ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Một số vi khuẩn gây bệnh phân lập trên mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân đang được điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên
- Phạm vi nghiên cứu: Trên các bệnh nhân được điều trị tại Bệnh viện C
Nội dung nghiên cứu
- Nội dung 1: Nghiên cứu tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh trên các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019
- Nội dung 2: Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn chủ yếu tại Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019.
Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp phân lập, xác định vi khuẩn và lưu giữ chủng
3.3.1.1 Kỹ thuật lấy bệnh phẩm
Hình 3.1: Chai chứa môi trường dinh dưỡng để nuôi cấy vi sinh vật nhiễm trùng trong máu của hãng BacT/ALERT
Bệnh phẩm có thể được đưa từ các khoa phòng nội trú hoặc lấy tại khoa vi sinh, cần đảm bảo yêu cầu vô trùng Việc lấy bệnh phẩm phải đúng vị trí, thời gian và vô khuẩn Đối với phân, nước tiểu và đờm, cần sử dụng ống tăm bông vô trùng, trong đó nước tiểu phải có thể tích lớn hơn 0,5ml Bệnh phẩm mủ thường được thu thập sau mổ bằng bơm tiêm vô trùng và mang nhanh đến khoa để cấy Đối với máu, cần sử dụng chai cấy máu có môi trường dinh dưỡng, lấy từ 3 đến 5ml máu bệnh nhân để đảm bảo vi khuẩn trong máu sống.
3.3.1.2 Quan sát trực tiếp bằng kính hiển vi
Quan sát vi khuẩn bằng kính hiển vi cho phép chúng ta nhận diện hình dạng và khả năng bắt màu của chúng Phương pháp này có thể bao gồm việc làm tiêu bản soi tươi để phát hiện khả năng di động của vi khuẩn, cũng như sự hiện diện của nấm và trùng roi gây bệnh Ngoài ra, việc nhuộm tiêu bản giúp chúng ta quan sát rõ hơn về hình thái của vi khuẩn.
- Soi tươi: Để phát hiện khả năng di động của vi khuẩn [20]
Tiêu bản giọt ép được thực hiện bằng cách sử dụng que cấy hoặc ống hút để lấy mẫu bệnh phẩm lỏng hoặc canh khuẩn Sau đó, một giọt mẫu được nhỏ lên lam kính Đối với các bệnh phẩm đặc, cần nhỏ một giọt NaCl 0,9% vô khuẩn lên lam kính và hòa đều với giọt NaCl 0,9% để tạo thành hỗn hợp đồng nhất.
+ Đặt lá kính lên giọt canh khuẩn thật nhẹ nhàng tránh tạo bọt khí
+ Soi kính hiển vi với vật kính X10, vật kính X40
Để làm tiêu bản, sử dụng que cấy bệnh phẩm hoặc canh khuẩn, dàn mỏng lên phiến kính theo đường xoắn ốc với đường kính 1cm Sau đó, để khô tự nhiên hoặc đặt vào tủ ấm 37°C Cuối cùng, cố định tiêu bản bằng nhiệt, hóa chất, hoặc kết hợp cả hai phương pháp.
Kỹ thuật nhuộm Gram là phương pháp phổ biến được sử dụng tại các trường học và bệnh viện để phân loại vi khuẩn thành hai loại chính: vi khuẩn Gram dương và vi khuẩn Gram âm Cách tiến hành nhuộm Gram giúp xác định đặc điểm của vi khuẩn, từ đó hỗ trợ trong việc chẩn đoán và điều trị bệnh.
- Nhỏ dung dịch tím Gentian lên tiêu bản cố định để 1 phút, rửa nước
- Nhỏ dung dịch Lugol lên tiêu bản, để 30s, rửa nước
- Tẩy màu bằng nhỏ cồn tuyệt đối lên tiêu bản quan sát phiến kính khi nào thấy màu tím trên đồ phiến vừa phai hết, rửa nước ngay
- Nhỏ dung dịch Fuchsin (hoặc Safranin) lên tiêu bản để 1 phút rửa nước kỹ
- Để khô tiêu bản, soi kính hiển vi với vật kính dầu X100
- Quan sát nếu các vi khuẩn bắt màu tìm thì đó là vi khuẩn Gram (+), các vi khuẩn bắt màu đỏ là Gram (-) [20]
Phương pháp phổ biến và quan trọng để phân lập vi khuẩn bằng phương pháp vi sinh
Các loại vi khuẩn tồn tại trong nhiều môi trường khác nhau, bao gồm môi trường lỏng, đặc, và bán rắn Những môi trường này có thể là nước thịt, thạch thông thường, hoặc các môi trường đặc biệt như gelatin, thạch máu, môi trường óc yếm khí, và môi trường khoai tây.
