nối tiếp nội dung phần 1, phần 2 cuốn sách hướng dẫn chăn nuôi và phòng trị bệnh cho gia cầm giới thiệu tới người đọc các kiến thức về kỹ thuật chăn nuôi và phòng trị bệnh cho chim cút, hướng dẫn và phòng trị bệnh cho chim bồ câu. mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1CHƯƠNG IV
HƯỚNG DẪN NUÔI VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH Ở CHIM CÚT* •
Đây là giống cút rừng Châu Âu được thuần dưỡng
và lai tạo nhiều đời Giông cút này mau lốn, cho sản lượng thịt trứng cao Cút trưởng thành có trọng lượng
từ 210 — 225gr Cút Pharaon đẻ khoẻ, trứng to đạt trọng lượng 25 — 26grs.
Giôhg cút MANCHURIAN GOLDEN:
Cút Manchurian golden còn gọi là cút Mãn Châu
vì nó xuất xứ tại Mãn Châu — Trung Quốc Giống cút
nà3' có bộ lông màu vàng tươi, chóp đầu xơ ra chút lông vàng nhạt Cút đẻ xốm và mắn đẻ Giống cút
M an ch u rian gold en không chịu được khí hậu nóng.
159
Trang 2Giống BR ITISH RANGE:
Giống cút British range xuất xứ tại Anh Cút có màu lông đen, vóc dáng to hơn cút Pharaon Cút đẻ sớm và đẻ khoẻ Giống cút này không hợp với khí hậu nưóc ta, do vậy không nhập.
Giôhg EN GLISH WHITE:
Đây là giống cút có xuất xứ tại Anh Cút có vóc dáng trung bình, toàn thân phủ lông dày trắng mịn Mắt màu đen huyền Giống cút này mắn đẻ Thường người ta nuôi để làm cảnh.
2 Chọn giống
Cút nuôi ở nưóc ta hiện nay chỉ đẻ tốt trong năm đầu, sang năm thứ hai bắt đầu đẻ ít dần Chính vì vậy người nuôi cút chỉ nuôi đẻ trong năm đầu sau đó bán thịt và tiếp tục nuôi lứa khác.
Cút nuôi sau 3 tuần tuổi đã biểu hiện trống mái rõ ràng Cút trống thì ức có màu lông vàng gạch Còn cút mái có lấm tấm nhiều sọc đen nhỏ.#
Chọn trống làm giống cần chọn lựa con mập, khoẻ, không dị tật Số trống còn lại nuôi thúc thêm vài tuần rồi bán Cút trông được chọn làm giống khoảng
3 tháng tuổi là có thể cho phối giống được Thường sau 3 — 5 tháng đạp mái thì có thể thay trông khác.
160
Trang 3Chon mái để đẻ, chon con khoẻ manh, đủ tiêu chuẩn của giông, cần loại bỏ con dị tật, không đều so với đàn Nếu nuôi mái lấy trứng ấp, cần có cút trống
tơ bổ sung thường xuyên để đạt tỷ lệ nở cao.
n CHUẨN BỊ CHUỒNG TRẠI VÀ DỤNG c ự NUÔI CỨT
1 Chuồng trại nuôi cút
Nuôi cút cũng tương tụ như nuôi gà công nghiệp Thức ăn, nước uông được đổ vào máng cho ăn cả ngày Cút ăn càng nhiều khả năng đẻ càng mạnh, trứng to Nuôi cút muốn đạt hiệu quả cần phải chuẩn
bị chuồng nuôi cẩn thận.
Nếu nuôi cút vối sô" lượng ít vài trục con thì đóng lồng để nuôi Lồng cũng làm như kiểu lồng gà nuôi nhốt Lồng nuôi cút nên đặt ở nơi kín gió, thông thoáng
và xa vối nơi ăn ở của gia đình để đảm bảo vệ sinh.
Nuôi cút với qui mô lốn, cần phải thiết lập trại nuôi Trại nuôi phải xây dựng cách xa nhà ở, chợ,
đưòng quốc lộ và những nơi dân cư đông đúc để bảo
vệ đàn cút được an toàn, tránh xa • • ' được • dịch bệnh.• •
Hơn nữa cũng nhằm bảo vệ sức khoẻ con người, vì phân cút hôi hám, bụi lông do cút tiết ra, khi hít phải làm ảnh hưởng đến buồng phổi.
Trại nuôi cút phải xây dựng trên nền cao ráo, tránh ngập nước trong mùa mưa bão Cút lại thích
Trang 4sống ở nơi khô ráo, cho nên cần phải tránh khí hậu
ẩm ướt, thích nghi với nhiệt độ 30 — 3 2 °c Trại nuôi cút có thể làm bằng các nguyên liệu như: Tre, nứa, sắt, thép Mái chuồng có thể lợp bằng tôn, nhựa, lá Chung quanh trại cút cần phải làm vách che chắn kín đáo Trại nuôi cút cần phải thoáng nhưng vẫn giữ được nhiệt và không chịu tác động từ môi trường bên ngoài Trại cút nên hướng vê' phía đông nam, để ánh nắng ban mai chiếu vào Nắng sáng rất tốt, có tia cực
tím giúp cơ thể cút tiếp nhận sinh tô" D giúp chim
tránh được sự gầy còm, yếu xương, mà tăng trưồng mạnh, sinh sản tốt.
Cút là giống gia cầm rất nhút nhát, do vậy hạn chê
ra vào nơi cút ở Tránh cho cút sợ hãi, ảnh hưởng đến sinh trưởng, sinh sản.
