1. Trang chủ
  2. » Cao đẳng - Đại học

tom tat mot so tac gia chuong trinh van 9

7 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 16,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Khung c¶nh trªn biÓn khi mÆt trêi t¾t kh«ng nÆng nÒ tèi t¨m mµ mang vÎ ®Ñp cña thiªn nhiªn t¹o vËt trong vËn ®éng tù nhiªn cña nã.Bµi th¬ lµ cuéc ch¹y ®ua gi÷a con ngêi vµ thiªn nhiªn, v[r]

Trang 1

Giới thiệu một số tác giả và tóm tắt văn bản

1 Đồng chí (Chính Hữu )

- Nhà thơ Chính Hữu sinh năm 1926, quê ở Hà Tĩnh.Ông gia nhập quân đội từ đầu cuộc kháng chiến chống Pháp và làm công tác tuyên huấn trong quân đội nhiều năm

Chính Hữu sáng tác không nhiều và hầu chỉ viết về ngời lính và chiến tranh, nhng có những bài đặc sắc.Tác phẩm chính là tập thơ “Đầu súng trăng treo”( 1966)

Bài thơ “Đồng chí” viết đầu năm 1948 Đây là một trong số những tác phẩm thành công sớm nhất trong văn học Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp.Bài thơ đợc Chính Hữu viết sau khi ông cùng đồng đội tham dự chiến dịch Việt Bắc năm 1947 đập tan cuộc tấn công quy mô lớn của thực dân Pháp lên chiến khu Việt Bắc

Bài thơ thể hiện sự cảm nhận và lí giải của tác giả về tình đồng chí Có thể chia bài thơ làm

ba đoạn:

Đoạn đầu( Gồm 7 câu thơ đầu) có thể coi là sự lí giải về cơ sở của tình đồng chí.Tình cảm này đợc bắt nguồn từ sự đồng cảm giai cấp.Những ngời lính cách mạng xuất thân từ nông dân, ở những vùng quê nghèo khó “Nớc mặn đồng chua, Đất cày lên sỏi đá”.Lí tởng cách mạng đã khiến họ tập hợp lại trong một đội ngũ chiến đấu và trở lên thân quen với nhau Họ cùng chung nhiệm vụ sát cánh bên nhau trong chiến đấu”Súng bên súng,đầu sát bên đầu” Họ chia sẻ với nhau những gian khổ của cuộc đời nguời lính và trở thành tri kỷ của nhau:

“Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỉ”

Họ thành đồng chí của nhau Vậy tình đồng chí chính là sự kết tinh của tình ngời,tình bạn, tình của những ngời cùng hoàn cảnh, cùng chí hớng,cùng chia sẻ ngọt bùi cay đắng

Đoạn hai ( Từ dòng 8 đến dòng 17) tác giả tiếp tục làm rõ tình đồng chí giữa những ngời lính cách mạng.Đến đoạn này tình đồng chí đợc nhà thơ thể hiện một cách rõ nét.Trớc hết tình đồng chí là sự thấu hiểu hoàn cảnh của nhau:”Ruộng nơng anh gửi bạn thân cày(…) Giếng nớc gốc đa nhớ ngời ra lính” Ngoài ra tình đồng chí còn biểu hiện qua việc họ cùng chia sẻ với nhau bao gian lao vất vả, thiếu thốn của cuộc đời ngời lính, vào thời điểm hết sức khó khăn của những năm đầu kháng chiến chống Pháp:

“ Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh

Sốt run ngời vầng trán đẫm mồ hôi

áo anh rách vai

Quần tôi có vài mảnh vá

Miệng cời buốt giá

Chân không giầy”

ở đây, tác giả đã sáng tạo đợc những câu thơ sóng đôi, đối ứng với nhau để khắc hoạ đậm nét sự tơng đồng giữa những ngời lính và tinh thần tự nguyện cùng gắn bó chia sẻ mọi khó khăn trong cuộc sống của ngời chiến sĩ sau này.Sức mạnh khiến những ngời lính vợt qua đợc mọi gian lao thiếu thốn chính là tình thơng Điều này đợc miêu tả một cách giản dị và hàm súc bằng câu thơ: “Thơng nhau tay nắm lấy bàn tay”

