MỞ ĐẦU 1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI Cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) phân bố ở các vùng ven biển nhiệt đới. Ở Thừa Thiên Huế chúng thường sống tại vùng biển ven bờ, cửa sông và đầm phá [11], [13], [33]. Cá Đối lá đang là đối tượng khai thác chính ở nước ta và góp phần hình thành sản lượng cho nghề cá ở Thừa Thiên Huế. Tính ưu việt về nguồn lợi của cá Đối lá rất rõ, song việc nghiên cứu và hiểu biết về loài cá kinh tế này mới dừng lại ở đặc điểm hình thái cơ bản, chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về sinh học, sinh thái, các giai đoạn phát triển cá thể nhằm đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ nguồn lợi, khai thác và sử dụng hợp lý loài cá kinh tế này. Đặc biệt, ở Việt Nam đối tượng này đang được chú ý đến như là một đối tượng nuôi mới, bởi vì hiện nay chúng chủ yếu được khai thác tự nhiên ở các vùng biển ven bờ, đầm phá và vùng cửa sông nước lợ. Trong định hướng bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi cá Đối lá, nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của loài cá này. Từ các số liệu nghiên cứu sinh học, sinh thái, chúng ta có thể hướng được sự đẻ trứng ngoài tự nhiên của cá Đối lá vào sinh sản nhân tạo nhằm chủ động nguồn giống trong nuôi thương phẩm. Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và phân bố của chúng để đề xuất được những giải pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp lý nguồn lợi của cá. Trước tình hình đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) vùng ven biển Thừa Thiên Huế”. 2. MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 2.1. Mục tiêu chung - Có được đầy đủ các dữ liệu về sinh học, sinh thái học của loài cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế nhằm đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững nguồn lợi. 2.2. Mục tiêu cụ thể - Xác định được tên loài và mối quan hệ của các quần thể cá Đối lá ở vùng biển
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC
VÀ PHÂN BỐ CỦA CÁ ĐỐI LÁ
- Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836)
VÙNG VEN BIỂN THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC
Huế, 2020
Trang 2MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI 1
PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
CHƯƠNG 1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ ĐỐI 3
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Họ CÁ ĐỐI (Mugilidae) 3
1.1.1 Nghiên cứu các loài cá đối trên Thế giới và Việt Nam 3
1.1.1.1 Về nghiên cứu phân loại 3
1.1.1.2 Về nghiên cứu dinh dưỡng 5
1.1.1.3 Về nghiên cứu sinh sản 6
1.1.1.4 Về nghiên cứu sinh thái 8
1.2 VỀ NGHIÊN CỨU MÃ VẠCH DNA VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁ 10
1.2.1 Mã vạch DNA 10
1.2.2 Nghiên cứu đa dạng di truyền cá bằng mã vạch DNA 10
1.3 NGHIÊN CỨU CÁ ĐỐI LÁ - MOOLGARDA CUNNESIUS (VALENCIENNES, 1836) 14
1.3.1 Một số đặc điểm cá Đối lá 14
1.3.2 Các nghiên cứu cá Đối lá ở Việt Nam 15
CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI VÙNG NGHIÊN CỨU 17
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN 17
2.1.1 Vị trí địa lý 17
2.1.2 Địa hình 17
2.1.2.1 Vùng núi 17
2.1.2.2 Vùng gò đồi 17
2.1.2.3 Vùng đồng bằng 17
2.1.2.4 Vùng đầm phá 18
2.1.2.5 Vùng cát ven biển 18
2.2 KHÍ HẬU – THỦY VĂN 18
2.2.1 Khí hậu 18
2.2.2 Thủy văn 21
2.2.2.1 Chế độ thủy văn đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 21
Trang 32.2.2.2 Đặc điểm chế độ hải văn ven bờ 24
2.2.2.3 Cấu trúc quần xã sinh vật vùng ven biển Thừa Thiên Huế 25
2.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI 26
2.3.1 Số đơn vị hành chính, dân số và kinh tế - xã hội 26
2.3.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng 26
2.3.2.1 Điện 26
2.3.2.2 Đường giao thông 26
2.3.3 Y tế 27
2.3.4 Giáo dục 27
CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 28
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 28
3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 29
3.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU 29
3.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32
3.4.1 Phương pháp thu thập thông tin 32
3.4.2 Vật liệu nghiên cứu 32
3.4.3 Điều tra thu mẫu tại thực địa 33
3.4.3.1 Phương pháp thu mẫu 33
3.4.3.2 Định loại loài dựa vào phân tích di truyền 34
3.4.3.3 Nghiên cứu về sinh trưởng của cá 36
3.4.3.4 Nghiên cứu về dinh dưỡng của cá 38
3.4.3.5 Nghiên cứu sinh sản của cá 39
3.4.3.6 Nghiên cứu về sinh thái phân bố 41
3.4.3.7 Phương pháp xử lý số liệu 41
PHẦN II KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 42
CHƯƠNG 4 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA CÁ ĐỐI LÁ 42
4.1 ĐẶC ĐIỂM DI TRUYỀN TRONG ĐỊNH LOẠI CÁ ĐỐI LÁ 42
4.1.1 Trình tự gen COI của cá Đối lá ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế 42
4.1.2 Định loại cá Đối lá bằng mã vạch COI 42
4.1.3 Đa dạng di truyền và mối quan hệ di truyền của cá Đối lá ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế 44
Trang 44.1.3.1 Đa dạng di truyền của cá Đối lá ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và
vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế 44
4.1.3.2 Độ tương đồng của các đoạn gen COI của cá Đối lá Moolgarda cunnesius nghiên cứu 46
4.1.3.3 Mối quan hệ di truyền của cá Đối lá Moolgarda cunnesius ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai với vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế 48
4.2 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG 50
4.2.1 Cấu trúc tuổi của cá 50
4.2.2 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng 52
4.2.3 Sinh trưởng về chiều dài của cá Đối lá 59
4.3 ĐẶC ĐIỂM DINH DƯỠNG CỦA CÁ ĐỐI LÁ 62
4.3.1 Cấu tạo ống tiêu hóa của cá Đối lá 62
4.3.2 Thành phần thức ăn của cá Đối lá 66
4.3.2.1 Thức ăn của cá ở môi trường biển 66
4.3.2.2 Thức ăn của cá trong đầm phá 67
4.3.2.3 Thành phần thức ăn của cá Đối lá 67
4.3.3 Cường độ bắt mồi của cá Đối lá 71
4.3.3.1 Cường độ bắt mồi của cá theo thời gian 71
4.3.3.2 Cường độ bắt mồi của cá Đối lá theo tuổi 73
4.3.4 Độ mỡ của cá Đối lá theo thời gian 75
4.3.5 Chỉ số độ béo của cá Đối lá 77
4.4 ĐẶC TÍNH SINH SẢN CỦA CÁ ĐỐI LÁ 79
4.4.1 Các thời kỳ phát triển của tế bào sinh dục 79
4.4.1.1 Đặc điểm phát triển của tế bào trứng 79
4.4.1.2 Đặc điểm phát triển của tế bào sinh dục đực 82
4.4.2 Các giai đoạn chín muồi sinh dục (CMSD) 85
4.4.2.1 Các giai đoạn chín muồi sinh dục cái (Buồng trứng) 85
4.4.2.2 Các giai đoạn chín muối sinh dục đực (tinh sào) 89
4.4.3 Giới tính (hay tương quan sinh dục của cá) 93
4.4.4 Tỷ lệ đực cái theo nhóm tuổi của cá Đối lá 95
4.4.5 Sự chín muồi sinh dục theo nhóm tuổi của cá Đối lá 96
4.4.6 Thời gian sinh sản của cá Đối lá 98
4.4.7 Sức sinh sản của cá Đối lá 101
Trang 5CHƯƠNG 5 PHÂN BỐ CỦA CÁ ĐỐI LÁ Ở VÙNG VEN BIỂN
THỪA THIÊN HUẾ 104
5.1 NGHIÊN CỨU PHÂN BỐ CỦA CÁ ĐỐI LÁ Ở VÙNG VEN BIỂN 104
5.1.1 Phân bố theo không gian 104
5.1.1.1 Vùng đầm phá Tam Giang 105
5.1.1.2 Vùng đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai và đầm Lập An 107
5.1.1.3 Vùng biển ven bờ 109
5.1.2 Phân bố theo thời gian 110
5.2 Phân bố cá Đối lá con ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai 113
CHƯƠNG 6 MỘT SỐ NHÓM GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN NGUỒN LỢI CÁ ĐỐI LÁ 114
6.1 Tình hình khai thác, sử dụng 114
6.1.1 Vùng ngư trường 114
6.1.2 Ngư cụ 114
6.1.3 Sản lượng khai thác và mùa vụ khai thác 117
6.2 Đề xuất một số nhóm giải pháp 119
6.2.1 Nhóm giải pháp về cơ chế chính sách 119
6.2.2 Nhóm giải pháp về kỹ thuật 120
6.2.3 Nhóm giải pháp về tổ chức 121
6.2.4 Nhóm giải pháp về quản lý, truyền thông 121
6.3 Các giải pháp phát triển nguồn lợi cá Đối lá 122
6.3.1 Cải thiện về ngư cụ khai thác 122
6.3.2 Tăng cường nuôi cá Đối lá và các đối tượng nuôi ghép 122
6.3.3 Qui định mùa vụ khai thác 123
6.3.4 Các giải pháp về giáo dục, đào tạo nâng cao nhận thức cộng đồng 123
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 124
1 Kết luận 124
2 Kiến nghị 125
DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 127
TÀI LIỆU THAM KHẢO 128
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Nhiệt độ (℃) trung bình tháng trong năm 2019 19
Bảng 2.2 Lượng mưa (mm) trung bình tháng trong năm 2019 20
Bảng 2.3 Độ ẩm (%) không khí tương đối trung bình tháng trong năm 2019 20
Bảng 2.4 Số giờ nắng trung bình tháng trong năm 2019 21
Bảng 3.1 Các vùng/điểm nghiên cứu thực địa ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế 29
Bảng 3.2 Các thông số về cặp primer sử dụng để khuếch đại gen COI 32
Bảng 3.3 Thành phần các loại dung dịch và đệm dùng trong nghiên cứu 33
Bảng 3.4 Các mẫu cá Đối lá được sử dụng trong nghiên cứu về di truyền 34
Bảng 4.1 Các kiểu gen COI với các vị trí nucleotide khác nhau của 19 mẫu cá Đối lá Moolgarda cunnesius nghiên cứu 45
Bảng 4.2 Kết quả phân tích đa dạng di truyền cá Đối lá Moolgarda cunnesius 46
Bảng 4.3 Độ tương đồng của các đoạn gen COI của cá Đối lá Moolgarda cunnesius nghiên cứu (%) 47
Bảng 4.4 Độ tương đồng đoạn gen COI của hai quần thể cá Đối lá Moolgarda cunnesius nghiên cứu 48
Bảng 4.5 Chiều dài và khối lượng của cá Đối lá theo từng nhóm tuổi 51
Bảng 4.6 Chiều dài và khối lượng cá Đối lá theo giới tính trong các năm nghiên cứu 58