Nuôi cấy vi khuẩn trong môi trường lỏng thường sử dụng canh thang, trong đó bệnh phẩm được đưa vào bằng que cấy hoặc pipet Pasteur Quá trình ủ được thực hiện ở nhiệt độ 37°C trong khoảng 18 - 24 giờ Sự phát triển của vi khuẩn sẽ làm đục môi trường hoặc tạo ra váng trên bề mặt nước.
Nuôi cấy vi khuẩn trên môi trường đặc, phổ biến nhất là môi trường thạch dinh dưỡng, cho phép quan sát khuẩn lạc bằng mắt thường Màu sắc, hình thái và kích thước của khuẩn lạc giúp định danh sơ bộ vi khuẩn Để pha môi trường, cần bổ sung 8 – 12% agar và đổ vào ống thạch nghiêng hoặc đĩa petri, sau đó hút dịch vi khuẩn lên bề mặt thạch và cấy trải đều Cuối cùng, đặt vào tủ ấm ở 37°C để theo dõi sự phát triển của khuẩn lạc.
- Khảo sát những tính chất sinh hóa
Giám định vi khuẩn bằng môi trường đường sử dụng các loại đường như glucose, lactose và mannitol Các loại đường này được chia vào ống nghiệm, khử trùng, sau đó cấy vi khuẩn và quan sát sự phát triển của chúng, vì mỗi loại vi khuẩn có khả năng tạo ra màu sắc khác nhau trong môi trường chứa đường và chỉ thị Một số môi trường thường dùng bao gồm KIA với đường lactose và glucose, cũng như môi trường mannit chứa đường mannitol Vi khuẩn được cấy vào môi trường và ủ ở 37°C qua đêm, sau đó quan sát màu sắc của thạch để xác định loại vi khuẩn.
Giám định vi khuẩn bằng phản ứng VP (Voges-Proskauer) được thực hiện bằng cách cấy vi khuẩn vào môi trường lỏng như Clack-bus và ủ ở 37°C trong 2 - 4 ngày Sau đó, nếu nhỏ dung dịch thử vào mà thấy màu đỏ hồng, kết quả là dương tính.
3.3.1.5 Ngưng kết với kháng nguyên đặc hiệu
- Ngưng kết chủ động: Kháng nguyên nằm trên bề mặt tế bào vi khuẩn, trong vi khuẩn với kháng thể tương ứng sẽ có hiện tượng ngưng kết
Ngưng kết thụ động là quá trình xảy ra khi kháng nguyên hòa tan hoặc kháng thể gắn trên nền mượn như hồng cầu, hạt chất dẻo hoặc tế bào vi khuẩn gặp kháng thể hoặc kháng nguyên tương ứng, dẫn đến hiện tượng ngưng kết.
Ngưng kết kháng nguyên là phương pháp ít phổ biến trong việc xác định các loại vi khuẩn khác nhau Đối với những trường hợp nuôi cấy không cho kết quả mong muốn, phương pháp ngưng kết sẽ được áp dụng khi có nghi ngờ về sự hiện diện của vi khuẩn.
Ví dụ: Vi khuẩn đường ruột để kiểm tra có phải là Samonella thì sử dụng ngưng kết kháng nguyên
3.3.1.6 Phương pháp bảo quản mẫu
Sau khi phân lập và xác định vi khuẩn, việc làm kháng sinh đồ giúp tìm ra một chủng thuần nhất Chủng này thường được giữ lại để kiểm tra lại hoặc phục vụ cho nghiên cứu sau này Tại bệnh viện, phương pháp bảo quản thường được sử dụng là đông lạnh, với nhiệt độ lưu trữ ở -80°C trong tủ âm sâu.