Trại cút được thiết kê dựa trên qui mô và sô lượng cút nuôi Thường trại cút ngưòi ta chia ra làm nhiều khu vực: Khu nuôi cút con, khu nuôi cút lứa, khu nuôi cút đẻ, khu đặt máy ấp và chứa dụng cụ máng
Trang 5sưởi ấm Cút từ khi nở đến lúc được 3 tuần tuổi thì đưa cút sang một loạt lồng úm khác Lồng úm đặt thành từng dãy, ở giữa có lối đi để tiện cho việc chăm sóc và vệ sinh.#
ề
Khu nuôi cút lứa:
Cút lứa là cút đã được vài tuần tuổi Cút lứa được9 9
nuôi để thay thế dần những lồng cút đẻ đã già cỗi, hết thời kỳ sinh sản.
Trong khu vực nuôi cút lưá, nên đặt lồng thành dãy, dãy này cách dãy kia khoảng 1 — l,5m Mỗi dãy lồng có thể chất lên cao hai, ba tầng Giữa các tầng phải có phên hứng phân Chuồng nuôi cút làm với kích thưóc: Rộng lm, dài 4m (tuỳ vào diện tích mặt bằng) Lồng như vậy nuôi nhốt được 25 — 30 con.
Khu nuôi cút đẻ:
Chim cút, nuôi với mục đích để lấy trứng, cần phải bô" trí chuồng trại hợp lý, thuận tiện cho việc nhặt trứng, chăm sóc , nuôi dưỡng và vệ sinh Cách bô" trí dãy lồng cũng giống như khu nuôi chim lứa Nhưng sô" lượng nuôi nhôt ít hơn, 20 con/lồng (trong đó 16 cút
đẻ và 4 cút trống).
Khu nuôi chim đẻ phải yên tĩnh, kín đáo để chim
đẻ trứng đều.
163
Trang 6Khu đ ặt máy ấp :
Chỉ cần h ố trí một khoảng diện tích nhỏ, vừa đủ để
đặt máy ấp.
Khu chứa dụng cụ:
Máng ăn và máng uống hàng ngày cần phải được
vệ sinh sạch sẽ, phơi nắng diệt khuẩn Các dụng cụ phục vụ trong quá trình chăn nuôi cần phải vệ sinh thường xuyên và cất vào khu chứa dụng cụ.
Lưu ý: Với cút đẻ, chuồng nuôi không nên di chuyển từ chỗ này sang chỗ khác, để cút ở một nơi định vị, yên tĩnh.
37°c Lồng nuôi cút kín đáo nhưng phải thông hơi tốt
để cút hô hấp được tốt Đáy lồng cần được đan phên hoặc dùng lưới thép mắt nhỏ để chim không lọt chân xuống lưới Dùng bóng điện có chụp bên trên để sưởi
ấm cho cút.
164
Trang 7Lồng chim lứa:
Lồng nhốt mang tính tập thể vì giai đoạn này chưa chọn lọc trống mái Cần điều chỉnh nhiệt độ trong lồng cho thích hợp để đảm bảo cho chim được sinh trưỏng và phát triển tốt Lồng phải được che chắn cẩn thận, không chịu sự tác động của môi trường chung quanh.
Lồng chim đẻ: Lồng nuôi chim đẻ có 2 loại, lồng
để thay thế cút mối đẻ tốt hơn Tuy nhiên kiểu chuồng này rất tốn diện tích.
Lồng tập thể: Trung bình mỗi lồng với kích thước, chiều sâu 40cm, chiều ngang lm nuôi 20 cút Kiểu chuồng này tiết kiệm được diện tích, tuy nhiên nó bất tiện trong quá trình kiểm soát quá trình sản xuất trứng của cút.
Lồng chim đẻ có thể làm bằng các nguyên liệu như: Sắt, thép, gỗ, tre Có thể đóng khung gỗ rồi vây lưới
165
Trang 8chung quanh, có song cửa để chim thò đầu ra lấy thức
ăn Lồng không nên cao quá 25 phân, vì để tránh trường hợp cút tung lên vì sợ hãi va đầu vào nóc lồng.
Máng ăn và m áng uống:
Máng ăn và máng uống của chim cút được bày bán
ỏ các cửa hàng thực phẩm gia súc Tuỳ vào điều kiện, sô" lượng chim cút, tuổi chim cút và mục đích chăn nuôi để lựa chọn máng ăn máng uổng cho hợp lý thuận tiện Thường người ta dùng máng uống cho chim bằng nhựa vì dễ vệ sinh, mau khô và bền.
Máng ăn có thể mua hoặc tự làm, dùng tôn gò hay ông tre, bương Phía thành máng bên trong làm thấp hơn bên thành ngoài độ 1 — 2cm vì cút có thói quen tìm bới thức ăn, làm thức ăn văng tung toé Máng ăn được đặt ở phía trưóc chuồng lồng và đặt sao cho thích hợp để chim cút dễ lấy thức ăn.
Yêu cầu ánh sáng:
Với chim cút, ban ngày không cần chiếu sáng (trừ ngày lạnh cần phải sưởi ấm) Ban đêm mới sử dụng bóng đèn điện để chiếu sáng cho cút ăn, độ chiếu sáng cần ở mức trung bình, đủ để chim cút lấy thức
ăn Cút ăn cả ngày lẫn đêm, nhưng lượng thức ăn tiêu thụ vào ban ngày gấp đôi ban đêm.
166
Trang 9Ba vấn đê cơ bản thành công trong quá trình nuôi chim cút là: Giống tốt, thức ăn tốt, vệ sinh chuồng
trại.
Giống tốt: Là những giông thích nghi tốt với mọi thay đổi của thời tiết, con có trọng lượng cớ thể lổn, chống chịu bệnh tật tốt và mau lớn, mắn đẻ.
Thức ăn tốt: Đảm bảo cho chim cút tăng trọng nhanh và kích thích sinh sản tốt.
Vệ sinh chuồng trại: Hàng ngày, máng ăn, máng uống phải được vệ sinh sạch sẽ, phơi nắng diệt khuẩn Don vê sinh như: Phân, thức ăn rơi vãi đưa
ra ngoài khu vực nuôi nhốt.