Bảng 4.7 So sánh chiều dài và khối lượng của cá Đối lá ở đầm phá và vùng biển ven bờ, tỉnh Thừa Thiên Huế 59
Bảng 4.8 Tốc độ tăng trưởng hằng năm về chiều dài của cá Đối lá 60
Bảng 4.9 Các thông số sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của cá Đối lá 61
Bảng 4.10 Tương quan chiều dài ruột và chiều dài thân của cá Đối lá 66
Bảng 4.11 Thành phần các loại (đối tượng) thức ăn của cá Đối lá 68
Bảng 4.12 Độ no của cá Đối lá ở đầm phá qua các tháng nghiên cứu 71
Bảng 4.13 Độ no của Cá đối lá theo độ tuổi 73
Bảng 4.14 Mức độ tích lũy mỡ của cá Đối lá theo tháng nghiên cứu 75
Bảng 4.15 Hệ số báo của cá Đối lá theo từng nhóm tuổi 78
Bảng 4.16 Giới tính cá Đối lá theo nhóm tuổi trong các năm 2015, 2016 và 2018 94
Bảng 4.17 Tỷ lệ đực cái theo nhóm tuổi của cá Đối lá 95
Trang 7Bảng 4.18 Các giai đoạn chín muồi sinh dục theo nhóm tuổi của cá Đối lá 97
Bảng 4.19 Các giai đoạn chín muồi sinh dục theo tháng của cá Đối lá 101
Bảng 4.20 Sức sinh sản tuyệt đối và tương đối của cá Đối lá 102
Bảng 5.1 Năng suất trung bình khai thác cá Đối lá vùng Tam Giang 106
Bảng 5.2 Năng suất trung bình khai thác cá Đối lá vùng đầm Thủy Tú, đầm Cầu Hai và đầm Lập An 107
Bảng 5.3 Năng suất trung bình khai thác cá Đối lá vùng biển ven bờ 109
Bảng 5.4 Sản lượng khai thác cá Đối lá theo mùa 112
Bảng 6.1 Số lượng, chủng loại ngư cụ phân theo địa bàn tại các điểm thu mẫu 114
Bảng 6.2 Sản lượng và năng suất bình quân khai thác cá Đối lá tại Quảng Điền, Phong Điền và Hương Trà 117
Bảng 6.3 Sản lượng và năng suất bình quân khai thác cá Đối lá tại Phú Vang 118
Bảng 6.4 Sản lượng và năng suất bình quân khai thác cá Đối lá tại Phú Lộc 118
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Hình thái cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) 28
Hình 3.2 Sơ đồ vị trí các vùng thu mẫu ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế 34
Hình 3.3 Hình thái vẩy và chiều đo theo trắc vi thị kính ở cá Đối lá 37
Hình 4.1 Kết quả so sánh trình tự đoạn gen COI của mẫu cá Đối lá B1 với trình tự gen COI của Moolgarda cunnesius trên ngân hàng gen (Mã số GenBank MF628290.1) 43
Hình 4.2 Kết quả so sánh trình tự đoạn gen COI của mẫu cá Đối lá T5 với trình tự gen COI của Moolgarda cunnesius trên ngân hàng gen (Mã số GenBank MF628290.1) 44
Hình 4.3 Giản đồ phả hệ của các cá thể cá Đối lá Moolgarda cunnesius ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế và phá Tam Giang với một số loài cá Đối trên GenBank dựa vào trình tự mã vạch COI 49
Hình 4.4 Tỷ lệ (%) số lượng cá thể ở vùng đầm phá theo từng nhóm tuổi 52
Hình 4.5 Tỷ lệ (%) số lượng cá thể ở vùng biển ven bờ theo từng nhóm tuổi 52
Hình 4.6 Biểu đồ chiều dài trung bình theo nhóm tuổi của cá Đối lá ở đầm phá 54
Hình 4.7 Biểu đồ chiều dài trung bình theo nhóm tuổi của cá Đối lá ở vùng biển ven bờ 55
Hình 4.8 Khối lượng trung bình theo nhóm tuổi của cá Đối lá ở đầm phá 55
Hình 4.9 Khối lượng trung bình theo nhóm tuổi của cá Đối lá ở vùng biển ven bờ 56
Hình 4.10 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đối lá vùng đầm phá 57
Hình 4.11 Tương quan giữa chiều dài và khối lượng cá Đối lá ở vùng biển ven bờ 57
Hình 4.12 Tăng trưởng chiều dài trung bình hằng năm cá Đối lá vùng ven biển 60
Hình 4.13 Kiểu miệng của cá Đối lá 62
Hình 4.14 Lược mang cá Đối lá 63
Hình 4.15 Dạ dày cá Đối lá 64
Hình 4.16 Vị trí và chiều dài ruột cá Đối lá 65
Hình 4.17 Tỷ lệ (%) các nhóm thức ăn của cá Đối lá 69
Hình 4.18 Thành phần loại thức ăn của cá Đối lá theo nhóm chiều dài 70
Hình 4.19 Các bậc độ no của cá Đối lá ở đầm phá theo các tháng nghiên cứu 72
Hình 4.20 Các bậc độ no của cá Đối lá ở vùng biển ven bờ theo các tháng 73
Hình 4.21 Độ no của cá Đối lá vùng đầm phá theo nhóm tuổi 74
Hình 4.22 Độ no của cá Đối lá vùng biển ven bờ theo nhóm tuổi 75
Hình 4.23 Độ mỡ của cá Đối lá ở vùng đầm phá qua các tháng nghiên cứu 76
Trang 9Hình 4.25 Tế bào trứng ở thời kỳ tổng hợp nhân (x 40) 79
Hình 4.26 Tế bào trứng ở thời kỳ sinh trưởng sinh chất (x 40) 80
Hình 4.27 Tế bào trứng ở thời kỳ sinh STDD - Pha không bào hóa (x 40) 81
Hình 4.28 Tế bào trứng ở thời kỳ STDD - Pha tích luỹ noãn hoàng (x 40) 81
Hình 4.29 Tế bào trứng ở thời kỳ chín (x 40) 82
Hình 4.30 Tinh sào gồm tế bào sinh dục đực ở thời kỳ sinh sản 83
Hình 4.31 Tinh sào gồm tế bào sinh dục đực ở thời kỳ sinh trưởng 83
Hình 4.32 Tinh sào gồm tế bào sinh dục đực ở thời kỳ hình thành 84
Hình 4.33 Tinh sào ở thời kỳ tế bào sinh dục chín 84
Hình 4.34 Buồng trứng của cá Đối lá ở giai đoạn I CMSD 85
Hình 4.35 Buồng trứng của cá Đối lá ở giai đoạn II CMSD 86
Hình 4.36 Buồng trứng của cá Đối lá ở giai đoạn III CMSD 87
Hình 4.37 Buồng trứng của cá Đối lá ở giai đoạn IV CMSD 87
Hình 4.38 Buồng trứng của cá Đối lá ở giai đoạn V CMSD 88
Hình 4.39 Buồng trứng của cá Đối lá ở giai đoạn VI – III CMSD 89
Hình 4.40 Tinh sào của cá Đối lá ở giai đoạn I CMSD (x100) 89
Hình 4.41 Tinh sào của cá Đối lá ở giai đoạn II CMSD (x100) 90
Hình 4.42 Tinh sào của cá Đối lá ở giai đoạn III CMSD (x100) 91
Hình 4.43 Tinh sào của cá Đối lá ở giai đoạn IV CMSD (10x40) 92
Hình 4.44 Tinh sào của cá Đối lá ở giai đoạn V CMSD (x100) 92
Hình 4.45 Giới tính cá Đối lá theo nhóm tuổi ở vùng đầm phá 93
Hình 4.46 Giới tính cá Đối lá theo nhóm tuổi ở vùng biển ven bờ 94
Hình 4.47 Tỷ lệ đực – cái của cá Đối lá ở vùng đầm phá theo nhóm tuổi 96
Hình 4.48 Tỷ lệ đực – cái của cá Đối lá ở vùng biển ven bờ theo nhóm tuổi 96
Hình 4.49 Biểu đồ các giai đoạn CMSD của cá Đối lá ở vùng đầm phá theo nhóm tuổi 97
Hình 4.50 Biểu đồ các giai đoạn CMSD của cá Đối lá ở vùng biển ven bờ theo nhóm tuổi 98
Hình 4.51 Các giai đoạn CMSD của cá Đối lá ở vùng đầm phá theo tháng 100
Hình 4.52 Các giai đoạn CMSD của cá Đối lá ở vùng biển ven bờ theo tháng 100
Hình 4.53 Sức sinh sản tuyệt đối của cá Đối lá theo nhóm kích thước 102
Hình 4.54 Sức sinh sản tương đối của cá Đối lá theo nhóm khối lượng 103
Hình 5.1 Sơ đồ phân bố cá Đối lá vào mùa khô ở phá Tam Giang 106
Hình 5.2 Sơ đồ phân bố cá Đối lá vào mùa mưa ở phá Tam Giang 106
Trang 10Hình 5.3 Sơ đồ phân bố cá Đối lá vào mùa khô ở phá Thủy Tú, đầm Cầu Hai
và đầm Lập An 108
Hình 5.4 Sơ đồ phân bố cá Đối lá vào mùa mưa ở phá Thủy Tú, đầm Cầu Hai và đầm Lập An 108
Hình 5.5 Sơ đồ phân bố cá Đối lá vào mùa khô ở vùng biển ven bờ 110
Hình 5.6 Sơ đồ phân bố cá Đối lá vào mùa mưa ở vùng biển ven bờ 110
Hình 5.7 Sơ đồ phân bố của cá Đối lá ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế 112
Hình 5.8 Sản lượng khai thác cá Đối lá theo mùa 112
Hình 5.9 Sơ đồ phân bố của cá Đối lá con ở vùng đầm phá tỉnh Thừa Thiên Huế 113
Hình 6.1 Một trộ sáo ở đầm Cầu Hai 115
Hình 6.2 Một vàng đáy đang khai thác thủy sản 115
Hình 6.3 Một rớ giàn tại phá Tam Giang 116
Hình 6.4 Một vàng lưới rê sau khai thác 116
Hình 6.5 Một lừ xếp của ngư dân xã Hải Dương 116
Trang 11DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
BLAST : Basic Local Alignment Search Tool
Trang 12MỞ ĐẦU
1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) phân bố ở các vùng ven biển nhiệt đới Ở Thừa Thiên Huế chúng thường sống tại vùng biển ven bờ, cửa sông và đầm phá [11], [13], [33] Cá Đối lá đang là đối tượng khai thác chính ở nước ta và góp phần hình thành sản lượng cho nghề cá ở Thừa Thiên Huế
Tính ưu việt về nguồn lợi của cá Đối lá rất rõ, song việc nghiên cứu và hiểu biết
về loài cá kinh tế này mới dừng lại ở đặc điểm hình thái cơ bản, chưa tìm thấy công trình nào nghiên cứu một cách có hệ thống về sinh học, sinh thái, các giai đoạn phát triển cá thể nhằm đề xuất các nhóm giải pháp bảo vệ nguồn lợi, khai thác và sử dụng hợp lý loài cá kinh tế này Đặc biệt, ở Việt Nam đối tượng này đang được chú ý đến như là một đối tượng nuôi mới, bởi vì hiện nay chúng chủ yếu được khai thác tự nhiên
ở các vùng biển ven bờ, đầm phá và vùng cửa sông nước lợ
Trong định hướng bảo tồn, phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi cá Đối lá, nhiệm vụ quan trọng là nghiên cứu đặc điểm sinh học sinh sản của loài cá này Từ các
số liệu nghiên cứu sinh học, sinh thái, chúng ta có thể hướng được sự đẻ trứng ngoài tự nhiên của cá Đối lá vào sinh sản nhân tạo nhằm chủ động nguồn giống trong nuôi thương phẩm Vì vậy, cần phải có những nghiên cứu về đặc điểm sinh học, sinh sản và phân bố của chúng để đề xuất được những giải pháp bảo vệ, khai thác và sử dụng hợp
lý nguồn lợi của cá
Trước tình hình đó, chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu đặc điểm sinh học và phân bố của cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) vùng ven biển Thừa Thiên Huế”
2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
2.1 Mục tiêu chung
- Có được đầy đủ các dữ liệu về sinh học, sinh thái học của loài cá Đối lá -
xuất các nhóm giải pháp bảo vệ, phát triển bền vững nguồn lợi
2.2 Mục tiêu cụ thể
Trang 13ven bờ bằng kỹ thuật mã vạch DNA trong đa dạng di truyền của cá
- Đánh giá được những đặc điểm sinh học và phân bố của loài cá Đối lá -
Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế
- Đề xuất được các nhóm giải pháp nhằm bảo vệ, phát triển và sử dụng nguồn lợi loài
cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) vùng ven biển Thừa Thiên Huế
