1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Bảng giảng Chăn nuôi heo: Chương 3 - Thức ăn và dinh dưỡng

27 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 27
Dung lượng 267,95 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 3 - Thức ăn và dinh dưỡng của bài giảng chăn nuôi heo nêu lên các loại thức ăn cơ bản, thức ăn hỗn hợp và vai trò của dinh dưỡng của thức ăn bổ sung cho heo.

Trang 1

Chương 3 THỨC ĂN VÀ DINH DƯỠNG

1 Các loại thức ăn cơ bản

1.1 Thức ăn năng lượng

1.1.1 Bắp:

Bắp vàng thường được dùng để nuôi heo vì có nhiều vitamin A (Nếu bảo quản tốt thì một năm mất khoảng 25% vitamin A) Là loại thức ăn cung cấp năng lượng tốt (>70% tinh bột), đạm thấp (Lys, Tryp thấp), béo thấp, khoáng, vitamin nhóm B thấp Tỷ lệ tiêu hóa 80-90% Lưu ý: bắp càng ẩm (>15%) thì giá trị dinh dưỡng càng kém Bắp bị mốc gây độc

Tỷ lệ % bắp có thể dùng trong khẩu phần

Heo con và heo cai sữa: <30%

Heo hậu bị: <35%

Heo vỗ béo: <45%

Heo nái chửa, nuôi con, đực: <25%

1.1.2 Lúa và các sản phẩm của lúa

Lúa xay: nuôi heo > tháng tuổi CP 6-7%, phẩm chất tốt, Xơ 12%, béo 3% Tỷ lệ tiêu

hóa 60%

Lúa lên mộng: nguồn vitamin E cho heo giống

Tấm: Tinh bột cao >70%, ít xơ 1%, phẩm chất đạm tốt Chứa nhiều acid béo no Có thể dùng nguyên dạng, xay nhuyễn hoặc nấu chín Tỷ lệ dùng 30-70% trong khẫu phần

(B1, B2, PP), khoáng cao Do hàm lượng béo cao do đó không thể tồn trữ cám lâu vì các acid béo sẽ bị phân giải, bị oxi-hóa có mùi hôi, khét đắng làm heo giảm tính thèm ăn và bị tiêu chảy Tỷ lệ dùng:

1.1.4 Khoai lang:

Khoai lang vàng có nhiều caroten (40mg/kg khoai tươi) Bột khoai lang 14% là nước,

>70% bột đường, tỷ lệ dùng trong khẩu phần 30% Khoai lang tươi có thể nấu chín hoặc ủ

Trang 2

1.1.5 Khoai mì:

Bột khoai mì có 10% nước, 80% bột đường, 2% đạm, 3% là xơ Trong khoai mì tươi có chứa chất HCN (axit xianhidric) khi bị nhiễm độc làm heo có biểu hiện nôn mửa, suy hô hấp và có thể chết Do đó phải ngâm nước, ủ chua hoặc xắt lát phơi khô thì mới có thể sử dụng làm thức ăn được Tỷ lệ dùng trong khẩu phần 30%

1.1.6 Mật đường

Có màu vàng sẫm, dạng đặc, là phần mật còn lại trong công nghiệp chế biến đường Nước 23-26%, đường 60% (chủ yếu là saccharoz, glucoz, fructoz ), đạm thấp 1% (không tiêu hóa), khoáng 8-10% (K 3%, Mg 0,3-0,5%) Tỷ lệ dùng trong khẩu phần 10-30%

1.2 Thức ăn bổ sung đạm

1.2.1 Bột cá (cá hấp chín, ép lấy dầu, sấy khô, nghiền thành bột)

Tiêu chuẩn đối với bột cá CP>50, nước <12%, Béo <10, muối <5, khoáng<20, chứa nhiều vitamin nhóm B (B2, B12) Tỷ lệ dùng <15% trong khẩu phần Heo con, heo hậu bị, nái chửa, nuôi con 12% trong khẩu phần, heo thịt 5%

1.2.2 Bột thịt

Từ phế phẩm trong lò mổ gia súc, các nhà máy đóng hộp, hấp lại bằng hơi nước nóng, ép loại mỡ, nghiền thành bột) CP 50-60% (ít Tryp, giàu Lys), béo 8%, khoáng 9%, nhiều vitamin nhóm B Tỷ lệ dùng như bột cá

1.2.5 Đậu nành

CP khoảng 38%, béo 18% Đậu nành có chứa chất soyin ức chế Trypsin Có thể xử lý nhiệt 80oC trong 15-20 phút Tỷ lệ dùng <10% cho heo con, <20% cho heo lớn

1.2.6 Bánh dầu đậu nành

Xác còn lại khi ép lấy dầu CP 40-45%, béo 5-6% (ép thủ công), 1-2% (ép công nghiệp)

Tỷ lệ dùng tương đương đậu nành

1.3 Thức ăn bổ sung khoáng

1.3.1 Bột xương

Bổ sung Ca, P cho heo Tỷ lệ Ca trong bột xương 16-21% Tỷ lệ P trong bột xương 16% Tỷ lệ dùng 1% trong khẩu phần