Đoạn ba( Gồm ba câu cuối cùng) tác giả tiếp tục khắc hoạ chủ đề đồng chí bằng cách dựng lên một bức tranh vừa chân thực vừa lãng mạn: Khi những ngời lính cùng sát cánh bên nhau trong một đêm phục kích giặc nơi chiến khu

Tóm lại,qua bài thơ đồng chí,Chính Hữu đã ngợi ca tình cảm gắn bó keo sơn giữa những

ng-ời lính cách mạng…

2 Làng( Kim Lân):

Nhà văn Kim Lân, tên thật là Nguyễn Văn Tài( 1920-2007) quê Từ Sơn-Bắc Ninh.Ông sáng tác không nhiều và hầu nh chỉ viết về sinh hoạt,phong tục làng quê và cảnh ngộ của ngời nông dân, nhng có những tác phẩm đặc sắc.Kim Lân đợc coi là nhà văn có biệt tài về truyện ngắn.Tác phẩm chính của ông là hai tập truyện ngắn “Nên vợ nên chồng” và “ Con chó xấu xí”

Truyện ngắn “Làng” viết vào thời kì đầu của cuộc kháng chiến chống Pháp và đợc đăng lần đầu trên tạp chí Văn nghệ 1948 sau đợc đa vào Văn tuyển 1945-1956, khắc hoạ sinh

Trang 2

động tình yêu thiết tha làng quê của ngời nông dân hoà quyện thống nhất với tình yêu

n-ớc, tinh thần kháng chiến chống thực dân Pháp

Nhân vật chính của truyện là ông Hai- một nông dân đang phải xa làng, xa nơi chôn rau cắt rốn của mình để đi tản c theo khẩu hiệu lúc bấy giờ” Tản c là yêu nớc”

Ông có tính hay khoe làng của mình và khoe với tất cả sự say sa, hãnh diện Khi phải xa làng, tình cảm đối với làng của ông Hai càng trở lên thiết tha Lúc này ông chỉ biết thể hiện nỗi nhớ làng của mình trong những câu chuyện với ngời hàng xóm.Ông khoe sự sầm uất, sự văn minh, có phong trào cách mạng sôi nổi…Đây là nét tâm lí khá phổ biến của những ngời nông dân Điều đặc biệt đáng nói là đối với ông Hai, tình yêu làng thống nhất với tình yêu đất nớc, với tinh thần kháng chiến chống thực dân Pháp

Tình cảm này của ông Hai đã đợc thử thách khi ông Hai nghe tin làng chợ Dầu thân yêu của mình đã theo giặc.Ông bàng hoàng đau đớn lặng đi tởng nh đến không thở đợc…Từ

đó ông sống trong tâm trạng đau xót tủi hổ( Nghe tiếng chửi Việt gian, ông cúi gằm mặt

mà đi, về đến nhà ông nằm vật ra giờng, rồi tủi thân nhìn đàn con, nớc mắt trào ra…).Ông chỉ biết tâm sự với đứa con còn rất ngây thơ Qua những lời tâm sự đó ta càng thấu hiểu tình yêu sâu nặng của ông với làng chợ Dầu,đồng thời vơí cách mạng với kháng chiến, sự tin tởng ở lãnh tụ…

Khi nghe tin làng chợ Dầu theo giặc đợc cải chính, ông Hai cực kì vui mừng….(Dẫn chứng)

Trong truyện ngắn Làng, Kim Lân đã sáng tạo đợc một tình huống đặc sắc( ông Hai nghe tin làng theo giặc) để từ đó khắc hoạ một cách sinh động và cảm động tình yêu làng,yêu nớc ở nhân vật này.Đồng thời, ở đây tâm lí ông Hai đã đợc phát hiện và miêu tả một cách chân thật và sâu sắc

Với những phẩm chất của nó,”Làng” xứng đáng đợc coi là một trong số những truyện ngắn xuất sắc trong những năm đầu kháng chiến chống Pháp

3.Đoàn thuyền đánh cá (Huy Cận):

Nhà thơ Huy Cận tên thật là Cù Huy Cận(1919-2005) quê Hà Tĩnh.Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu nhất trong phong trào thơ Mới với tập thơ “Lửa thiêng”.Ông tham gia cách mạng từ trớc 1945 và sau Cách mạng tháng Tám từng giữ nhiều trọng trách trong chính quyền Cách mạng ,đồng thời là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền thơ hiện

