Theo báo cáo của Công ty Môi trường, trong mấy năm gần đây hiện tượng sâu hại cây xanh phát triển mạnh, nhất là ở các loài cây như: Sữa, Nhội, Bằng Lăng, Bàng, Tếch và nhiều loài cây khá
Trang 1
Nguyễn anh tuấn
Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sâu hại
cây xanh đô thị thành phố bắc ninh
tỉnh bắc ninh
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Hà Nội, năm 2008
Trang 2
Nguyễn anh tuấn
Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sâu hại
cây xanh đô thị thành phố bắc ninh
tỉnh bắc ninh
Chuyên ngành: QLBV&TNR Mã số: 60 62 68
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn khoa học:
PGS.TS Nguyễn Thế Nhã
Hà Nội, năm 2008
Trang 3Mở đầu
Cây xanh có vai trò rất quan trọng đối với con người nói chung và cộng đồng dân cư đô thị nói riêng Khi nói về đô thị người ta không thể không nói đến cây xanh, cây xanh được coi như là lá phổi xanh của trái
đất, có tác dụng bảo vệ và cải tạo môi trường, làm đẹp cảnh quan
Cùng với quá trình Công nghịêp hóa – Hiện đại hóa đất nước, đời sống người dân ngày càng được cải thiện về vật chất lẫn tinh thần, kèm theo đó là sự xuất hiện nhiều đô thị mới Điều đó làm cho không gian ồn
ào, náo nhiệt, môi trường không khí, nước bị ô nhiễm Giải pháp tối ưu
được các nhà khoa học đưa ra đó là sử dụng cây xanh vừa đạt được hiệu quả vừa làm đẹp cảnh quan
Đô thị từ thuở sơ khai luôn có mối quan hệ thuận hòa với các yếu
tố, cảnh quan thiên nhiên và nhân tạo Cảnh quan thiên nhiên bao gồm năm hợp phần: Địa hình, nước, thực vật (cây xanh), động vật và không khí Các yếu này có một quá trình phát sinh, phát triển liên hoàn, tác động lẫn nhau trong một chỉnh thể thống nhất của trái đất Thời kỳ đầu do quy mô dân cư đô thị còn ít, con người chưa chú trọng đến việc bố trí, sử dụng cảnh quan nhân tạo như cây xanh, nhưng con người đã biết sử dụng cảnh quan thiên nhiên như: Thảm thực vật tự nhiên mà khi đó chiếm một số lượng, diện tích rất lớn so với diện tích quy mô đô thị để tạo nên mối quan
hệ khăng khít, thuận hòa giữa con người và thiên nhiên Ngày nay, do sự phát triển mạnh mẽ của nền khoa học công nghiệp hiện đại, sự bùng nổ dân số trên phạm vi toàn thế giới đã tạo nên một quá trình đô thị hóa (ĐTH) nhanh, dẫn đến môi trường đô thị bị ô nhiễm Do đó, trong quy hoạch đô thị không thể thiếu mảng cây xanh, cây xanh có vị trí đặc biệt không những để thỏa mãn yêu cầu hình thành cảnh quan đô thị mà còn giải quyết hậu quả do đô thị hóa gây lên như: Ô nhiễm môi trường nước, không khí, giao thông, dịch bệnh
Trang 4Việt Nam đang trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước, đang trên đà phát triển với tốc độ cao, các đô thị đua nhau mọc lên
Hệ thống cơ sở hạ tầng của đô thị đang được thiết kế quy hoạch lại rộng hơn, quy mô hơn Bộ mặt đô thị đã có nhiều biến đổi, nhưng kéo theo đó
là hàng loạt các vấn đề nảy sinh có tác động đến môi trường theo chiều hướng tiêu cực như: Ô nhiễm không khí, ô nhiễm đất, nhiệt độ tăng cao, khí thải,
Vấn đề đặt ra là chúng ta phải làm gì để môi trường sống được xanh – sạch - đẹp, quản lý và bảo vệ cây xanh đô thị như thế nào để cây xanh phát triển theo hướng tích cực mà không làm ảnh hưởng đến môi trường xum quanh và tốc độ phát triển của xã hội
ở một vị trí địa lý thuận lợi, với tốc độ phát triển nhanh như hiện nay Thành phố Bắc Ninh đã, đang và sẽ là trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học kỹ thuật của tỉnh và là đầu mối giao thông quan trọng của khu vực phía Bắc Là thành phố trẻ không lớn lắm về diện tích nhưng đông về mật độ dân số 4.406 người/km2/26,3 km2 (khu vực nội thành) Ngoài ra còn có các Công ty, Doanh nghiệp, các Cơ sở sản xuất nằm rải rác trên địa bàn thành phố, hàng ngàn chiếc xe cơ giới nơi khác chạy qua Gây ô nhiễm không khí, nguồn nước, tiếng ồn là nguyên nhân gây hại đến sức khỏe dân cư đô thị, vượt quá nhiều chỉ tiêu cho phép Do đó, ngăn cản ô nhiễm môi trường là việc làm hết sức cần thiết, để hạn chế những tác động tiêu cực trên thì vai trò của cây xanh là đặc biệt quan trọng, có khả năng giữ bụi, hấp thu các khí, ngăn cản tiếng ồn Ngoài ra, chúng còn có chức năng kinh tế, xã hội, kiến trúc cảnh quan, giá trị khoa học
Trong những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của thành phố Công ty Môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh được Uỷ ban Nhân dân tỉnh giao nhiệm vụ trồng, chăm sóc, quản lý bảo vệ hệ thống cây xanh trên phạm vi thành phố, với mục tiêu phát triển bền vững vì
Trang 5thành phố xanh – sạch - đẹp Hệ thống cây xanh, mảng xanh đô thị đa dạng và phát triển tốt, với 14.327 cây xanh các loại, 66.706,90m2 thảm cỏ, 4.186 cây cảnh, 9.663,80m bồn hoa bồn cảnh, 24.868,30m cây đường viền, tỷ lệ cây xanh sử dụng công cộng 1,12m2/người, thấp hơn so với các thành phố lớn như: Huế 10,2 m2/người, Đà Lạt 7,5 m2/người, Nha Trang 4,7 m2/người, TP Hồ Chí Minh 5,0 m2/người (Lưu Đình Hải, 2006) [6], nhiều đô thị tại các vùng trung du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên tỷ lệ này còn rất thấp như: Thị xã Bắc Kạn 0,03, T.X Hòa Bình 0,27, T.X Cao bằng 1,02; T.X Kon Tum 0,03; Plei Ku 0,18 (Nguyễn Hồng Tiến, 2006)[20]
Theo báo cáo của Công ty Môi trường, trong mấy năm gần đây hiện tượng sâu hại cây xanh phát triển mạnh, nhất là ở các loài cây như: Sữa, Nhội, Bằng Lăng, Bàng, Tếch và nhiều loài cây khác, sâu hại không những làm xấu cảnh quan và ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ của chúng Công
ty Môi trường đã phải tốn kém nhiều công sức, tiền của để phòng và diệt trừ, mang lại cảnh quan, vẻ đẹp và giá trị đích thực của chúng
Do đó, nghiên cứu đề xuất giải pháp để luận cứ, góp phần quản lý và bảo vệ cây xanh đô thị nhất là khu vực nội thành, xác định được thành phần sâu hại làm ảnh hưởng đến cây xanh đô thị và đưa ra các biện pháp phòng trừ, góp phần cải thiện môi trường vốn đang bị ô nhiễm Đó là lý do
hình thành đề tài "Nghiên cứu đề xuất giải pháp quản lý sâu hại cây xanh
đô thị thành phố Bắc Ninh - Tỉnh Bắc Ninh"
Trang 6Theo cơ sở dữ liệu Nông lâm kết hợp của Trung tâm nông lâm kết
hợp quốc tế trên cây Sữa có loài hại lá với tên khoa học: Parotis marginata