Trang 3

11-1.4 Thức ăn bổ sung vitamin

1.4.1 Thức ăn xanh

Cung cấp vitamin A, E cho heo Thức ăn xanh: rau muống, rau lang, lục bình, bèo, cỏ

là nguồn thức ăn tốt đối với heo ( heo có khả năng tiêu hóa một lượng xơ dạng celluloz do

vi sinh vật đường ruột Lượng dùng: 1-4 kg/ngày

Heo con bú mẹ Heo con cai sữa

Heo thịt Heo hậu bị

Nái chửa Nuôi con

50 Vừa đủ 1.000g

1.200.000 160.000

- 0,4 0,8 3,0

Vừa đủ 1.000g

1.700.000 100.000 2.000 0,4 0,7 2,4

- Vừa đủ 1.000g

2 Thức ăn hỗn hợp

Là loại thức ăn đã được phối hợp sẵn từ các loại thức ăn đơn giản theo công thức khẩu phần đã được tính toán trên nhu cầu dinh dưỡng từng giống, loại, giai đoạn của heo và giá

cả của loại thức ăn đó

Yêu cầu kỹ thuật đối với thức ăn hỗn hợp

Phải có mùi thơm hấp dẫn , Độ ẩm <14%

CP >17% heo con, >14% nái chửa, >10% heo thịt Xơ, <4% heo con, <10% heo lớn

3 Vai trò của dinh dưỡng

3.1 Vai trò của nước

Nước là thành phần cấu tạo của tế bào cơ thể, nhưng cũng còn là môi trường để tế bào hoạt động Trong cơ thể, nơi chứa nhiều nước nhất là mô máu, nơi chứa ít nuớc nhất là men răng (dentin) có 5% nuớc và cũng là nơi cứng nhất trong cơ thể Thiếu nuớc làm cho thú chết khát, điều này thực sự thường xảy ra trên heo nuôi ở những nơi có tập quán cho heo ăn mặn, ăn lỏng Ơ nhiều nơi nhà chăn nuôi không bố trí thiết bị cung cấp nước đầy đủ cho heo

Trang 4

Nuớc cung cấp cho heo phải chú ý số lượng và chất lượng Trung bình một ngày đêm mỗi đầu heo cần 50 lít nước cho các nhu cầu ăn uống tắm rửa chuồng, nhu cầu này thay đổi theo khí hậu thời tiết, thiết bị cung cấp nuớc Đặc biệt heo có tập quán vừa ăn vừa uống, vừa tắm vừa uống do vậy khó tách biệt dùng nước cho ăn uống với nước làm vệ sinh chuồng

Đó cũng là điểm bất lợi trong việc bố trí bể tắm trong chuồng Về chất lượng, nước dùng cho heo phải không chứa khoáng độc, vi sinh vật có hại Ơ những nguồn nước bị nhiễm mặn, nhiễm phèn (phèn sắt, phèn nhôm) có ảnh hưởng xấu đến sự tăng trưởng và sức đề kháng bệnh của heo nuôi

Nếu sử dụng nguồn nước mặt thì phải quan tâm đến khía cạnh vi sinh vật có hại vốn từ đầu nguồn sông ngòi, ao đầm… Tập quán lâu đời của những cư dân sống ven bờ sông, kênh rạch thường vất xác thú chết, rác rến, phân… xuống nguồn nước, làm nhiễn vi sinh vật có hại Hơn nữa, chế độ bán nhật triều (2 lần nước lớn, 2 lần ròng trong ngày) cho thấy các chất thải trên khi tuông xuống dòng nước thì không trôi đi đâu xa mà lẩn quẩn trong nguồn nước sông kênh rạch của cư dân ở đó

Nếu sử dụng nguồn nước ngầm thì phải chú ý trọng các khoáng chất hoà tan trong nước, nếu hàm lượng những khoáng độc quá nhiều thì không dùng để nuôi heo được Nước mặt hay nước ngầm bị nhiễm nhiều vi sinh vật có hại thì có thể sử dụng hoá chất khử trùng nước (như calcium hypochloride) để diệt mầm bệnh trước khi dùng để nuôi heo

Nước mưa cũng là nguồn thiên nhiên cần quan tâm sử dụng, nhưng cũng phải chú trọng khía cạnh nhiễm vi sinh vật có hại từ bụi lẫn trong không khí nhiễm giọt nước mưa Đương nhiên muốn sử dụng nguồn này thì cần kinh phí xây dựng bồn, bể chứa rất tốn kém

Ơ những vùng nước mặt có nhiều phù sa thì cần thêm thiết bị gạn lắng phù sa trước khi sát trùng nước

Ngoài việc tắm rửa chuồng, nước còn dùng để làm mát, chống nóng chuồng trại nhất là heo nọc, heo nái nuôi con, nái chửa, làm tăng độ ẩm không khí mùa khô nóng cho phù hợp sinh lý bình thường của heo nuôi

Chăn nuôi công nghiệp thường cho heo ăn thức ăn khô, điều này cũng làm giảm tính thèm ăn, nhất là vào những tháng nóng oi bức, trong khi đó, chăn nuôi gia đình hay ở một

số trại quy mô nhỏ, người nuôi heo thường cho heo ăn thức ăn ướt, với một lượng nước vừa

đủ cho thức ăn ẩm, heo ăn nhanh mau rồi bữa

4 Vai trò của protein

Protein là cơ sở của sự sống, protein là chất cấu tạo nên các loại mô bào trong cơ thể, đồng thời cũng là cấu tạo của những chất điều hoà sự sống như hormon, enzyme trong cơ thể