3 PHẠM VỊ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu được đặc điểm sinh học cơ bản và đặc điểm phân bố của loài cá Đối lá
- Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế Chủ yếu
tập trung vào hai vùng sinh thái: vùng đầm phá ven biển và vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế
4 NHỮNG ĐIỂM MỚI CỦA LUẬN ÁN
- Là công trình đầu tiên nghiên cứu có hệ thống và đầy đủ về đặc điểm sinh học, sinh thái học của loài cá Đối lá ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế
- Lần đâu tiên có được cơ sở khoa học để có giải pháp trong việc khai thác hợp
lý, phát triển và sử dụng bền vững nguồn lợi loài cá này
- Có được những cơ sở dữ liệu khoa học cơ bản góp phần xây dựng quy trình sản
xuất giống nhân tạo và nuôi thả loài cá Đối lá ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế
5 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
5.1 Ý nghĩa khoa học
- Luận án góp phần cung cấp những dẫn liệu đầy đủ về đặc điểm sinh học của cá Đối lá vùng ven biển Thừa Thiên Huế
- Nghiên cứu được cơ sở dữ liệu khoa học cơ bản của cá Đối lá ở vùng ven biển
Thừa Thiên Huế
5.2 Ý nghĩa thực tiễn
Những kết luận về sinh học và kỹ thuật sản xuất giống cá Đối lá là cơ sở dữ liệu quan trọng góp phần xây dựng quy trình sản xuất giống nhân tạo và nuôi thả loài cá Đối lá ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế Chủ động cung cấp con giống cho nghề nuôi
cá biển, đa dạng hóa đối tượng và mô hình nuôi thủy sản, góp phần phát triển bền
vững nghề nuôi thủy sản vùng ven biển
Trang 14PHẦN I TỔNG QUAN TÀI LIỆU CHƯƠNG 1 LƯỢC SỬ NGHIÊN CỨU CÁ ĐỐI
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỌ CÁ ĐỐI (MUGILIDAE)
Nhiều loài cá đối thuộc họ Mugilidae phân bố trong các vùng nước ven bờ duyên hải nhiệt đới và ôn đới Chúng sinh sống trong các vùng nước mặn và nước lợ với độ sâu khoảng 20 m trở vào, nhưng có một vài loài sống trong nước ngọt Chẳng hạn, loài
Liza abu chỉ sống trong vùng nước ngọt và cửa sông hay cá Đối mục (Mugil cephalus)
có thể bơi sâu vào vùng nước ngọt trung lưu các sông lớn Cá đối thường bơi thành từng bầy Thức ăn của cá đối chủ yếu là các dạng tảo và tảo cát mịn, các mảnh vụn của trầm tích đáy [60], [82], [87] Nhiều công bố cho thấy đa số các loài trong họ cá đối (Mugilidae) đẻ trứng vào cuối mùa thu, đầu mùa đông [23], [42]
1.1.1 Nghiên cứu các loài cá đối trên Thế giới và Việt Nam
Cá đối là nhóm loài rộng muối và phân bố rộng rãi ở các thủy vực nước ven biển vùng nhiệt đới trên toàn thế giới Các loài cá đối là những đối tượng khai thác và nuôi thả có giá trị kinh tế ở các nước thuộc vùng Địa Trung Hải, Isael, Tunisia, Hong Kong, Đài Loan,… Trong nuôi thả, do lớn nhanh và dễ nuôi ghép với các loài khác nên chúng là những đối tượng được chú ý [104], [120] Trứng cá đối là một món ăn có giá trị được ưa thích của cộng đồng ngư dân ven biển, vì vậy chúng đã được xem như đối tượng nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực từ thập niên 60 của Thế kỷ trước trở lại đây
1.1.1.1 Về nghiên cứu phân loại
Theo nghiên cứu của Harrison, I.J và Senou, H (1999) [97]; Nelson, J.S (2006)
họ cá Đối (Mugilidae) gồm 17 giống, 72 loài Nhưng trong nghiên cứu của Eschmeyer (2014), họ cá đối gồm 20 giống với 75 loài [94] Hiện nay, danh sách các loài cá đối
thuộc họ Mugilidae đã có một số thay đổi như: loài Mugil soiuy Basilewsky, 1855
được tác giả Jordan và Swain, 1884 chuyển sang giống Liza vì căn cứ vào số lượng tia
vây hậu môn Loài Moolgarda seheli Forsskal, 1775 đang được đề nghị chuyển sang giống Valamugil Smith, 1848 (Durand et al., 2012a) [92] Tuy nhiên, các nhà ngư loại học trên thế giới vẫn còn tranh cãi và cho rằng loài Mugil soiny/Liza soiny thuộc giống Liza trước đây nay được chuyển sang giống Moolgarda chứ không thuộc giống
Trang 15Nghiên cứu của Cemal Turan cho thấy ở biển Địa Trung Hải có 4 giống và 9 loài:
cá đối (Mugil cephalus Linnaeus, 1758; Mugil soiuy Basilewsky, 1855; Liza ramada (Risso, 1827); Liza aurata (Risso, 1810); Liza abu (Heckel, 1843); Liza saliens (Risso, 1810); Liza carinata (Valenciennes, 1836); Chelon labrosus (Risso, 1827); Oedalechilus labeo (Cuvier, 1829) [88]
Việt Nam là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa, tiếp giáp với vùng thềm lục địa dài và rộng của biển Đông, có hệ thống sông ngòi, ao hồ, đầm phá với tổng diện tích lớn Đó là những hệ sinh thái thủy vực nhiệt đới điển hình, mang tính đa dạng sinh học cao và đặc trưng Khu hệ cá đối Mugilidae rất phong phú, trong đó có khoảng 13 loài
cá đối được coi là đối tượng khai thác và nuôi trồng thủy sản, tuy nhiên được chú ý
nhất là loài Mugil cephalus bởi vì chúng phân bố rộng, sinh trưởng và kích thước lớn
khi đạt đến trưởng thành [1], [3], [32]
Theo báo cáo trước đây của Bộ Thuỷ sản (1996) ở nước ta có 13 loài cá đối
thuộc họ Mugilidae, trong đó ở Nam bộ có ít nhất 5 loài: Mugil cephalus, Mugil dussumieri (tên mới Liza subviridsis), Liza macrolepis, Liza vaigiensis và Valamugil cunnesius [2], [21], [74] Ở vùng cửa sông nước ta thường gặp từ 5 - 7 loài có giá trị
Vùng đầm phá và ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế đã xác định được 7 loài cá đối thuộc
họ Mugilidae [29], [37]
Theo Nguyễn Khắc Hường, (1993) [16], [17]: Nước ta có 13 loài cá đối, trong đó
ở Nam bộ có 5 loài gồm: Mugil cenphalus, Mugil dusumieri (Liza subviridsis), Liza macrolepis, Liza vaigiensis và Valamugil cunnesius Trần Thị Việt Thanh và Phan Kế
Long cho rằng thành phần loài cá đối họ Mugilidae ở Việt Nam có 17 loài thuộc 8
giống Trong đó giống Mugil có duy nhất 1 loài là cá Đối mục (Mugil cephalus
Linnaeus, 1758) [53]
Theo Nguyễn Khắc Hường, Trương Sĩ Kỳ (2007) [18], họ cá Đối ở
Việt Nam có 5 giống: Mugil Linnaeus, 1785; Liza Jordan & Swain, 1884; Valamugil Smith, 1848; Crenimugil Schultz, 1946 và Ellochelon, Quoy & Gaimard 1824 Trong đó, giống cá đối Mugil Linnaeus, 1785 chỉ có duy nhất một loài cá Đối mục (Mugil cephalus)
Năm 2018, trong tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, Võ Văn Phú và cộng sự đã công bố ở vùng ven biển Thừa thiên Huế: Bộ cá Đối (Mugiliformes) có 3 họ,chiếm 3,09 % các loài cá nội địa Trong đó họ cá đối Mugilidae có 7 loài thường gặp [40]
Trang 16Theo báo cáo “Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học tỉnh Thừa Thiên Huế đến năm
2020 và định hướng đến năm 2030” [40] và “Báo cáo tổng kết đề tài đánh giá hiện trạng và xây dựng cơ sở dự liệu về tài nguyên sinh vật trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế”, tác giả Võ Văn Phú và cộng sự (2018) đã công bố ở vùng đầm phá và vùng biển ven bờ tỉnh Thừa Thiên Huế có 7 loài cá đối (Mugilidae) trong tổng số 13 loài trên toàn quốc Bảy loài cá đối ở Thừa Thiên Huế gồm: cá Đối vây to – Chelon macrolepis
(Smith, 1846); cá Đối đất – Planiliza subviridis (Valenciennes, 1836); cá Đối đuôi bằng - Ellochelon vaigiensis (Quoy & Gaimard, 1825); cá Đối lưng gờ - Liza carinata (Valenciennes, 1836); cá Đối anh – Osteomugil engeli (Bleeker, 1858); cá Đối lá - Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) và cá Đối mục - Mugil cephalus Linnaeus,
1758 [41]
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi chưa tìm thấy tài liệu nào liên quan đến nghiên cứu phân loại bằng DNA cho cá Đối ở Thừa Thiên Huế Vì vậy, trong nghiên cứu này chúng tôi sẽ thăm dò, nghiên cứu phân loại cá Đối lá bằng DNA, nhằm xác định tên loài cá Đối lá nghiên cứu
Về nghiên cứu phân loại họ cá đối (Mugilidae) đã được nhiều tác giả trên Thế giới
và Việt Nam nghiên cứu và công bố Từ các nghiên cứu của các tác giả trên cho thấy, cá đối thuộc họ Mugilidae trên thế giới phân bố khá rộng, với 20 giống và 75 loài; ở Việt Nam có 8 giống với 17 loài, còn vùng ven biển Thừa Thiên Huế có 7 giống với 7 loài
1.1.1.2 Về nghiên cứu dinh dưỡng
Theo nghiên cứu của Hassan (1990) [96], tính ăn của loài cá Đối (Liza haematocheila) còn tùy thuộc vào kích cỡ từng giai đoạn Ở giai đoạn cá giống, thức
ăn chủ yếu của cá đối là động vật nổi, nhưng khi càng tăng trưởng thì thức ăn lại chuyển dần qua thực vật nổi, chủ yếu là tảo Silic Hầu hết các kết quả nghiên cứu được công bố đều cho rằng mùn bã hữu cơ và tảo Silic là thức ăn chủ yếu của cá đối, còn các sinh vật nhỏ trong nước khác chỉ chiếm một tỉ lệ rất thấp Điều này cho thấy, cá đối có thể sử dụng các loại thức ăn bắt buộc khi trong môi trường không có đủ thức ăn
Trang 17các hạt vật chất hữu cơ Phổ thức ăn của nhóm này không thay đổi theo mùa Về đặc
tính dinh dưỡng của cá Đối đất Liza subviridis và một số loài cá Đối khác như Mugil cephalus (Nguyễn Đình Mão, 1998) [23], Liza vaigiensis (Abu và Ambak, 1996) [83]
các tác giả cho rằng thức ăn của chúng đều có mùn bã hữu cơ và tảo Silic Khi nghiên
cứu về dinh dưỡng của cá Đối mục (Mugil cephalus), Michaelis (1998) cho rằng trong
dạ dày của cá Đối mục có một phần nhỏ cát và các hạt hữu cơ [103]
Năm 2006, Nguyễn Hương Thùy và cộng sự cho rằng cá Ðối có phổ thức ăn khá rộng bao gồm động vật nổi (Protozoa, Rotatoria…), thực vật nổi (tảo silic, tảo lục, tảo mắt,…), động vật đáy và mùn bã hữu cơ Trong đó, hai nhóm thức ăn chiếm tỉ lệ cao nhất trong ống tiêu hóa của cá là mùn bã hữu cơ (86,42 %) và thực vật nổi (12,89 %), chủ yếu là tảo Silic [60].