đại Việt Nam Thơ ông sau CMT8 thờng khai thác cảm hứng từ niềm vui và sự hài hoà trong cuộc sống mới.Trớc cũng nh sau Cách mạng, thiên nhiên vũ trụ luôn là nguồn cảm hứng dồi dào trong thơ Huy Cận Những tập thơ nổi tiếng của ông nh “ Lửa Thiêng”(1940), “Trời mỗi ngày lại sáng” (1958), “Đất nở hoa” (1960)

Bài “Đoàn thuyền đánh cá” rút từ tập “ Trời mỗi ngày lại sáng” (1958) Đây là bài thơ

đ-ợc viết trong chuyến tác giả đi thực tế dài ngày tại vùng biển Quảng Ninh giữa năm 1958 thể hiện tập trung cảm hứng ngợi ca không khí lao động tập thể và hình ảnh ngời lao động trên biển cả trong khung cảnh tơi đẹp và hùng vĩ của đất trời

“Đoàn thuyền đánh cá” lấy thời điểm xuất phát khác với lệ thờng, lúc mặt trời lặn và trở

về trong bình minh chói lọi Khung cảnh trên biển khi mặt trời tắt không nặng nề tối tăm

mà mang vẻ đẹp của thiên nhiên tạo vật trong vận động tự nhiên của nó.Bài thơ là cuộc chạy đua giữa con ngời và thiên nhiên, và con ngời đã chiến thắng Có thể coi đây là khúc tráng ca, ca ngợi con ngời trong lao động với tinh thần làm chủ, với niềm vui Bài thơ cũng là sự kết hợp giữa lãng mạn và hiện thực Chất hiện thực của khung cảnh lao động trên biển cả khi vùng biển đã về ta Và chất lãng mạn cũng không cần phải tởng tợng nhiều.ở giữa trời biển cao rộng đó,với gió ,với trăng,rồi bình minh với nắng hồng và đặc biệt là sức ngời trong lao động đều thc sự mang chất lãng mạn bay bổng:

“ Thuyền ta lái gió với buồm trăng

Đoàn thuyền chạy đua cùng mặt trời”

Cảm hứng và hình ảnh ấy rất thích hợp với lao động trên biển

Trang 3

Bài thơ đợc bố cục theo trình tự thời gian của chuyến ra khơi đánh cá,đồng thời cũng là sự vận động của vũ trụ từ hoàng hôn đến bình minh Hai khổ thơ đầu là cảnh đoàn thuyền

đánh cá ra khơi; các khổ 3,4,5,6 là cảnh đánh cá đêm trên biển; khổ cuối cùng là cảnh

đoàn thuyền trở về khi bình minh lên

Cảnh biển vào đêm đợc nhà thơ miêu tả vừa rộng vừa khoáng đạt,vừa gần gũi với con

ng-ời bởi sự liên tởng độc đáo thú vị:

“Mặt trời xuống biển nh hòn lửa

Sóng đã cài then đêm sập cửa”

Mặt trời lặn kết thúc một ngày; màn đêm nh tấm cửa lớn sập xuống và những đợt sóng nh những then cửa cài cửa lại.Vào lúc này, đoàn thuyền căng buồm ra khơi cùng gió và tiếng hát Rõ ràng là đoàn thuyền ra khơi với khí thế hăm hở đầy hào hứng

Cảnh đoàn thuyền đánh cá trên biển đợc miêu tả với cảm hứng lãng mạn.Ngời lao động khoẻ khoắn phơi phới niềm tin yêu trong t thế của ngời làm chủ trớc thiên nhiên rộng lớn (Thuyền ta lái gió với buồm trăng- Lớt giữa mây cao với biển bằng…

Ta hát bài ca gọi cá vào- Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao…Rõ ràng công việc chài lới nặng nhọc đã đợc thi vị hoá, hình ảnh ngời lao động trở thành kì vĩ qua cảm hứng lãng mạn.Còn biển cả thì hào phóng ban tặng cho con ngời những sản vật quý giá Đấy là nhiều loại cá khác nhau, chúng có vẻ đẹp rực rỡ, sống động Bằng trí tởng tợng phong phú Huy Cận đã tạo đợc những hình tợng nghệ thuật vừa thực lại vừa kì ảo để miêu tả vẻ đẹp của các loài cá, tức là vẻ đẹp của biển cả trong đêm: “Cá thu nh đoàn thoi, dệt biển muôn luồng sáng; cá song lấp lánh đuốc đen hồng- cái đuôi em quẫy trăng vàng choé” và trong