Axit amin là thành phần cấu tạo nên protein có công thức tổng quát:

R – CH – COOH

NH2

Có 2 loại axit amin trong số 20 loại axit amin:

4.1 Axit amin thường:

Trang 5

4.2 Axit amin thiết yếu

Đây là nhóm axit amin mà cơ thể heo không có khả năng tự tổng hợp được, lại chứa rất

ít trong thức ăn gốc của thực vật, chỉ có dồi dào trong thức ăn gốc động vật Có 10 axit amin thiết yếu đối với heo như sau:

Lysin, tryptophan, methionin là 3 loại axit amin giới hạn, có ảnh hưởng quan trọng đến

sự chuyển hóa các axit amin khác Vì vậy hiện nay 3 loại này được tổng hợp nhân tạo với lượng dồi dào để các nhà chăn nuôi có thể bổ túc vào khẩu phần ăn hàng ngày cho heo một cách dễ dàng

Đối với các giống heo có nhiều nạc, nhu cầu protein phải thoả mãn về đủ số lượng và cân bằng các axit amin thiết yếu thì chúng mới đạt tỷ lệ cao nhất, sức sinh sản tối đa Trái lại các giống heo nội nhu cầu protein trong thức ăn không cao, việc cân bằng axit amin thiết yếu không nghiêm ngặt như heo giống ngoại nhiều nạc Nếu có cung cấp thật chuẩn xác nhu cầu axit amin thiết yếu như heo ngoại cũng không làm tăng đáng kể tỷ lệ nạc trong quầy thịt Axit amin thường không có dự trữ, chúng lưu chuyển trong máu và thân dịch trong vòng 24-36 giờ, nếu không có đủ điều kiện các axit amin khác phối hợp để tạo protein cho cơ thể, thì chúng sẽ bị chuyển hoá thành urê và bị loại khỏi cơ thể qua nước tiểu Phần axit hữu cơ

sẽ chuyển thành mỡ dự trữ hoặc cung cấp năng lượng

NH2

2R – CH – COOH + CO CO + 2R – CH2 – COOH

NH2 + 2H NH2

Axit amin Urê Axit hữu cơ

Nồng độ mỗi loại axit amin trong máu được điều khiển bằng một enzym, nếu nồng độ này quá cao hơn mức giới hạn, enzym đó sẽ xúc tác một chuỗi phản ứng phân giải axit amin thành các sản phẩm cuối cùng là urê, CO2, nước Nếu thiếu enzym phân giải sẽ gây rối loạn sinh lý cơ thể

Thí dụ: thiếu enzym Arginase để phân giải arginin dư thừa sẽ dẫn đến tình trạng chậm phát triển e6n người (mental retardation)

Trang 6

Thiếu enzym cystathionine-B-synthase sẽ gây tình trạng tiểu ra homocystin (homocystinuria) dẫn đến tình trạng chậm phát triển trí năng (mental retardation), một số bệnh về mắt, bệnh huyết khối (thromboembolism), bệnh xốp xương (osteoporosis) và cấu trúc xương bất bình thường khi methionin quá cao trong máu

Protein dư thừa sẽ chuyển hóa thành mỡ, do đó khẩu phần heo nhóm mỡ không cần quá nhiều protein làm cho heo chóng mập mỡ

Vitamin B6 có liên quan đến sự chuyển hoá protein Các nhóm heo cần nhiều protein thì cũng cần nhiều vitamin B6 để chuyển hóa protein

Khẩu phần ăn hàng ngày nếu thiếu protein, cơ thể sẽ tự phân giải protein của cơ thể (thường là mô cơ) để tổng hợp những chất cần cho sự sống như hormon, enzym,… vì vậy thú bị gầy còm, teo cơ, suy nhược…

Vì thức ăn gốc động vật dồi dào axit amin thiết yếu còn thức ăn gốc thực vật thường bị thiếu cho nên đối với heo, khẩu phần ăn nên cung cấp một lượng tối thiểu thức ăn gốc động vật khoảng 5% thì kinh tế hơn dùng toàn thức ăn gốc thực vật và bổ sung thêm axit amin thiết yếu tổng hợp nhân tạo Nếu vượt quá 15% khẩu phần là thức ăn gốc động vật thì cũng làm tăng thêm chi phí thức ăn mà có nguy cơ dư thừa axit amin, cơ thể phải tiêu hao năng lượng cho sự tiêu huỷ axit amin dư thừa

5 Vai trò của glucid

Glucid là nhũng chất có công thức tổng quát: Cn(H2O)n

Glucid là chất cung cấp năng lượng chủ lực cho cơ thể hoạt động, là nguồn cung cấp chuỗi carbon cho các phản ứng tổng hợp những chất hữu cơ khác Glucid dư thừa cơ thể sẽ chuyển hoá thành mỡ dự trữ Ơ heo mỡ dự trữ rất nhiều quanh thân hình và phủ tạng (mỡ dưới da và mỡ ở tràng hệ mô, mô liên kết bọc phủ tạng) Glucose được cơ thể chuyển hoá thành một đa đường đặc biệt chỉ có trong cơ thể động vật là glycogen Glycogen chứa trong gan và bắp cơ được cơ thể nhanh chóng chuyển thành glucose để sử dụng khi cần thiết như phản xạ chống lạnh: run cơ tạo năng lượng sưởi nóng cơ thể