Yêu cầu chất lượng thức ăn: Thức ăn của cút phải đảm bảo chứa đựng đầy đủ chất đạm, chất bột đường, chất béo, chất khoáng và các sinh tô" cần thiết khác.- Những chất này cần phải được say, nghiên kỹ sau đó phối trộn với tỷ lệ thích hợp (căn cứ vào giai đoạn phát triển và mục đích chăn nuôi) Thức ăn của cút
Trang 10trưởng, sinh sản, cơ thể yếu, để kéo dài cút sẽ măc bệnh và chết.#
Cút con, cút lứa có nhu cầu về chất đạm khá lớn
Vì vậy cần phải tăng cưòng chất đạm cho cút Đạm động vật có nhiều trong bột cá, bột thịt, bột xương, bột máu Thường người ta sử dụng khô cá cơm phôi trộn với các nguyên liệu thức ăn khác cho cút Đạm thực vật có nhiều trong đậu xanh, đậu tướng, khô dầu lạc
Chất bột đường: Chất bột đường là nguyên liệu
thức ăn tích chứa chất đường và tinh bột Chất này có nhiều trong cám gạo, ngô, đậu xanh, khoai lang Chất bột đường giúp cho cút tạo ra nhiệt lượng, nhiệt năng cần thiết trong quá trình sinh trưỏng và phát triển.
Trong quá trình phối trộn thức ăn, ngô được phối trộn vối tỷ lệ nhiều hơn cả Vì ngô là một trong những nguyên liệu thức ăn được cút ưa thích nhất Tuy nhiên vói cút sinh sản, tỷ lệ chất bột đường cần hạn chế, nếu cút ăn nhiều chất bột đường sẽ hạn chê sinh sản.
Chất béo: Chất béo cần tăng mạnh với chim cút
nuôi thịt Chất này có nhiều trong khô dầu lạc, đậu xanh, đậu tương, mè, dừa
168
Trang 11Chât béo có chức năng sinh ra nhiệt, giúp cho thân nhiệt của chim được điểu hoà, nó độn giữa lớp da và thịt của cơ thể cút để chôíng trọi vối sự thay đổi của môi trường sống.
Chất khoáng: Chất khoáng giúp cho bộ phận
khung xương của chim cút phát triển mạnh, với chim
đẻ thì chất khoáng giúp cho cút đẻ khoẻ, đẻ đều Cút thiếu chất khoáng sẽ còi xương, đẻ trứng non, đẻ kém Chất khoáng có nhiều trong muôi ăn, bột xương, bột vỏ sò trong vôi chết Chất khoáng được
phối trộn trong thức ăn của chim vói tỷ lệ từ 3 — 5%.
Vitamin: Vitamin là một trong những chất bổ
dưỡng rất cần thiết cho sự sinh trưởng, sự phát dục
và sinh sản của chim Nếu thiếu vitamin, chim cút sẽ kém sinh trưởng, lông xơ xác, thường mổ cắn nhau,
ăn lông nhau
VitaminA: Là nguyên tô" rất cân thiết trong thời kỳ phát dục và sinh sản của chim cút Thiếu vitaminA, chim cút sẽ bị chứng đau mắt, các cơ quan tiêu hoá dễ
bị nhiễm trùng Do đó cút chậm lớn và sinh sản yếu.
VitaminD: Là chất rất cần thiết cho sự phát triển khung xương Nó trợ lực cho cơ thể chim sử dụng được các chất khoáng như chất vôi, chất sắt, chất đồng để
bộ xương phát triển và đẻ tốt Cút thiếu vitaminD,
169
Trang 12sẽ gầy yếu , đi lại siêu vẹo, tỷ lệ trứng nơ đạt kém Vơi cút sinh sản thì đẻ yêu có khi ngừng đe VitammD có nhiểu trong ngô vàng, bột cá, dâu gan cá
VitaminE: Có nhiều trong mộng lúa, giá đỗ, cám gạo
VitaminB^ Đây là chất kích thích cút mau đói, ăn được nhiều VitaminBj giúp cd thể chim hấp thu tốt chất bột đưòng, chất đạm và chất béo Thiếu vitaminBj cút chậm lớn, làm ảnh hưỏng đến các mô thần kinh, chim uể oải, kém vận động VitaminBj có nhiều trong các loại đậu, bột cá và rau tươi.
VitaminB6: Là chất giúp cho cơ thể cút hấp thụ tốt chất đạm và chất béo, kích thích chim ăn nhiều, ăn khoẻ Thiếu VitaminBg, cút bị rối loạn thần kinh, bị mất máu, chim kém sinh trưởng VitaminBg có nhiều trong các loại đậu
VitaminB12: Là chất giúp cơ thể chim cút phát triển nhanh và sinh sản tốt VitaminB12 có nhiều trong bột cá.
Những vấn đ ề cơ bản trong quá trình cung cấp thức ăn cho chim cút.
Cung cấp thức ăn tôt, đảm bảo đủ lượng và chất cùng với chi phí hợp lý Chim cút tăng trọng nhanh sức khoẻ tốt, đẻ khoẻ tức là thức ăn đã bảo đảm đủ
170
Trang 13lượng và chất Trường hợp ngược lại thì phải theo dõi
để tìm nguyên nhân rồi xử lý ngay.
Những biểu hiện của chim cút sinh sản: Cút đẻ trứng non, quả quá nhỏ hoặc vỏ trứng mỏng, vỏ nhám sần sùi, trứng không láng bóng mà có ngấn, vỏ trắng
không lấm tẽjn màu Với nguyên nhân này thì cho ta
khẳng định cơ thể cút thiếu chất khoáng và cần tiến hành bổ sung kịp thòi.