Phạm Xuân Thủy (2010), cho rằng cá đối ở giai đoạn ấu trùng tới cá giống là loài
ăn động vật phù du, khi trưởng thành chúng chuyển phổ thức ăn sang thực vật nổi, mùn
bã hữu cơ lơ lửng và các thực vật đáy [61] Khi nghiên cứu về cá Đối mục Mugil cephalus, Whitfield và nnc (2012) cũng cho rằng thức ăn của loài này chủ yếu là tảo và
mùn bã hữu cơ [120]
Năm 2015, Lê Quốc Việt và cộng sự khi nghiên cứu về thức ăn cho cá Đối đất ở giai đoạn cá bột cho thấy cá bột có thể sử dụng thức ăn ngoài vào ngày thứ 2 và loại thức ăn gồm Brachionus, Protozoa (cỡ 60-100 µm) và chỉ số lựa chọn từ ngày thứ 4 (Coscinodiscus và Peridinium là chủ yếu), với chỉ số lựa chọn từ 0,115-0,781 [73] Các nhóm động vật nổi như Copepoda và Cladocera được cá ăn vào ngày thứ 6 Bên cạnh đó, các mãnh vụn hữu cơ cũng xuất hiện trong ruột cá từ ngày thứ 7 Tuy nhiên,
cá không lựa chọn loại thức ăn này [73]
Qua các kết quả nghiên cứu, chúng ta có thể thấy thức ăn của các loài cá đối chủ yếu là động vật nổi và thực vật nổi Trong đó, khối lượng thức ăn chủ yếu được cá đối
sử dụng là tảo Silic và mùn bã hữu cơ
1.1.1.3 Về nghiên cứu sinh sản
Tác giả Võ Văn Phú (1995) khi nghiên cứu cá ở đầm phá Tam Giang (Thừa Thiên Huế) cho thấy cá Đối mục thành thục khi đạt 2 năm tuổi, ở trong đầm phá nước
lợ gặp cá có tuyến sinh dục đến giai đoạn IV Cá đối lá có thể đẻ ngay trong đầm Riêng cá Đối mục chỉ gặp tuyến sinh dục ở giai đoạn thấp (giai đoạn I, II và III) ít khi
Trang 18đạt giai đoạn IV và không quan sát thấy cá có giai đoạn CMSD cao trong đầm phá
(giai đoạn V, VI) Cá Đối mục Mugil cephalus lớn nhanh so với các loài cá đối khác
trong họ cá đối Cá cái thường lớn hơn cá đực và cũng đạt được kích thước lớn hơn các loài cá đối khác [28]
Nghiên cứu của Trần Ngọc Hải và cộng sự (1999) cho thấy ở Việt Nam, mùa vụ sinh sản của cá đối bắt đầu từ tháng 3 - 4 và kéo dài đến tháng 5 - 6 Cá đẻ vào ban đêm với điều kiện sinh sản ngoài tự nhiên có nồng độ muối là 32 - 35 ‰ [10]
Phạm Trần Nguyên Thảo, Lê Quốc Việt và cộng sự (2006) cho rằng cá đối đẻ nhiều lần trong một năm, hai vụ chính tập trung từ tháng 1 đến tháng 3 và từ tháng 7 đến tháng 9 Hệ số thành thục phụ thuộc vào giai đoạn phát triển của buồng trứng, đạt cao nhất 5,85% Sức sinh sản của cá cao, sức sinh sản tuyệt đối trung bình là 210.069 trứng/cá cái và sức sinh sản tương đối trung bình là 1.727.409 trứng/kg cá cái Cá cái đạt kích cở thành thục nhỏ nhất là 18,48 g và cá đực là 25,68 g [59]
Lê Quốc Việt, Trần Ngọc Hải và cộng sự (2010) khi sử dụng hormon LHRH-a kết hợp với domperidon với liều 300 µg/kg cho tỷ lệ rụng trứng cao nhất Sức sinh sản tương đối của cá dao động từ 887.966 – 1.866.667 trứng/kg [71]
Theo kết quả nghiên cứu ở cá Đối Liza subviridis của Trần Thị Thanh Hiền
(2012) đã xác định được các đặc điểm sinh học của cá đối, đặc biệt về dinh dưỡng và sinh sản của loài cá này Tác giả cũng xác định được các loại hormon với liều lượng thích hợp để kích thích cá đối sinh sản nhân tạo, đồng thời xác định được các loại thức ăn, độ mặn và mật độ thích hợp để ương từ cá bột lên cá hương và từ cá hương lên cá giống
Khi nghiên cứu một số chỉ tiêu huyết học và sinh hóa của cá Đối đất (Liza subviridis) ở giai đoạn thành thục sinh dục, Lê Quốc Việt và cộng sự (2012) đã xác
định mối tương quan giữa các giai đoạn phát triển của tuyến sinh dục với một số chỉ tiêu huyết học và sinh hóa của cá Đối đất [72] Kết quả nghiên cứu của nhóm tác giả này cho thấy, khi tuyến sinh dục của cá cái phát triển từ giai đoạn II đến giai đoạn IV,
số lượng hồng cầu giảm trong khi thể tích hồng cầu tăng, hàm lượng vitellogenin cũng tăng và đạt cao nhất ở giai đoạn III Trái lại, hàm lượng protein trong máu và gan ở cá cái giảm Bên cạnh đó, các chỉ tiêu hemoglobin, hàm lượng protein cơ ở cá cái; số
Trang 19lượng bạch cầu, hàm lượng vitellogenin, protein gan và protein cơ trên cá đực không thể hiện sự tương quan với các giai đoạn thành thục sinh dục [72]
Theo Luis Cardona, (2016) đã công bố rằng ở các vùng cận nhiệt đới cá giống nhỏ
và cá giống thường tập trung quanh năm trong môi trường nước ngọt hoặc lợ nhạt Đối với cá trưởng thành, môi trường sống của chúng thay đổi tùy theo mùa Đến mùa sinh sản, cá Đối có khuynh hướng di cư ra biển tránh các dòng nước ngọt Tuy nhiên, nghiên cứu này cũng cho thấy với các quần thể cá đối ở vùng nhiệt đới có sự khác biệt về môi trường sống, đặc biệt là vùng Ấn Độ - Thái Bình Dương [100]
Khi nghiên cứu về sinh học, sinh thái và cho đẻ nhân tạo của cá Đối xám, Mariano González-Castro và George Minos (2016) cho thấy kích thước trứng đạt từ
160 – 180 µm [101]
Với các nghiên cứu về sinh sản, cho thấy sức sinh sản của cá đối khá cao Khi cá đối sinh sản chúng thường di cư ra biển tránh các dòng nước ngọt
1.1.1.4 Về nghiên cứu sinh thái
Khi nói về sinh thái, chúng tôi thấy có một số tác giả và nhóm tác giả đã nghiên cứu và công bố như:
Theo Hotos và cộng sự (1998) cá đối có thể chịu đựng nhiệt độ dưới 10 ℃
Harrison, I.J (1999) cho rằng cá đối Mugil cephalus sống ở biển, nước ngọt, nước lợ;
với độ sâu 0 m – 120 m, thông thường chúng sống ở độ sâu 0m - 10m Thức ăn chính của cá đối là động vật phù du Cá đối sinh sản ở biển vào những thời điểm khác nhau
trong năm Cá Đối Liza ordensis trưởng thành sống trong vùng nước ven biển và cửa
sông, chúng thích sống ở vùng nước tĩnh, nhất là ở vùng đầm phá Cá đối thường được tìm thấy trong nước đục, trên nền bùn Thức ăn chủ yếu là tảo, mùn bã, thực vật thủy sinh [97]
Theo nghiên cứu của Cardona (2000) cá đối sinh trưởng kém ở vùng nước ngọt
và độ mặn thấp, trong khi sinh trưởng tốt ở vùng nước lợ, nước mặn và chúng chịu sốc
độ mặn kém nhất là trong điều kiện nhiệt độ thấp [100] Soyinka, Olufemi và
Olukolajo (2008) cho rằng cá đối Mugil cephalus (họ Mugilidae) phân bố rộng trên
toàn thế giới Nó sống ở vùng nước ven biển, cửa sông và nước lợ của vùng nhiệt đới
và ôn đới trong tất cả các vùng biển (Render et al., 1995) Cá đối ở tuổi trường thành
Trang 20có màu xám là khỏe mạnh, chịu được các độ mặn khác nhau, chịu được ở các nhiệt độ khác nhau và không đối thủ cạnh tranh về thức ăn [112]
Tại Nigeria, Tây Phi, cá đối chiếm tỷ lệ quan trọng trong sản lượng đánh bắt thủ
công của ngư dân hoặc nuôi trong các đầm phá và sông Mugil cephalus chỉ được ghi
nhận ở cả hai đầm nước lợ mặn, nước lợ vừa và lợ nhạt (Fagade và Olaniyan, 1974; Soyinka và Kassem, 2008) trong khu vực không giống như các loài cá đối khác bị bắt trong đầm phá nước ngọt và các con sông (K Kusemiju và BE Emmanuel, Sở thủy sản, khoa Khoa học, Đại học Lagos, Lagos, Nigeria) [112] Mặc dù có một số công trình đã được nghiên cứu về dinh dưỡng và tập tính kiếm ăn của loài cá đối ở một số địa phương của châu Phi (Fagade và Olaniyan, 1973; Payne, 1976; Blay, 1995) nhưng việc tiếp tục nghiên cứu lĩnh vực này mang lại sự hiểu biết hơn về các loại thức ăn của các loài cá đối theo từng vùng sống khác nhau [112]
Ở Việt Nam, công trình nghiên cứu của Vũ Trung Tạng (2009) đã cho thấy cá đối (Mugilidae) là những loài rộng muối, chúng có thể sống và sinh trưởng tốt trong môi trường nước lợ, lợ mặn và nước mặn [51] Phạm Xuân Thủy (2010) trong một thí nghiệm gây sốc độ mặn đối với cá giống từ nồng độ muối ban đầu 20 ‰ lên các độ mặn 35 ‰ cho thấy cá bắt đầu chết cho đến ở nồng độ muối trên 45 ‰ và chết 100 % ở nồng độ 70 ‰ [62]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hồng Vân, Trần Thị Thanh Hiền (2013), trường Đại học Cần Thơ cho thấy cá đối có sản lượng cao, chất lượng thịt thơm ngon và giá
cả phải chăng Cá đối còn được coi là đối tượng nuôi có giá trị kinh tế Tuy nhiên, ở Việt Nam các đối tượng này rất ít được chú ý đến như là một đối tượng nuôi, chúng chủ yếu được khai thác tự nhiên ở các vùng biển và vùng nước lợ do đó có rất ít nghiên cứu để chủ động con giống Nghiên cứu của Lê Quốc Việt (2015) cá Đối đất
Liza subviridis là loài cá bản địa phân bố nhiều ở vùng ven biển đồng bằng sông Cửu
Long, có giá trị kinh tế cao và được ưa chuộng ở thị trường địa phương [73]
Như vậy, các nghiên cứu về sinh thái đối với các loài cá đối (Mugilidae) ở Thế giới cũng như ở Việt Nam đều cho thấy các đối tượng này có vùng phân bố rộng Cá đối (Mugilidae) có thể sinh trưởng tốt ở vùng nước lợ, nước mặn và chúng chịu sốc độ mặn kém nhất là trong điều kiện nhiệt độ thấp
Trang 211.2 VỀ NGHIÊN CỨU MÃ VẠCH DNA VÀ ỨNG DỤNG TRONG NGHIÊN CỨU ĐA DẠNG DI TRUYỀN CÁ
1.2.1 Mã vạch DNA
Mã vạch DNA là phương pháp sử dụng các trình tự DNA ngắn từ genome ty thể để nghiên cứu đa dạng di truyền và định loại ở cấp độ phân tử Trước hết, tìm một vùng DNA ngắn, phù hợp cho việc định loại nhanh, làm mã vạch của loài Sau đó, tạo ra một khung tiêu chuẩn để thu thập các trình tự ngắn này từ các mẫu DNA và tạo ra một thư viện chứa các mã vạch như thế cho mọi loài trên thế giới (http://www.barcodeoflife.org)
Mã vạch DNA không chỉ hữu ích cho việc định loại cá còn nguyên vẹn, đầy đủ mà còn hữu ích cho việc định loại ấu trùng, trứng, vây, hoặc các phần của cơ thể mà khó nhận dạng dựa vào hình thái (Trivedi và cộng sự, 2015) [115]
1.2.2 Nghiên cứu đa dạng di truyền cá bằng mã vạch DNA
Phương pháp mã vạch DNA đã cho phép đánh giá nhanh biến dị di truyền trong các mẫu cá có quan hệ gần gũi Các kết quả này cho thấy các mã vạch DNA là sự lựa chọn hữu hiệu cho sự phân tích đa dạng di truyền và định loại cá
Hubert và cộng sự (2008) đã định loại các loài cá nước ngọt Canada bằng mã vạch DNA Khu hệ cá Canada bao gồm hơn 200 loài trong đó nhiều loài có giá trị kinh