Glucose chứa trong máu với hàm lượng 1‰ và luôn cố định, nếu vượt qua ngưỡng này, thận sẽ bài thải ra nước tiểu: đó là tình trạng tiểu đường Hormon insulin và glucagon của tuyến nội tiết tuỵ tạng chịu trách nhiệm điều hoà lượng đường trong máu ở mức cố định Glucose còn là chất giúp gan giải độc một số độc chất mà cơ thể bị nhiễm

Sinh B1 (Thiamine) là chất cần thiết điều khiển sự chuyển hoá glucid trongcơ thể

Trang 7

Heo con sơ sinh trong tuần lễ đầu tiên, bộ máy tiêu hoá chỉ hấp thụ, tiêu hoá được glucose và lactose, cung cấp cho heo con các loại đường khác như saccharose hoặc nấu cháo cho heo con ăn chỉ làm cho heo con dễ bị rối loạn tiêu hoá do vi sinh vật mà thôi

6 Vai trò của lipid

Lipid là những chất tạo ra do phản ứng ester hoá giữa glycerol và axit béo:

Glycerol + 3 axit béo Triglycerid

Trong khẩu phần của heo, cần có một lượng lipid tạo ra sự ngon miệng, chống bụi, để hoà tan các vitamin tan trong chất béo và để phát triển cơ thể Phẩm chất lipid trong thức ăn

có ảnh hưởng đến phẩm chất của mỡ heo Chất béo xấu, nhiều axit không no (nhiều nối đôi trong chuỗi carbon) làm cho mỡ heo mềm (gọi là mỡ bệu) làm cho thịt khó dự trữ, dự trữ không được lâu (vì mỡ bị hoá lỏng, bị ôi dầu) Chất béo tốt làm cho mỡ heo tốt (mỡ chắc), phẩm chất thịt tốt hơn, dự trữ được lâu hơn

Cơ thể heo cũng cần axit béo không no để xây dựng tế bào, đó là những axit béo thiết yếu, gồm linoleic acid, linolenic và arachidonic acid mà người ta còn gọi là là vitamin F Trong một số bảng nhu cầu dinh dưỡng heo, người ta cũng đã cung cấp trị số acid linonic cần thiết cho heo hàng ngày

Chất béo xấu trong thức ăn cũng ảnh hưởng đến các loại vitamin A, D, E… đặc biệt khi

sử dụng chất béo để tạo năng lượng thường làm tăng các chất peroxid làm hư hỏng vitamin

kể trên

Khẩu phần heo nhiều chất béo, sẽ làm heo chán ăn, chất béo trong thức ăn nhanh chóng biến thành mỡ ở tràng hệ mô mỡ bọc quanh cơ quan nội tạng và phát triển nhanh lớp mỡ bọc thân Heo nái trong thời kỳ mang thai dự trữ mỡ bọc thân rất dày để cung cấp heo con qua sữa Nái tốt sữa thì lớp mỡ bọc thân của heo con phát triển nhanh, heo con bụ bẫm, nhưng lớp mỡ bọc thân nái mẹ nhanh chóng giảm đi Như vậy trong thời kỳ tiết sữa nuôi con heo nái có cân bằng lipid âm, nghĩa là lượng lipid trong khẩu phần ăn hàng ngày không

đủ cho nhu cầu bảo trì và tiết sữa, nái phải huy động đến chất béo dự trữ để tạo sữa, làm cho lớp mỡ dưới da giảm đi nhanh chóng

Choline là mọt yếu tố có liên quan đến sự chuyển hoá lipid, còn gọi là yếu tố huy động

mỡ (lipotrophic factor) Những thú có nhu cầu lipid cao thì cần được cung cấp nhiều Choline trong khẩu phần hàng ngày

Trang 8

7 Sự chuyển hóa năng lượng

Bất kỳ một chất hữu cơ nào cũng sinh sản ra năng lượng Để biết rõ năng lượng của một loại thức ăn đơn nào đó (ví dụ như cám , hay bột cá…) người ta đốt cháy chúng chọn vẹn trong một thiết bị là nhiệt lượng kế và được năng lượng toàn phần của chất đó toả ra từ một đơn vị trọng lượng (thường là 1g), năng lượng này gọi là năng lượng thô (gross energy viết tắt là G.E) Khi cho thú ăn, loại thức ăn này vào bộ máy tiêu hoá, một phần bị dịch tiêu hoá

xử lý, phần không tiêu hoá được sẽ bài thải qua phân ra ngoài Người ta thu góp phân và cũng đốt trong nhiệt lượng kế để đo lượng nhiệt toả ra và đó gọi là năng lượng của phân Khi đem trị số G.E trừ cho năng lượng trong phân, kết quả người ta tính được năng lượng tiêu hoá (digestible energy viết tắt là D.E) người ta thu góp nước tiểu thú nuôi và khí bài thải từ đường tiêu hoá (thường là CH4…) đem đốt trong nhiệt lượng kế để đo nguồn năng lượng mà cơ thể thú không dùng được để khấu trừ vào D.E trị số thu được gọi là năng lượng trao đổi (gọi là metaboli-zable energy viết tắt là M.E., một số tài liệu còn gọi là năng lượng biến dưỡng) Năng lượng trao đổi là năng lượng cơ thể dùng vào việc duy trì sự sống trong đó gồm hai phần: phần năng lượng dùng để tạo thân nhiệt, phần còn lại dùng để tăng trưởng, phát triển tế bào, sản xuất ra các loại súc sản như thịt, sữa, trứng, bào thai…năng lượng tạo thân nhiệt có thể đo được qua sự toả nhiệt của cơ thể thú, người ta lấy trị số này khấu trừ vào trị số M.E thì thu được trị số năng lượng thực dụng (net energy viết tắt là N.E.)