- Chuẩn bị tế bào cho lạnh sâu: Tế bào được nuôi cấy trên môi trường và nhiệt độ thích hợp nhất tại giữa hoặc đầu pha log
- Pha dịch tế bào với 1ml glycerol 15% đã thanh trùng trước để đạt nồng độ cuối cùng 10% và mật độ tế bào 106
Dịch huyền phù tế bào cần được đưa vào ống lạnh sâu và đóng nắp chặt Đối với các ống thuỷ tinh hàn, nên ngâm trong dung dịch xanh metylene 0,05% để phát hiện các ống bị rò rỉ.
Để đảm bảo cân bằng áp suất thẩm thấu giữa bên trong và bên ngoài tế bào, tất cả các mẫu cần được để ở nhiệt độ phòng trong 30 phút Nếu có sử dụng nitơ lỏng, mẫu sẽ được chuyển sang bình chứa nitơ lỏng.
Dụng cụ, hóa chất và thiết bị sử dụng
- Dụng cụ: Đĩa peptri, kính hiển vi, lam kính, phiến kính, đèn cồn, ống nghiệm, que cấy, tăm bông…
+ Thuốc nhuộm gram (tím tinh thể, cồn 1000, nước rửa, thuốc Fuchsin (hoặc Safranin)
+ Chỉ thị màu như phenol đỏ, xanh metylen
+ Các thuốc nhuộm gram: tím tinh thể
+ Các hóa chất làm môi trường như: agar, đường đa lượng, vi lượng, khoanh giấy kháng sinh…
- Thiết bị: Tủ ấm, tủ sấy, cân phân tích, máy hấp vô trùng, máy cấy máu, tủ lạnh…
Địa điểm và thời gian tiến hành nghiên cứu
- Địa điểm: Phòng Vi sinh, Bệnh viện C Thái Nguyên
- Thời gian nghiên cứu: Từ ngày 01/01/2019 đến ngày 30/05/2019
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
Kết quả nghiên cứu tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên
Trong giai đoạn từ 01/01/2017 đến 30/5/2019, tổng số 553 mẫu bệnh đã được phân lập trực tiếp từ các bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên nhằm nghiên cứu tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh tại đây.
553 mẫu bệnh khảo sát có 215 mẫu được nghiên cứu hồi cứu theo hồ sơ bệnh án và
Từ 135 mẫu được nghiên cứu và phân lập trực tiếp trong khoảng thời gian từ 01/01/2019 đến 20/5/2019, đã xác định được 38 chủng vi khuẩn gây bệnh Trong tổng số 553 mẫu khảo sát, có 253 chủng vi khuẩn gây bệnh được phát hiện Kết quả chi tiết được trình bày trong bảng 4.1 và bảng 4.2.
Bảng 4.1 Tỷ lệ các loại vi khuẩn gây bệnh trên bệnh nhân điều trị tại Bệnh viện C Thái Nguyên
STT Loài vi khuẩn Giới tính Số bệnh nhân (n) Tỷ lệ %
Kết quả từ bảng 4.1 cho thấy tỷ lệ vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện được phân lập không đồng nhất, với tổng số 253 chủng vi khuẩn được xác định.
P.aeruginosa là cao nhất (chiếm 34,12%), sau đó là K pneumoniae (chiếm 15,47%) ,
S aureus (chiếm 10,31%), E.coli (chiếm 5,95 %), S pneumoniae (chiếm 5,50%),
Citrobacter spp accounts for 4.76% and Enterobacter spp for 4.36% of bacterial infections, while Acinetobacter baumannii and Enterococcus spp represent the lowest infection rates at 2.37% and 1.96%, respectively Other bacterial species contribute to 15.46% of infections.
Theo khảo sát năm 2009 của Nguyễn Sử Minh Tuyết tại Bệnh viện Nhân Dân Gia Định, tỷ lệ vi khuẩn gây nhiễm trùng bệnh viện cao nhất là E coli (29,7%), tiếp theo là Klebsiella spp (26,0%), P aeruginosa (13,7%), S aureus (6,0%) và Acinetobacter spp (5,0%) Nghiên cứu khác của Bùi Nghĩa Thịnh tại Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện với A baumannii đạt 32,3% và S aureus.
Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Duy và cộng sự vào năm 2016, 338 chủng vi khuẩn gây nhiễm trùng đã được phân lập từ 863 mẫu bệnh phẩm của bệnh nhân tại Bệnh viện Đa khoa Trung ương Thái Nguyên Kết quả cho thấy, E coli là vi khuẩn phổ biến nhất, chiếm 24,6% tổng số mẫu, tiếp theo là S aureus (17,8%), P aeruginosa (8,9%), S pneumoniae (8,0%) và Hemophilus spp (6,8%) Các loài vi khuẩn gây nhiễm trùng ít gặp hơn là K pneumoniae và A baumannii.
So sánh các kết quả khảo sát cho thấy năm vi khuẩn hàng đầu gây nhiễm trùng bệnh viện giống nhau: A baumannii, S aureus, Klebsiella spp., E coli, và P aeruginosa Tuy nhiên, tỷ lệ vi khuẩn gây bệnh khác nhau giữa các bệnh viện do sự khác biệt về vùng miền, thời gian và đặc điểm riêng Do đó, việc xác định tỷ lệ vi khuẩn tại từng bệnh viện là cần thiết, nhằm xây dựng chiến lược chống nhiễm trùng và sử dụng kháng sinh phù hợp.
Trong một nghiên cứu về 253 bệnh nhân nhiễm trùng vi khuẩn, có 173 bệnh nhân nam, chiếm 68,38%, trong khi 80 bệnh nhân nữ chiếm 31,62% Khảo sát của Bùi Nghĩa Thịnh năm 2009 tại khoa Hồi sức tích cực và Chống độc, Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng ở bệnh nhân nam là 51,08% và ở bệnh nhân nữ là 48,91%.
Kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Duy và cộng sự năm 2016 tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng ở bệnh nhân nam là 56,51% và ở bệnh nhân nữ là 43,49% Điều này cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng vi khuẩn phụ thuộc vào giới tính, với bệnh nhân nam có tỷ lệ nhiễm trùng cao hơn so với bệnh nhân nữ.
Bảng 4.2: Tỷ lệ bệnh nhân nhiễm trùng bệnh viện theo nhóm tuổi
STT Loài vi khuẩn Tuổi Số bệnh nhân(n)
Hình 4.1: Phân bố tình trạng nhiễm khuẩn theo nhóm tuổi
Kết quả từ bảng 4.2 và hình 4.1 chỉ ra rằng tỷ lệ nhiễm khuẩn ở bệnh nhân khác nhau theo độ tuổi Nhóm tuổi 50-79 chiếm tỷ lệ nhiễm cao nhất với 50,9%, tiếp theo là nhóm tuổi trên 80 với 23,3%, trong khi nhóm tuổi 10-29 có tỷ lệ nhiễm thấp nhất, chỉ đạt 6,34%.
Bệnh nhân trên 50 tuổi thường mắc nhiễm trùng do các vi khuẩn như P aeruginosa, K pneumoniae, S aureus và E coli Trong khi đó, trẻ em dưới 10 tuổi chủ yếu bị nhiễm trùng do P aeruginosa, S pneumoniae và Citrobacter spp Nghiên cứu của Mayon - White R T và cộng sự năm 1988 cho thấy tỷ lệ nhiễm trùng bệnh viện ở trẻ em dưới 1 tuổi là 13,5%, chủ yếu liên quan đến bệnh hô hấp Đối với người già trên 64 tuổi, tỷ lệ nhiễm trùng là 12,0%, với nguy cơ cao mắc các bệnh nhiễm trùng tiết niệu Kết quả khảo sát này cho thấy sự tương đồng trong việc trẻ em thường mắc bệnh hô hấp do ba tác nhân chính gây nhiễm khuẩn.
Nghiên cứu của Hoàng Doãn Cảnh và cộng sự năm 2014 tại Viện Pasteur, TP Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ bệnh nhân nhiễm vi khuẩn P aeruginosa cao nhất thuộc nhóm tuổi 50-79, chiếm 58,13%, trong khi nhóm tuổi 30-49 chỉ chiếm 4,65% Đáng chú ý, nhóm tuổi 30-49 có tỷ lệ nhiễm thấp nhất với 3,80% ở nhóm dưới 10 tuổi Kết quả cho thấy điểm tương đồng về tỷ lệ nhiễm cao nhất ở nhóm tuổi 50-79, nhưng cũng chỉ ra sự khác biệt rõ rệt với nhóm tuổi 30-49.