tế cao [99]
Thapliyal và cộng sự (2013) đã xây dựng cơ sở dữ liệu DNA mã vạch (COI) cho
tất cả các khu hệ cá ở mỗi một con sông ở Uttarakhand, Ấn Độ Kết quả nghiên cứu cho thấy sông Song có khu hệ cá phong phú với đa dạng di truyền lớn [113]
Ba gen ty thể (COI, Cyt b, 16S rRNA) và 2 gen nhân (rag 1 và rag 2) được sử
dụng để xác định mối quan hệ phát sinh chủng loại của 7 loài cá Trê bản địa và 4 loài ngoại nhập ở Philipines thuộc 5 họ Tất cả các cây di truyền được xây dựng sử dụng các phương pháp Maximum-Likelihood (ML) và Bayesian inference (BI) của các trình
tự của 5 gen nối với nhau ủng hộ sự đơn gốc của các dòng cá Trê trong mỗi một họ (Yu và cộng sự, 2014) [121]
Chen và cộng sự (2015) đã đánh giá đa dạng di truyền của cá ở sông Nujiang,
Đông Nam Trung Quốc dựa vào mã vạch COI Theo kết quả phân tích, phương pháp mã
vạch DNA là phương pháp hữu hiệu trong việc định loại cá bởi sự hiện diện của các khoảng trống mã vạch [89]
Trang 22Nascimento và cộng sự (2016) đã sử dụng gen COI để định loại và thiết lập cơ sở
dữ liệu của khu hệ cá nước ngọt ở Maranhão, Brazil Phương pháp mã vạch DNA cho phép phân tích một số lượng lớn các mẫu vật và tạo điều kiện thuận lợi cho việc phân biệt và định loại các loài cá có họ hàng gần trong lưu vực Itapecuru ở Maranhão, Brazil [104] Shen và cộng sự (2016) đã đánh giá đa dạng di truyền của cá thuộc họ Cyprinidae
ở đoạn giữa của sông Yangtze, Trung Quốc dựa vào trình tự DNA barcode [110]
Nugroho và cộng sự (2017) đã nghiên cứu biến dị di truyền và phát sinh chủng
loại của cá Nomei Harpadon sp., họ Synodontidae ở đảo Tarakan, Indonesia bằng việc
sử dụng mã vạch COI (618 bp) Kết quả nghiên cứu cho thấy xảy ra 12 thay thế nucleotide [106]
Turan và cộng sự (2017) đã giải được trình tự đoạn gen COI để định loại 8 loài
cá nóc thuộc họ Tetraodontidae ở các vùng biển ở Thổ Nhĩ Kỳ Đoạn gen COI chứa
189 nucleotide biến thể và 337 nucleotide bảo tồn [116]
Kết hợp phân tích mã vạch DNA và đặc điểm hình thái, Van Ginneken và cộng
sự (2017) đã nghiên cứu đa dạng di truyền của giống cá Enteromius (Cypriniformes:
Cyprinidae) ở vịnh Congo Dựa vào mã vạch DNA đã cho thấy sự hiện diện của 23 dòng ty thể riêng biệt Kết quả phân tích hình thái cho thấy rằng hầu như tất cả các dòng này đều khác nhau và vì vậy chúng có thể là các loài chưa được mô tả [117] Abbas và cộng sự (2018) đã xây dựng mã vạch DNA từ 114 cá thể của hai loài
Diplodus sargus và Diplodus vulgaris thuộc họ Sparidae dựa vào gen COI (652 bp)
thu thập từ 6 vị trí khác nhau thuộc biển Mediterranean, Ả Rập Kết quả nghiên cứu đã phản ánh khả năng kết nối cao giữa tất cả các quần thể này bằng sự chia sẻ cùng nhóm vật chất di truyền [80]
Abinawanto và cộng sự (2018) đã đánh giá biến dị di truyền của các quần thể cá
có giá trị kinh tế cao Gabus Sentani (Oxyeleotris heterodon Weber, 1907) ở hồ
Putali-Sentani, Indonesia Phân tích di truyền được tiến hành dựa vào mã vạch DNA với gen
COI Kết quả cho thấy mã vạch DNA là hiệu quả cho việc nhận dạng cá Gabus Sentani (Oxyeleotris heterodon Weber, 1907) ở hồ Putali-Sentani [81].
Barman và cộng sự (2018) đã sử dụng gen mã vạch COI để đánh giá khu hệ cá
của vùng Indo-Myanmar Các kết quả phân tích cho thấy phương pháp mã vạch DNA
là một công cụ hiệu quả và đáng tin cậy trong việc định loại loài [84]
Trang 23Bektas và cộng sự (2018) đã sử dụng mã vạch DNA để định loại các loài cá
thuộc giống Capoeta (Actinopterygii: Cyprinidae) ở Anatolia và làm sáng tỏ hệ thống học của chúng Kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng gen COI là một marker mã
vạch thích hợp cho việc định loại và phân định hầu hết các loài scraper với tỉ lệ thành công là 81 % [85]
Bingpeng và cộng sự (2018) đã nghiên cứu thiết lập cơ sở dữ liệu tham khảo mã
vạch của cá ở eo biển Đài Loan và sử dụng COI để định loại cá ở cấp độ loài Khoảng
cách trung bình giữa các loài cao gấp 31 lần so với khoảng cách trung bình trong loài [86] Punhal và cộng sự (2018) đã nghiên cứu đa dạng di truyền và mối quan hệ phát sinh
chủng loại của 24 loài cá Trê thuộc bộ Siluriformes dựa vào các gen COI ty thể [107] Wang và cộng sự (2018) đã sử dụng gen COI để nghiên cứu và giám sát nguồn
cá ở cảng biển Rongchen thuộc biển Northern Yellow, Trung Quốc: 178 mẫu từ 41 loài khác nhau thuộc 28 họ trong 9 bộ [118]
Ở Việt Nam, nhiều công trình nghiên cứu theo hướng sử dụng phương pháp mã vạch DNA để phân tính đa hình di truyền, xác định quan hệ họ hàng của một số loài đã được công bố
Vào năm 2014, Dương Thúy Yên đã nghiên cứu định loại cá Rô đầu vuông và cá
Rô đồng thu ở các tỉnh khác nhau dựa vào sự so sánh trình tự 3 gen mã vạch trong ty
thể (COI và Cyt b) và một gen trong nhân (Rho) Kết quả này chứng tỏ cá Rô đầu
vuông cùng loài với cá Rô đồng thường [78]
Trần Thị Việt Thanh và cộng sự (2015) đã sử dụng trình tự gen COI để định loại
4 loài cá biển (1 mẫu cá mặt trăng, 1 mẫu cá mập và 2 mẫu cá đối) đang lưu giữ tại
Bảo tàng thiên nhiên Việt Nam: mẫu cá CMT_BTTNVN là Masturus lanceolatus, mẫu CM_BTTNVN là Carcharhinus sorrah; mẫu 11.2_BTTNVN là Moolgarda seheli
và D57_BTTNVN là Liza affinis [54]
Nguyễn Phương Thảo và cộng sự (2015) đã tiến hành so sánh đặc điểm hình thái
và trình tự gen COI của hai “loài” cá Bống trâu Butis butis và Butis humeralis đã được
công bố trong các nghiên cứu trước để kiểm chứng việc định danh hai loài Kết quả
thu được 2 nhóm cá Bống trâu là cùng một loài Loài này khác với loài B butis ở GenBank (giống trình tự gen COI ở mức 86 %), chứng tỏ việc phân loại loài của cá B butis trên thế giới chưa rõ ràng và cần tiếp tục được nghiên cứu [58]
Trang 24Mã vạch DNA cũng được sử dụng kết hợp với đặc điểm hình thái để nghiên cứu
phân biệt 3 loài cá kinh tế quan trọng trong giống Pangasius có đặc điểm bên ngoài giống nhau: cá Bông lau (Pangasius krempfi), cá Tra bần (P mekongensis) và cá Dứa (P elongates) ở vùng hạ lưu sông Mekong Kết quả phân tích thành phần chính dựa
trên các chỉ tiêu đo mã vạch cho thấy 3 loài tách thành nhóm riêng biệt (Dương Thúy Yên và cộng sự, 2016) [77]
Trần Thị Thúy Hà và cộng sự (2018) đã xác định chính xác tên loài thủy sản bằng sử dụng DNA barcoding trong các sản phẩm chế biến thu thập tại các siêu thị ở
Hà Nội [9] Dựa vào trình tự gen COI và chỉ thị microsatellite, Trần Thị Thúy Hà và
cộng sự (2019) đã nghiên cứu định danh loài và đa dạng di truyền bốn quần thể cá Chim vây vàng thu ở Nha Trang, Vũng Tàu, Hải Phòng và Quảng Ninh Kết quả cho
thấy trình tự vùng gen COI của cá Chim vây vàng thu được có độ tương đồng cao
(99-100 %) so với các trình tự COI của cá chim vây vàng Trachinotus ovatus đã được công
bố với mã hiệu GenBank KF356397.1, HQ127346.1 và 10 KJ642220,1 [8]
Nguyễn Thị Tường Vi và cộng sự (2018) đã phân tích đa dạng di truyền của quần
thể cá Dìa công (Siganus guttatus) ở vùng biển Quảng Nam - Đà Nẵng: Cửa sông Thu
Bồn, biển Cù Lao Chàm và biển Đà Nẵng dựa trên kết quả phân tích chuỗi DNA của
vùng gen COI Kết quả cho thấy các quần thể cá Dìa công ở các vùng biển Cù Lao Chàm,
Đà Nẵng và cửa sông Thu Bồn có 9 kiểu gen COI thuộc 3 nhóm chính [70]
Dương Thúy Yên và cộng sự (2018) đã nghiên cứu đa dạng di truyền của các
quần thể cá Hường (Helostoma temminckii) ở thủy vực tự nhiên trong khu bảo tồn
Láng Sen (Long An) và từ các ao nuôi thuộc ba vùng: Cần Thơ, Hậu Giang và Trà Vinh Kết quả cho thấy, cá Hường có mức độ đa dạng di truyền tương đối cao Trong
đó, các thông số đa dạng di truyền cao nhất ở đàn cá Hậu Giang và thấp nhất ở đàn cá
tự nhiên Láng Sen [76]
Võ Điều và cộng sự (2019) đã định danh thành phần loài cá cảnh Tỳ bà bướm
(Sewellia spp.) phân bố ở Thừa Thiên Huế dựa trên đặc điểm hình thái và DNA mã vạch (16S rDNA và COI) Phân tích chỉ tiêu hình thái và giải trình tự gen cho thấy hai loài cá thuộc giống Sewellia phân bố ở Thừa Thiên Huế là Sewellia lineolata (Valenciennes, 1846) và Sewellia albisuera Freyhof, 2003 Đây là lần đầu tiên loài
Trang 25Nguyễn Thị Tường Vi và cộng sự (2019) đã đánh giá đa dạng di truyền quần thể cá
Mú chấm cam - Epinephelus coioides (Hamilton, 1882) ở thảm cỏ biển vùng cửa sông Thu
Bồn và Cù Lao Chàm, Quảng Nam dựa trên kết quả phân tích chuỗi DNA của vùng gen
cytochrome oxidase I DNA ty thể Kết quả nghiên cứu cho thấy đa dạng di truyền quần thể
cá Mú ở Quảng Nam thấp (8 haplotype/60 cá thể), đa dạng haplotype (Hd = 0,338±0,079); trong khi quần thể cá Mú ở Cù Lao Chàm có đa dạng di truyền cao hơn [69]
Như vậy, hầu hết các nghiên cứu đều cho thấy các mã vạch DNA được xem là công cụ cực kỳ hữu ích trong nghiên cứu đa dạng di truyền động vật nói chung và đa dạng di truyền cá nói riêng Theo đó, công cụ này đã được sử dụng để định loại chính xác tên các loài cá
1.3 NGHIÊN CỨU CÁ ĐỐI LÁ - MOOLGARDA CUNNESIUS (VALENCIENNES, 1836)
Bộ cá đối: Mugiliformes
Họ cá đối: Mugilidae Giống cá Đối thường: Moolgarda
Loài cá Đối lá: Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836)
Nguyễn Văn Hảo (2005) đã mô tả về phân bố và giá trị kinh tế của các loài cá nước ngọt điển hình và một số đại diện cá có nguồn gốc biển thích ứng với điều kiện nước lợ của vùng cửa sông, đầm phá và vùng biển ven bờ Ông cho rằng, cá Đối lá thuộc họ cá Đối:
Mugilidae, có tên khoa học là Mugil kelaartii Günther, 1861 [11]; tuy nhiên, theo các sách phân loại hiện nay (FAO, Fishbase, Eschemayer,…) lại cho rằng cá Đối lá có tên khoa học là Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) [123], [124], [125].