gây hại ở vườn ươm và rừng non Thân: Phần cứng có thể bị mối, mọt hại, phần mềm bị mọt phấn (Lyctidae)
Theo Cục Nông nghiệp Florida rệp sáp Vinsonia stellifera (Westwood)
thuộc họ Coccidae hại nhiều loài cây cảnh, trong đó có Sữa, phân bố trên khắp thế giới
Theo G Mathew (2002), trong “Sâu hại cây bản địa ở vườn ươm của tỉnh Kerala, ấn độ”, các loài thuộc chi Lagerstroemia (trong đó có Bằng lăng) có những loài sâu bệnh chủ yếu sau: Rệp ống (rệp muội) hại cây con, khi mật độ cao thường gây ra bệnh bồ hóng Ngoài bệnh bồ hóng, còn có bệnh phấn trắng
Cây Bằng lăng ấn Độ (Lagerstroemia indica) bị bệnh phấn trắng do nấm Erysiphe lagerstroemia gây ra Bệnh đặc biệt nặng ở nơi ẩm, bị cớm,
không thông thoáng Nấm bệnh phát triển mạnh khi đêm có độ ẩm cao, ngày khô, dịu mát, thường là mùa xuân Do đặc điểm trên nên biện pháp phòng trừ
được đề xuất là trồng cây nơi có nhiều ánh nắng, tỉa bớt chồi, tỉa thưa cành, chọn giống kháng bệnh, loại bỏ cành bị bệnh… Ngoài ra cây còn bị bệnh
đốm lá (Cercospora Leaf Spot) khi có khí hậu ấm ẩm Phòng bệnh đốm lá: Chọn giống chống chịu bệnh điều chỉnh mật độ để tạo độ thông thoáng
Trang 7Theo trang Web http://hgic.clemson.edu/factsheets/hgic2002.htm, sâu
hại nhóm Bằng lăng gồm rệp (Tinocallis kahawaluokalani) hại lá, cành non và
Bọ cánh cứng ăn lá Nhật Bản (Popillia japonica) trưởng thành và sâu non đều
ăn hại lá và hoa
Phòng trừ rệp: Chọn giống chống chịu bảo vệ và phát triển thiên địch
như: bọ rùa, ruồi, ong, nấm Phun xịt nước thật mạnh để rửa bỏ rệp Thuốc trừ rệp bao gồm pyrethrins, thuốc thảo mộc chế từ cây xoan, permethrin, cyfluthrin, malathion
Phòng trừ bọ cánh cứng: áp dụng biện pháp tổng hợp (IPM): bắt sâu
trưởng thành, đặt bẫy trưởng thành cách cây khoảng 15m (50feet), sử dụng
chế phẩm vi khuẩn Bacillus popilliae Thuốc trừ bọ lá được sử dụng là
Carbaryl (Sevin 50WP) hay thuốc thảo mộc bào chế từ cây xoan
Choldumrongkul, S.; Thai-ngam, R.; Hutacharern, C (Royal Forest
Department, Bangkok (Thailand-1997) trong bài “Economic importance insect pest of Hopea odorata Roxb.: Damage and Distribution pattern of stem boring termite under different shade tree species” cho biết Sao đen (Hopea
odorata) thường bị mối Microcerotermes crassus Snyder (Termitidae-
Isoptera) hại cây 7 năm tuổi Nghiên cứu cho thấy tỷ lệ cây bị hại vào tháng 8 nặng hơn tháng 5, đặc biệt cây Sao đen bị hại nhiều ở rừng trồng dưới tán cây Keo tai tượng hay Muồng trồng với mật độ 4x4m
Theo David Boyd (2006), sâu hại Bằng lăng gồm một số loài bọ cánh cứng
ăn lá thuộc chi Altica, chỉ có trưởng thành hại lá, nhiều khi xuất hiện hàng đàn lớn Trên các loài cây thuộc chi Ficus (Đa, sanh, si….) thường có bọ trĩ
(Gynaikothrips uzeli) gây hiện tượng cụp lá Côn trùng ăn thịt bọ trĩ có bọ xít Montandoniola moraguesi, ong ký sinh bọ trĩ là loài: Thripastichus gentilei
Theo Edward F Gilman and Dennis G Watson2, trong Cassia bicapsularis Butterfly Bush1 Fact Sheet ST-126, 11 1993: Loài Cassia bicapsularis có một số loài sâu hại sau đây: Lá và hoa thường bị sâu non gây
Trang 8hại (không nêu rõ loài gì), những loài này dễ thu bắt bằng tay Một số loài bị
rệp tấn công, ví dụ rệp Coccus longulus thường sống cộng sinh với kiến Pheidole megacephaly Nếu loại bỏ kiến sẽ có một số loài ký sinh tiếp cận tổ rệp, ví dụ các loài Metaphycus stanleyi, Eupelmus sp, Cheiloneurus carinatus
và Tremblaya minor Trên cây Muồng đen Cassia siamea có loài rệp sáp Stigmacoccus aster gây hại
Theo FAO (2005) trong cuốn Incidence of Insect and Pests, loài xén tóc
Celosterna scabrator Fabricius là loài sâu hại của Acacia nilotica, A catechu, Cassia siamea, Casuarina equisetifolia, Eucalyptus spp Tectona grandis, Prosopis juliflora Đặc biệt gây hại nặng với cây trồng ở nơi không thích hợp
Theo các tác giả P Haldar, K P Bhandar và S Nath (Journal of Orthoptera Research, No.4, 1995): Observation on Food Preferences of an
Indian Grasshopper Acrida exaltata (Walker) (Orthoptera: Acrididae:
Acridinae): Loài này có ăn Muồng đen
Theo Floice Adoyo, John Bwire Mukalama, Musa Enyola, Kenya
(2001), Indigenous Cowpea Production and Protection Practices in Benin, các
cây thuộc họ Vang (Caesalpiniaceae) có những loài sâu hại như bọ xít, bọ trĩ, sâu đục quả
Theo báo cáo của FAO (2007), trên cây Tếch và Sữa có 2 loài sâu hại
nguy hiểm là:
1 Sâu Eutectona machaeralis Walker, 1859 thuộc họ Ngài sáng
(Pyralidae), bộ Cánh vẩy gây hại lá tếch, có thể ăn trụi lá, chúng thường phát dịch vào những năm có khí hậu khác thường
2 Loài Hyblaea puera (Cramer, 1777) thuộc họ Hyblaeidae, bộ Cánh vẩy
ăn lá Tếch, Sữa Chúng thường cắt và cuốn lá lại, ăn hại vào ban đêm
Theo KSS, Nair Center for International Forestry Research (CiFor), 2000,
ở Indonesia trên các loài cây chi alstonia, trong đó có cây Sữa không phát
Trang 9hiện thấy sâu hại, chỉ có 2 loài mọt thuộc họ Scolytidae và Platypodidae hại gỗ mới khai thác
Tóm lại, các nghiên cứu ở các đối tượng sinh vật hại khác nhau, trên các loài cây trồng ở nước ngoài khá đa dạng, tùy theo đặc điểm của loài gây hại và
điều kiện môi trường của từng nơi mà có những loài gây hại khác nhau
1.2 Trong nước
Năm 1983, tác giả Lê Nam Hùng đã đưa ra các biện pháp phòng trừ tổng hợp sâu xanh ăn lá Bồ đề (Pentonia sp) như sau: Phương pháp dự báo ngắn hạn và dài hạn; Xác định chỉ số dịch và ngưỡng kinh tế; Biện pháp cơ giới như vòng dính; Sử dụng biện pháp sinh học như bảo vệ kiến, Ong ký sinh,
dùng chế phẩm BT (Bacilus thuringiensis) ; Các biện pháp canh tác: Xứ lý đất
để diệt nhộng, trồng hỗn giao [7]
Phạm Ngọc Anh (1963) khi nghiên cứu tập tính qua đông của Sâu róm
thông đuôi ngựa (Dendrolimus punctatus Walker) đã đưa ra giải pháp giám
sát, kết hợp biện pháp cơ giới để phòng trừ sâu hại [1]
Nguyễn Công Thuật (1996) trong tài liệu “Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng nghiên cứu và ứng dụng” thì IPM được hiểu là tùy theo điều kiện sinh thái mà áp dụng các biện pháp khác nhau để quản lý dịch hại một cách hợp lý, bền vững [19]
Năm 1990, Lê Nam Hùng trong các báo cáo khoa học có trình bày biện
pháp phòng trừ tổng hợp đối với Sâu róm thông và Bọ đầu dài (Alcides sp.)