ánh nắng lúc hừng đông “Vẩy bạc đuôi vàng loé rạng đông- Mắt cá huy hoàng muôn dặm phơi”

ở đây, dờng nh sự hoạt động của con ngời và sự vận động của vũ trụ luôn có sự phối hợp nhịp nhàng.Thiên nhiên luôn hợp lực với con ngời:

“ Đêm thở sao lùa nớc Hạ Long

Gõ thuyền đã có nhịp trăng cao”

Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh đoàn thuyền đang trở về, các khoang thuyền đầy ắp cá băng băng trở về đất liền trong một khung cảnh huy hoàng của đất trời, trong niềm dạt dào hứng khởi của ngời lao động Mở đầu bài thơ là hình ảnh mặt trời xuống biển và kết thúc là hình ảnh mặt trời đội biển nhô lên giữa sóng nớc.Thiên nhiên vận động theo vòng quay của mặt trời và con ngời đã hoàn thành trách nhiệm của mình trong lao động Không

có gì vui bằng lao động có hiệu quả Bởi vậy có thể nói bằng bút pháp vừa tả thực vừa ẩn

dụ tợng trng, bằng cảm hứng lãng mạn, bài thơ đã vẽ lên nhiều bức tranh rực rỡ, sống

động về thiên nhiên và con ngời lao động trên biển cả.Những bức tranh đó chứng tỏ niền lạc qua hứng khởi và mến yêu của nhà thơ đối với cuộc sống

4.Lặng lẽ Sa Pa ( Nguyễn Thành Long):

Nhà văn Nguyễn Thành Long (1925- 1991) quê Quảng Nam.Ông là cây bút chuyên viết truyện ngắn và bút kí.Tác phẩm chính của ông là: “ Bát cơm cụ Hồ”(1955), “Gió bấc gió Nồm”(1956) , “Trong gió bão”(1963), “Giữa trong xanh”( 1972)

Truyện ngắn “Lặng lẽ Sa Pa” đợc sáng tác sau chuyến đi thực tế tại Lào Cai vào mùa hè năm 1970 và đợc in trong tập “Giữa trong xanh”

Cốt truyện này khá đơn giản: Một hoạ sĩ già đi lên Sa Pa đã gặp cô kĩ s , họ cùng trên một chuyến xe Ngời lái xe kể cho họ nghe về anh thanh niên công tác trạm khí tợng trên đỉnh Yên Sơn- Sa Pa.Sau đó ông hoạ sĩ và cô kỹ s đẫ gặp anh thanh niên tại chính nơi anh sống và làm việc.Cuộc gặp gỡ chỉ diễn ra trong chốc lát nhng anh thanh niên đã để lại trong ông hoạ

sĩ và cô kỹ s những tình cảm tốt đẹp

Phân tích truyện ngắn này trớc hết cần phân tích nhân vật chính - anh thanh niên công tác

ở trạm khí tợng Những nét nổi bật ở anh thanh niên này là cách sống đẹp,gắn bó với cuộc sống, nhiệt huyết với công việc

Trang 4

Anh sống và làm việc trong một hoàn cảnh rất đặc biệt.Thử thách lớn nhất đối với anh là sự cô độc, cô đơn.Suốt ngày này qua tháng khác,anh sống một mình trên đỉnh núi cao bốn muà mây phủ Ngời thanh niên này đã vợt qua đợc thử thách, trớc hết là anh đã ý thức đợc công việc gian khổ đơn điệu của mình( đo gió,đo ma,đo nắng…dự báo thời tiết hằng ngày chính là góp phần phục vụ sản xuất, phục vụ chiến đấu, rất cần cho cuộc sống, rất cần cho mọi ngời