- Đặc điểm hình thái
Cá Đối lá có thân dài, đầu hơi to dẹp, bằng, không có vẩy đường bên Thân hình hơi thon, phần giữa hơi tròn Mắt tương đối lớn, màng mỡ ít phát triển, khoảng cách giữa hai mắt tương đối rộng Mõm vừa rộng, có răng nhỏ, góc miệng thấp hơn mắt
Trang 26Đầu sau của hàm trên ẩn khi ngậm miệng Mặt lưng màu xanh biển, bụng màu trắng bạc Vây lưng và vây hậu môn thứ hai có viền đen Vây lưng trước có 4 gai cứng nhỏ; vây lưng thứ hai nhỏ Vây ngực dài, bằng 2/3 chiều dài đầu Vây hậu môn và vây bụng nhỏ Vây đuôi phần thùy nông, hai thùy bằng nhau Vây đuôi xẻ thùy đều
1.3.2 Các nghiên cứu cá Đối lá ở Việt Nam
Cá Đối lá là loài rộng muối và phân bố rộng rãi ở các thủy vực ven biển vùng nhiệt đới trên thế giới và cả ở Việt Nam Nó là đối tượng khai thác và nuôi có giá trị kinh tế do sinh trưởng nhanh, kích thước khá lớn Trên thế giới và Việt Nam có nhiều
công trình nghiên cứu về thành phần loài, trong đó có cả cá Đối lá Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) hay còn có tên Mugil kelaartii Günther, 1861 [125] Một số công trình nghiên cứu về cá Đối lá Moolgarda cunnesius (Valenciennes,
1836) đã công bố mà chúng tôi biết được như sau:
Thomson, J.M (1984) cho rằng cá Đối lá (Mugil kelaartii Günther, 1861) sống
trong vùng biển ven bờ, vùng đất ngập nước, bao gồm cả cửa sông và đầm phá, chúng thường xuyên đi sâu vào vùng nước lợ nhạt, vùng nước ngọt Chúng có xu hướng tập trung thành đàn lớn trong thời kỳ sinh sản diễn ra trên biển Cá Đối lá là loài đẻ trứng, trứng cá nổi và không dính
Trương Sĩ Kỳ (1991) đã khẳng định: cá Đối lá sống ở vùng biển Cửa Bé (Khánh Hòa) sử dụng chủ yếu các loài động thực vật nổi làm nguồn thức ăn chính Ngoài ra, nguồn thức ăn của cá Đối lá còn có cả mùn bã hữu cơ [19]
Nguyễn Thị Phi Loan (2010) cho rằng cá Đối lá Mugil kelaartii Günther, 1861
được khai thác tại đầm Ô Loan tỉnh Phú Yên có chiều dài dao động từ 80 – 276 mm, ứng với khối lượng từ 9 – 166 g, gồm 4 nhóm tuổi, cao nhất là tuổi 3+, thấp nhất là 0+
Tốc độ sinh trưởng của cá Đối lá Mugil kelaartii Günther, 1861 tương đối nhanh Sau
1 năm tuổi cá tăng trưởng nhanh về chiều dài, khi đạt đến một kích thước nhất định sự tăng trưởng về chiều dài chậm lại nhưng lại tăng nhanh về khối lượng [20]
Nguyễn Thị Phi Loan và cộng sự (2010) đã khẳng định cá Đối lá Mugil kelaartii
Günther, 1861 có thịt thơm ngon, có giá trị thương phẩm, có giá trị dinh dưỡng cao và
là nguyên liệu chế biến các món ăn đặc sản của địa phương Hiện nay, việc khai thác loài cá này chưa được quản lý chặt chẽ nên nguồn lợi cá Đối lá trong tự nhiên đang có
xu thế suy giảm nghiêm trọng [20]
Trang 27Có thể nói, cá cá Đối lá Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836) được biết
đến từ lâu Về vùng phân bố của cá Đối lá ở Việt Nam, khi nghiên cứu về sự đa dạng
cá ở Việt Nam, các nhà khoa học đều cho thấy cá Đối lá phân bố ở các vùng đầm phá, cửa biển và vùng ven bờ biển Việt Nam [22], [28], [35] Các nghiên cứu về phân bố
cá Đối lá được công bố như:
Lê Thị Thu Thảo và cộng sự (2018) trong nghiên cứu thành phần loài khu hệ cá vùng biển ven bờ tỉnh Quảng Ngãi ghi nhận trong 126 loài cá Trong đó cá Đối Mugilidae có 7 loài bao gồm cả cá Đối lá [56]
Trần Công Thịnh và cộng sự (2020) cho rằng cá Đối lá được bắt gặp ở sông Cái, Nha Trang [60] Nguyễn Xuân Huấn và cộng sự (2020) công bố cá Đối lá khai thác được với sản lượng cao ở vùng cửa sông ven biển tỉnh Cà Mau [13] Hoàng Đình Trung và cộng sự (2020) cũng công bố cá Đối lá được bắt gặp ở vịnh Xuân Đài, tỉnh Phú Yên [64] Năm 2020, Lê Thị Thu Thảo và cộng sự trong quá trình nghiên cứu về thành phần và các loại nghề khai thác cá ở đầm Đông Hồ, Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang cũng cho thấy cá Đối lá xuất hiện ở vùng sinh thái này [57]
Khi nghiên cứu về ấu trùng và cá con, các tác giả Trần Trung Thành và cộng sự (2017) cho biết đã thu hoạch được ấu trùng và cá Đối lá con ở vùng nước ven bờ tại cửa sông Sò, Nam Định Thời gian thu được cá con theo các tác giả là từ tháng 1 đến tháng 5 và tháng 8 đến tháng 12 hằng năm Thời gian thu được ấu trùng và cá Đối lá con xảy ra ở cả buổi sang, buổi trưa và buổi chiều trong ngày [55]
Như vậy, trên Thế giới các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái của cá Đối lá không nhiều Còn ở Việt Nam, các nghiên cứu về cá Đối lá tập trung vào việc phân loại của loài theo từng khu hệ Chúng tôi chưa tìm thấy các công trình nghiên cứu về sinh học, sinh thái và nuôi thả cá Đối lá ở Việt Nam, miền Trung và ở Thừa Thiên Huế
Vì vậy, công trình nghiên cứu này được xem là nghiên cứu về sinh học, sinh thái học, phân bố của cá Đối lá đầu tiên ở vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế Kết quả nghiên cứu của luận án sẽ đóng góp những dẫn liệu cơ bản, có hệ thống về đặc điểm sinh học và phân bố của loài cá kinh tế này
Trang 28CHƯƠNG 2 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, TÌNH HÌNH KINH TẾ XÃ HỘI
VÙNG NGHIÊN CỨU
2.1 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN
2.1.1 Vị trí địa lý
Thừa Thiên Huế thuộc vùng Bắc Trung Bộ và nằm trong vùng phát triển kinh tế trọng điểm miền Trung, trãi dài từ 16000’ đến 16045’ vĩ độ Bắc và từ 107001’ đến 108012’ kinh độ Đông Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng và tỉnh Quảng Nam, phía Tây giáp huyện Saravane và Sekong nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, phía Đông giáp biển Đông Thừa Thiên Huế với diện tích đất tự nhiên 502.629,49
ha, có bờ biển dài 127 km, có hệ thống đầm phá Tam Giang - Cầu Hai rộng hơn 21.600
ha, đầm Lăng Cô rộng 1.650 ha [4] và nhiều sông, suối rất thuận lợi để phát triển nghề khai thác và nuôi trồng thủy sản [21], [31]
2.1.2 Địa hình
Thừa Thiên Huế nằm trên một dải đất hẹp với chiều dài theo đường bờ biển là 127
km, chiều rộng trung bình 60 km có đầy đủ các dạng địa hình: Rừng núi cao, gò đồi, đồng bằng, đầm phá, cửa song, vùng cát nội đồng và biển trong một không gian hẹp (trong đó đồi núi chiếm tới 75 % diện tích tự nhiên) [4] Nhìn chung, địa hình khá phức tạp, bị chia cắt mạnh, hướng thấp dần từ Tây sang Đông Phần phía Tây chủ yếu là núi, đồi; tiếp đến là các lưu vực sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Truồi Có thể chia ra năm vùng như sau:
Trang 29hẹp chạy dài theo Quốc lộ 1A càng về phía Nam diện tích càng hẹp đến đèo Hải Vân Vùng này phần lớn được bồi đắp bởi đất phù sa [41]
2.1.2.4 Vùng đầm phá
Vùng đầm phá kéo dài từ huyện Phong Điền đến huyện Phú Lộc gồm những đầm phá lớn như Tam Giang, Cầu Hai, An Cư có cửa thông ra biển với diện tích chiếm 5 %, bao gồm cả vùng cát ven biển Trong đó, đầm phá Tam Giang - Cầu Hai gồm các vực nước chuyển tiếp: phá Tam Giang nằm ở phía Bắc, kéo dài 25 km từ cửa sông Ô Lâu đến cửa Thuận An với diện tích 5.200 ha; đầm Thủy Tú dài 33 km diện tích 5.220 ha; phía Bắc đầm Thủy Tú có khu vực rộng khoảng 3,5 - 5 km Sau cùng là đầm Cầu Hai có hình dạng tương đối tròn; chiều dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam là 17 km, chiều ngang lớn nhất từ Đá Bạc đến Túy Vân là 10,5 km, độ sâu trung bình của đầm khoảng 1,4 m và diện tích 10.380 ha Đầm Cầu Hai có địa hình đáy dạng lòng chảo hơi nghiêng về phía núi, bên cạnh còn có các bãi bồi khá rộng ở phía Đông và Tây Bắc của đầm Đầm Lập An nằm ở thị trấn Lăng Cô, với diện tích 800 ha [4]
2.1.2.5 Vùng cát ven biển
Vùng cát ven biển là những bãi cát tương đối bằng phẳng cố định ven biển chạy dài
từ Phong Điền đến Lăng Cô tạo nên những vùng cát nội đồng Đất cát nội đồng có diện tích 24.358 ha chiếm 4,82 % tổng diện tích đất tự nhiên của tỉnh Thừa Thiên Huế, thuộc bốn huyện vùng duyên hải Phong Điền, Quảng Điền, Phú Vang và Phú Lộc Đất cát nội đồng phân bố song song với bờ biển theo hướng Đông Bắc - Tây Nam, nằm sâu trong vùng dân cư và ngăn cách với cát ven biển bởi phá Tam Giang - Cầu Hai Với thành phần cơ giới chủ yếu là cát, vì vậy khả năng thấm nước và hấp thụ nhiệt nhanh, nhưng thoát nước và toả nhiệt cũng nhanh Mùa hè thì khô hạn, mùa mưa thì ngập úng [30], [67]
2.2 KHÍ HẬU – THỦY VĂN
2.2.1 Khí hậu
- Đặc điểm khí hậu: Vùng Thừa Thiên Huế nằm gọn trong vĩ độ nhiệt đới và thuộc
vùng nội chí tuyến, do đặc điểm địa hình đa dạng đã phân hóa khí hậu theo không gian, thời gian và tạo cho Thừa Thiên Huế có nhiều vùng tiểu khí hậu khác nhau Mặt khác,
do bị dãy núi trung bình Bạch Mã án ngữ theo phương á vĩ tuyến ở phía Nam được xem như là ranh giới khí hậu tự nhiên giữa hai miền lãnh thổ Do đó khí hậu Thừa Thiên Huế
Trang 30mang đậm nét vùng chuyển tiếp khí hậu giữa hai miền Nam - Bắc của Việt Nam, có mùa Đông lạnh giống miền Bắc và có nền nhiệt độ cao như miền Nam Ranh giới phân biệt bốn mùa Xuân - Hạ - Thu - Đông không rõ rệt Đó chính là đặc điểm khí hậu của Thừa Thiên Huế [4], [30]