Khảo sát tình hình kháng thuốc của một số loại vi khuẩn phân lập tại Bệnh viện C Thái Nguyên
Trong nghiên cứu, chúng tôi đã phân lập và so sánh các vi khuẩn gây nhiễm trùng phổ biến tại bệnh viện, bao gồm E coli, S aureus, S pneumoniae và P aeruginosa Một nghiên cứu khác cho thấy A baumannii là vi khuẩn kháng thuốc phổ biến nhất, trong khi K pneumonia có khả năng sinh ra hai enzyme kháng các kháng sinh thông dụng là β-lactamase và Carbapenemase Do đó, chúng tôi đã tiến hành xây dựng kháng sinh đồ cho 6 chủng vi khuẩn này và đưa ra các kết quả đáng chú ý.
4.2.1 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli
Kết quả nghiên cứu về khả năng kháng thuốc của vi khuẩn E coli đối với các kháng sinh điều trị nhiễm trùng vi khuẩn tại Bệnh viện C Thái Nguyên được trình bày trong bảng 4.3 dưới đây.
Bảng 4.3: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Escherichia coli tại Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019
Nhóm kháng sinh Kháng sinh N Kháng Trung gian Không kháng n % n % N % β-lactam
Kết quả từ bảng 4.3 cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn E coli đối với nhóm β-lactam lên đến 65,1%, trong đó kháng mạnh nhất là Ampicillin với tỷ lệ 100% Đối với nhóm Quinolon, tỷ lệ kháng là 36,6% với các kháng sinh Ciprofloxacin và Ofloxacin E coli vẫn giữ được độ nhạy tương đối với nhóm Aminoglycosid và Imipenem, với tỷ lệ nhạy cảm lần lượt là 22,8% và 14,3%.
Theo báo cáo của Nguyễn Văn Kính và cộng sự (2008-2009), tỷ lệ E coli kháng Cephalosporin hàng 3 tại một số bệnh viện ở Việt Nam dao động từ 60,0-80,0%, trong khi tỷ lệ nhạy cảm với Carbapenem đạt trên 90% Nghiên cứu này cho thấy E coli kháng Cephalosporin từ 43,4-63,7% và nhạy cảm với Imipenem ở mức 95% So với nghiên cứu của Bùi Nghĩa Thịnh (2009) tại Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương, tỷ lệ kháng Gentamycine, Ceftriaxone và Imipenem trong nghiên cứu này đều thấp hơn 15-25% Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thi Thu Ba và cộng sự (2014) tại Bệnh Viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng cho thấy các kháng sinh nhóm β-lactam phổ rộng và Amikacine nhạy 100%, trong khi nghiên cứu này cho thấy tỷ lệ nhạy cảm của các kháng sinh β-lactam thấp từ 10% đến 40% Sự khác biệt này chứng tỏ mức độ kháng cao hơn tại các bệnh viện khảo sát, với kết quả E coli kháng β-lactam tương đồng với mức độ kháng thuốc ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam trong các năm 1999-2001.
Theo báo cáo năm 2008-2009 của Nguyễn Văn Kính và cộng sự, tỷ lệ E coli kháng Cephalosporin hàng 3 tại một số bệnh viện ở Việt Nam đạt 60,0-80,0%, trong khi tỷ lệ nhạy cảm với Carbapenem trên 90% Nghiên cứu này cho thấy E coli kháng Cephalosporin từ 43,4-63,7% và nhạy cảm với Imipenem đạt 95%, thấp hơn 15,0-20% so với nghiên cứu trước đó Bùi Nghĩa Thịnh (2009) ghi nhận E coli kháng Gentamycine (51,1%), Ceftriaxone (78,8%), Imipenem (20,0%), trong khi nghiên cứu hiện tại cho thấy tỷ lệ kháng thấp hơn lần lượt là 37,3%, 59,5%, và 3,3% Một nghiên cứu khác của Nguyễn Thi Thu Ba (2014) tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng cho thấy các kháng sinh nhóm β-lactam phổ rộng và Amikacine nhạy 100%, nhưng nghiên cứu này chỉ ra tỷ lệ nhạy cảm của các kháng sinh β-lactam thấp từ 10% đến 40%, và Amikacine nhạy 77% So sánh cho thấy mức độ kháng của E coli cao hơn tại bệnh viện hiện tại so với Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng, đồng thời tỷ lệ kháng cao tương đồng với các nghiên cứu trước đây về E coli gây bệnh ở cả 3 miền Bắc, Trung, Nam Việt Nam.