Trong trường hợp vỏ trứng quá dày là do dư thừa chất khoáng Nếu đem trứng này đi ấp, con non trong trứng không có khả năng phá vỏ sẽ chết ngạt (tỷ lệ nở kém) Vỏ trứng trơn láng là cơ thể dư thừa chất đạm
Vỏ trứng xù xì là do dư thừa chất vôi Vối những biểu hiện như vậy, tuỳ vào từng hiện trạng để có biện pháp điều chỉnh thức ăn cho phù hợp.
Lưu ý: Khi thay đổi thức ăn cho cút cần phải thay đổi từ từ Nếu tăng giảm các chất trong khẩu phần thức ăn một cách đột ngột sẽ làm ảnh hưởng đến khả năng sản xuất thịt, trứng của chim cút.
IV PHƯƠNG PHÁP ÚM CÚT CON VÀ NUÔI CÚT LỨA
Trứng cút ấp trong vòng 16 ngày thì nở Cút con mối nở thân mình nhỏ bằng lóng tay nhỏ, lông tơ mịn
xù ra Cút mói nở rất yếu ốt, mình có bộ lông tơ vàng óng, trên lưng có những vạch đen dài.
171
Trang 14Cút khi mới nở, bộ lông ưót nhẹp sau độ 10 phút lông khô, cút tự đứng lên được Cút mới nở rât yêu vì vậy cần phải có phương pháp úm hợp lý, nhăm đam bảo tỷ lệ sống cao Nhiệt độ thích nghi cho chim cút
mà bố trí lồng úm, dụng cụ sưỏi cho thích hợp.
1 Úm cút con bằng bóng điện
Với một lồng úm có diện tích 0,5m X 0,5m, úm được
100 cút con và đặt 1 bóng điện 100W ỏ chính giữa hoặc chia ra hai bóng 50W đặt cách xa nhau Nhiệt
độ trong lồng úm luôn bảo đảm từ 34 — 37°c
Thưòng xuyên kiểm tra lồng úm, khi thấy các biểu hiện sau thì phải điều chỉnh lại nhiệt độ trong lồng cho thích hợp:
• Chúng chen nhau nằm tụ lại dưới chụp sưởi là nhiệt độ trong lồng thấp (cút lạnh).
• Nếu cút uống nhiêu nước, nháo nhác trong lồng, hốc hác, đi lại chậm chạp là nhiệt độ trong lồng cao (cút nóng).
• Nếu cút con nằm rải rác khắp lồng, ăn uống bình thường là nhiệt độ vừa phải (cút đủ ấm).
Cút sau 3 ngày tuổi nếu chăm sóc tốt, sưởi ấm đầy
đủ thấy cút lớn nhanh, tỷ lệ hao hụt thấp Ngược lại nếu lồng úm không đủ ấm thì cút con sẽ sù lông sức khoẻ kém và có thể dẫn đến chết hàng loạt.
172
Trang 15Cút từ 4 ngày tuổi trỏ đi nhiệt độ trong lồng nên giảm xuông còn khoảng 32°c, tiếp sau đó nhiệt độ giảm dần cùng với sự sinh trưởng của cơ thể cút Sau hai tuần tuổi trở về ổau , nhiệt độ trong lồng thích hợp là 27 — 28°c Vào ngày nóng lực, mở các cửa thông hơi lại, để cút thông thoáng hô hấp được tốt, ban đêm thì đóng lại để tránh sương giá, gió lùa
2 Thức õn nưổc uống của cúỉ con
Cút ăn cả ngày lẫn đêm (trừ khi ngủ) Do vậy cần phải cung cấp đầy đủ thức ăn nước uống chq cút Thức ăn của cút con phải có nhiều đạm Thiếu đạm sức tăng trưỏng sẽ giảm.
Cút con nhưng ngày đầu ăn vối số lượng ít, nhưng
từ tuần tuổi thứ nhất trở về sau thì chúng ăn nhiều
173
Trang 16và liên tục Máng ăn đặt trong lồng úm cho cút con
ăn có thể là máng dài ở giữa được ngăn bằng một trục dài để tập cho chúng đứng ngoài thò đầu vào ăn cần phải có trục ngăn nếu không cút sẽ bói thức ăn tung toé và ăn lẫn phân của nhau vừa tốn thức ăn vừa có hại cho sức khoẻ.
Sau 3 - 4 tuần tuổi, đặt máng ăn, máng uống trước cửa lồng để cút thò đầu ra ăn giống như cút trưỏng thành Thức ăn đô ra máng vừa phải, khi cút ăn hết mới tiếp tục đổ tiếp nhằm tránh lưu cữu, để thức ăn không bị ôi thiu giảm phẩm chất Ngoài thức ăn nói trên, cần bổ sung thêm rau xanh như: rau muông, xà lách
V CHĂM SÓC NUÔI DƯỠNG CÚT LỨA VÀ CÚT ĐẺ
Cút sau 3 tuần tuổi đạt trọng lượng cơ thể khoảng lOOgr, giai đoạn này gọi là cút lứa Thường sau 25 ngày tuổi cút đã biểu hiện trống mái rất rõ ràng Con trống mọc lông mã, vóc dáng nẩy nở, đầu to, chân khoẻ, ức nở Lông ở phần ức có màu đỏ gạch Cút mái cũng mọc lông mã, lông ở ức nổi cưòm lên, có những chấm đen mọc chen lẫn trong nền lông vàng Để phân
biệt trống, mái người ta căn cứ vào lông mọc ỏ phần
ức của cút.
174
Trang 17Nuôi cút để lấy trứng ấp, cần lựa chọn trống để phôi giông Chọn con khoẻ mạnh, sinh trưởng phát triển bình thường, đủ tiêu chuẩn để phối giống Thường một cút trông phối giống từ 4 - 5 cút mái Sô" cút trống bị loại nuôi vỗ béo bán thịt.