Từ đó anh thiết tha yêu nghề nghiệp của mình; anh tự nhận xét nếu cất nó đi thì “buồn đến chết mất” Sống một mình, nhng anh không cô đơn, buồn chán vì ngoài công việc,ngời thanh niên này còn niềm vui đọc sách Đối với anh, đọc sách không những để nâng cao hiểu biết

mà còn là cách để giao tiếp với mọi ngời Đây còn là một thanh niên biết tổ chức, Sắp xếp cuộc sống của mình một cách khoa học Ngoài ra, anh là ngời cởi mở, chân thành quý mến mọi ngời, khao khát đợc tiếp xúc với mọi ngời và khiêm tốn.( Tình thân với bác lái xe,thái độ

ân cần chu đáo với ông hoạ sĩ và cô kỹ s mới gặp lần đầu)…

Tóm lại nhân vật anh thanh niên công tác trên trạm khí tợng tuy chỉ xuất hiện rất ít trong tác phẩm, nhng chân dung tinh thần cao đẹp của anh đợc tác giả phác hoạ một cách khá trọn vẹn bằng cảm hứng ngợi ca, gây ấn tợng đậm nét cho ngời đọc

Để làm rõ chân dung tinh thần của nhân vật chính, tô đậm chủ đề của truyện tác giả còn xây dựng một số nhân vật phụ nh bác lái xe, ông hoạ sĩ già, cô kỹ s trẻ mới ra trờng và ông

kỹ s vờn rau, anh cán bộ nghên cứu bản đồ sét Qua suy nghĩ,quan sát của phần nhiều nhân vật phụ nói trên, hình ảnh anh thanh niên hiện ra một cách tự nhiên hơn, đẹp hơn lung linh hơn

Tất cả mọi nhân vật trong truyện dù khác biệt nhau về công việc, tuổi tác, đều không có tên gọi cụ thể nhng đều rất đẹp trong suy nghĩ và hành động, trong quan hệ với nhau Đây chính

là những con ngời lao động mới tiêu biểu đại diện cho hàng vạn, hàng triệu những ngời con

-u tú của đất nớc Việt Nam đang ngày đêm âm thầm cống hiến sức lực cho sự nghiệp ch-ung: xây dựng CNXH ở miền Bắc và đóng góp vào sự nghiệp giải phóng miền Nam thống nhất đất nớc

5 Bài thơ về tiểu đội xe không kính ( Phạm Tiến Duật):

Nhà thơ Phạm Tiến Duật( 1941- 2007) quê Phú Thọ.Ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của nền văn học Việt Nam thời chống Mỹ cứu nớc.Tác phẩm chính của ông : “Vầng trăng- quầng lửa”(1970), “ Thơ một chặng đờng”( 1971)

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” rút từ tập thơ “Vầng trăng –Quầng lửa”.Đây là một sáng tác đặc sắc viết về bộ đội trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, khắc hoạ sinh động hình t-ợng ngời chiến sỹ lái xe trên đờng Trờng Sơn vừa trẻ trung sôi nổi vừa hiên ngang, kiên cờng cùng với những chiếc xe không kính độc đáo

Trớc hết trong bài thơ nổi bật lên một hình tợng những chiếc xe không kính độc đáo Đây là một hình ảnh rất chân thực thờng gặp trong kháng chiến chống Mỹ.( Thời đó, nhiều chiếc xe vận tải trên đuờng Trờng Sơn có hình thù rất lạ nhng nhất loạt đều băng băng ra mặt trận).Phạm Tiến Duật nói rõ nguyên nhân khiến chiếc xe không kính vì chiến tranh ác liệt “ Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi”.Không chỉ không kính rồi “xe không có đèn , không có mui xe, thùng xe có xớc”, tức là chiếc xe bị biến dạng, trên mình đầy thơng tích.Tất cả những chi tiết nói trên đều rất chân thực và đợc diễn tả bằng những câu thơ gần với văn xuôi hấp dẫn ngời đọc

Cùng với hình ảnh những chiếc xe không kính là hình ảnh rất đẹp của ng ời chiến sỹ lái xe-hình ảnh trung tâm của bài thơ.Đấy là những ngời ung dung, tự tin( Ung dung buồng lái ta ngồi- Nhìn đất nhìn trời nhìn thẳng), bất chấp khó khăn,coi thờng gian khổ( Không có kính ừ thì có bụi…không có kính ừ thì ớt áo), Gắn bó với đồng chí đồng đội và luôn sôi nổi lạc quan ( Phì phèo châm điếu thuốc-Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha…Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi… Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy).ở đây những phẩm chất của ngời chiến sỹ lái xe đã đợc miêu tả qua những hình ảnh bình dị mà đặc sắc