đục nõn cây Điều [8]
Đối với Ong ăn lá mỡ (Bộ Lâm nghiệp, 1980) [2], Sâu nâu ăn lá keo tai tượng (Nguyễn Thế Nhã, 2001) [13] đã xác định các loài sâu hại chính và có quy trình phòng trừ
Trần Văn Mão và Nguyễn Thế Nhã (2001) đã nghiên cứu các loài sâu hại có liên quan đến cây cảnh, cây hoa và đã đưa ra các biện pháp phòng trừ
Trang 10cho từng loài cây, từng loài sâu hại cụ thể Căn cứ vào đặc điểm sinh học của các loài chủ yếu, một số biện pháp pháp phòng trừ theo hướng quản lý dịch hại tổng hợp đã được đưa ra [10] Sâu hại của một nhóm cây bóng mát như: Bàng, Bằng lăng, Phượng vĩ, Hoa sữa, Sao đen đã được xác định và đưa ra các biện pháp phòng trừ cho từng loài như sau:
1 Sâu róm (Trabala vishnou) họ Lasiocampidae gây hại các loài cây như:
Bằng lăng, Bàng, Sao đen…
Phòng trừ: Dùng Dipterex
Khi mưa, có độ ẩm cao có thể dùng chế phẩm Beauveria bassiana
(Boverin)
2 Bọ nẹt (Latoia (Parasa) lepida) họ Limacodidae gây hại các loài chủ
yếu như: Sao đen, Bằng lăng
Phòng trừ: Bắt sâu non khi sâu sống tập trung: Ngắt lá, cắt bỏ bộ phận có sâu
Dùng Dipterex hoặc Dimilin 0,05%
Khi mưa, có độ ẩm cao có thể dùng chế phẩm Beauveria bassiana
(Boverin)
3 Sâu kèn (Cryptothelea (Clania) variegata) họ Psychidae, gây hại chủ
yếu các loài cây như: Bằng lăng, Sao đen, Móng bò, Bàng
Phòng trừ: - Mùa đông gom lá rụng có kén đốt đi
- Dùng thuốc Dipterex, Ofatox 0.1% để phun
- Bảo vệ các thiên địch: Kiến, chim, ong ký sinh
4 Nhện lá hại sữa (Tetranychus trunctatus) họ Tetranychoidae, gây hại
chủ yếu trên cây Sữa
Phòng trừ:
- Dùng bình phun cao áp phun nước rửa sạch
- Phun thuốc Tetrasul, Chlorbensis 0,01% để phòng trừ
- Mùa khô hạn kịp thời tưới nước
Trang 115 Sâu cuốn lá Sữa (Cerace xanthocosma) gây hại chủ yếu trên cây Sữa
Phòng trừ:
- Loại bỏ cành khô lá rụng, tiêu diệt nhộng qua đông
- Hái lá cuốn, diệt sâu non và nhộng
- Có thể dùng Ofatox 0,1% để phun
- Bảo vệ thiên địch:
+ Ong kén Apanteles ruficus ký sinh sâu non
+ Ong cự chấm đen Xanthopimpla punctata ký sinh sâu non +
nhộng
+ Ong đùi to Brachymeria euploeae ký sinh nhộng và sâu non
+ Nhện, bọ ngựa ăn thịt sâu non
Và còn nhiều loài sâu hại khác và cách phòng trừ
Tuy nhiên, hiện nay công trình nghiên cứu có hệ thống về các loài sâu hại, đề tài được thực hiện với mong muốn cung cấp một số thông tin về tình hình sâu hại và các biện pháp phòng trừ tổng hợp các loài sâu hại chủ yếu trên cây xanh đô thị tại khu vực nghiên cứu
Trang 1221008’45’’ đến 21012’45’’ độ vĩ Bắc
106002’02’’ đến 106006’10’’ độ kinh Đông
Được giới hạn bởi: Phía Bắc giáp huyện Việt Yên tỉnh Bắc Giang; phía Nam giáp với huyện Tiên Du; phía Đông giáp với huyện Quế Võ; phía Tây giáp huyện Yên Phong tỉnh Bắc Ninh
2.1.2 Khí hậu thủy văn
Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng Bắc Ninh cho thấy: Thành phố nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, có hai mùa rõ rệt, mùa mưa và mùa khô Mùa mưa nóng từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô lạnh từ tháng 11 đến tháng 04 năm sau, mùa khô thường giá lạnh
có sương muối và hạn hán kéo dài Thông thường nền nhiệt độ trong khu vực không có biến động lớn, với một số chỉ tiêu cơ bản sau:
- Nhiệt độ bình quân năm: 23,90C
- Nhiệt độ trung bình tối cao: 29,60C
- Nhiệt độ trung bình tối thấp: 15,90C
Biên độ nhiệt giao động trong ngày từ 7 – 80C, vào thời kỳ khô hanh (mùa đông) biên độ nhiệt có thể dao động từ 8 - 100C
* Độ ẩm không khí trung bình năm: 82%
* Số giờ nắng trong năm trung bình: 1500 - 1800 giờ
Trang 13* Lượng mưa trung bình năm: 1.640 mm/năm, mưa nhiều tập trung vào các tháng 6, 7, 8, chiếm tới 80% tổng lượng mưa cả năm
từ 10 – 200C
2.1.4 Đất đai
Thành phố Bắc Ninh là vùng đồng bằng được tào thành chủ yếu do quá trình bồi tụ phù sa của hệ thống sông Hồng và sông Thái Bình Theo phân loại của PAO và UNESCO thì phần lớn đất đai ở đây có tên gọi chung là đất phù sa Ngoài ra, còn có các loại đất khác như: Đất xám, đất glây… nhưng chiếm một diện tích rất nhỏ
Trang 14hòa Bazơ cao, có màu nâu tươi, thành phần cơ giới là thịt pha sét, tơi xốp, cấu trúc phiến mỏng có xen lớp cát mỏng
- Đất phù sa có glây: loại này tập trung nhiều ở các vùng trũng (Cổ
Mễ, ven ngòi Kim Đôi và ven đường 18 như: Vũ Ninh, Đại Phúc…) Do chế độ tưới tiêu không chủ động, thời gian ngập úng nhiều mực nước ngầm ở tầng nông đã tạo ra tình trạng đất bị yếm khí thường xuyên, quá trình glây phát triển mạnh làm cho đất có màu loang lổ Đất thường có màu nâu tươi, chua vừa, glây trung bình hoặc mạnh, thành phần cơ giới là thịt trung bình hoặc thịt nặng
- Đất phù sa chua: còn gọi là phù sa úng nước, cũng như đất phù sa
glây loại này phân bố nhiều trên vùng trũng ven đường 18 (Phường Đại Phúc) có thời gian ngập úng kéo dài Đất có màu xám nâu, chua, nghèo
nàn, glây yếu, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nặng
* Đất xám
- Đất xám có tầng loang lổ: tập trung nhiều ở các vùng đồi núi và khu vực cao của thành phố như: Thị Cầu, Đáp Cầu, Vạn An, Ba Huyện…
Đất màu xám sáng, chua, nghèo mùn và chất dinh dưỡng, khả năng trao
đổi Cation thấp, glây yếu, tầng mặt có thành phần cơ giới nhẹ, xuống sâu
có thành phần cơ giới nặng hơn
- Đất xám feralít phát triển trên phiến thạch sét: hầu hết những vùng
đồi núi thấp và khu vực cao của thành phố như: Vạn An, Hạp Lĩnh Đây
là loại đất đang bị thoái hóa, chua, thành phần cơ giới chủ yếu là thịt nhẹ hoặc trung bình
Tóm lại, đất của thành phố Bắc Ninh chủ yếu là đất phù sa không
được bồi tụ hàng năm có glây hay không có glây Các khu vực cao và vùng đồi núi là loại đất xám Đất có thành phần cơ giới có từ thịt trung bình đến thịt nặng, khá chua, thành phần dinh dưỡng không cao