Sau 3 tuần tuổi là có thể lựa chọn cút mái để nuôi riêng Chọn con mập mạp, lông mượt, mắt sáng, khoẻ mạnh để làm giống Lựa chọn trống mái phải qua nhiều đợt, kể cả giai đoạn cút đang đẻ và đang phối giống Với cút mái đẻ kém cần loại bỏ ngay Cút trốhg đạp mái kém cũng cần loại bỏ Ở cút trống sau 6 tuần
tuổi, quan sát thấy bầu tinh của chúng nếu căng
phồng và có màu đỏ hồng là đạt tiêu chuẩn phốỉ giống Trường hợp thấy bầu tinh cút nhỏ, không căng cứng, màu tái nhợt thì phải loại bỏ.
Yêu cầu thức ăn:
Với cút mái, cút trống chọn làm giống, cần có khẩu phần thức ăn hợp lý Đảm bảo trong thức ăn chứa đầy đủ các thành phần dinh dưỡng cần thiết để cút sinh trưởng bình thuưòng và khả năng phối giống, sản xuất trứng được tôt.
175
Trang 18VI VỆ SINH CHUỒNG TRẠI• ■
Đây là công việc cần thực hiện hàng ngày, nhằm đảm bảo vệ sinh, giữ cho môi trường sổng của cút được tốt, tránh được dịch bệnh, cơ thể cút khoẻ manh làm tăng khả năng sản xuâ't thịt trứng.
176
Trang 191 Vệ sinh máng ăn, máng uống
Chim cút ăn suôt ngày đêm, do vậy lượng phân thải ra rât lốn Phân cút rất hôi hám, trong phân có lượng nhỏ thức ăn chưa được tiêu hoá liết do vậy là mầm mông kích thích dòi bọ sinh trưởng Vậy cần thực hiện vệ sinh thát tốt.• • • w* w '
Mỗi lồng nuôi cút cần có hai máng để thay đổi nhau Khi đem máng ra vệ sinh đã có máng khác thay thế Sau khi cọ rửa máng song có thể phơi nắng
để diệt khuẩn.
Hiện nay người ta thu dọn phân cút bằng cách dùng lưới nilong đặt đưối đáy lồng Khi dọn phân chỉ dùng trục cuốn tự chê cuốn tròn lại, đem ra ao, hồ ngâm sau đó rửa sạch, phơi khô và lại tiếp tục lót để hứng phân Với cách thức này vừa nhanh, vừa thuận lợi + mà lại đảm bảo vệ sinh.• m
2 Vệ sinh chuồng trại
Sau mỗi đợt xuất bán cút, cần quét dọn sạch sẽ và
• phun thuốc khử trùng Hàng ngày, cần phải vệ sinh
chuồng tr ạ i sạch sẽ, không để phân và thức ăn rơi vãi lung tung Kiểm tr a chuồng trạ i thường xuyên, ngăn
Trang 20Bệnh dịch tả:
Cút bị vi trùng dịch tả xâm nhập đến các cơ quan thần kinh, hô hấp, tiêu hoá Làm cho cút yếu đi, kém ăn, mỏ hé ra thỏ khò khè, miệng chảy ra nhớt rãi Phân có màu xanh hoặc trắng lỏng Nếu bệnh nặng chân bại, cút nằm nghiêng Thường người ta sử dụng thuốc dịch tả ở gà để ngăn ngừa và điều trị.
Bệnh s ổ mủi:
Bệnh này thường xuất hiện khi có sự thay đổi thời tiết cũng như môi trường sống của cút Cút bệnh có
178
Trang 21biểu hiện nước mũi chảy ra, gây khó thỏ, con bệnh thường rảy mỏ liên hồi để nước mũi văng ra cho dễ thở Cút khác ăn phải nước mũi này dễ bị lây bệnh.
Vói bệnh này, mức độ gây nguy hiểm không lổn Tuy nhiên khi phát hiện cần phải xử lý ngay, nếu để lây lan ra cả đàn cũng ảnh hưỏng đến khả năng sản xuất thịt trứng.
Bệnh cầu trùng:
Cút mắc bệnh bỏ ăn, lông xù, sức khoẻ giảm sút Bệnh cầu trùng do ký sinh trùng eimeria sinh ra Cút bệnh thải phân ra ngoài, cút khoẻ ăn phải rất dễ lây bệnh Vì vậy, khi thấy cút mắc bệnh cần nhốt riêng những con bị bệnh Hàng ngày phải thực hiện vệ sinh chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi thật tốt.
Bệnh thương hàn:
Bệnh thương hàn ở cút do vi trùng Salmonella gây
ra Với cút con, khi mắc bệnh này chết rất nhanh Còn ở cút trưởng thành nếu bị bệnh thưòng có biểu hiện: Kém ăn, rụt cổ, phân trắng Bệnh này khá nguy hiểm đối với cút Khi cút mắc bệnh nếu không điều trị kịp thời tỷ lệ chết rất cao Trong trường hợp chữa khỏi, thì cút chậm lón, sức sản xuất thịt trứng
179
Trang 22giảm Đe đề phòng bệnh thường người ta pha thuốc trụ sinh vào trong nước uống để cho chim uống ngay
từ khi còn nhỏ.
Khi cút mắc bệnh, có thể dùng thuổc kháng sinh trộn vào thức ăn để chữa trị.