Trang 5

Làm nên vẻ đẹp tinh thần của những con ngời này chính là lòng yêu nớc, niềm khát khao giải phóng Miền Nam thống nhất đất nớc.Điều này thể hiện tập trung ở khổ cuối cùng: Bom

đạn quân thù có thể làm biến dạng những chiếc xe nhng không đè bẹp đợc tinh thần dũng cảm, ý chí chiến đấu của ngời chiến sỹ Xe vẫn băng băng ra chiến trờng “ chỉ cần trong xe

có một trái tim”

Hình ảnh cao đẹp của những anh bộ đội lái xe ở bài thơ này chính là hình ảnh tiêu biểu của thế hệ trẻ Việt Nam trong những năm kháng chiến chống Mỹ gian khổ mà hào hùng

“Bài thơ về tiểu đội xe không kính” có giọng điệu rất đặc sắc: tự tin, phóng khoáng pha chút ngang tàng rất đúng giọng điệu tính cách của những anh lính trẻ tinh nghịch lái xe vợt Trờng Sơn thời đó Lời thơ mang đậm chất văn xuôi, nhiều chi tiết hiện thực, sinh động khoẻ khoắn.Cách cấu trúc câu thơ, cách hiệp vần cũng rất độc đáo linh hoạt, hấp dẫn ngời đọc

6 Viếng lăng bác ( Viễn ph ơng):

- Nhà thơ Viễn Phơng tên khai sinh là Phan Thanh Viễn sinh năm 1928, quê ở tỉnh An Giang

Ông là một trong những cây bút có mặt sớm nhất của lực lợng văn nghệ giải phóng Miền Nam thời chống Mỹ Tác phẩm chính của Viễn Phơng:“Mắt học trò”( 1970), “Nhớ lời di chúc” (1972), “Nh mây mùa xuân” (1978)

Bài thơ “ Viếng lăng Bác” đợc sáng tác năm 1976, sau khi cuộc kháng chiến chống Mỹ kết thúc thắng lợi, đất nớc thống nhất, công trình lăng chủ tịch Hồ Chí Minh cũng vừa khánh thành,Viễn Phơng ra thăm miền Bắc,vào lăng viếng Bác Hồ Bài thơ đợc sáng tác trong dịp

đó và đợc in trong tập “Nh mây mùa xuân”, thể hiện niềm xúc động thiêng liêng, sự thành kính thiết tha, lòng biết ơn và tự hào pha lẫn nỗi xót đau khi nhà thơ từ Miền Nam ra thủ đô

Hà Nội viếng lăng Bác

( Khi phân tích bài thơ cần phân tích theo mạch cảm xúc của tác giả đồng thời cũng là bố cục của tác phẩm)

Khổ 1: Tác giả tự giới thiệu hoàn cảnh( Con ở Miền Nam ra thăm lăng Bác) và đồng thời bộc lộ tâm trạng dồn nén xúc động bởi đây là cuộc viếng thăm thiêng liêng, đầy ý nghĩa ( Cũng nh đồng bào Miền Nam, niềm khao khát thăm Bác của tác giả bấy lâu chỉ thực hiện

đ-ợc khi nớc nhà thống nhất).Hình ảnh, nhà thơ nhìn thấy đầu tiên là hình ảnh hàng tre thân thuộc kiên cờng, bất khuất, bền bỉ, biểu trng cho đất nớc, cho dân tộc Việt Nam

Khổ 2 là những câu thơ rất hàm súc, gợi cảm.Với những hình ảnh thực và hình ảnh ẩn dụ, hai câu đầu nói lên sự vĩ đại của Bác.Với cách so sánh mới lạ( Ngày ngày dòng ngời đi trong thơng nhớ- Kết tràng hoa dâng bảy mơi chín mùa xuân).Hai câu sau khắc hoạ tấm lòng thơng nhớ, sự gắn bó của nhân dân đối với Bác