Theo khảo sát của Nguyễn Văn Duy và cộng sự năm 2016 tại Bệnh viện Đa Khoa Trung Ương Thái Nguyên [8] Tỷ lệ vi khuẩn E coli kháng cao nhất với
Tỷ lệ kháng của E coli đối với các kháng sinh như Piperacine và Ampicillin lần lượt là 83,9% và 81,2% Các kháng sinh khác như Cefotaxime, Cephalothin và Doxycycline có tỷ lệ kháng lần lượt là 66,7%, 64,0% và 62,3% Trong khi đó, Amikacine và Imipenem có tỷ lệ kháng thấp nhất, chỉ 14,3% và 3,3% Kết quả khảo sát của chúng tôi tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Duy và cộng sự, cho thấy E coli kháng mạnh với nhóm β-lactam, nhưng cũng có sự khác biệt trong tỷ lệ kháng.
Piperacine nhưng trong kết quả khảo sát của chúng tôi, không xuất hiện chủng
E.coli trong tổng số 63 chủng được khảo sát kháng với kháng sinh này
Hình 4.2: Kháng sinh đồ của vi khuẩn E coli phân lập được trên bệnh nhân
Chú thích: 1: Amikacin; 2: Amo+Aclavulanic; 3: Ampiciline; 5: Ampicillin+sulbactam; 4: Colistin; 5: Cefodoxime; 6: Cefpirom; 7: Ceftriaxone; 8: Cefusoxime sodium; 9: Cephalothin; 10: Ciprofloxacin; 11: Clindamycin; 12: Erythromycin; 13: Gentamycin; 14: Cefazolin; 15: Linezolid; 16: Meropenem; 17: Ofloxacin; 18: Oxacillin; 19: Tetracyclin; 20: Tobramycin; 21: Vancomycin; 22: Cefoperazol+sulbactam
4.2.2 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus
Bảng 4.4: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Staphylococcus aureus tại
Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019
Nhóm kháng sinh Kháng sinh N Kháng Trung gian
Kết quả ở bảng 4.4 cho thấy: Tỷ lệ kháng kháng sinh cao của vi khuẩn
S.aureus với các kháng sinh nhóm β-lactam chiếm 45,9%, trong đó đặc biệt kháng cao nhất với Cefotaxime với là 16,7% Staphylococcus aureus kháng với nhóm Quinolon chiếm 53,3% với các kháng sinh được thử nghiệm Ciprofloxacin, Ofloxacin S aureus kháng với Erythromycin là 91,7%, kháng cao với Colistin là 100%, kháng với Oxacillin là 50% S aureus còn nhạy với nhiều kháng sinh thuộc nhóm Aminoglycosid Số chủng nhạy cảm với nhóm kháng sinh này chiếm 63,41%, trong đó nhạy cao với Meropenem là 55,6%, Oxacillin là 50% và với Erythromycin là 8,3%
Theo nghiên cứu của Bùi Nghĩa Thịnh và cộng sự năm 2009, tỷ lệ S aureus nhạy với Vancomycin tại Bệnh viện Cấp Cứu Trưng Vương là 62,70%, tương đương với 60,7% trong nghiên cứu trước đó, cho thấy sự tương đồng không đáng kể Trong khi đó, nghiên cứu của Trần Đình Tuấn năm 2000 tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Đăk Lăk ghi nhận tỷ lệ nhạy cảm với Ampicillin là 80%, trong khi nghiên cứu hiện tại chỉ đạt 26,8%, với tỷ lệ kháng lên tới 57,1% Sự khác biệt này cho thấy khả năng kháng kháng sinh của S aureus ngày càng gia tăng Tại Bệnh viện C Thái Nguyên, S aureus kháng β-lactam với tỷ lệ cao, cụ thể là 100% với Penicillin và Colistin, 91,7% với Erythromycin, trong khi nhạy cảm với Amikacine đạt 85,7%.