Hiện nay trên thế giới người ta thống nhất sử dụng trị số năng lượng trao đổi (M.E.) để

đo lường nhu cầu các loại gia súc gia cầm, đồng thời cũng dùng để đo giá trị năng lượng của các loại thực liệu làm thức ăn gia súc Việc cân bằng nhu cầu năng lượng trao đổi của heo nuôi bằng các thực liệu là một phép tính quan trọng trong việc tổ hợp khẩu phần lập công thức pha trộn thức ăn hỗn hợp Trị số năng lượng trao đổi biến thiên theo từng lứa tuổi heo, nhà dinh dưỡng heo phải nắm vững, phải biết giá trị năng lượng trao đổi của từng loại thức

ăn đơn để tính toán mức sử dụng thích hợp tạo nên công thức thức ăn hỗn hợp thoả mãn đúng mức nhu cầu năng lượng trao đổi

Nhu cầu năng lượng trao đổi cũng biến thiên theo nhiệt độ môi trường, mùa nóng cơ thể heo cần trị số năng lượng trao đổi thấp hơn mùa lạnh Sử dụng trị số trao đổi năng lượng quá cao để thoả mãn nhu cầu của heo mùa nóng sẽ làm cho thú ăn ít hơn định mức bữa ăn hàng ngày, hậu quả là thú sẽ không được cung cấp đủ dưỡng chất cần thiết cho sự tăng trưởng hay sản xuất Trái lại mùa lạnh mà không cung cấp đủ nhu cầu năng lượng trao đổi thì heo sẽ ăn nhiều hơn định mức ăn hàng ngày, hậu quả là dư thừa một số dưỡng chất, cơ thể phải tốn sức bài thải và có xu hướng tích luỹ mỡ nhiều không tốt cho sinh sản, hoặc làm giảm giá trị thịt khi giết mổ (nhiều mỡ)

SƠ ĐỒ VỀ SỰ CHUYỂN HOÁ NĂNG LƯỢNG

Trang 9

8 Vai trò của vitamin

8.1 Nhóm vitamin tan trong chất béo

8.1.1 Vitamin A (Axerophtol)

Đây là vitamin cần thiết cho sự sinh trưởng, sinh sản và kháng bệnh

Về sinh trưởng, vitamin A cần cho heo đang thời kỳ tăng trưởng, nếu khẩu phần ăn hàng ngày bị thiếu heo sẽ chậm lớn, khả năng cho thịt giảm sút

Về sinh sản, vitamin A rất cần cho heo đực và heo nái trong việc sản xuất ra giao tử Thiếu vitamin A tinh dịch heo đực có ít tinh trùng và tinh trùng yếu, độ thụ tinh thấp, còn trên heo nái thì có ít trứng rụng đặc biệt vitamin A rất cần thiết để hình thành hoàn thể, cơ quan nội tiết sản xuất ra hormon progesterone giúp định vị phôi bào trong sừng tử cung, cho nên, nái thiếu vitamin A thì số thai đẻ ra sẽ ít Thiếu vitamin A trầm trọng có thể cả đàn con của heo nái sinh ra không có tròng mắt

Về sự kháng bệnh, vitamin A là chất cần thiết cho thị lực, thiếu vitamin A làm cho thị lực kém, bị khô giác mạc dễ dẫn đến tình trạng mù mắt

Vitamin A có nhiều trong gan các loài động vật, thịt, trứng, sữa, dầu gan cá Trong thực vật có chứa carotene là tiền vitamin A (Provitamin A) Đó là diệp lục tố hay diệp hoàng tố Khi thú ăn khẩu phần có carotene, gan sẽ chuyển thành vitamin A

Thừa vitamin A so với nhu cầu cũng không tốt vì có thể gây tình trạng viêm nướu răng, rụng răng, ê răng Phụ nữ mang thai dùng nhiều vitamin A so với nhu cầu cơ thể làm cho bào thai bị dị tật, tuy nhiên sự ngộ độc vitamin A trên heo chưa có tài liệu mô tả và khảo sát

tỷ mỉ

Vitamin A rất dễ bị hư hỏng do nhiệt độ, ánh sáng, chất oxy hoá, do vậy vitamin A cần phải bảo quản trong lọ màu nâu, tránh ánh sáng, tránh nơi hầm nóng Khi sử dụng chế phẩm tiêm, nếu không dùng hết, phải rút hết không khí trong chai và đậy kín, bảo quản lạnh Dạng vitamin A pha trộn thức ăn thường được bảo quản bằng chất liệu riêng để không bị các thực liệu khác ảnh hưởng và khi đến ruột non chất liệu bảo quản mới phóng thích vitamin A để ruột hấp thụ

Vitamin A đã được tổng hợp nhân tạo và pha trộn trong các loại vitamin premix với hàm lượng thích hợp cho từng loại heo

NĂNG LƯỢNG THÔ (GROSS ENERGY: G.E)