Khổ 3 thể hiện xúc cảm của nhà thơ khi vào trong lăng Không gian bên trong lăng thanh khiết, yên tĩnh, ánh sáng dịu nhẹ nh ánh sáng toả ra từ một vầng trăng hiền hoà.Tuy ý thức rằng vẫn biết Bác vẫn còn mãi mãi với dân tộc, nhng nhà thơ vẫn đau xót vì Bác đã về cõi vĩnh hằng ( Vẫn biết trời xanh là mãi mãi- Mà sao nghe nhói ở trong tim)

Khổ cuối cùng thể hiện nỗi niềm tha thiết và nguyện ớc của nhà thơ muốn đợc ở mãi bên Ngời.( Muốn làm con chim hót quang lăng Bác…Muốn làm cây tre trung hiếu chốn này) Viếng Lăng Bác là một bài thơ hàm súc.Viễn Phơng đặc biệt thành công trong việc sử dụng những hình ảnh ẩn dụ kết hợp với tợng trng có ý nghĩa sâu sắc và giá trị biểu cảm Nhà thơ còn tạo một giọng điệu chậm rãi, trang nghiêm rất phù hợp cho việc khắc hoạ cảm xúc, tâm trạng thành kính, tự hào, đau xót của tác giả…

7.Mùa xuân nho nhỏ ( Thanh Hải) :

- Nhà thơ Thanh Hải(1930- 1980) tên thật là Phạm Bá Ngoãn, quê ở tỉnh Thừa Thiên –Huế

Ông là một trong những ngời có công xây dựng nền văn học cách mạng ở miền Nam ngay từ ngày đầu

Thanh Hải có những tập thơ chính nh “ Những đồng chí trung kiên” (1962), “ Huế mùa xuân” (2tập) , “Dấu võng Trờng Sơn” (1977)

Trang 6

Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” đợc sáng tác vào tháng 11- 1980 ít ngày trớc khi nhà thơ qua

đời, thể hiện tình cảm thiết tha đối với cuộc sống và niền tin vững chắc đối với đất nớc và nguyện ớc hiến dâng cuộc đời mình cho Tổ quốc của tác giả

Bài thơ có thể chia làm hai đoạn Đoạn 1 gồm bốn khổ thơ đầu thể hiện cảm xúc của nhà thơ trớc mùa xuân của thiên nhiên đất nớc Đoạn 2 gồm hai khổ thơ cuối chính là tâm niệm muốn làm một mùa xuân nho nhỏ dâng hiến cho đời của nhà thơ

ở khổ 1, bằng vài nét phác hoạ, nhà thơ khắc hoạ đợc sinh động mùa xuân với không gian bát ngát ( Có dòng sông, bầu trời và mặt đất) với màu sắc thắm tơi của xứ Huế

( màu xanh của dòng sông, màu tím của bông hoa), với âm thanh náo nức ( tiếng chim chiền chiện) Đấy là cảnh vật mùa xuân tơi đẹp, song cũng là tâm trạng náo nức tin yêu của tác giả

Điều này đợc thể hiện trực tiếp qua động tác nâng niu trân trọng ( Từng giọt long lanh rơi-Tôi đa tay tôi hứng)

Từ mùa xuân của đát trời, tác giả huớng tình cảm của mình đến những ngời dựng xây và bảo

vệ Tổ quốc Đấy là những ngời chiến sỹ, ngời nông dân.Hai lực lợng tiêu biểu lúc bấy giờ ( Lộc giắt đầy quang lng…Lộc trải dài nơng mạ) Chính họ đã làm đẹp thêm cho mùa xuân của đất nớc

Tiếp theo, tác giả suy ngẫm về đất nớc vất vả và gian lao trong trờng kì lịch sử nhng luôn

v-ơn tới với một sức sống mãnh liệt ( Đất nớc nh vì sao- Cứ đi lên phía trớc).Nhớ lại hoàn cảnh khó khăn chất chồng của đất nớc vào thời điểm bài thơ ra đời, chúng ta càng trân trọng niềm tin của tác giả đối với đất nớc