Trang 152.1.5 Thảm thực vật
Do đặc điểm địa hình ở đây nên thảm thực vật không có gì nổi bật, chỉ có vùng gò đồi thấp rừng trồng tập trung, mục đích để phòng hộ và cải tạo môi trường sinh thái, loài cây chủ yếu là keo Thảm tươi chủ yếu là cỏ lào, cỏ chít,… và một số loài cây nông nghiệp, cây ăn quả được trồng kết hợp theo mô hình Nông lâm kết hợp
2.1.6 Tài nguyên du lịch và nhân văn
Là vùng đất cổ xưa của nước ta, nơi sản sinh ra nền văn hóa Quan
họ đặc sắc, chiếc nôi của nền văn minh lúa nước Đó cũng chính là chốn Kinh bắc xưa nay gọi là Bắc Ninh Trải qua bao biến động thăng trầm của thời gian cho đến nay vùng quê Quan họ vẫn còn lại nhiều dấu ấn lịch sử, văn hóa của nghìn năm văn hiến mà ở nhiều thành phố lớn không dễ gì có
được Đó là khu thành cổ Bắc Ninh được xây dựng từ năm 1805 đời vua Gia Long, khu văn bia tiến sĩ, phòng tuyến sông Như Nguyệt, đình chùa
Cổ Mễ… Là điểm đến của khách tham quan và du lịch
2.1.7 Đánh giá về điều kiện tự nhiên
- Thành phố Bắc Ninh có nền nhiệt độ khá ổn định và thuận lợi cho phát triển cây trồng nói chung và cây xanh đô thị nói riêng
Địa hình thấp, bằng thuận lợi cho việc đi lại và triển khai trồng, chăm sóc cây xanh
- Hệ thống sông, ngòi lớn có nước quanh năm, thuận tiện cho công tác tưới tiêu cây trồng
- Đất đai tương đối tốt phù hợp với nhiều loài cây trồng
- Lượng mưa lớn theo mùa, gây ngập lụt cục bộ cho các tuyến phố chính thuộc thành phố, là nguyên nhân chính gây chết hoặc úng nước cho cây hai bên đường phố
Trang 162.2 Đặc điểm dân sinh kinh tế xã hội
2.2.1 Dân số, lao động
Theo số liệu của Phòng thống kê thành phố, tính đến tháng 1 năm
2008 Trên địa bàn thành phố có 183.876 người, 89.179 lao động, chiếm 48,5% tổng dân số Mật độ 1.905 người/km2, mật độ ở trung tâm thành phố đông hơn nhiều so với các xã lân cận (4.406 người/km2) Nghề nghiệp chủ yếu là cán bộ công chức nhà nước, kinh doanh, buôn bán, làm nghề và sản xuất nông lâm nghiệp
Cơ cầu kinh tế theo ngành, lĩnh vực của thành phố có sự chuyển dịch theo hướng khai thác lợi thế của từng ngành, giảm dần tỷ trọng nông lâm nghiệp và tăng dần tỷ trọng dịch vụ Tỷ trọng GDP của khu vực dịch
vụ tăng lên 42,11% năm 2006 và 42,55% vào năm 2007; Tỷ trọng công nghiệp và xây dựng năm 2006 là 49,59%, năm 2007 là 49,61%; nông nghiệp giảm xuống 8,30% năm 2006 và 7,84% năm 2007[16]
2.2.3 Hiện trạng cơ sở hạ tầng
Thành phố Bắc Ninh có hệ thống giao thông phát triển: đường bộ,
đường thủy và đường sắt Có 2 trục đường chính chạy qua là huyết mạch giao thông quan trọng của tỉnh và của Quốc gia Đó là đường 1 Bắc Nam,
đường 18 Nội Bài - Bắc Ninh - Quảng Ninh Đây là hệ thống giao thông liên tục với các đô thị vùng kinh tế trọng điểm Bắc bộ Ngoài ra, còn có
Trang 17các tuyến đường liên thông với các huyện lỵ và các tỉnh bạn Hầu hết các tuyến đường trong thành phố được nâng cấp và quy hoạch rộng rãi, đã đáp ứng được nhu cầu đi lại cần thiết của người dân
Trang 18Chương 3
Mục tiêu, nội dung và phương pháp nghiên cứu 3.1 Mục tiêu nghiên cứu
3.1.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở xác định được các loài sâu hại chính cây xanh đô thị thành phố Bắc Ninh, từ đó đưa ra các giải pháp thích hợp trong công tác phòng trừ sâu hại
3.2.2 Mục tiêu cụ thể
1 Xác định được thành phần loài cây xanh chính trồng tại thành phố Bắc Ninh
2 Xác định được thành phần sâu hại chính làm ảnh hưởng đến cây xanh đô thị và đưa ra các biện pháp phòng trừ
3 Xác định mức độ hại lá của sâu hại của một số loài cây trồng chính
4 Đề xuất các giải pháp phòng trừ
3.2 Những quan điểm trong nghiên cứu
Cây xanh đô thị gồm toàn bộ cây xanh được trồng dọc theo 2 bên lề
đường thành phố Mục đích chủ yếu không phải là để cung cấp gỗ mà để phục vụ các mặt khác của cuộc sống đô thị như: Cải tạo môi trường, điều hòa khí hậu, giảm bớt tiếng ồn, che bóng mát, tạo cảnh quan hài hòa với các công trình kiến trúc như: Nhà ở, các trụ sở cơ quan, các công trình phúc lợi
Căn cứ vào mục tiêu đề ra cần xác định cụ thể thành phần sâu hại chính về đặc điểm sinh thái học, sinh vật học của các loài sâu hại làm cơ
sở cho việc đưa ra các giải pháp phòng trừ đạt hiệu quả cao nhất
Sự tồn tại và phát triển của các loài sâu hại là sự thích ứng lâu dài giữa loài với điều kiện ngoại cảnh và sự tác động của con người Vì vậy, nghiên cứu phải dựa vào các loài cây hiện có, các đặc điểm sinh vật học và những thay đổi môi trường để xem xét
Trang 19Việc kế thừa các tài liệu nghiên cứu được công bố có liên quan mang tầm quan trọng đặc biệt để tiết kiệm thời gian và vật chất và tránh
sự chồng chéo trong nghiên cứu
3.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của đề tài là các loài sâu hại cây trồng chính trong khu vực nghiên cứu Ngoài ra, điều tra các loài cây trồng khác để thu thập mẫu vật để phản ánh trung thực hơn các loài sâu hại cây xanh đô thị trên địa bàn thành phố Bắc Ninh
Thời gian thực hiện từ tháng 3/2008 đến tháng 8/2008
3.4 Nội dung nghiên cứu
Với những mục tiêu mà đề tài đặt ra, nội dung đề tài cần nghiên cứu bao gồm:
1 Xác định thành phần loài cây xanh đô thị chính trồng tại thành phố Bắc Ninh
2 Xác định các loài sâu hại chính trong khu vực nghiên cứu
3 Nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh thái của các loài sâu hại chính
4 Đề xuất biện pháp quản lý sâu hại trong khu vực nghiên cứu
Trang 20Xác định các tuyến điều tra có trong khu vực nghiên cứu Trong khi sơ thám xác định tuyến điều tra đại diện cho khu vực nghiên cứu, xác định chiều dài từng tuyến