180
Trang 23CHƯƠNG V
HƯỚNG DẪN NUÔI VÀ PHÒNG TRỊ BỆNH
CHO CHIM BỔ CÂU
I ĐẶC TÍNH SÌNH HỌC CỦA CÁC GIỐNG CHIM CÂU
Toàn thân chim câu có lông vũ bao phủ Mình chim hình thoi, cổ dài rất linh hoạt giúp chim dễ quan sát thức ăn từ mọi phía, mổ thức ăn tấn công hay tự vệ, rỉa lông cánh Bồ câu có bản năng ấp trứng tôt, nuôi con giỏi, kiếm mồi và khả năng định hưóng nhận biết đường đi, về Bồ câu là loài chim có khả năng đặc biệt nhận biết và định hướng đưòng đi trên một khoảng cách rất xa một cách chính xác Đó là do khi bay, chim phát ra tín hiệu dò tìm từ trường trái đất để định hướng đường đi.
Bồ câu là loài chim có nhiều biến dị vê mầu lông: đen, trắng, nâu, khoang, về ngoại hình có giốhg bồ câu có chùm lông ỏ đầu rất ngộ nghĩnh hoặc có đuôi xoè khá đẹp.
Bồ câu có đặc tính cặp đôi vợ chồng Trường hợp khi lẻ đôi do trông hoặc mái chết, con còn lại sẽ bỏ
181
Trang 24chuồng bay đi nơi khác tìm bạn Có thể ghép đôi cho • chúng, nhưng để hoà hợp được cần phải kiên trì Bồ câu thường đẻ 2 trứng, ấp nở ra hai con trống mái, có trường hợp nỏ ra toàn trống hoặc toàn mái Bồ câu khá mắn đẻ, thường 40 - 50 ngày cho một lứa.
Bồ câu có 80 nhiễm sắc thể, tê bào sinh duc đưc/ m m
mang dấu zz, tê bào sinh dục cái dấu zw ỏ bồ câu thường phôi giống đồng huyết ở mức cận thân (đôi trống mái là anh em ruột) Da chim bồ câu mỏng, không có tuyến nhờn chỉ có tuyến đuôi gọi là tuyến phao câu tiết ra chất nhờn dùng rỉa lông cho bóng đẹp Lông vũ bồ câu có hai loại: Lông ống và lông tơ
Cổ có vai trò quan trọng khi bay lượn Lông tơ mọc sát thân tạo thành một lóp dày xốp, có tác dụng điều hoà nhiệt cho cho cơ thể.#
Chim có khả năng tự kiếm mồi, chịu khó nhặt thóc rụng ngoài đồng và thức ăn rơi vãi Vì vậy, nhiều gia đình nuôi chim bồ câu ở xung quanh các chợ, khu đông dân cư để tận dụng nguồn thức ăn rơi vãi
Phương thức chăn nuôi này rất có hiệu 'quả vừa ít chi phí thức ăn Bồ câu rất thích ăn các loại hạt đậu đỗ
chứa nhiều protein giúp chim khoẻ, tăng khả năng
sinh sản và phát triển cơ bắp Chim ưa sạch sẽ,
thoáng đãng, chúng thường tắm vào những ngày
182
Trang 25nóng bức hoặc sau khi đi kiếm mồi về Chim thích chuồng rộng, có màu sắc đẹp, đặt ở chỗ cao, yên tĩnh Nêu để chuồng bẩn, ồn ào và bị tác động từ môi trường bên ngoài chim sẽ bỏ chuồng bay đi nơi khác.
ở bồ câu, túi không khí phổi có quan hệ với nhiều
cơ quan nội tạng như tim và dạ dày (mề) Túi không khí là nguồn dự trữ ô xy vì không khí tạm thời ở đó rồi đi qua phổi khi hít vào để một lần nữa qua đó đi
ra ngoài Túi không khí còn đóng vai trò điều hoà thân nhiệt làm mát cơ thể của chim đặc biệt là cơ• • •
quan nội tạng.
Chim bồ câu mói nỏ, mình trần trụi, mắt nhắm, yếu ốt nhưng có tốc độ lớn khá nhanh Tuyến giáp trạng cũng khá phát triển và đạt độ lớn khi chim ỏ độ chín muồi sinh dục.
Máu bồ câu nồng độ cao và đông nhanh Khối lượng máu bồ câu bằng 9,2% thể trọng cơ thể Bồ câu không có túi mật.
Bộ máy sinh dục bồ câu trống bao gồm tinh hoàn
và phần phụ Trọng lượng tối đa của tinh hoàn bồ câu bằng 0,5% trọng lượng cơ thể ở bồ câu mái, trong buồng trứng sô" lượng noãn bào khá nhiều, nhưng chỉ
một số ít chín muồi Trứng chín muồi đi vào phễu của
ống dẫn trứng nhưng ở chim không hình thành
183
Trang 26hoàng thể Bồ câu có bộ xương nhỏ, nên tỷ lệ thịt khá cao, phần bỏ đi không đáng kể Các cơ quan ỏ phần
ngực và phần đùi phát triển mạnh, cơ lưng và cơ đuôi
ít phát triển.
1 Ngôn ngữ loài chim
ở các loài chim, trong đó có bồ câu, các cặp vợ chồng nhận ra nhau không chỉ bằng hình ảnh qua cặp mắt, mà chúng nhận ra nhau chủ yếu là bằng âm thanh Mỗi loài chim đều phát ra một loại âm thanh đặc trưng không chỉ ở bản chất giọng mà còn ở trường
độ, sự luân phiên và quãng cách giữa các âm thanh.
Ở bồ câu cũng có âm thanh đặc biệt Chim trống thường phát ra tiếng gù khi to khi nhỏ.
2 Phân biệt trống mái ỏ bồ câu
Sự phân biệt chỉ thuận lợi khi chim đã lớn, sinh dục đã chín muồi Chim trống thưòng có thể trọng lớn hơn chim mái, mình dầy, cơ bắp lớn hơn, đầu to và chân to hơn Trong lúc tắm, chim trống thường đùa giỡn, hai cánh khẽ đập nước và gù với chim mái.