- Chế độ nhiệt: Ở Thừa Thiên Huế có hai mùa khí hậu rõ rệt, mùa khô nóng và
mùa mưa ẩm lạnh Nhiệt độ trung bình năm vùng đồng bằng khoảng 25 0C (thành phố Huế), vùng miền núi 22 0C (huyện A Lưới) Nhiệt độ cao nhất ở đồng bằng và miền núi vào tháng 6 và 7 lần lượt là 41,3 0C và 38,1 0C Nhiệt độ thấp nhất ở đồng bằng và miền núi rơi vào tháng 12, tháng 1 năm sau lần lượt là 8,7 0C và 4 0C [4]
+ Mùa nóng: từ tháng 4 đến tháng 8, chịu ảnh hưởng của gió Tây - Nam khô nóng, nhiệt độ cao Nhiệt độ trung bình của các tháng nóng từ 26,2 - 28,7 0C, tháng nóng nhất là tháng 5, tháng 6 có khi đến 38 – 40 0C
+ Mùa lạnh: từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, chịu ảnh hưởng của gió mùa Đông
- Bắc nên mưa nhiều, trời lạnh Nhiệt độ trung bình về mùa lạnh ở vùng đồng bằng từ 18,3 - 22,9 0C, ở miền núi từ 15,6 - 20,3 0C
Phân bố nhiệt độ theo thời gian: Nhiệt độ (℃) trung bình tháng và năm trong năm
2019 ở Thừa Thiên Huế (bảng 1.3) [4]
A Lưới 18,6 19,3 22,3 22,8 25,7 25,5 24,7 24,7 24,3 21,9 22,0 19,4 22,5
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019, xuất bản năm 2020
Trang 31Đông 164,5 39,7 85,0 138,8 112,1 166,0 86,3 236,4 511,6 668,3 735,4 227,4 264,3
A Lưới 186,6 161,1 302,3 236,3 227,2 310,0 129,4 222,5 452,0 435,8 562,3 96,7 276,9
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019, xuất bản năm 2020
Thừa Thiên Huế là một trong 4 trung tâm mưa lớn ở nước ta Lượng mưa bình hàng năm trên 2.500 mm, có nơi lên đến hơn 4.500 mm (huyện Nam Đông và huyện
A Lưới) Mùa mưa bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 2 năm sau, nhưng tập trung chủ yếu vào 4 tháng cuối năm (tháng 9 đến tháng 12) Tháng 11 hằng năm thường có lượng mưa nhiều nhất trong năm Lượng mưa phân bố không đều trong năm, mùa mưa (mùa lũ lụt) từ tháng 9 đến tháng 12 chiếm 70 - 80 % lượng mưa trong năm và mùa khô từ tháng 1 đến tháng 8 với lượng mưa chỉ chiếm từ 20 - 30 % lượng mưa năm (bảng 1.4) [4], [30], [45]
- Độ ẩm: Độ ẩm trung bình tương đối ở đồng bằng (thành phố Huế) và miền
núi (A Lưới) lần lượt là 86,7 % và 90,8 % Độ ẩm cao nhất vào tháng 11 tại đồng bằng
và miền núi lần lượt là 93 % và 96 % Độ ẩm thấp nhất vào tháng 6 tại đồng bằng và miền núi lần lượt là 79 % và 83 % (bảng 1.5) [4], [30]
Bảng 2.3 Độ ẩm (%) không khí tương đối trung bình tháng trong năm 2019
(tb)
Huế 89 90 88 87 77 76 82 80 85 90 90 93 85,6 Nam
Đông 88 86 82 83 79 80 83 83 85 90 91 93 85,3
A Lưới 92 93 91 91 83 82 80 87 90 93 94 95 89,3
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019, xuất bản năm 2020
Trang 32- Nắng: Ở tỉnh Thừa Thiên Huế tổng số giờ nắng mỗi năm từ 1.700 - 1.900 giờ,
nhiều hơn số giờ nắng của các tỉnh phía Bắc Số giờ nắng giảm dần từ vùng đồng bằng lên vùng núi, từ Nam ra Bắc (bảng 1.6) [4]
Bảng 2.4 Số giờ nắng trung bình tháng trong năm 2019
(tb)
Huế 119 135 167 198 287 270 133 257 225 168 170 105 186,2 Nam
Đông 121 135 194 192 234 241 111 229 213 164 151 136 162,4
A Lưới 104 125 189 202 247 218 113 201 184 160 149 116 167,3
Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Thừa Thiên Huế năm 2019, xuất bản năm 2020
- Gió: Ở Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của hai hướng gió chính [67]:
+ Gió mùa Tây - Nam: bắt đầu từ tháng 4 đến tháng 8 (mùa hè), tốc độ gió trung bình từ 2 - 3 m/s, có khi lên lới 7 - 8 m/s Tính chất gió khô nóng, bốc hơi mạnh, gây khô hạn kéo dài
+ Gió mùa Đông - Bắc: bắt đầu từ tháng 9 đến tháng 3 năm sau, tốc độ gió 4 - 6 m/s, gió kèm theo mưa làm cho khí hậu lạnh, ẩm, dễ gây lũ lụt, ngập úng ở nhiều vùng
trong tỉnh
2.2.2 Thủy văn
2.2.2.1 Chế độ thủy văn đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Chế độ thủy văn ở đầm phá Tam Giang – Cầu Hai vừa chịu ảnh hưởng trực tiếp của chế độ thủy văn sông suối, vừa bị chế độ hải văn biển ven bờ chi phối thông qua các cửa biển cũng như hình dạng, độ sâu của chính thủy vực này
2.2.2.1.1 Mực nước và biên độ giao động thủy triều
- Mực nước: chênh lệch lớn nhất giữa mực nước ở phá Tam Giang và đầm Cầu Hai là 0,18 – 0,26 m Chênh lệch mực nước giữu phá Tam Giang và cửa Thuận An lớn nhất khoảng 0,25 – 0,27 m, giữa vùng Cầu Hai và Tư Hiền lớn nhất là 0,14 – 0,2 m [4], [30]
- Thủy triều: biên độ giao động thủy triều trong phá Tam Giang khoảng 0,6 m Biên độ giao động thủy triều giảm nhẹ từ cửa Thuận An đến đầm Thủy Tú Đạt 0,64 m
Trang 330,26 m tại phía Nam đầm Thủy Tú Biên độ giao động thủy triều trong phá Cầu Hai là 0,21 m Số liệu đo được vào tháng 5 năm 2019 tại một số nơi tại vùng biển Vinh Hiền cho thấy biên độ giao động thủy triều là 0,28 m [66], [68]
2.2.2.1.2 Dòng chảy
- Dòng triều: Dòng triều càng xa cửa biển càng yếu dần Vận tốc dòng triều ở cửa Thuận An đạt tới 0,15 m – 0,25 m/s và tại vùng biển Vinh Hiền đạt tới 0,25 – 0,45 m/s Bên trong đầm phá vận tốc dòng triều nói chung giảm và giao động trong phạm vi rộng 0,03 – 0,25 m/s
Dòng chảy trong đầm phá chủ yếu phụ thuộc vào nguồn cung cấp nước theo từng vùng và từng thời gian nhất định Những lúc ảnh hưởng của thủy triều thường có dòng chảy chậm vào đầm phá Ảnh hưởng mạnh nhất là dòng chảy sông, nhất là khi triều thấp và mùa mưa lũ Ngoài ra do đầm phá rộng, sự chu chuyển nước còn phụ thuộc vào gió và địa hình bờ của đầm phá Nhờ những nguồn nước cung cấp rất lớn và thường xuyên chảy trong đầm, đã làm cho đầm phá tăng nguồn dinh dưỡng Các hệ thống dòng chảy, đến lượt mình điều hòa khối nước, chu chuyển đều các chất dinh dưỡng trong toàn bộ đầm phá, tạo điều kiện thuận lợi cho sinh vật phát triển và phân
bố khá đồng đều trong thủy vực [63], [79]
Vận tốc dòng chảy lớn nhất của lũ lụt và triều xuống tại cửa Thuận An và vùng biển Vinh Hiền khoảng 0,6 m/s Các giá trị vận tốc dòng chảy lớn nhất quan trắc từ lũ lụt và triều xuống tại cửa Thuận An bằng thiết bị VIWRR vào tháng 5 năm 2019 lần lượt là 0,41 m/s và 0,50 m/s [65], [67]
Vận tốc dòng chảy lớn nhất tại vùng biển Vinh Hiền là 0,84 m/s vào lúc triều cường và 1,09 m/s vào lúc triều xuống
- Dòng chảy: Tuy có vận tốc rất bé (<0,1 m/s), nhưng dòng chảy có vai trò nhất định trong hoàn lưu nguồn nước đầm phá ở nơi xa biển, góp phần tăng độ hòa tan oxy cho nguồn nước
- Dòng chảy tổng hợp: Bao gồm cả dòng chảy sông, thay đổi theo mùa, được thể hiện dưới dạng dòng chảy vào và dòng chảy ra qua các cửa biển Vận tốc dòng chảy ra
và dòng chảy vào qua các cửa sông tương ứng như sau: 0,23 – 0,64 m/s và 0,38 – 0,60 m/s ở cửa Thuận An Càng đi sâu vào trung tâm đầm phá dòng chảy càng giảm đi đáng
kể Vào mùa mưa dòng chảy tăng lên rỏ rệt [63]
Trang 34Sự trao đổi nước giữa đầm phá với biển Đông chủ yếu do dòng chảy tổng hợp, sự đóng mở các cửa biển, chế độ khí hậu của địa phương, do dòng chảy triều, dòng chảy gió trong đầm quyết định Đặc biệt hiện nay hạ lưu các sông chính đều có đập chắn ngăn mặn nên ảnh hưởng rõ rệt đến dòng chảy của sông và đầm phá, ảnh hưởng đến việc điều hòa trao đổi nước và hoạt động nuôi trồng thủy sản ở đây
Từ các kết quả này, chúng ta có thể kết luận rằng lực tác động chính đến chế độ thủy động lực của hệ thống trong mùa khô là thủy triều Các ảnh hưởng của dòng chảy sông trong mùa khô đến thủy động lực của hệ thống là nhỏ và sự tồn tại của cửa Thuận
An là lâu dài trong chức năng duy trì hệ thống
2.2.2.1.3 Đặc điểm thủy lý thủy hóa
Chất lượng nước đầm phá
- Nhiệt độ nước (℃): Giống với các thủy vực khác, nhiệt độ nước ở hệ thống đầm phá Thừa Thiên Huế phụ thuộc vào điều kiện khí hậu Những nghiên cứu gần đây chỉ
ra rằng, nhiệt độ phân bố theo độ sâu không chênh lệch nhiều điều này liên quan đến
độ sâu nhỏ và có sự chu chuyển nước thường xuyên trong hệ đầm phá Nhiệt độ của nước thay đổi theo vị trí từng vùng trong đầm phá Nhiệt độ nước đầm phá trung bình vào mùa khô biến động từ 27 - > 30 0C (nhưng không vượt quá 35 ℃), mùa mưa biến động trong khoảng 23 – 26 ℃ Chênh lệch nhiệt độ giữa mùa khô và mùa mưa ở các vùng khoảng 2 – 8 ℃ [67], [68]
- Độ đục: Độ đục nước phá thấp (khoảng 5 – 15 NTU) Vào mùa mưa, độ đục tăng nhưng không nhiều Ở ven bờ phá, do tác động của sóng mạnh hơn nên độ đục thường cao hơn giữa phá [41], [66]
- pH: Nước của vùng ven biển Thừa Thiên Huế nói chung là trung tính hoặc hơi kiềm Chỉ ở một số vùng cả song pH của nước hơi thấp, mang tính axit Vào mùa mưa,
độ pH ở tầng đáy cũng có thường thấp hơn tầng mặt Mùa nắng, pH đồng đều ở cả hai tầng; độ pH của phá dao động trong khoảng 7,0 – 7,5 Vào mùa khô, phá chịu tác động mạnh của biển nên pH tăng cao, thường ở mức 8,0 – 8,1 [30]
- Ôxy hòa tan (DO): Hàm lượng ôxy hòa tan hằng năm ở đầm phá tương đối cao, phụ thuộc vào thủy triều, dòng chảy của song, phụ thuộc vào tuyến tính mùa mưa lũ và
sự có mặt của một khối lượng lớn thực vật thủy sinh [67], [68] DO trung bình ở phá