Trong khảo sát của Nguyễn Văn Duy và cộng sự năm 2016 tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên, Tụ cầu vàng (S aureus) cho thấy kháng thuốc mạnh nhất với Metroxondazle (94,8%), tiếp theo là Erythromicin (78,8%), Cefptaxime (60,0%) và Ampicilllin (57,1%) Tuy nhiên, S aureus vẫn tương đối nhạy cảm với Amikacine, Netilmycine và Vancomycin, với tỷ lệ kháng lần lượt là 7,3%, 7,5% và 8,0% Kết quả khảo sát của chúng tôi cũng tương đồng với nghiên cứu của Nguyễn Văn Duy và cộng sự năm 2016.
Hình 4.3: Kháng sinh đồ của vi khuẩn S aureus phân lập được trên bệnh nhân Nguyễn Hồng P ngày 14/3/2019
Chú thích: 1: Amikacin; 2: Ceftazidime; 3: Chloramphenicol; 4: Ciprofloxacin; 5: Erythromycin; 6: Gentamycin; 7: Impenem; 8: Levofoxacin; 9: Meropenem; 10: Oxacillin; 11: Penicillin; 12: Sulphamethoxazole; 13: Tetracyclin; 14: Tobramycin; 15: Cefoperazone
4.2.3 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae
Bảng 4.5: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Streptococcus pneumoniae tại Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019
Nhóm kháng sinh Kháng sinh N Kháng Trung gian
Kết quả từ bảng 4.5 cho thấy vi khuẩn S pneumoniae có tỷ lệ kháng kháng sinh cao, đặc biệt là 100% kháng Amikacine và Tobramycin trong nhóm Aminoglycosid Tuy nhiên, vi khuẩn này vẫn nhạy cảm với nhóm Quinolon, đạt tỷ lệ 75%, trong đó Levofloxacin có tỷ lệ nhạy cảm cao nhất là 85,7% Đối với nhóm β-lactam, tỷ lệ nhạy cảm chỉ đạt 13,6%, trong khi Vancomycin và Fosfomycin có tỷ lệ nhạy cảm lần lượt là 100% và 83,3%.
Theo báo cáo vào năm 2000-2001 của Song J.H và cộng sự vào năm 2004
Tình hình kháng thuốc của S pneumoniae tại Châu Á cho thấy tỷ lệ kháng Penicillin là 71,4% và Erythromycin là 92,1% Nghiên cứu chỉ ra rằng tỷ lệ kháng Penicillin là 3,6% với độ nhạy cảm đạt 85,7%, trong khi tỷ lệ kháng Erythromycin là 100% So sánh hai kết quả này cho thấy sự tương đồng trong tỷ lệ kháng Erythromycin, nhưng cũng chỉ ra rằng tỷ lệ kháng Penicillin rất thấp, đồng thời độ nhạy cảm với Penicillin lại cao.
Kết quả trong khoảng thời gian từ 01/01/2019 đến 30/5/2019 không có bệnh phẩm nào từ bệnh nhân nhiễm vi khuẩn S Pneumoniae, do đó không có ảnh minh họa Dữ liệu trong bảng 4.5 được lấy từ kết quả hồi cứu của hai năm trước.
4.2.4 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa
Kết quả nghiên cứu tính kháng thuốc kháng sinh của các chủng vi khuẩn của Pseudomonas aeruginosa tại Bệnh viện C Thái Nguyên được thể hiện trong bảng 4.6 dưới đây
Kết quả từ bảng 4.6 cho thấy tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn P aeruginosa rất cao, với tỷ lệ kháng Cefuroxime đạt 100,0%, Chloramphenicol 97,6% và Ampicillin 91,7% Vi khuẩn này kháng nhóm β-lactam với tỷ lệ 66,5%, cao hơn nhóm Quinolon với 70,2% Tuy nhiên, P aeruginosa vẫn nhạy cảm với Colistin (70,6%), Imipenem (56,8%) và các kháng sinh khác như Amikacine, Gentamycine, Meropenem với tỷ lệ 45,4% Kết quả này tương đồng với nghiên cứu về kháng thuốc kháng sinh của trực khuẩn mủ xanh ở 155 bệnh nhân tại bệnh viện Trung ương Huế và Đại học Y Dược Huế.