Xác định các loài cây trồng chính trên các tuyến điều tra, loài cây chủ
đạo, năm trồng, tình hình sinh trưởng và phát triển Trên các tuyến tiến hành thống kê số lượng cụ thể từng loài cây và chọn ra số loài cây điều tra theo phương pháp ngẫu nhiên hệ thống, xác định cây điều tra theo tỷ lệ %, theo số lượng hiện có, tùy thuộc vào độ dài từng tuyến và tỷ lệ các cây có trong tuyến mà tiến hành xác định số cây điều tra cụ thể cho từng loài
3.5.2 Công tác ngoại nghiệp
3.5.2.1 Xác định hệ thống tuyến điều tra
Tuyến điều tra là các tuyến phố chính trong thành phố, đại diện cho cả khu vực điều tra, các tuyến này có mật độ cây trồng theo đúng thiết kế, thành phần loài, năm trồng Qua quá trình sơ thám, chúng tôi xác định
điều tra 03 loài cây trồng chính như: Bằng lăng, Sữa và Sao đen, trên mỗi tuyến điều tra, chúng tôi tiến hành điều tra từ 7 đến 15 cây mỗi loài, theo
tỷ lệ % (nếu số lượng cây nhiều) hoặc chọn cây điều tra ngẫu nhiên cây tiêu chuẩn (nếu số lượng cây ít) tùy theo độ dài từng tuyến Ngoài ra, còn
điều tra các loài cây khác trên tuyến, các loài cây trồng thuần loài, trên các tuyến phố mang tính lịch sử, gắn với tên tuổi của các vị anh hùng dân tộc, các loài cây trồng mang tính giải trí, nghỉ ngơi Như: cây Hoàng lan trên đường Nguyên Phi ỷ Lan; cây Tếch đường Kinh Dương Vương; cây Nhội trước cửa UBND tỉnh, tỉnh ủy; Sữa trên đường Hai Bà Trưng để thu thập và định loại mẫu vật, từ đó đưa bảng danh lục tương đối đầy đủ sâu hại chính cây xanh đô thị thành phố Bắc Ninh
Căn cứ vào tình hình thực tế của thành phố và các loài cây đã được trồng, chúng tôi xác định được 4 tuyến điều tra đại diện cho cả khu vực
Trang 21nghiên cứu, với các điểm xuất phát khác nhau Hình ảnh các tuyến được thể hiện ở hình 3.1 Sơ đồ tuyến điều tra được thể hiện ở hình 3.2
Tuyến 1: đường Nguyễn Trãi Tuyến 2: đường Thiên Đức
Tuyến 3: đường Nguyễn Gia Thiều Tuyến 4: đường Lý Thái Tổ
Hình 3.1: Hiện trạng cây xanh trên các tuyến điều tra
Trang 22Hình 3.2: Sơ đồ tuyến điều tra
Sau đây là đặc điểm của các tuyến điều tra:
- Tuyến 1: Từ Cổng Ô đi đến đầu cầu vượt Bò Sơn, với chiều dài
2,3 km
Xuất phát từ ngã tư Cổng Ô chạy theo hướng Đông của thành phố
đến đầu cầu vượt Bò Sơn Con đường mang tên Nguyễn Trãi, một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hóa thế giới Đây là đường 38 nối với Quốc lộ 5 và các huyện trong tỉnh Tuyến này đường được thiết kế đường
đôi và dải phân cách cứng, 2 bên đường là các tòa nhà cao tầng và dân cư
đông đúc, lưu lượng xe qua lại đông Các loài cây ở đây được trồng làm bóng mát chủ yếu là: Bằng lăng, Trứng cá, Nhội, Lát, Muồng, Bàng
Trang 23Trên tuyến này do mật độ cây nhiều, chúng tôi chọn ngẫu nhiên theo hệ thống 10% tổng số cây để điều tra Đối với loài bằng lăng cứ cách 13 cây lấy 1 cây, sữa cứ cách 9 cây sữa lấy một cây là cây tiêu chuẩn Như vậy, tuyến này tiến hành điều tra 10 cây Bằng lăng, 8 cây Sữa
- Tuyến 2: Từ bến xe thành phố đến trường Cao đẳng Thống kê,
với tổng chiều dài 1,6 km
Xuất phát từ đầu đường 286 đi huyện Yên Phong, chạy theo hướng Tây Nam thành phố, tuyến đường mang tên Thiên Đức Là tuyến đường liên huyện, mật độ xe lưu thông lớn, dân cư đông đúc Các loài cây được trồng chủ yếu ở đây như: Trứng cá, Bằng lăng, Sữa, Muồng đen, Sấu và một số ít loài cây ăn quả khác Tuyến này ngắn chúng tôi chọn ra ngẫu nhiên 10 cây Bằng lăng và 7 cây Sữa làm cây tiêu chuẩn, đại diện cho cả tuyến để điều tra
- Tuyến 3: Từ đường 18 đến đường Kinh Dương Vương, với tổng
chiều dài 2,5 km
Xuất phát từ đường 18 chạy theo hướng Tây Bắc thành phố, con
đường mang tên Nguyễn Gia Thiều, điểm cuối là đường Kinh Dương Vương Đây là con đường trung tâm thành phố với mật độ lưu lượng xe
đông, dân cư đông đúc và các nhà cao tầng Tuyến này được trồng vào năm
2000 với nhiều loài cây như: Bằng lăng, Sữa, Trứng cá, Móng bò, Muồng Trên tuyến này tiến hành điều tra 10% số cây ngẫu nhiên theo hệ thống
Đối với loài Bằng lăng cứ cách 14 cây Bằng lăng lấy 1 cây, loài cây Sữa cứ cách 11 cây Sữa lấy cây làm cây tiêu chuẩn Trên tuyến này tiến hành điều tra 10 cây Bằng lăng và 15 cây Sữa
- Tuyến 4: Từ ngã tư đường Nguyễn Trãi đến Trung tâm Văn hóa
Kinh Bắc, với tổng chiều dài 4,5 km
Xuất phát từ đầu đường Nguyễn Trãi dọc theo tuyến đường Lý Thái
Tổ, là tuyến đường lớn trung tâm của các Sở, Ban ngành của tỉnh, tuyến
Trang 24đường mang tên vị vua nhà Lý Mật độ xe qua lại không đông như các tuyến khác, xa khu vực dân cư Hai bên đường được trồng duy nhất là loài Seo đen, ở đây cây xanh ít bị tác động Thực bì chủ yếu là lá cây, cỏ lào,
cỏ gà Trên tuyến này tổng số 840 cây Sao đen, chúng tôi tiến hành điều tra 30 cây, cứ cách 28 cây điều tra 1 cây, đánh giá mức độ cây bị sâu, mức
điều tra các chỉ tiêu của tuyến điều tra như: Tình hình sinh trưởng và phát triển của cây xanh, thực bì nếu có, mức độ tác động
3.5.2.2 Phương pháp điều tra trên tuyến
* Các nội dung điều tra
+ Điều tra đặc điểm của các cây điều tra
+ Điều tra tình hình sâu hại cây xanh trên các tuyến
a Phương pháp xác định đặc điểm của cây điều tra
* Cách xác định cây điều tra
Trên mỗi tuyến điều tra đã được xác định tiến hành chọn ngẫu nhiên hệ thống 10 cây Bằng lăng cho tuyến I và III Từ 8 đến 15 cây Sữa cho tuyến I và III Tuyến II tiến hành chọn ngẫu nhiên 10 cây Bằng lăng
và 7 cây Sữa làm cây tiêu chuẩn Riêng tuyến IV điều tra 30 cây Sao đen như đã nêu ở trên
* Đặc điểm của các điểm điều tra bao gồm:
- Loài cây trồng, năm trồng, D1.3, HVN, Dtán
Trang 25(Tất cả các chỉ tiêu cơ bản của các cây điều tra của các tuyến