Năng lượng trong phân Năng lượng tiêu hoá: D.E

Năng lượng nước tiểu và khí cháy ở đường tiêu hoá Năng lượng trao đổi: M.E

Năng lượng tạo ra thân nhiệt

Năng lượng thực dụng

Trang 10

8.1.2 Vitamin D (calcipherol)

Đây là yếu tố cần thiết cho sự chuyển hoá calci và phosphore trong cơ thể Ơ dưới da heo thường có sẵn một chất là 7-dehydro-cholesterol, khi tiếp xúc với tia tử ngoại trong ánh sáng mặt trời sẽ biến thành vitamin D3

(da) 7-dehydrocholesterol vitamin D3

(ultraviolet) Thật ra vitamin D3 cũng chưa có hoạt tính, nó phải trải qua 2 phản ứng hydroxyl hoá, gắn thêm gốc OH ở vị trí carbon thứ 1 và thứ 25 để trở thành một chất có hoạt tính là 1,25-dihydroxyvitamin D324,25(OH)2D3 Việc gắn gốc OH đầu tiên tại vị trí carbon thứ 25 diễn

ra ở gan, gốc OH thứ hai gắn ở vị trí carbon thứ 1 diễn ra ở thận đều do hormon tuyến phó giáp trạng điều khiển (parathyroid hormon: PTH)

(Gan )

Vitamin D3 25-Hydroxyvitamin D3

(Thận) 25-Hydroxyviatmin D3 1,25-hydroxyvitamin D3

(PTH) Chất 1,25 (OH)2D3 tác động như một hormon steroid, nó kích thích tế bào ruột tăng cường chuyển vận calci và cũng kích thích cốt bào tăng cường hấp thụ calci

Ơ thực vật cũng có một chất là Ergosterol, khi tiếp xúc với tia tử ngoại của ánh sáng mặt rời sẽ tạo ra vitamin D2 Cả hai loại vitamin D2 và D3 đều được heo sử dụng Do đó bột cỏ phơi nắng cũng là nguồn vitamin D tốt cho dinh dưỡng heo

Anh sáng mặt trời chiếu qua cửa kính trong, qua sương mù hay mây, không đủ cường độ

để chuyển tiền vitamin D thành vitamin D

Vitamin D cũng chứa nhiều trong gan các loại động vật, trong dầu cá, trong sữa, trứng, các thức ăn lên men qua chiếu tia tử ngoại (UV)

Thừa vitamin D có thể là nguyên nhân gây tích đọng Ca-P bất thường trong mô mềm Vitamin D cũng được tổng hợp nhân tạo và cung cấp cho heo dạng tiêm hay vitamin premix

8.1.3 Vitamin E (Tocopherol)

Đây là một chất chống lại hiện tượng oxy hoá các chất béo không no Trong tự nhiên có đến 8 chất hoạt tính như vitamin E, nhưng chỉ có alphatocopherol là tác dụng mạnh nhất Vì màng tế bào có chứa các chất béo không no, cho nên khi thiếu vitamin E sự oxy hoá có thể làm tổn thương tế bào: hoại tử ở gan, bắp cơ tái màu, phù nề, và có thể đột tử Chất khoáng

vi lượng selenium cũng có chất năng bảo vệ tế bào chống lại sự oxy hoá như vitamin E, do vậy thiếu vitamin E càng làm tăng nhu cầu selenium và ngược lại Vì vậy việc bổ sung cùng lúc hai yếu tố này là rất cần thiết

Vitamin E rất cần thiết cho sự sinh sản, thú đực thiếu sẽ sản xuất ít tinh trùng và tinh

Trang 11

loại rau cỏ xanh và nhất là trong hạt đang nảy mầm, tuy nhiên nó cũng bị phá huỷ nhanh khi bảo quản không kỹ Các loại axit hữu cơ cũng phá huỷ vitamin E nhanh chóng, nhiệt độ cao

và ánh sáng mặt trời cũng làm hư hỏng vitamin E

Khẩu phần có hàm lượng vitamin E cao có thể làm gia tăng đáp ứng miễn dịch của cơ thể Sự ngộ độc vitamin E trên heo chưa thấy xảy ra, hàm lượng 100UI/kg (45IU/1b) thức

ăn cũng không có dấu hiệu gây độc

Vitamin E còn là một chất chống oxy hoá (antioxydant) được dùng trong công nghiệp chế biến đồ hộp để chống lại hiện tượng oxy hoá chất béo trong thực phẩm đóng hộp gây mùi ôi dầu hoặc có vị bất thường

Hiện nay vitamin E được tổng hợp nhân tạo, thành những chế phẩm để tiêm cho heo hoặc

bổ túc vào thức ăn có hàm lượng thích hợp, giúp cho thú sinh sản tốt, thịt heo có màu sắc hồng tươi, không bị nhạt màu

8.1.4 Vitamin K (K1, K2, K3: menadione)

Vitamin K có 3 dạng: Phylioquinone (K1), Menaquinone (K2) và menadione (K3) Vitamin K1 hiện diện trong thức ăn xanh, vitamin K2 chứa trong vi sinh vật, nhất là vi sinh vật đường ruột của heo menadione là dạng tổng hợp nhân tạo, cả ba chất đều có hoạt tính như nhau

Vitamin K cần thiết cho sự tổng hợp prothrombin và các chất giúp cho sự đông máu nhanh chóng, chống lại sự mất máu