Bảng 4.6: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Pseudomonas aeruginosa tại Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019
Nhóm kháng sinh Kháng sinh n Kháng Trung gian
Không kháng n % N % n % β-lactam và phối hợp
So với nghiên cứu của Hoàng Doãn Cảnh và cộng sự năm 2014 [5] về tình hình kháng kháng sinh của P aeruginosa phân lập được trên bệnh phẩm tại Viện Pauster,
Tại Thành phố Hồ Chí Minh, tỷ lệ kháng của P aeruginosa đối với Amikacin, Gentamycin và Imipenem lần lượt là 45,2%, 51,9% và 37,8%, thấp hơn so với tỷ lệ kháng của Viện Pasteur, nơi ghi nhận 42,9%, 55,6% và 46,2% Sự kháng kháng sinh cao của P aeruginosa có thể do cấu trúc vi khuẩn này có plasmid R hoạt động mạnh Nghiên cứu của Nguyễn Thị Thu Ba và cộng sự năm 2014 cho thấy P aeruginosa tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Đà Nẵng kháng hầu hết các kháng sinh với tỷ lệ trên 50%, đặc biệt là nhóm β-lactam và Aminoglycosid với tỷ lệ từ 50,0 - 75%, trong khi nghiên cứu này chỉ ra tỷ lệ kháng β-lactam là 66,5%, Aminoglycosid 49% và Quinolon 70,2% So với nghiên cứu trước, tỷ lệ kháng của nhóm β-lactam tương đồng nhưng tỷ lệ kháng của hai nhóm còn lại thấp hơn từ 10,0-15,0%.
Kết quả khảo sát của Nguyễn Văn Duy và cộng sự năm 2016 tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên cho thấy [8], 100% số chủng trực trùng mủ xanh
Pseudomonas aeruginosa kháng nhiều loại kháng sinh như Ampicillin, Amoxicillin kết hợp với Axit clavulanic, Cephalothin, Doxycycline, Rifampicin và Metronidazole, với tỷ lệ kháng cao nhất đối với Ceftriaxone (90,5%) Tuy nhiên, P aeruginosa lại nhạy cảm nhất với Imipenem và Amikacin, với tỷ lệ kháng lần lượt là 14,3% và 14,8% Kết quả nghiên cứu tại Bệnh viện C Thái Nguyên cho thấy sự khác biệt so với nghiên cứu của Nguyễn Văn Duy và cộng sự năm 2016 tại Bệnh viện Đa khoa Trung Ương Thái Nguyên về tình hình kháng thuốc của trực trùng mủ xanh.
Hình 4.4: Kháng sinh đồ của vi khuẩn S pneumoniae phân lập được trên bệnh nhân Đặng Văn Đ ngày 18/02/2019
Chú thích: 1: Amikcacin; 2: Aztreonam; 3: Cefpirom; 4: Ceftazidime; 5: Ciprofloxacin; 6: Colistin+sulphat; 7: Gentamycin; 8: Imipenem; 9: Levofloxacin; 10: Meropenem; 11: Ofloxacin; 12: Piperacillin+Tazobactam; 13: Ticarcillin; 14: Tobramycin; 15: Cefoperazol+Sulbactam
4.2.5 Tỷ lệ kháng kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella pneumonae
Bảng 4.7: Tỷ lệ kháng thuốc kháng sinh của vi khuẩn Klebsiella pneumoniae tại
Bệnh viện C Thái Nguyên từ 01/01/2019 đến 30/5/2019
Nhóm kháng sinh Kháng sinh n Kháng Trung gian Không kháng n % n % n % β-lactam
Amoxicilin 24 20 83,3 2 8,3 2 8,3 Doxyciline 27 16 59,3 4 14,8 7 25,9 Ampicillin 17 16 94,1 0 0,0 1 5,9 Ceftriaxone 25 20 80,0 2 8,0 3 12,0 Cefazidime 37 22 59,5 5 13,6 10 27,0 Cefotaxime 25 19 76,0 1 4,0 5 20,0
Kết quả ở bảng 4.7 cho thấy: Tỷ lệ kháng kháng sinh cao của vi khuẩn