Ba khổ thơ cuối của bài thơ, tác giả tâm niệm dâng cho đời “một mùa xuân nho nhỏ”, tức là tâm niệm sức lực cống hiến cho đời hoà nhập vào muà xuân của đất nớc.Với t cách một nhà thơ gắn bó trọn đời cho đất nớc,Thanh Hải bộc bạch điều tâm niệm của mình một cách chân thành và cao đẹp Điều tâm niệm này đợc thể hiện bằng những hình ảnh giản dị mà gợi cảm gắn bó với hình tợng mùa xuân và là sự phát triển tự nhiên trong mạch cảm xúc của bài thơ Còn một điều đáng quý nữa là điều tâm niệm của nhà thơ thiết tha nhng cũng thật khiêm nhờng (làm một con chim dâng tiếng hót cho đời, làm một nhành hoa dâng tiếng hót cho đất n

-ớc, góp cho bản hoà ca chung của cuộc đời một nốt trầm nhng xao xuyến lòng ngời thật lặng lẽ vô t ( Một mùa xuân nho nhỏ- Lặng lẽ dâng cho đời).Tác giả kết thúc bài thơ bằng cách nhắc đến hai làn điệu quen thuộc của xứ Huế Điều đó có tác dụng tô đậm thên niềm tin yêu của nhà thơ với đất nớc quê hơng

“Mùa xuân nho nhỏ” là bài thơ gọn, cấu trúc chặt chẽ, dồn nén cảm xúc, nói đến chuyện lớn lao rất dễ khô khan ( sống có ích, cống hiến cho đời) một cách hết sức chân thực,chân thành nhỏ nhẹ mà thấm thía

8 Bến Quê ( Nguyễn Minh Châu):

Nguyễn Minh Châu ( 1930-1989) , quê Quỳnh Lu –Nghệ An.Ông bắt đầu sáng tác vào những năm 1960 và là cây bút tiêu biểu của văn học thời kháng chiến chống Mỹ Sau năm

1975, ông là một trong những nhà văn đi tiên phong trong sự nghiệp đổi mới văn học, thể hiện những tìm tòi quan trọng về t tởng và nghệ thuật, góp phần đổi mới văn học nớc nhà từ những năm 1980 của thế kỷ XX Những tác phẩm tiêu biểu của ông nh: “Cửa sông”(1967), “ Dấu chân ngời lính”(1972),”Cỏ lau”

Đoạn trích “Bến quê” đợc trích từ tập truyện cùng tên của tác giả xuất bản năm 1985 Truyện tiêu biểu cho sự đổi mới về t tởng nghệ thuật của ông Truyện ghi lại nhừng gì nhìn, nghe thấy, những suy ngẫm và ớc mơ, những quan hệ của nhân vật Nhĩ khi nằm trên giờng bệnh

Cốt truyện của “Bến quê” rất bình dị “bằng phẳng” nhng lại mang nhiều hàm nghĩa triết lý sâu sắc Qua nhân vật Nhĩ, một bệnh nhân “ sắp từ giã cõi đời”, Nguyễn Minh Châu nói lên những suy ngẫm về con ngời, về cuộc đời và cách sống,thức tỉnh mọi ngời hãy biết nâng niu, trân trọng những vẻ đẹp, những giá trị bình dị, gần gũi, quen thuộc của cuộc sống, của quê

h-ơng

Trang 7

9 Những ngôi sao xa xôi ( Lê Minh Khuê):

Lê Minh Khuê sinh năm 1949, quê Tĩnh Gia- Thanh Hoá, là cây bút nữ chuyên viết truyện ngắn

Văn bản “ Những ngôi sao xa xôi” là một trong số những tác phẩm đầu tay của Lê Minh Khuê, viết năm 1971 lúc cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc đang diễn ra ác liệt Truyện viết về cuộc sống chiến đấu của tổ trinh sát mặt đờng, trên con đờng Trờng Sơn huyền thoại thời đánh Mỹ

Qua nhân vật Phơng Định và các cô gái TNXP, Lê Minh Khuê đã làm sống lại trong lòng mỗi chúng ta hình ảnh tuyệt đẹp và những chiến công phi thờng của tổ trinh sát mặt đờng, của Định ,của Nho, của Thao, của hàng ngàn ,hàng vạn nam nữ TNXP thời chống Mỹ Chiến công thầm lặng của họ và đồng đội là bản anh hùng ca của chủ nghĩa anh hùng cách mạng, là hình ảnh tiêu biểu cho dân tộc Việt Nam, cho thế hệ trẻ trong những năm tháng hào hùng của

Tổ quốc

Ngày đăng: 21/05/2021, 13:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w