Chim có đặc tính cặp đôi vợ chồng, chúng thường luôn ở bên nhau, kể cả khi đi kiếm mồi Chỉ trong thòi gian ấp trứng chúng mới chịu tạ:n lẻ đôi Khi đó chim mái ấp trứng , chim trống bay đi kiếm mồi và
184
Trang 27ngược lại Nếu vì lí do nào đó một con lạc hoặc bị chêt, con còn lại sẽ bỏ tổ bay đi nơi khác hoặc tự tìm bạn đòi.
3 Sự thay lông
Sự thay lông trên các phần cơ thể của bồ câu diễn
ra khác nhau Vào tháng 3, tháng 4 chim thay lông ở hai cánh Thay lông ở cánh sơ cấp bắt đầu từ lông thứ
10 và dẫn đến lông phía ngoài của cánh, lông ở ngoài cùng thay sau cùng Sự thay lông ở cánh thứ cấp bắt đầu từ cánh ngoài ỏ 2 phía đi dần vào giũa Trong quá trình thay lông , bồ câu vẫn duy trì khả năng bay Sự thay lông ở thân thường diễn ra nhanh hơn
so với lông cánh, lông đầu và cổ thay nhanh nhất Sự thay lông ở hai bên sườn cũng là sự kết thúc của quá trình thay lông Sự thay lông ở chim trống và chim mái diễn ra như nhau Bồ câu non một tháng tuổi bắt đầu thay lông Quá trình thay lông ảnh hưởng không tốt đến tình trạng sức khoẻ của chim Nó đòi hỏi tiêu hao nhiều chất hữu cơ để cấu tạo lông mối Trong thòi gian này cần có chê độ chăm sóc tốt và tăng lượng chất khoáng trong khẩu phần thức ăn.
3 Đẻ trứng và ấp
Để việc nuôi chim bồ câu đạt hiệu quả, cần quan tâm đến việc chuẩn bị bồ câu trước thòi kỳ sinh đẻ và
185
Trang 28sự chăm sóc chúng trong thòi kỳ đẻ trứng Bồ câu đẻ trứng cách nhau 36 giò Chim bồ câu rất hiêm khi đẻ một trứng Trứng có hình bầu dục, vỏ sáng màu trắng Trọng lượng trứng trung bình 16 - 18g, tuỳ thuộc ở các giống chim khác nhau trứng có thế to hơn hoặc nhỏ hơn Mùa giao phối của chim bắt đầu từ giữa tháng 2 đến cuổì tháng 10 dương lịch Trong khoảng thời gian đó chim bồ câu có thể đẻ 5 - 6 lứa Khoảng cách giữa các lứa đẻ đến cuốĩ mùa tăng dần lên: Giữa lứa thứ 2 và 3 là 40 - 46 ngày, giữa lứa thứ
3 và 4 là 50 — 55 ngày Người nuôi chim phải theo dõi quá trình chim đẻ trong từng ổ (trong các ngăn đặt ổ rơm), khi thấy có biểu hiện khác thường cần theo dõi chặt chẽ để xử lý kịp thòi.
4 Sự sinh trưởng phát triển chim non
Chim mới nở nặng 12 - 16g ( tuỳ thuộc vào giống) trên mình rất ít lông tơ, chim nhắm mắt, ít cử động
và không có khả năng tự mổ ăn được.
Chỉ sô" phát triển bình thường của bồ câu:
Trang 29Thời kỳ đầu đến 12 ngày tuổi có tôc độ lón rất
nhanh, trong 6 ngày tăng từ 16 đến 105g và 6 ngày tiếp theo đến 216g.
Thời kỳ thứ h ai sau 12 ngày tuổi tốc độ lổn chậm
lại Vê tốc độ sinh trưởng, bồ câu chiếm vị trí hàng đầu trong sô' gia cầm.
II NHU CẨU VỀ DINH DƯỠNG
1 Đặc điểm nhu cầu dinh dưõng
Đặc điểm nhu cầu dinh dưỡng của chim bồ câu thịt
Trang 30Chỉ tiêu Thời kì non Thời kì sinh
Bồ câu cần những chất khoáng hơn các lpại khác, mặc dầu trong thức ăn của nó đã có các loại canxi, lân, natri, sắt, lưu huỳnh, đạm, sillic, mangan, nhưng vẫn phải cho ăn thêm loại viên thức ăn chứa
188
Trang 31nhiêu khoáng chất Còn phải cho chim ăn loại thức
ăn đã qua thê biên chứa nhiều vitamin Vì khi ta nuôi thì khả năng tự tìm thức ăn của chim hầu như không có Vậy cần cho ăn thêm các loại thức ăn chứa nhiều vitamin Bồ câu uông nước nhiều nên nhất thiêt đảm bảo đủ lượng nước uổng.
2 Loại thức ăn ỉhưdng dũng cho chim
Bồ câu thường ăn trực tiếp các loại hạt đỗ, ngũ cốc
và các loại thức ăn đã gia công chứa nhiều chất khoáng và vitamin.
Đỗ gồm: đỗ xanh, đỗ đen, vàng, đậu ván Đỗ tương chứa hàm lượng chất béo nhiều nên cho ăn ít hơn Các loại đỗ hạt to quá, cứng quá cũng không nên cho chim ăn.
Ngũ cốc gồm: các loại lúa mạch, ngô, lúa, gạo, cao lương Có thể cung cấp năng lượng và hợp chất chứa đạm bằng thức ăn hỗn hợp sẵn.
Các loại khác gồm: Hạt rau, vừng, lạc nhân có các chất rất cần cho chim nên cho lượng vừa phải, nếu nhiều sẽ phản tác dụng, hoả mê nhân có tác dụng rất mạnh tới sự mượt mà của lông vũ Trong thời kỳ chim đổi lông vũ thì chú ý cho ăn hoả mê nhân, nếu khôngcó thì dùng hạt rau, kê, vừng, lạc, thay thế.