Thông thường, vi sinh vật đường ruột cung cấp đủ vitamin K cho nhu cầu của heo thông qua sự hấp thu của ruột hoặc tập tính tự ăn phân của heo (coprophagy) Tuy nhiên sự cung cấp của nhóm vi sinh sẽ bị mất đi nếu sử dụng kháng sinh dài ngày cho heo, nhất là heo con Nói chung các loại vitamin trong chất béo, thường được heo dự trữ ở gan, nếu cung cấp quá dư thừa thường tốn kém và có thể gây ngộ độc cho cơ thể

8.2 Nhóm vitamin tan trong nước

8.2.1 Vitamin C: (axit ascorbic)

Đây là một vitamin cần thiết cho sự tăng trưởng, sự sinh sản và sự kháng bệnh

Về tăng trưởng, vitamin C cần thiết cho sự tổng hợp collagen của mô sụn, xương, vì vậy rất cần thiết cho heo đang tăng trưởng và bào thai Vitamin C cũng cần thiết cho việc cấu tạo bền chắc của hệ thống mao quản huyết, nếu thiếu vitamin C thành mao quản dễ bị vỡ gây chảy máu (thường thấy chảy máu cam trên heo nái)

Vitamin C cũng cần thiết để tăng sức đề kháng của heo khi gặp điều kiện kích cảm (stress) như thời tiết khí hậu thay đổi, dời chuồng, nái đẻ, thay đổi quy trình chăm sóc, thức

ăn Vì vậy mặc dù trên heo có khả năng tự tổng hợp được vitamin C cho nhu cầu, nhưng trong một số trường hợp nhà chăn nuôi cần phải cung cấp thêm vitamin C cho heo nuôi để tăng sức đề kháng cho cơ thể Đặc biệt trong một số thời gian trong năm có khí hậu bất lợi: đầu mùa mưa, đầu mùa khô, việc cung cấp vitamin C cho heo sẽ giảm thiểu tình trạng heo nhiễm bệnh nhất là nhóm nái đẻ, nái chửa, nái nuôi cvon, heo con bú mẹ, heo con cai sữa Vitamin C rất dễ bị hư hỏng do nhiệt độ, ánh sáng và chất oxy hoá, do vậy cần được bảo quản ở nơi khô mát, tránh ánh sáng Hiện nay vitamin C được tổng hợp nhân tạo thành

Trang 12

Do đặc tính dễ bị oxy hoá, vitamin C còn là chất antioxydant dùng rộng rãi trong công nghiệp nước giải khát

Sử dụng vitamin C quá liều 8g/ngày ở người (gấp 100 lần nhu cầu) có thể gây các triệu chứng ngộ độc như: nôn mửa, tiêu chảy, hấp thu chất sắt quá nhiều, vỡ hồng cầu, gia tăng huy động chất khoáng trong xương, ảnh hưởng đến độ đông máu, gây sạn thận và bàng quang, vô hiệu hoá vitamin B12, làm tăng cholesterol trong máu,… ngộ độc trên heo hiếm khi xảy ra vì vitamin C tương đối đắt tiền, ít khi trộn vào thức ăn vì dễ hư hỏng, thường chỉ tiêm hoặc cho uống với liều kiểm soát chặt chẽ

8.2.2 Vitamin B1 (thiamin, aneurin)

Đây là loại vitamin cần thiết cho sự chuyển hóa glucid là chất điều khiển các phản ứng cung cấp năng lượng cho cơ thể Thiếu B1 thú chán ăn, chậm lớn, tổn thương hệ thần kinh, đau dây thần kinh

Khẩu phần của heo nếu sử dụng nguồn tấm, cám làm nguồn cung cấp năng lượng thì thường không bị thiếu vì trong hai thực liệu này rất dồi dào vitamin B1 Nhưng nếu khẩu phần dùng nguồn năng lượng là khoai củ thì thường có rất ít vitamin B1, cần phải bổ sung thêm, nếu không heo sẽ có những biểu hiện thiếu vitamin B1, nhất là trên heo nái mang thai hoặc nái nuôi con, chúng thường bị yếu chân, bại chân, đi không vững, thai đẻ ra yếu, èo uột, mất sữa, heo con bú mẹ cậhm lớn, nái chậm động dục sau khi cai sữa…

Vitamin B1 được tổng hợp dưới dạng Thiamin HCl khá bền hơn nguồn thiên nhiên, có thể

bổ sung cho heo qua dạng premix vitamin

Trong cá sống thường có enzyme thiaminase có tác dụng phân cắt phân tử thiamin thành hai phần không còn hoạt tính, vì vậy không nên cho heo ăn cá sống mà nên đun chín để phá hủy thiaminase Cá khô qua phơi sấy cũng hủy tác dụng của thiaminase

Heo trưởng thành sử dụng nhiều glucid hơn heo tơ, nhu cầu B1 tăng cao, cần được thỏa mãn đủ Tương tự, heo thịt vỗ béo, nái chửa, nái sữa sử dụng nhiều năng lượng nên nhu cầu thiamin cũng tăng cao

8.2.3 Vitamin B2 (Riboflavin)

Đây là chất cần thiết cho sự chuyển hóa glucid,lipid, protid trong cơ thể vì là thành phần của 2 coenzyme FMN (flavin mononucleotid) và FAD (flavin adenine Dinucleotide) nắm vai trò quan trọng trong sự hô hấp tế bào Thiếu vitamin B2 sẽ làm cho heo chậm lớn, nhiều thai chết khô (thai gỗ) tồn lưu trong bụng nái, hoạt động sinh dục bất bình thường, yếu chân,

đi không vững, tiêu chảy kéo dài trên heo con vì tổn thương niêm mạc hệ tiêu hóa Đặc biệt vitamin B2 rất cần cho sự lành vết thương ở các niêm mạc đường tiêu hóa, chống lở loét Vết thương lành nhanh, ít đau, ít ảnh huởng đến việc ăn uống của heo

Vitamin B2 có nhiều trong sữa, trứng, thức ăn lên men, gan các loài động vật, bột cá, bột

cỏ Vitamin B2 chủ yếu bài thải qua nước tiểu làm cho nước tiểu vàng tươi, khẩu phần chứa nhiều vitamin B2 thì bài thải nhanh chóng, cơ thể dự trữ không nhiều, vì vậy cần cung cấp cho heo đều đặn đúng nhu cầu hàng ngày

Vitamin B2 khá bền với nhiệt, nhưng không bền với tia tử ngoại của ánh sáng mặt trời và chất oxy hóa, vì vậy trong quá trình dập viên thức ăn không bị ảnh hưởng, nhưng nếu vận chuyển thức ăn không che phủ kỹ, ánh sáng mặt trời có thể làm hư h ỏng nhiều vitamin B

Trang 13

Heo nái mang thai cần cung cấp đủ vitamin B2 để tăng số thai sống đẻ ra mỗi bầy Nái nuôi con cũng cần nhiều vitamin B2 vì vitamin này truyền qua sữa dồi dào để heo con phát triển cơ thể nhanh, hạn chế những tổn thương đường tiêu hóa, hạn chế nhiễm khuẩn vì lành vết thương nhanh

Vì bài thải dễ dàng qua nước tiểu nên vitamin B2 không độc khi dùng quá liều, chỉ làm tăng chi phí và giá khá đắt

8.2.4 Vitamin PP (pellargra preventive): nicotinic acid, amid nicotinic

Đây là chất cấu tạo nên coenzyme NAD (nicotinamide-adenin dinucleotide) và NADP (nicotinamide-Adenin dinucleotide phosphate), giữ vai trò quan trọng trong việc chuyển điện tử trong các phản ứng trao đổi chất, chuyển hoá glucid, lipid, protid của cơ thể động vật

Tryptophan, một axit amin thiết yếu rất cần cho sự tổng hợp nên niacin, lại rất thiếu trong bắp, do vậy, nếu heo ăn khẩu phần nhiều bắp thường bị thiếu tryptophan và dĩ nhiên thiếu niacin nếu không bổ túc nguyên tố này

Thiếu vitamin PP sẽ làm cho heo chán ăn, viêm da, tổn thương niêm mạc miệng, viêm loét ở ruột, manh tràng gây tiêu chảy kéo dài, chậm lớn, lâu lành vết thương

Vitamin PP chứa nhiều trong gan các loài động vật, bột cá, thức ăn ủ men, đậu nành, cám nhuyễn, và đã được tổng hợp nhân tạo cung cấp dồi dào cho thú qua dạng premix vitamin Chất sắt là một yếu tố cần thiết cho sự chuyển hóa tryptophan thành niacin (vitamin PP) Vitamin PP được bài thải qua nước tiểu ở dạng methyl hóa, cơ thể không dự trữ nhiều Cung cấp quá liều vitamin PP có thể gây tình trạng giãn mạch máu, tăng đường lượng glucose trong máu, ngứa ngáy, tổn thương gan, loét dạ dày

8.2.5 Pantothenic axit

Đây là một chất cần thiết cho sự tổng hợp nên coenzyme A, một chất thiết yếu trong sự biến dưỡng của cơ thể Dạng pantothenic acid thường không bền bằng dạng d.calcium pantothenate (hiệu dụng 92% so v ới dạng pantothenic acid) và được sử dụng rộng rãi trong các loại premix Dạng d.calcium pantothenate phối hợp với calcium chloride chỉ có hiệu lực bằng 32%

Pantothenic acid tìm thấy rất nhiều trong tế bào gan và tuyến thượng thận, để tạo ra coenzyme A (CoA) và acyl carrier protein (ACP), là những chất cần thiết cho sự sinh tổng hợp và thoái biến glucid, acid béo, protein Vì vậy pantithenic acid rất cần cho sự tạo hồng cầu (sinh tổng hợp porphyrin) cho sự dẫn truyền thần kinh (sinh tổng hợp acetylcholine), tạo

ra cholesterol và các sterol khác, tạo ra các hormon gốc steroid từ tuyến thượng thận và tuyến sinh dục, điều hòa đườnglượng trong máu bình thường và sự sản xuất kháng thể Thiếu pantothenic acid heo bị chậm lớn, da lông xù xì, chân yếu (đi như ngỗng: goose stepping), viêm ruột, tiêu chảy

Pantothenic acid chứa trong bột cỏ, các sản phẩm lên men, bột sữa, bột cá, cám, bánh dầu phộng, tuy nhiên có rất ít trong khoai củ, vì vậy nên khẩu phần heo nhiều khoai mì cần bổ túc thêm vitamin này

Pantothenat calcium được dùng để bổ túc khẩu phần cho heo, là dạng dễ hút ẩm, dễ đóng

Ngày đăng: 21/05/2021, 10:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w