhân dân làm là chính, nhà nước hỗ trợ một phần, kết quả đến năm 2005 đã xây dựng được 193 điểm trường, 92 trụ sở thôn bản, 1.000 bể nước sinh hoạt, 3.000 công trình vệ sinh, 239 km kênh mương, 245 km đường giao thông nông thôn loại B mặt đường rộng 4,6 m, 180 km đường bê tông Kết quả trên
đã làm thay đổi cơ bản kết cấu hạ tầng các xã, thị trấn, đặc biệt là những thôn bản ở vùng sâu, vùng xa
Trang 34chuyển biến tích cực, tỷ lệ tăng dân số tự nhiên giảm mỗi năm từ 0,03 - 0,04
% đến năm 2005 còn 1,34 % đạt mục tiêu Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX đề ra
b, Giáo dục
Tính đến năm 2005, chất lượng giáo dục đào tạo có nhiều chuyển biến, đội ngũ giáo viên các cấp đã được đào tạo, từng bước đáp ứng yêu cầu phát triển giáo dục - đào tạo và nâng cao dân trí Quy mô, chất lượng giáo dục đã
có những bước phát triển đáng kể, điều kiện cơ sở vật chất, trang thiết bị phục
vụ dạy và học được đầu tư xây dựng ngày càng khang trang Tỷ lệ huy động học sinh trong độ tuổi đến trường ở các bậc học, cấp học ngày một tăng Tổng
số học sinh phổ thông năm 2005 là 21.250 học sinh tăng 1 % (tăng 189 học sinh) so với năm 2000, bình quân có 23 học sinh/100 người dân Số trường học được đầu tư xây dựng cơ sở vật chất theo tiêu chuẩn trường chuẩn Quốc gia ngày một nhiều (đã có 4 trường tiểu học, 2 trường mầm non đạt chuẩn Quốc gia) Các cấp học, bậc học từng bước đáp ứng nhu cầu học tập, tỷ lệ trẻ trong độ tuổi mẫu giáo đến trường đạt 89 %, tăng 20 % so với năm 2000 Tỷ
lệ huy động học sinh trong độ tuổi 6 - 14 tuổi đạt trên 99 % (vượt 1 % so với mục tiêu); năm 2003 huyện được công nhận chuẩn phổ cập THCS (về trước mục tiêu 2 năm), hết năm 2004 có 100 % số xã được công nhận phổ cập THCS; duy trì và củng cố vững chắc kết quả xoá mù chữ - phổ cập giáo dục TH; tỷ lệ huy động học sinh tốt nghiệp THCS vào học các trường PTTH, trung tâm giáo dục thường xuyên hàng năm đạt trên 75 %; trình độ dân trí được nâng lên một bước
3.1.2.5 Văn hóa - Thông tin, Truyền thanh - Truyền hình, Thể dục - Thể thao
Các hoạt động văn hóa thông tin, truyền thanh truyền hình, thể dục thể thao phát triển sâu rộng Năm 2005, số gia đình đăng ký gia đình văn hóa là
Trang 3517.563 chiếm 99 % tăng 14.563 gia đình so với năm 2000 Trong đó: số gia đình được công nhận gia đình văn hóa là 6.420 chiếm 37 % tổng số hộ
Việc đầu tư lắp đặt và nâng cấp các trạm truyền thanh, truyền hình được chú trọng Đến năm 2005 toàn huyện có 7 trạm phát lại truyền hình và 14 trạm TVRO tăng 7 trạm so với năm 2000, 7 trạm phát sóng phát thanh FM đài huyện
và trung tâm cụm xã Tỷ lệ phát sóng phát thanh đạt 90 % (vượt 6 % so với Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XX); tỷ lệ phủ sóng truyền hình đạt 90 % (đạt mục tiêu Nghị quyết)
Các thiết chế văn hoá chủ yếu được đầu tư xây dựng và hoàn thiện; xây dựng đời sống văn hoá và nếp sống văn minh trong các tầng lớp nhân dân đã
có bước tiến bộ mới Phong trào xây dựng nông thôn mới, hoạt động thể dục thể thao quần chúng phát triển mạnh và rộng khắp, toàn huyện có hơn 100 đội văn nghệ, thể thao
Trang 36Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Thực trạng và nguyên nhân cháy rừng ở huyện Vị Xuyên
4.1.1 Thực trạng cháy rừng ở huyện Vị Xuyên
Vị Xuyên là huyện vùng thấp của tỉnh Hà Giang, có tổng diện tích tự nhiên là 149.524,99 ha, diện tích rừng là 102.900,5ha (chiếm 68,8%), trong
đó có 24.319,6ha rừng đặc dụng
Địa hình của Vị Xuyên khá phức tạp, phần lớn là đồi núi thấp, sườn thoải xen kẽ những thung lũng tạo thành những cánh đồng rộng lớn cùng với
hệ thống những sông suối, ao hồ, thích hợp cho việc phát triển nông nghiệp
Độ cao trung bình từ 300 – 400m so với mặt nước biển, phía Tây có núi Tây Côn Lĩnh cao 2.419m, sông Lô chảy qua địa phận huyện với chiều dài 70km
Vị Xuyên có quốc lộ 4C và quốc lộ 2 chạy qua
Khí hậu nhiệt đới nóng ẩm, mưa nhiều, mùa đông lạnh, nhiệt độ trung bình khoảng từ 18 – 25oC Lượng mưa trung bình khá lớn, vào khoảng 3.000 – 4.000 mm/năm
Dân số của Vị Xuyên có khoảng 96.168 người với 15 dân tộc cùng sinh sống bao gồm người Tày chiếm tỷ lệ cao nhất (36,1%), sau đó là người Dao, người Kinh, người Mông, người Nùng và một số dân tộc khác Với hoạt động sản xuất và khai thác tài nguyên rừng truyền thống như chặt phá rừng, đốt rừng lấy đất làm nương rẫy, làm nơi chăn thả nên nhiều diện tích rừng bị thu hẹp, nhiều loài cây có giá trị kinh tế cao như Nghiến, Pơ Mu, Đinh đã bị khai thác kiệt quệ, tài nguyên rừng bị suy giảm
Trong báo cáo về công tác PCCCR của Chi cục kiểm lâm tỉnh Hà Giang thì Vị Xuyên là một trong những huyện trọng điểm cháy rừng của tỉnh, từ năm 2012 đến 2014 toàn huyện xảy ra 03 vụ cháy rừng và chỉ rơi vào năm
2012, tuy nhiên diện tích rừng bị cháy không hề nhỏ (49,8 ha), chủ yếu là
Trang 37cháy rừng trồng với 36,9ha Đối tượng rừng bị cháy chủ yếu là rừng trồng và trảng cỏ, mục đích đều là rừng đặc dụng và rừng sản xuất Nguyên nhân gây cháy đến thời điểm này vẫn chưa xác định được Thời điểm xảy ra cháy rừng rơi vào khoảng từ tháng 2 đến tháng 5, đây là thời điểm khô hạn và nắng nóng, cũng là thời điểm người dân đang làm nương
Bảng 4.1 Biểu phỏng vấn cán bộ huyện Vị Xuyên cho câu hỏi: Nguyên
nhân gây cháy rừng do đâu, đâu là nguyên nhân chính?
Tên người được
- Do đốt nương dẫn đến cháy lan, hoặc do dùng lửa khi chăn thả gia súc
Vị Xuyên
Kiểm lâm địa bàn xã Thuận Hòa
- Cháy do đốt nương làm cháy lan vào rừng
- Do đốt nương, trẻ chăn trâu đốt sưởi nhưng khi về không dập lửa làm cháy lan vào rừng, cháy lan từ TQ sang
- Các xã thuộc địa bàn quản lý không xảy
ra cháy mà chỉ có cháy lan từ xã khác
Phó ban - Do đốt nương và cháy từ TQ sang
Trang 38Xã Thôn Số vụ
Diện tích (ha)
Trạng thái
Chức năng
Thời gian cháy
Nguyên nhân
Mức độ thiệt hại (%)
Chủ quản lý
Người tham gia CCR
Rừng
tự nhiên (ha)
Rừng trồng Trảng
cỏ, cây bụi
DT (ha)
Năm
Thiệt hại
BQLR ĐDTCL
Trang 39Hình 4.1: Diện tích các loại rừng bị cháy của huyện Vị Xuyên
từ năm 2012- T6/2014
4.1.2 Nguyên nhân gây cháy rừng ở Vị Xuyên
Từ thực trạng cháy rừng của huyện Vị Xuyên cho thấy tình hình cháy rừng trong những năm gần đây của huyện có sự chuyển biến tích cực hơn nhưng không vì thế mà công tác PCCCR được lơ là, không chú trọng Để công tác PCCCR hiệu quả cần phải giải quyết các vấn đề phát sinh ảnh hưởng công tác PCCCR, các nguyên nhân dẫn đến cháy rừng, các nguyên nhân làm cho tình hình cháy vẫn rất khó kiểm soát
2%
74%
24%
Rừng tự nhiên Rừng trồng Tràng cỏ, cây bụi
Trang 40Bảng 4.3 Kết quả điều tra nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng
đồng thôn bản tại huyện Vị Xuyên Đối tượng
PV Nguyên nhân gây cháy rừng trong các cộng đồng
Xã Lao Chải
- Do người dân đốt nương rẫy và đốt rừng làm nương rẫy gây cháy rừng
- Dùng lửa không cẩn thận khi đi lấy củi
- Sơ ý khi dùng lửa khi đi xuyên qua rừng (đi lại qua các bản khác)
- Người dân chưa thực sự quan tâm đến công tác PCCCR vì rừng do xã quản lý