được trình bày trong phụ biểu 02)
b Phương pháp điều tra sâu hại cây xanh đô thị
Đối với sâu hại cây xanh đô thị, qua điều tra thực tế cho thấy Đại đa số cây bị sâu hại chủ yếu là hại lá, có những loài hại lá rất nặng Do đó, chúng tôi chủ yếu đi sâu vào nghiên cứu sâu hại lá là chủ yếu Sâu hại thân cành phần lớn có các giai đoạn nằm sâu bên trong thân và cành, rất khó phát hiện, đặc biệt khi sâu mới xâm nhập; một số loài như các loài bọ xít, rệp chích hút nhựa cây thường chỉ để lại các vết rất nhỏ khó thấy Do đó, điều tra sâu hại thân cành thường được kết hợp với điều tra thành phần, số lượng và điều tra mức độ hại của từng cây và tiến hành thu thập mẫu vật, để bổ sung cho danh lục sâu hại cây xanh nói chung
Khi điều tra tiến hành đi dọc tuyến quan sát kết hợp thu thập mẫu vật Tại các cây điều tra chúng tôi dừng lại và quan sát, dùng gậy hoặc vợt để thu thập mẫu
* Dụng cụ gồm:
- Gậy bắt sâu: làm bằng tre, dài 1,5 m, đầu có móc
- Vượt bắt sâu trưởng thành: làm bằng vải màn miệng có đường kính 30
cm làm bằng sắt được gắn vào một cán tre dài 1,5 m
- Máy ảnh kỹ thuật số: Khi bắt được mẫu vật cần tiến hành chụp ảnh ngay, để thuận tiện cho việc định loại sau này
- Thang chữ A: Để việc quan sát và thu bắt, xác định mức độ sâu hại lá thuận tiện, đỡ mất công trèo cây, thang chữ A là rất cần thiết và thuận tiện Thang có chiều cao 3m, hai chân xoạng ra, có thể đứng độc lập, không cần phải dựa vào cây Giúp cho người điều tra thoải mái khi làm việc mà không làm ảnh hưởng đến cây
Trang 26- Lọ nhựa có chứa dung dịch (cồn hoặc Foócmol): dùng để bảo quản mẫu vật, khi xác định chưa chính xác loài đó
- Lọ nhựa nuôi sâu: Có những loài bắt được chưa xác định được cụ thể cần tiến hành nuôi Lọ được sử dụng để nuôi sâu phải là lọ nhựa màu trắng, có nắp, chiều rộng của đáy từ 7 đến 15 cm, chiều cao của lọ là 25 cm Miệng và thành lọ được khoan nhiều lỗ thoáng khí, nhằm tạo môi trường sống thích hợp cho sâu Đáy lọ nuôi sâu có giấy để tạo điều kiện thuận lợi cho việc vệ sinh
Dụng cụ nuôi sâu được đánh số thứ tự và được ghi nhớ trong sổ theo dõi Để thuận tiện cho việc theo dõi tiến hành ghi những thông tin chính về sâu đang nuôi trong dụng cụ lên một miếng giấy có kích thước khoảng 2x7cm rồi dán lên dụng cụ nuôi
Cách thức điều tra thu thập mẫu: Sâu hại thường được tập trung ở trên lá, cành, thân cây Để việc điều tra đạt hiệu quả, khi đi điều tra dọc tuyến tiến hành quan sát và thu bắt những cá thể bằng gậy đầu có móc đối với sâu non, bằng vợt đối với sâu đã trưởng thành và các loài có miệng chích hút Đối với những loài đã rõ tên khoa học cần ghi ngay vào phiếu điều tra Những loài chưa rõ tên cần tiến hành thu bắt mẫu, chụp ảnh, mô tả rồi cho vào hộp giữ mẫu và ghi ký hiệu theo thứ tự: Tuyến điều tra, cây điều tra số, đợt điều tra, loài cây Ví dụ: T1C3Đ2BL (Tuyến 1, cây số 3, đợt điều tra 2, Bằng lăng) Số liệu điều tra được tập hợp theo mẫu biểu sau đây:
Mẫu biểu 01: Điều tra sâu hại cây xanh đô thị
Trang 27Trong khi điều tra điểm xác định tỷ lệ cây có sâu hại và mức độ gây hại của chúng Để đánh giá mức độ bị hại và tình hình phân bố của các cây bị sâu hại dựa vào tiêu chuẩn sau:
- Mức độ sâu hại lá:
Do cây tiêu chuẩn cao nên không thể điều tra toàn bộ tán lá của cây mà dùng hình thức rút mẫu cành và lá điều tra (cũng có thể gọi là cành tiêu chuẩn hay lá tiêu chuẩn) Do đặc điểm của cây xanh đô thị cành lá xum xuê, tán hình tròn Để mẫu điều tra phân bố đều trong tán lá tiến hành chia tán lá ra làm 3 phần: Phần trên, phần giữa và phần dưới của tán lá, mỗi phần chọn ra 2 cành
điều tra Như vậy, mỗi cây có 6 cành điều tra, hai cành ở dưới cùng thường
được chọn theo hướng Đông Tây hoặc Nam Bắc, 2 cành ở phần giữa tán thường nằm vuông góc với 2 cành ở dưới, 2 cành còn lại ở phần trên của tán lại có hướng tương tự như 2 cành dưới cùng, và đánh số thứ tự từ 1 đến 6, theo chiều từ dưới lên
Trên mỗi cành điều tra phân cấp 6 lá, mỗi cành điều tra ngắt 2 lá ở gốc cành, 2 lá ở giữa cành và 2 lá ở ngọn cành để quan sát
Để ước lượng mức độ bị hại của những lá điều tra dùng giấy kẻ ly đo diện tích các vết lá bị ăn hại và tổng diện tích của từng lá, sau đó căn cứ vào tỷ
lệ diện tích lá bị hại so với tổng diện tích của lá rồi phân cấp hại cho các lá
Có thể dùng biện pháp ước lượng đơn thuần rồi phân cấp hại
Trang 28Mẫu biểu 02 : Điều tra mức độ hại lá của sâu hại
Số hiệu tuyến điều tra:
Ngày điều tra: Người điều tra:
0 I II III IV
3.5.3 Công tác nội nghiệp
Công tác nội nghiệp bao gồm:
- Giám định các loài sâu hại theo phương pháp chuyên gia
- Kiểm tra, xắp xếp số liệu quan sát theo trình tự thời gian, theo tuyến, theo loài cây, năm trồng
- Quan sát, đo đếm xác định tên mẫu vật
- Tính các đặc trưng thống kê
- Vẽ các biểu đồ minh họa kết quả nghiên cứu
- Lập bảng danh lục các loài sâu hại trong khu vực nghiên cứu Sau khi đã tổng hợp được danh lục các loài, tiến hành tính toán các chỉ tiêu như: Tỷ lệ cây có sâu (P%), mật độ (M), mức độ hại lá (R%), phân bố theo loài cây [15]
+ Tỷ lệ cây có sâu (P%) được xác định bằng tỷ lệ % của tổng số cây
có sâu trên tuyến, ở đây tổng số cây điều tra trên toàn bộ các tuyến là 30 cây cho mỗi loài Công thức được tính như sau:
100
%
N n
Trang 29Trong đó: P%: Tỷ lệ có sâu
n: số cây điều tra có sâu N: tổng số cây điều tra Chỉ số P% dùng để xác định độ thường gặp như sau:
- Loài thường gặp: P% >50 ký hiệu là ***
m
i i
SC = số lượng sâu của cây (=cây tiêu chuẩn)
Li = số lượng sâu của cây điều tra thứ i
m = số cành điều tra đã chọn
TM = tổng số cành điều tra của 1 cây điều tra (=cây tiêu chuẩn) + Chỉ số hại lá R%: Được tính cho mức độ hại lá, ở một cây điều tra Công thức tính như sau:
100NV
vn
%R
4
0 i
i i
R% là chỉ số hại của cây tính theo phần trăm
ni là số lá bị hại của cấp hại i
vi là trị số của cấp hại i
N là tổng số lá quan sát của một cây
V trị số của cấp cao nhất, trong trường hợp này V = 4
Trang 30Sau đó tính chỉ số hại trung bình của từng loài sâu hại lá của từng loài cây theo phương pháp bình quân cộng
Một số chỉ số thống kê được xác định là:
- Tỷ lệ % của các loài sâu hại theo các đơn vị phân loại cơ bản như họ, bộ
- Tỷ lệ % các loài sâu hại theo loài cây
- Để có được các đặc điểm về hình thái, tiến hành mô tả mẫu vật như: Kích thước, mầu sắc, hình dạng Mô tả tập tính như: Sống thành đàn hay đơn
lẻ, thức ăn của sâu non và nơi cư trú Mô tả về vòng đời, khả năng sinh sản, mùa sinh sản Từ đó đề xuất các biện pháp phòng trừ
Trang 31P% loài
1 Bằng lăng Lagerstroemia calyculata lythraceae 4.313 29,49
2 Sao đen Hopea odorata
Dipterocarpacea
e
1.280 8,75
3 Trứng cá Muntigia calabura Tylieaceae 2.548
17,78
4 Sữa Alstonia scholaris apocynaceae
1.981
13,83
5 Nhội Bischofia javanica euphobiaceae
266
1,86
6 Gội trắng Aphanamixis grandifolia meliaceae
436 3,04
7 Hoàng lan Cymbidium iridioides orchidaceae 386 2,69
8 Móng bò Bauhinia purpurea caesalpiniaceae
568
3,96
9 Phượng Delonix regia caesalpiniaceae
1.405
9,81
10 Muồng đen Senna siamea caesalpiniaceae 424 2,96
336
2,35
12 Lát hoa Chukrasia tabularis meliaceae 187 1,31
14 Bàng Terminalia catappa Combretaceae
0
Trang 32(Nguồn do Công ty môi trường và Công trình đô thị Bắc Ninh Cung cấp)
Qua bảng 4.1 cho thấy: Trên tổng số 14 loài, thuộc 11 họ được trồng chính trên địa bàn thành phố Số lượng loài cây lớn nhất: Bằng lăng
(Lagerstroemia calyculata 4.313 cây, 29,49%), tiếp đến là Trứng cá (Muntigia calabura 2.548 cây, 17,78%), Sữa (Alstonia scholaris 1.981 cây, 13,83%) Số loài có cây ít nhất: Bàng (Terminalia catappa 167 cây, 1,17%); tiếp đến Lát hoa (Chukrasia tabularis 178 cây, 1,31%); Sấu (Dracontomelum duperreanum 330 cây, 2,30%) Ngoài ra, một số loài cây do dân tự trồng như:
Dâu da xoan, Đa, Bông gòn, Si và một số cây ăn quả cũng được trồng như: Nhãn, Xoài, Roi, Trứng gà Nhìn chung, những loài cây này chưa đạt một số tiêu chuẩn cây bóng mát như: Chịu nhiệt, độ ẩm, lượng nước ngầm, hạn chế bụi,, tiếng ồn, làm sạch môi trường, chịu được các chất độc hại do quá trình
đô thị hóa và hoạt động công nông nghiệp – Thương mại và dịch vụ đào thải
Đồng thời phải phản ánh được tính chất văn hóa, tôn giáo, và thích ứng với kiến trúc đô thị cụ thể như sau:
- Cây sống lâu năm, thân cành dẻo dai tỉa cành tự nhiên tốt, phân nhánh cao, thân thẳng đều, không có gai góc, bạnh vè u bướu
- Tán lá nhiều thường xanh có rễ vững vàng không làm hỏng các công trình ngầm và giảm tầm nhìn
- Chịu được sự va đập tác động cơ giới, chịu được các khí độc như: SO2,
Cl2, H2O, CO2 chịu úng hạn và khả năng giữ bụi tốt
- Thân, lá, hoa đẹp không gây độc hại cho người và gia súc, không thải
ra các chất độc hại
- Các bộ phận của cây như thân, rễ, lá, hoa, quả, hạt không có mùi hôi thối, không hấp dẫn côn trùng, nấm bệnh và sâu hại [3]
Trang 33Tuy nhiên, nó vẫn còn tồn tại trong thời kì quá độ, trong tương lai cần phải loại bỏ các loài cây này, thay vào đó là các loài cây có giá trị thực sự cho môi trường đô thị
4.2 Thành phần loài sâu hại, nhện hại
Tại khu vực nghiên cứu chúng tôi đã ghi nhận được tổng số 32 loài
Trong đó: Lớp côn trùng (Insecta) có 30 loài, thuộc 18 họ, 4 bộ Lớp Nhện
(Arachnida) có 2 loài, thuộc 1 họ và 1 bộ Bảng danh sách điều tra được trình bày trong phụ biểu 01
Thống kê số loài theo các đơn vị phân loại trong bảng 4.2:
Bảng 4.2 Danh lục sâu hại cây xanh đô thị Bắc Ninh
2 Dysdercus cingulatus Bọ xít lửa 2 chấm đen
3 Lamprocoris lateralis (Guerin, 1830) Bọ xít mai rùa 9 chấm
4 Scutellera fasciata (Panzer, 1797) Bọ xít mai rùa7 chấm
5 Philia miyakonus (Matsumura, 1905) Bọ xít mai rùa 4 chấm
Trang 3411 Papilio polytes Linnaeus Bướm phượng
12 Graphium agamemnon Linnaeus Bướm phượng
13 Papilio memnon Linnaeus Bướm phượng
14 Catopsilia pomona Fabricius Sâu xanh
15 Catopsilia pyranthe Herbst Sâu xanh
16 Cleora ogasawarensis Inoue Sâu đo
17 Latoia (Parasa) lepida Cramer Bọ nẹt
18 Parasa consocia Walker Bọ nẹt
19 Thosea sinensis (Walker) Bọ nẹt sọc trắng
20 Smerithus planus Walker Ngài trời
21 Trabala vishnou Lefebure Sâu róm
22 Orgyia postica Walker Sâu róm 4 túm lông
23 Euproctis similis F Sâu róm
24 Chalioides kondonis Matsumura Sâu kèn trắng
25 Amatissa snelleni Heylearts Sâu kèn dài
26 Dappula tertia Templeton Sâu kèn bó lá
27 Cryptothelea (Clania) variegata Snellen Sâu kèn bó lá
28 Acanthopsyche reimeri Sâu kèn nhỏ
29 Cerace xanthocosma Diakonoff Sâu cuốn lá sữa
Trang 351 Tetranychus trunctatus Ehara Nhện lá
2 Phyllocoptruta oleivora Ashm Nhện u
Qua bảng 4.2 cho thấy lớp Insecta chiếm đại đa số hầu hết các loài trong khu vực nghiên cứu, thành phần và số lượng loài cũng chiếm một tỷ lệ lớn, gồm 4 bộ, 18 họ, 30 loài Lớp Arachnida chỉ điều tra 1 bộ và 1 họ duy nhất Kết quả thống kê số bộ, họ, loài được ghi trong bảng 4.3:
Bảng 4.3: Tỷ lệ % số họ, số loài của các loài sâu hại, nhện hại thành phố
Trang 3615,79 15,63 10,53
6,25
15,79 9,38
52,63 62,50
và loài ít nhất là Tetranychoidea có 1 họ, chiếm 5,26%, có 2 loài chiếm 6,25%
Nhìn chung, các loài sâu hại cây xanh đô thị thành phố Bắc Ninh, chiếm
tỷ lệ ở mức trung bình, có những loài sâu hại rất đông về thành phần loài như:
Acanthopsyche reimeri, chiếm số lượng loài đông nhất, tiếp đến Cerace xanthocosma, Tetranychus trunctatus các loài này có khả năng hại lá cao
4.3 Hiện trạng của sâu hại trong khu vực nghiên cứu
Sự phân bố của sâu hại nói chung liên quan đến nhiều yếu tố như yếu
tố sinh vật và yếu tố phi sinh vật
Trong các yếu tố phi sinh vật chủ yếu là các yếu tố về khí hậu như: Nhiệt độ, độ ẩm, lượng mưa, ánh sáng, gió và thổ nhưỡng…
Các yếu tố sinh vật chủ yếu là thức ăn và thiên địch; hoạt động riêng biệt của con người được gọi là yếu tố nhân chủng (Anthropogenos)
Trong các yếu tố môi trường ảnh hưởng trực tiếp đến côn trùng nói chung và sâu hại nói riêng thì các yếu tố: nhiệt độ, độ ẩm, dưỡng khí, và
P% loài
Trang 37thức ăn đã ảnh hưởng trực tiếp đến quá trình trao đổi chất trong cơ thể và không thể thiếu được trong quá trình sống Các yếu tố đó được gọi là các yếu tố sinh tồn [9]
Trong một phạm vi hẹp như thành phố Bắc Ninh các yếu tố phi sinh vật coi như là đồng nhất, thì yếu tố thức ăn là vấn đề quyết định đến mật độ
và sự phân bố của sâu hại Sự phân bố theo không gian của các loài thường chỉ là mang tính tương đối
4.3.1 Số lượng loài sâu hại của các họ côn trùng trên các loài cây trồng
Như chúng ta đã biết mỗi loài cây khác nhau, môi trường sống khác nhau có các loài sâu hại khác nhau, vì thế mà sự phân bố của chúng khác nhau, chủ yếu liên quan đến nguồn thức ăn Mặc dù ở thời kỳ trưởng thành sâu hại thường bay đi khá xa Tuy nhiên, chúng cũng có sự lựa chọn nơi
đến khá rõ ràng: Yếu tố thức ăn, ánh sáng, gió, nhiệt độ, độ ẩm có ảnh hưởng lớn đến sự lựa chọ này Mười loài cây điều tra được các loài sâu hại, trong tổng số 14 loài cây trồng chính được trồng trong khu vực thành phố Bắc Ninh Đã phản ánh được phần nào số lượng cũng như thành phần sâu hại Qua điều tra cho thấy số loài thu được ở các loài cây là rất khác
nhau Kết quả được trình bày trong bảng 4.4:
Bảng 4.4: Số lượng loài sâu hại của các họ côn trùng trên các loài cây trồng
Trang 3812,50 18,75
25,00 21,88 28,13
15,63 12,50 15,63
0 5 10 15 20 25 30 35 40 45
Tỷ lệ %
Bằng lăng
Loài cây
Hình 4.2: Tỷ lệ phần trăm số loài sâu hại theo các loài cây
Nhìn vào bảng 4.4 và hình 4.2 ta thấy, loài Bằng lăng có số lượng sâu cao nhất 13 loài, chiếm 40,63% số loài của khu vực, tiếp đó đến Sao
Trang 39đen có 11 loài, chiếm 34,38%, Phượng vĩ 9 loài, chiếm 28,13% tổng số loài điều tra được Loài cây có thành phần loài sâu ít nhất là Sữa và Hoàng lan 12,50% Như vậy, có thể nói rằng mỗi một loài cây khác nhau, thành phần sâu hại tương đối khác nhau, số lượng các cá thể loài sâu cũng khác nhau Điều này có thể lý giải như sau: Trong quá trình sống, sự thích nghi của các loài sâu hại đối với môi trường, nguồn thức ăn để giao phối và đẻ trứng Nhìn chung các loài thích nghi với môi trường sống rộng, có thể ăn
được nhiều loại thức ăn khác nhau (loài đa thực) Có ít số loài sống thích nghi với môi trường hẹp hơn và ít thấy ở các loài cây khác (loài đơn thực
và loài hẹp thực) như loài Catopsilia pomona, Catopsilia pyranthe chỉ
thấy ở Muồng,
Phần lớn các loài sâu hại thành phố Bắc Ninh có mật độ quần thể ở
mức trung bình, tuy nhiên có một số loài rất phổ biến như: Acanthopsyche reimeri (họ Psychidae) phân bố rộng khắp và mật độ cá thể rất lớn thường thấy ở các loài cây như Bằng lăng, Bàng, Phượng vĩ, loài Cerace xanthocosma (họTortricidae) chỉ thấy ở cây Sữa với mật độ khá lớn, Erthesina full (họ Pentatomidae) với khả năng bay tốt chúng xuất hiện ở
nhiều loài cây như: Sao đen, Tếch, Nhội
Bên cạnh các loài phổ biến có số lượng cá thể đông, một số lượng khá lớn các loài chỉ thấy ở 1 – 2 loài cây Những các thể này chỉ sử dụng một đến vài loài thực vật làm thức ăn, các loài này có môi trường sống hẹp hơn, chỉ thấy chúng ở những cây mà chúng sinh sống, cây chủ làm nguồn thức ăn
như: Smerithus planus (họ Sphingidae) chỉ thấy chúng ở cây Tếch, loài Catopsilia pomona, Catopsilia pyranthe (họ Pieridae) thường thấy chúng xuất hiện ở cây Muồng, loài Thosea sinensis (họ Limacodidae) chỉ thấy ở cây Sao đen, Tetranychus trunctatus chỉ thấy xuất hiện ở cây Sữa
Một số loài có phân bố rộng, có thể bắt gặp chúng ở nhiều sinh
cảnh, đó là các loài được ghi trong bảng 4.5:
Trang 40Bảng 4.5: Các loài sâu hại bắt gặp ở nhiều loài cây
1 Erthesina fullo Pentatomidae 5/10 loài cây
2 Lamprocoris lateralis Scutellaridae 4/10 loài cây
3 Scutellera fasciata Scutellaridae 3/10 loài cây
4 Cryptotympana atrata Cicadidae 7/10 loài cây
5 Papilio memnon Papilionidae 3/10 loài cây
6 Euproctis similis Lymantriidae 6/10 loài cây
7 Chalioides kondonis Psychidae 6/10 loài cây
8 Amatissa snelleni Psychidae 4/10 loài cây
9 Acanthopsyche reimeri Psychidae 3/10 loài cây
10 Cryptothelea (Clania) variegata Psychidae 3/10 loài cây
Nhìn trong bảng 4.5 cho thấy có 10 loài phân bố khá rộng theo các
loài cây trong khu vực nghiên cứu Trong đó họ Cicadidae có 1 loài (Cryptotympana atrata) nhưng phạm vi hoạt động rộng nhất 7/10 loài cây
trồng, họ Psychidae có thành phần loài đông nhất 4/10 loài, họ Scutellaridae
có 2 loài, còn lại đại diện mỗi họ có duy nhất 1 loài
Các loài mới chỉ thu được ở duy nhất một loài cây được trình bày trong bảng 4.6:
Bảng 4.6: Thống kê số loài sâu hại bắt gặp ở duy nhất 1 loài cây
1 Aderorrhinus sp Attelabidae 1/10 loài cây
2 Monochamus millegranus Cerambycidae 1/10 loài cây
3 Catopsilia pomona Pieridae 1/10 loài cây
4 Catopsilia pyranthe Pieridae 1/10 loài cây
5 Smerithus planus Sphingidae 1/10 loài cây
6 Cerace xanthocosma Tortricidae 1/10 loài cây
7 Pericyma cruegrii Noctuiidae 1/10 loài cây
8 Tetranychus trunctatus Tetranychoidae 1/10 loài cây