Trang 35Tam Giang – Cầu Hai đạt 6,9 mg/l, mùa khô biến động từ 6,2 – 7,7 mg/l, mùa mưa từ 5,7 – 7,7 mg/l [49], [51]
- Nồng độ muối (0/00): Các muối hòa tan trong nước, nhất là muối NaCl có vai trò quyết định đối với sự phân bố của các loài thủy sinh vật Lượng muối trong nước trong
hệ đầm phá Thừa Thiên Huế dao động khá lớn, thể hiện tính chất nước của cửa song điển hình Sự biến động nồng độ muối theo không gian và thời gian gây ra chủ yếu bởi thủy triều và hoạt động của các sông suối đổ về [34]
Độ mặn của phá Tam Giang – Cầu Hai là kết quả của sự pha trộn giữa nước mặn xâm nhập vào từ biển qua các của biển và nước ngọt của các sông Độ mặn thường cao vào mùa khô (từ tháng 3 – 8 trong năm) và thấp vào mùa mưa từ tháng 1 – 2 và từ tháng 9 – 12 [41]
Vào mùa mưa, độ mặn thường giao động quanh giá trị 3 0/00 ở vùng Tam Giang, vùng Cầu Hai; 10 0/00 ở Thuận An – Sam và Thủy Tú Ở các tháng mưa nhiều (tháng
10, tháng 11 và tháng 12), độ mặn toàn phá khoảng 0 – 3 0/00
Vào mùa khô, độ mặn có sự biến động lớn giữa khu vực phá: những khu vực gần cửa biển độ mặn thường từ 25 – 30 0/00 và giảm dần khi vào sâu trong phá, phổ biến từ
15 – 20 0/00, thấp nhất là ở các khu vực cửa sông [34]
2.2.2.2 Đặc điểm chế độ hải văn ven bờ
- Thủy triều và mực nước biển: Vùng biển ven bờ chỉ kéo dài 127 km, nhưng chế
độ thủy triều biến đổi khá phức tạp Từ vùng biển thuộc xã Điền Hương đến cửa Thuận An thủy triều có chế độ bán nhật triều không đều Ở khu vực lân cận cửa Thuận
An có chế độ bán nhật triều đều với 2 lần nước lên và 2 lần nước xuống hàng ngày Xa dần về phía Nam cửa Thuận An biên độ triều không những tăng dần mà còn xuất hiện lại chế độ bán nhật triều không đều ở biển ven bờ phía Bắc tỉnh
Các số liệu đo đạc cho thấy mực nước biển bình thường là 0, mực nước biển cực đại lên tới 1,26 m, cực tiểu là 0,27 m [41], [46]
- Sóng biển: Sóng trên vùng biển ven bờ phụ thuộc vào chế độ gió mùa Mùa
đông theo số liệu quan trắc sóng năm 2019 ở vùng biển ven bờ gần cửa Thuận An thịnh hành sóng Đông Bắc với tần suất 99 % và đạt độ cao 0,25 – 5 m Mùa hè có sóng Tây Nam và Đông Nam ở ngoài khơi và sóng Đông Nam ở vùng biển ven bờ, khu vực
Trang 36Thuận An mùa hè có hướng Đông với độ cao 0,25 – 1 m, tần suất 93 % Khi có bão, gió mùa Đông Bắc mạnh có thể sóng cao tới 4 – 5 m hoặc cao hơn nữa
- Độ đục nước biển: Nước biển ven bờ có độ đục thấp Mùa khô hàm lượng vật
chất lơ lửng dưới 5 g/m3, mùa lũ là 20 – 35g/m3
- Nhiệt độ nước biển: Ở vùng biển Thừa Thiên Huế chịu ảnh hưởng của dòng hải
lưu lạnh ven bờ Tây vịnh Bắc bộ Các tháng mùa đông (tháng 11 đến tháng 4) có nhiệt
độ nước biển dao động trong khoảng 15,7 – 23,6 ℃, các tháng mùa hè (tháng 5 đến tháng 10) có nhiệt độ nước biển giao động từ 22,3 – 29,4 ℃ [48], [66]
- Độ mặn nước biển: Ở vùng biển Thừa Thiên Huế, độ mặn tang dần từ ven bờ ra
ngoài khơi, đạt giá trị cực đại 32 – 34 0/00 Độ mặn nước biển mùa hè cao hơn độ mặn nước biển mùa đông trên dưới 1 0/00, ở gần bờ mùa mưa lũ (lân cận cửa Thuận An) độ mặn giảm xuống đến 18 – 20 0/00
- Độ pH nước biển: Ở vùng biển Thừa Thiên Huế, nước biển ven bờ có độ pH
khoảng 8 – 8,2 [66]
- Nồng độ oxy trong nước biển: Lượng oxy hòa tan trong nước biển thuộc loại khá
cao, ở tầng nước bề mặt hàm lượng oxy hòa tan dao động trong khoảng 5,9 – 7 mg/l
2.2.2.3 Cấu trúc quần xã sinh vật vùng ven biển Thừa Thiên Huế
- Cấu trúc quần xã sinh vật đầm phá Tam Giang – Cầu Hai
Hệ thực vật đầm phá đã phát hiện được khoảng 400 loài, bao gồm 357 loài thực vật phù du nguồn gốc nước ngọt, mặn, lợ (chủ yếu tảo silic, tảo giáp xuất hiện đáng kể vào mùa khô có độ mặn cao), 54 loài vi tảo đáy (chủ yếu tảo silic), 43 loài rong tảo, 18 loài thực vật thủy sinh (7 loài cỏ biển và 11 loài cỏ nước ngọt), 31 loài thực vật cạn (kể
cả 7 loài cây ngập mặn) Một số loài cỏ nước phát triển với sinh khối lớn như rong mái
chèo (Valisneria spiralis) ở Tam Giang đạt 0,2 – 0,5kg/m3 Rong khét (Najas indica) ở
Cầu Hai đạt 2,5kg/m3 [1], [3], [34]
Khu hệ động vật đầm phá phát hiện khoảng 445 loài, trong đó động vật nổi 34 loài, động vật đáy 34 loài, cá 171 loài Trong số này có 80 loài có giá trị kinh tế cao, bao gồm 23 loài cá, tôm 12 loài, giáp xác và thân mềm 18 loài Khu hệ cá phong phú
về thành phần loài, ưu thế về loài cá nước lợ, nhóm nước ngọt di cư vào mùa mưa lũ
và nhóm nước biển di cư vào mùa khô [5], [6], [15], [27]
Trang 37- Cấu trúc quần xã sinh vật Vùng biển ven bờ
Hệ thực vật biển ven bờ Thừa Thiên Huế, trong thành phần loài thực vật nỗi đã xác định được, tảo sillic có 177 loài, tảo giáp chiếm 36 loài Tỷ lệ cấu trúc giữa các ngành thực vật nỗi khác nhau tùy theo các vùng nước ven bờ hay cửa song
Hệ động vật nỗi, thường gặp các loài thích ứng muối rộng, điển hình là các loài tròng giống Corycaeus, Acartina Canthocalanus (Copepoda) và hầu hết các nhóm ấu trùng giáp xác, da gai, tôm he, thân mềm [46], [47] ,…
2.3 ĐIỀU KIỆN KINH TẾ - XÃ HỘI
2.3.1 Số đơn vị hành chính, dân số và kinh tế - xã hội
Tỉnh Thừa Thiên Huế gồm 01 thành phố trực thuộc tỉnh (thành phố Huế) và 8 huyện, thị xã (huyện Phong Điền, huyện Quảng Điền, huyện Hương Trà, huyện Phú Vang, huyện Hương Thủy, huyện Phú Lộc, huyện Nam Đông và huyện A Lưới) Tỉnh Thừa Thiên Huế có diện tích 5.026,2949 km2 [4]
- Kết quả điều tra dân số năm 2019, Thừa Thiên Huế có 1.128.620 người Mật độ
224 người/km2 Trong đó, dân số vùng nông thôn 570.089 người, chiếm tỷ lệ 50,51 % dân số toàn tỉnh Lao động thủy sản 38.432 người, lao động nông nghiệp và lâm nghiệp 156.787 người [4]
- Năm 2019 tổng sản phẩm trong tỉnh bình quân trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp
và thủy sản 15,4 triệu đồng/người Thu nhập bình quân đầu người trong lĩnh vực nông, lâm nghiệp và thủy sản 418.000 đồng/người [4]
2.3.2 Điều kiện cơ sở hạ tầng
2.3.2.1 Điện
- Điện: 100 % các xã, phường, thị trấn trên địa bàn toàn tỉnh có điện, tỷ lệ hộ sử
dụng điện sinh hoạt 99,98 % Tỷ lệ hộ sử dụng nước sinh hoạt hợp vệ sinh 97,2 % Tỷ
lệ hộ sử dụng hố xí hợp vệ sinh 92,50 % [4]
2.3.2.2 Đường giao thông
- Đường giao thông: Quốc lộ 1A cùng tuyến đường sắt Bắc Nam đi qua vùng
đồng bằng, quốc lộ 14 đi dọc theo huyện miền núi A Lưới; quốc lộ 49A, 49B nối
đường Hồ Chí Minh với quốc lộ 1A, cửa khẩu Hồng Vân là cửa khẩu nối nước ta với nước bạn Lào tại mốc S3 Đường hàng không có sân bay quốc tế Phú Bài Đường biển
có cảng Thuận An và cảng nước sâu Chân Mây [4]
Trang 38và ngoài tỉnh Toàn tỉnh có 580 trường học, trong đó có 207 trường mầm non, 220 trường tiểu học, 119 trường trung học cơ sở, 37 trường trung học phổ thông; Cao đẳng
có 05 trường, 01 trường Đại học dân lập Phú Xuân và Đại học Huế là đại học vùng với
08 trường thành viên, các viện và trung tâm trực thuộc [4]
Thừa Thiên Huế có hệ thống đầm phá nằm trên địa bàn 5 huyện Nghề khai thác
và nuôi trồng thuỷ sản của ngư dân Thừa Thiên Huế đã hình thành từ lâu đời Với các ngư cụ khai thác đơn giản và nghề khai thác truyền thống, như: câu, lao xiên, lưới, rùng, mành, đời sống ngư dân đã gặp không ít khó khăn Trong những năm cuối thế
kỷ XX đầu thế kỷ XXI, các hộ ngư dân đã trang bị nhiều phương tiện và ngư cụ hiện đại với khả năng khai thác hiệu quả cao Đồng thời, các hộ ngư dân đã chú trọng việc nuôi trồng thuỷ sản có giá trị kinh tế cao, như: tôm sú, tôm hùm, cá hồng, cá mú, ghẹ, vẹm xanh, Nhờ vậy, đời sống ngư dân ngày càng được nâng cao, chất lượng cuộc sống được cải thiện [41], [66]
Trang 39CHƯƠNG 3 ĐỐI TƯỢNG, THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Cá Đối lá: Moolgarda cunnesius (Valenciennes, 1836)
Thân dài, đỉnh đầu bằng, phủ vảy Mõm tù, miệng hình vòng cung Đường kính mắt bằng chiều dài mõm Vây lưng thứ nhất có 4 gai cứng nhỏ, vây lưng thứ 2 nhỏ, có khởi điểm sau khởi điểm vây hậu môn Vây ngực dài bằng 2/3 chiều dài đầu Vây hậu môn và vây bụng nhỏ Hậu môn gần sát vây hậu môn Vây đuôi phân thuỳ nông, hai thuỳ bằng nhau
Trang 403.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
- Tổ chức và thực hiện điều tra khảo sát thu mẫu theo từng đợt vào đầu mỗi tháng, từ tháng 1 năm 2015 đến tháng 12 năm 2016 và từ tháng 1 năm 2018 đến tháng
12 năm 2018
- Thời gian phân tích mẫu vật, thu thập số liệu, viết các bài báo công bố nói chung, báo cáo semina và các bản thảo luận án từ 2016 – 2020
3.3 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU
Địa điểm nghiên cứu đề tài: vùng ven biển tỉnh Thừa Thiên Huế, bao gồm:
- Vùng đầm phá Tam Giang – Cầu Hai và đầm Lập An (hay đầm Lăng Cô)
- Vùng biển ven bờ Thừa Thiên Huế (127 km) từ độ sâu 06 m nước trở vào khi triều thấp nhất
Trong đó chúng tôi tiến hành nghiên cứu ở 16 điểm thuộc 2 vùng nước khác nhau (bảng 3.1 và hình 3.2)
Bảng 3.1 Các vùng/điểm nghiên cứu thực địa ở vùng ven biển Thừa Thiên Huế