189
Trang 32v ề vitamin nếu nuôi dưỡng lớn, phải tìm cách cho
ăn thêm cho đủ, dùng loại thức ăn “thanh lục” hoặc thuôc tăng trọng.
Về các loại chất khoáng, có thể dùng đất đỏ, than củi, vỏ trứng, xương nghiền thành bột, muối ăn, bột
đá, đất sét vàng thay thế Đe chim khoẻ mau lớn thì
có thể dùng thêm thuốc tăng trọng (hoặc các loại premix vitamin).
cá và các loại thức ăn động vật có chứa nhiều chất đạm Khi trộn thức ăn, cho ăn thức ăn dinh dưõng kém thì chú ý thức ăn phải mới, đảm bảo chất lượng không môc, không mọt Lượng hạt đỗ không dưói 18% nhưng không quá 30% Mùa đông thì lượng ngô nên chiếm 40-50% để tăng năng lượng.
Ngoài ra, còn cho chim ăn thêm các loại thức ăn như: hạt lạc, vừng, vỏ trứng, xương nghiền thành bột, muôi ăn, bột đá
190
Trang 33III CHỌN NƠI NUÔI VÀ THIẾT BỊ NUÔI
1 Chọn nơi nuôi
Đe đạt hiểu quả cao trong việc nuôi chim, nên chọn nơi có ánh nắng mà vẫn râm mát (tạo nơi râm mát, hoặc có sẵn), không có mèo, chuột Chọn nơi thoáng đãng mùa đông ấm mùa hè mát, khô ráo để chim có thể hoạt động tự do thoải mái.
Vói những trưòng hợp nuôi lẻ gia đình, tùy theo diện tích đất sử dụng mà bố trí ở góc nhà, góc vườn, đường đi lối lại, hành lang, sân chơi, góc lan can Nhưng đều phải đảm bảo có ánh nắng mặt tròi khô ráo, thoáng mát, sạch sẽ, tránh được âm thanh ồn ào quá mức, tránh được phiền nhiễu của chuột mèo Đặc biệt khi ấp trứng và nuôi chim sữa thì càng cần yên tĩnh.
2 Chuẩn bị chuồng, lổng nuôi
Nuôi lồng đại trà: có thể gọi là lồng, chuồng hoặc
tổ Dùng tre, gỗ, gạch vôi để làm chuồng, chuồng to nhỏ tuỳ vào diện tích và mục đích nuôi Thông thưòng chuồng có 3-4 tầng cao 35cm, sâu 40cm, rộng 35cm để nuôi một cặp Mỗi tầng có một cửa thông, thành một thể khép kín.
191
Trang 34Lồng hai tầng (lồng kép): Thường dùng dây lưới kim loại, giữa hai tầng có tường gạch, tường gạch có cửa cao 20cm rộng 15cm Tầng trong kích cỡ 40x40x60cm, để chim ăn, đẻ, ấp trứng, nuôi chim sữa Tầng lốp dây thép trong mỏ một cửa chính hình vuông 20x20cm và không đặt máng ăn Tầng ngoài cao 40cm, sâu 60cm, rộng 60cm Khoảng giữa hai tầng lồng là sân chơi của chim Tầng ngoài cũng mỏ một cửa cao 20cm rộng 15cm Trên đỉnh là hệ thống phun nưốc để chim tắm và làm cả máng uống Một ống để cách mặt đất 20cm, giữa hai tầng lồng làm máng chảy để tiện làm vệ sinh lồng.
Lồng đơn: Từng lồng độc lập theo dãy, như vậy cũng rất thuận lợi cho việc chăm sóc, quản lý, mỗi lồng rộng 60cm, cao 55cm, sâu 70cm Có thể dùng tre, nứa, lá, gỗ hoặc dây lưới kim loại để làm lồng.
3 Dụng cụ nuôi
O để chim đẻ, ấp trứng, nuôi chim non, có thể dùng
gỗ, lưới sắt, chất dẻo, gôm, sứ, thạch cao để làm, cũng
có thể dùng rơm cỏ Nhưng yêu cầu phải khô ráo, sạch sẽ, tiện cho việc làm vệ sinh, o thông thường có đường kính 20-23cm, cao 7-8cm Nên làm hai ổ, một ổ
để đẻ và ấp trứng đặt trên, còn một ổ để nuôi chim non thì đặt ở dưói.
192
Trang 35Máng ăn phải đảm bảo dễ mổ thức ăn không bị đổ, thường thì dùng một khúc bương tre đường kính 8cm, dài 40cm Khoét một lỗ rộng 4-5cm, nên để giữa hai lồng để chim hai lồng cùng ăn được.
Máng nước phải đảm bảo vừa tiện lợi vừa vệ sinh Tốt nhất làm hình ốp như vỏ đồ hộp hoặc một khúc tre.
Bồn tắm: Làm tròn hay vuông đều được, rộng khoảng 55cm, sâu 15cm.
Máng đựng thức ăn “bảo kiện”: Miệng trên rộng 6cm, đáy 4,5cm, dài 8cm có độ dốic để thức ăn tụt xuống Nên làm bằng tre, gỗ hoặc chất dẻo, không nên làm bằng kim loại.
IV NUÔI DƯỠNG CHIM THỊT
Để đảm bảo chất lượng của chim thịt, chim sữa thì ngoài việc chọn giống tốt, thức ăn tốt, nơi nuôi dưỡng tốt, cách nuôi dưỡng theo khoa học kỹ thuật thì mới đạt được hiệu quả cao ở mỗi giai đoạn khác nhau có chế độ, chăm sóc và nuôi dưỡng khác nhau.
1 Các giai đoạn phát triển của chim bổ câu
Có thể tạm chia các giai đoạn phát triển của chim
bồ câu theo bảng sau: