Các số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất KẾT QUẢ MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ THAY THẾ NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE TẠI TUYẾ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y TẾ CÔNG CỘNG
HOÀNG BÌNH YÊN
KẾT QUẢ MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ THAY THẾ
NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE
TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA, NĂM 2015-2017
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2021
Trang 2BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO
TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA, NĂM 2015-2017
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ CHUYÊN NGÀNH: 62.72.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
HÀ NỘI – 2021 LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các
số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất
KẾT QUẢ MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ THAY THẾ
NGHIỆN CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG THUỐC METHADONE
TẠI TUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA, NĂM 2015-2017
CHUYÊN NGÀNH: Y TẾ CÔNG CỘNG
MÃ SỐ: 62.72.03.01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ Y TẾ CÔNG CỘNG
GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
1 PGS, TS PHẠM ĐỨC MẠNH
2 PGS, TS HỒ THỊ HIỀN
HÀ NỘI – 2021
Trang 3Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu do chính tôi thực hiện Các
số liệu, kết quả trong luận án là trung thực và chưa được ai công bố trong bất kỳcông trình nào khác
Tác giả luận án
Trang 4Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất tới Ban giám hiệu Trường Đại học Y tế công cộng, Phòng Đào tạo sau đại học, Cục Phòng chống HIV/AIDS, Trung tâm phòng chống HIV/AIDS Thanh Hóa, Trung tâm Kiểm soát bệnh tật Thanh Hóa, Trung tâm Y tế huyện Quan Hóa, Trạm Y tế xã Thành Sơn, Trạm Y
tế xã Trung Sơn, các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập.
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới thầy PGS, TS Phạm Đức Mạnh, cô PGS, TS Hồ Thị Hiền, những người thầy, cô tâm huyết đã tận tình hướng dẫn, động viên khích lệ, dành nhiều thời gian trao đổi và định hướng cho tôi trong quá trình thực hiện luận án.
Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành tới Sở Y tế Thanh Hóa, Chi cục phòng chống tệ nạn xã hội tỉnh Thanh Hóa, Uỷ ban nhân dân huyện Quan Hóa,
Uỷ ban nhân dân xã Thành Sơn, Uỷ ban nhân dân xã Trung Sơn đã ủng hộ, phối hợp, tạo điều kiện và chia sẻ thông tin, tài liệu cho nghiên cứu.
Cuối cùng, tôi xin gửi tấm lòng ân tình tới gia đình, bố mẹ, vợ và các con tôi là nguồn động viên và truyền nhiệt huyết để tôi hoàn thành luận án.
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 5giảm miễn dịch mắc phải)ARV Antiretroviral (Thuốc kháng vi rút)
ATS Amphetamine Type Stimulant (các chất kích thích thần kinh
nhóm Amphetamine, còn gọi là Ma túy tổng hợp)BN
BKT
BCS
CDTP
Bệnh nhânBơm kim tiêmBao cao suChất dạng thuốc phiệnCSĐT
Dịch vụ xã hộiĐiều trị
Đối tượng nghiên cứuFDA
HBV Hepatitis B virus (Vi rút gây bệnh viêm gan B)
HCV Hepatitis C virus (Vi rút gây bệnh viêm gan C)
HIV Human immunodeficiency virus: (Vi rút gây ra hội chứng suy
giảm miễn dịch mắc phải ở người)IBBS Integrated Biological and Behavioral Surveillance (Giám sát
kết hợp hành vi và các chỉ số sinh học) LĐ-TB&XH Lao động - Thương binh và xã hội
Trang 6SAMHSA Substance Abuse and Mental Health Services
Administration(Cục Quản lý Lạm dụng chất gây nghiện vàDịch vụ sức khỏe tâm thần của Hoa Kỳ)
STI Sexually Transmitted Infection (Nhiễm trùng lây qua đường
tình dục)TCMT Tiêm chích ma tuý
THCS Trung học cơ sở
TYT
TTYT
Trạm Y tếTrung tâm Y tếUNAIDS The Joint United Nations Programme on HIV/AIDS (Chương
trình Phối hợp của Liên Hợp Quốc về HIV/ AIDS)UNODC United Nations Office on Drugs and Crime (Cơ quan Phòng
chống Ma túy và Tội phạm của Liên Hợp Quốc)VCT Voluntary Counseling and Testing (Tư vấn xét nghiệm tự
nguyện)WHO
Trang 71.1.8 Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý 5
1.1.9 Vi phạm pháp luật 5
1.1.10 Chất lượng cuộc sống 6
1.2.1 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới 6
1.2.2 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam 7
1.2.3 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hoá 8
1.3.1 Đặc điểm kinh tế và xã hội của người nghiện ma túy tại Việt Nam 9
1.3.2 Đặc điểm về sử dụng ma túy và hành vi nguy cơ 10
1.3.3 Tác động của ma tuý đến sức khỏe, gia đình và xã hội11
1.4.1 Các nguyên tắc trong điều trị nghiện ma túy 13
1.4.2 Điều trị nghiện ma túy trên thế giới 13
1.4.3 Điều trị nghiện ma túy tại Việt Nam 15
1.5 ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE 181.5.1 Khái niệm về Methadone 18
1.5.7 Duy trì điều trị Methadone 19
1.5.8 Lịch sử phát triển của điều trị thay thế CDTP bằng Methadone 20
1.6.1 Mô hình điều trị Methadone trên Thế giới 21
1.6.2 Mô hình điều trị Methadone tại Việt Nam 23
1.6.3 Các nhóm chỉ số chính đánh giá kết quả của chương trình 26
1.7.1 Làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp26
1.7.2 Giảm hành vi tiêm chích ma túy và dùng chung bơm kim tiêm 27
Trang 81.7.5 Cải thiện sức khỏe cho bệnh nhân tham gia điều trị 29
1.7.6 Làm giảm hành vi vi phạm pháp luật 30
1.7.7 Làm tăng cơ hội có việc làm 30
1.7.8 Hiệu quả kinh tế của điều trị thay thế bằng Methadone 30
1.7.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến chương trình điều trị Methadone 31
1.8.1 Một số thông tin về huyện Quan Hóa và 2 xã Thành Sơn, Trung Sơn35
1.8.2 Tình hình nghiện ma túy và dịch HIV/AIDS tại huyện Quan Hoá 35
1.8.3 Tình hình điều trị Methadone tại huyện Quan Hoá 36
1.8.4 Mô hình thí điểm điều trị Methadonetại xã miền núi tỉnh Thanh Hoá36
2.1.1 Địa điểm nghiên cứu 40
2.1.2 Đối tượng nghiên cứu 41
2.1.3 Thời gian nghiên cứu 41
2.2.1Thiết kế nghiên cứu 42
2.2.2 Mẫu nghiên cứu 43
2.2.3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 44
2.2.4 Phương pháp thu thập số liệu và công cụ nghiên cứu 52
2.2.5 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 53
2.2.6 Đạo đức trong nghiên cứu55
2.2.7 Các biện pháp khống chế sai số 55
3.1 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ Ở NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ TRƯỚCKHI THAM GIA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN
3.1.1 Đặc điểm nhân khẩu, xã hội, việc làm của đối tượng nghiên cứu 56
Trang 93.1.4 Kết quả xét nghiệm trước khi điều trị Methadone 61
3.1.5 Tình trạng sức khỏe của đối tượng nghiên cứu 62
3.1.6 Chất lượng cuộc sống và sự hài lòng về sức khỏe 63
3.1.7 Đặc điểm liên quan đến tiếp cận với dịch vụ y tế tại trạm y tế 64
3.2 KẾT QUẢ CỦA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠITUYẾN XÃ, HUYỆN QUAN HÓA, TỈNH THANH HÓA (2015-2017) 653.2.1 Tình trạng tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng điều trịMethadone 65
3.2.2 Kết quả về giảm sử dụng ma tuý của đối tượng nghiên cứu 66
3.2.3 Kết quả về giảm các hành vi nguy cơ, dự phòng lây nhiễm HIV, viêm gan
B, viêm gan C của đối tượng nghiên cứu 68
3.2.4 Kết quả về tăng sự tiếp cận xét nghiệm HIV và điều trị ARV70
3.2.5 Kết quả đạt được về làm giảm phạm tộivà bạo lực gia đình 72
3.2.6 Kết quả về thay đổi khả năng lao động và thu nhập của bệnh nhân 73
3.2.7 Kết quả về thay đổi sức khỏe và thay đổi chất lượng cuộc sống 76
3.2.8 Một số yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị Methadone tại xã Thành Sơn
và Trung Sơn79
3.2.9 Thuận lợi, khó khăncủa mô hình điều trị Methadone tại trạm y tế 85
3.2.10 Tính phù hợp và khả năng duy trì của mô hình 89
4.1THỰC TRẠNG SỬ DỤNG MA TUÝ CỦA BỆNH NHÂN TRƯỚC KHITHAM GIA MÔ HÌNH THÍ ĐIỂM ĐIỀU TRỊ METHADONE TẠI TUYẾN XÃ,
4.1.1 Đặc điểm của người nghiện ma tuý tại hai xã Thành Sơn và Trung Sơn93
4.1.2 Thực trạng sử dụng ma tuý, cai nghiện và tái nghiện của đối tượng
nghiên cứu 97
4.1.3 Hành vi nguy cơ và kết quả xét nghiệm của đối tượng nghiên cứu 100
4.1.4 Tình trạng sức khỏe và chất lượng cuộc sống của đối tượng nghiên cứu
103
4.1.5 Thực trạng tiếp cận, sử dụng dịch vụ can thiệp giảm hại và y tế 104
Trang 104.2.1 Tình hình bệnh nhân tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng 105
4.2.2 Kết quả đạt được về giảm sử dụng ma túy 107
4.2.3 Kết quả giảm hành vi nguy cơ và dự phòng lây nhiễm HIV, VGB, VG C
110
4.2.4 Kết quả làm giảm phạm tội trong đối tượng tham gia điều trị 113
4.2.5 Kết quả làm tăng khả năng lao động, cơ hội có việc làm và kinh tế 115
4.2.6 Kết quả cải thiện về sức khỏe tâm thần, thể chất, quan hệ tình dục và
thay đổi chất lượng cuộc sống 116
4.2.7 Các yếu tố ảnh hưởng đến kết quả điều trị Methadone tại trạm y tế xã
118
4.2.8 Tính phù hợp, hạn chế và khả năng duy trì của mô hình 122
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3 1 Đặc điểm về giới tính và tuổi 56
Trang 11Bảng 3 4 Mâu thuẫn trong gia đình và hành vi vi phạm pháp luật 58
Bảng 3 5 Loại ma túy và thời gian sử dụng 58
Bảng 3 6 Tuổi sử dụng ma túy lần đầu và cách sử dụng 59
Bảng 3 7 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu đã từng tham gia cai nghiện ma túy 60
Bảng 3 8 Thời gian đối tượng nghiên cứu tái nghiện sau cai nghiện 60
Bảng 3 9 Lý do tái nghiện ma túy 60
Bảng 3 10 Hành vi sử dụng chung bơm kim tiêm 61
Bảng 3 11 Quan hệ tình dục trong vòng một tháng qua 61
Bảng 3 12 Kết quả xét nghiệm chất ma túy trong nước tiểu trước điều trị 61
Bảng 3 13 Tình trạng nhiễm HIV, viêm gan B và viêm gan C trước khi điều trị 62
Bảng 3 14 Vấn đề về sức khỏe tâm thần của đối tượng nghiên cứu 62
Bảng 3 15 Đối tượng nghiên cứu tự đánh giá về chất lượng cuộc sống 63
Bảng 3 16 Đối tượng nghiên cứu tự đánh giá về mức độ hài lòng với sức khỏe 63
Bảng 3 17 Thực trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ can thiệp giảm hại 64
Bảng 3 18 Thực trạng tiếp cận và sử dụng dịch vụ y tế 64
Bảng 3 19 Đặc điểm về tiếp cận các dịch vụ y tế của đối tượng nghiên cứu 64
Bảng 3 20 Tình trạng tham gia nghiên cứu sau 12 tháng và 24 tháng 65
Bảng 3 21 Thông tin về dùng lại CDTP (heroin) 67
Bảng 3 22 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu dùng chung BKT trước và sau điều trị 68
Bảng 3 23 Thay đổi hành vi nguy cơ liên quan đến quan hệ tình dục 69
Bảng 3 24 Tình trạng nhiễm HIV, viêm gan B, C 69
Bảng 3 25 Tỷ lệ bệnh nhân tiếp cận, sử dụng dịch vụ tư vấn XN HIV, điều trị ARV 70
Bảng 3 26 Tỷ lệ có hành vi vi phạm pháp luật và bạo lực gia đình trước và sau ĐT 72
Bảng 3 27 Thay đổi khả năng lao động trước và sau điều trị 73
Bảng 3 28 Thay đổi chi phí cho việc mua ma túy và thu nhập trung bình của BN 75
Bảng 3 29 Tỷ lệ sử dụng ma túy trong quá trình điều trị và tỷ lệ bỏ trị 79
Bảng 3 30 Một số yếu tố ảnh hưởng đến sử dụng ma túy (đơn biến) 79
Trang 12Bảng 3 33 Một số yếu tố liên quan đến bỏ điều trị (đa biến) 84Bảng 3 34 Thông tin về cán bộ y tế tại cơ sở điều trị 90
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Trang 13Biểu 1 2 Điều trị nghiện ma túy theo khu vực trên toàn cầu 15
Biểu đồ 3 1 Tiền sử bệnh tật của đối tượng nghiên cứu 62
Biểu đồ 3 2 Một số nguyên nhân bỏ điều trị của đối tượng nghiên cứu 66
Biểu đồ 3 3 Tỷ lệ dương tính với CDTP khi xét nghiệm nước tiểu 66
Biểu đồ 3 4 Tỷ lệ bệnh nhân có tiêm chích ma túy 67
Biểu đồ 3 5 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có việc làm 74
Biểu đồ 3 6 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu có vấn đề sức khỏe tâm thần 76
Biểu đồ 3 7 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu hài lòng với sức khỏe 77
Biểu đồ 3 8 Tỷ lệ đối tượng nghiên cứu tự đánh giá CLCS tốt 77
DANH MỤC CÁC HÌNH Hình 1 Mô hình cơ sở điều trị Methadone tại Việt Nam 24
Trang 14Hình 3 Tổ chức trạm y tế 37
Hình 4 Khung lý thuyết nghiên cứu 39
Hình 5 Bản đồ địa bàn nghiên cứu 40
Hình 6 Sơ đồ nghiên cứu can thiệp 42
Hình 7 Cơ sở điều trị Methadone tại trạm y tế xã 47
Trang 15ĐẶT VẤN ĐỀ
Sử dụng bất hợp pháp các chất dạng thuốc phiện (CDTP) như thuốc phiện,Morphin, Heroin… đã gây ra vấn đề sức khỏe, các gánh nặng bệnh tật và liên quanđến tử vong Điều này là do mối quan hệ giữa sử dụng ma túy với sức khỏe tâmthần, tiêm chích ma túy, HIV/AIDS, viêm gan và tử vong do quá liều[1] Việt Nam
đã triển khai các hình thức cai nghiện tại cộng đồng, gia đình và các trung tâm chữabệnh – giáo dục – lao động xã hội với biện pháp bắt buộc và tự nguyện Tuy nhiên,
tỷ lệ tái nghiện cao (>90%) sau khi hết thời gian cai nghiện khoảng 2 năm Đến năm
2008, Việt Nam thí điểm chương trình điều trị nghiện các CDTP bằng methadonetại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh Chương trình thí điểm cho thấy điều trịmethadone rất hiệu quả trong việc kiểm soát nghiện heroin và được chấp thuận để
mở rộng dịch vụ ra các tỉnh, thành khác trong cả nước[2] Nghiên cứu của HoàngĐình Cảnh (2011) ở mô hình thí điểm tại thành phố Hồ Chí Minh và Hải Phòng từ11/2009 đến 11/2011, hiệu quả của mô hình đã được chứng minh qua kết quả giảm
sử dụng ma túy từ 98,2% trước khi điều trị xuống 12,4% sau 24 tháng; không pháthiện trường hợp nhiễm mới HIV; vi phạm pháp giảm từ 40,8% xuống 1,6% sau 24tháng
Tại các tỉnh miền núi phía Bắc, trong đó có Thanh Hóa thường có điều kiệnkinh tế khó khăn, đường xá đi lại không thuận lợi, là nơi sinh sống của đa số làđồng bào dân tộc thiểu số và người bệnh nơi đây gặp nhiều khó khăn trong tiếp cậnvới dịch vụ chăm sóc sức khỏe Nghiên cứu của Nguyễn Thị Minh Tâm (2015) tại 3tỉnh miền núi phía Bắc từ tháng 10/2014 đến 12/2015, kết quả chỉ ra rằng yếu tốkhoảng cách đi uống thuốc hàng ngày ảnh hưởng không nhỏ đến việc duy trì điều trịcủa bệnh nhân Trong nghiên cứu khác của Phạm Đức Mạnh (2014) tại một số tỉnhmiền núi phía Bắc cũng cho thấy việc tiếp cận điều trị Methadone gặp nhiều khókhăn đối với bệnh nhân ở vùng sâu, vùng xa và nêu lên sự cần thiết phải nâng cao
độ bao phủ và bền vững của chương trình Methadone[3]
Quan Hóa là một huyện miền núi phía tây tỉnh Thanh Hoá, là địa bàn trọngđiểm về HIV/AIDS và tiêm chích ma tuý Đến 31/12/2017, toàn huyện có 440người nhiễm HIV còn sống và ước tính trên 700 người nghiện ma tuý; tình hình vận
Trang 16chuyển, buôn bán và sử dụng ma túy trên địa bàn diễn ra hết sức phức tạp và khókiểm soát; trình độ văn hoá thấp cùng với nhiều thách thức xã hội và kinh tế nhưnghèo đói, lạm dụng chất ma túy, bất bình đẳng trong chăm sóc y tế cũng là nguy cơgián tiếp làm lây truyền HIV trong đồng bào dân tộc thiểu số; lây nhiễm HIV chủyếu qua tiêm chích ma tuý (56,7%); đối tượng nghiện tập trung chủ yếu tại các xãThành Sơn, Trung Sơn Trong khi đó, cơ sở điều trị Methadone lại nằm ở Trungtâm Y tế huyện, người nghiện không thể đến nhận dịch vụ điều trị Methadone dokhoảng cách từ nhà đến nơi điều trị từ 50-60 km Trước thực trạng đó, từ tháng 5năm 2015, ngành Y tế Thanh Hóa đã cho triển khai cơ sở điều trị methadone tạiTrạm Y tếxãThành Sơn và xã Trung Sơn Đến thời điểm năm 2015, tại Việt Nam,
mô hình cơ sở điều trị Methadone đều đặt tại Trung tâm phòng, chống HIV/AIDS,Trung tâm Y tếhuyện/thị/ thành phố việc nghiên cứu mô hình điều trị Methadonetại tuyến xã, nhằm đưa dịch vụ điều trị Methadone đến gần người bệnh, thuận tiệnhơn trong tiếp cận làm tăng khả năng tuân thủ điều trị là cần thiết, có ý nghĩa
Đề tài luận án “Kết quả mô hình thí điểm điều trị thay thế nghiện các chất
dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại tuyến xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa năm 2015-2017”.
Từ các kết quả ở nghiên cứu này có thể rút ra những bài học, kết quả nghiêncứu có giá trị tham khảo phục vụ công tác hoạch định chính sách, định hướng chochiến lược phòng chống HIV/AIDS trong tương lai, đồng thời đóng góp thông tin
có giá trị cho đào tạo và nghiên cứu khoa học
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
Trang 17Luận án có các mục tiêu sau:
1 Mô tả thực trạng sử dụng ma túy ở người nghiện ma túy trước khi tham giađiều trị Methadone tại 2 xã, huyện Quan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015 2017”
2 Đánh giá kết quả, tính phù hợp và khả năng duy trì mô hình thí điểm điều trị
thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc Methadone tại 2 xã, huyệnQuan Hóa, tỉnh Thanh Hóa, năm 2015-2017
CHƯƠNG I TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 CÁC KHÁI NIỆM
1.1.1 Chất gây nghiện và chất ma tuý
Trang 18Chất gây nghiện khi đưa vào cơ thể dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chếthần kinh hoặc kích thích mạnh mẽ hệ thần kinh, làm giảm đau gây ảo giác, dẫn đếnthay đổi một hoặc nhiều chức năng của cơ thể người sử dụng [8, 9] Chất ma túy làcác chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục do Chínhphủ ban hành [6, 7].
1.1.2 Chất dạng thuốc phiện (CDTP)
Chất dạng thuốc phiện (opiats, opioid) là tên gọi chung cho nhiều chất nhưthuốc phiện, Morphine, Heroin, Methadone, Buprenorphine, Codein, Pethidine,LAAM… có biểu hiện lâm sàng tương tự và tác động vào cùng điểm tiếp nhậntương tự ở não[6, 8, 9]
1.1.3 Khái niệm về nghiện chất và người nghiện CDTP
Nghiện chất là tình trạng bắt buộc phải sử dụng chất gây nghiện bất chấpnhững tác hại của chúng Người nghiện CDTP là người sử dụng lặp đi lặp lại nhiềulần CDTP với liều lượng ngày càng tăng, dẫn đến trạng thái nhiễm độc chu kỳ, mạntính, bị lệ thuộc về thể chất và tâm thần vào chất đó[8, 9]
1.1.4 Cai nghiện
Cai nghiện là ngừng sử dụng hoặc giảm đáng kể chất ma túy mà ngườinghiện thường sử dụng (nghiện) dẫn đến việc xuất hiện hội chứng cai, vì vậy bệnhnhân cần phải được điều trị[8, 9]
1.1.5 Hội chứng cai và tái nghiện
Hội chứng cai là trạng thái phản ứng của cơ thể khi cắt hoặc giảm chất ma tuýđang sử dụng ở những người nghiện ma tuý Biểu hiện lâm sàng của hội chứng caikhác nhau phụ thuộc vào loại ma tuý đang sử dụng[8, 9]
Tái nghiện là sử dụng ma túy trở lại đáp ứng cơn xung động thèm muốn xuấthiện sau khi đã ngưng sử dụng ma túy, hay sau khi điều trị hoặc cai nghiện với kếtquả không còn triệu chứng cai [8, 9]
1.1.6 Điều trị thay thế Methadone và cơ sở điều trị Methadone
Điều trị nghiện các CDTP bằng thuốc thay thế là việc sử dụng thuốc thay thếMethadone để điều trị cho người nghiện CDTP [8, 9]
Trang 19Cơ sở điều trị thay thế nghiện các CDTP bằng thuốc Methadone gọi tắt là cơ
sở điều trị Methadone Cơ sở điều trị nghiện Methadone là đơn vị điều trị nghiệnCDTP bằng thuốc Methadone cho người nghiện CDTP, bao gồm cả việc cấp phátthuốc Methadone
1.1.7 Tuân thủ điều trị Methadone
Tuân thủ điều trị Methadone được định nghĩa là mức độ người bệnh dùngthuốc Methadone và thực hành tuân theo y lệnh của thầy thuốc[6, 9]
1.1.8 Bỏ liều, bỏ điều trị Methadone và tái sử dụng ma tuý
Trong chương trình điều trị Methadone, bỏ liều là tình trạng bệnh bệnh nhânkhông thực hiện uống thuốc hàng ngày: Bỏ 1-3 liều Methadone liên tục, xử lý uốngnhư liều đang uống; bỏ từ 4-5 liều Methadone liên tục uống liều bằng ½ liều đanguống; bỏ từ 6 liều liên tục, xử lý khởi liều lại
Bỏ trị là tình trạng bệnh nhân bỏ liều liên tục trên 30 ngày và không quay lạitham gia điều trị[6, 9]
Tái sử dụng ma túy là sử dụng ma túy trở lại (dù chỉ một lần) để đáp ứng cơnxung động thèm muốn xuất hiện
1.1.9 Vi phạm pháp luật
Trang 20Vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật, có lỗi, do chủ thể có năng lựctrách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật bảo
vệ Vi phạm pháp luật có các dấu hiệu cơ bản: 1) Hành vi của con người gồm hành
vi hành động và hành vi không hành động; 2) Là hành ví trái quy định của phápluật Tính trái pháp luật của hành vi thể hiện ở chỗ làm không đúng điểu pháp luậtcho phép, không làm hoặc làm không đầy đủ điều pháp luật bắt buộc phải làm hoặclàm điều mà pháp luật cấm; 3) Là hành vi có chứa đựng lỗi của chủ thể - trạng tháitâm lí thể hiện thái độ tiêu cực của chủ thể đối với hành vi của mình ở thời điểm chủthể thực hiện hành vi trái pháp luật; 4) Là hành vi do chủ thể có năng lực tráchnhiệm pháp lí thực hiện (nếu chủ thể hành vi trái pháp luật là cá nhân thì người đóphải đến độ tuổi chịu trách nhiệm pháp lí theo luật định, không mắc các bệnh tâmthần, có khả năng nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi củamình và hậu quả pháp lí của nó)
1.2 TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TUÝ VÀ NHIỄM HIV/AIDS
1.2.1 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Tình hình nghiện ma tuý:Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống Ma túy và
Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) năm 2017, ước tính có khoảng 246 triệungười, tương đương với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến
64 đã từng sử dụng ma túy trái phép Có khoảng trên 13 triệu người tiêm chích matúy (PWID), ít nhất 190.000 trường hợp bị tử vong do sử dụng ma túy và đa phần là
sử dụng các chất dạng thuốc phiện
Việc sử dụng các chất dạng thuốc phiện(thuốc phiện, Heroin) bằng cách tiêmchích vẫn là nguyên nhân dẫn đến gia tăng lây nhiễm HIV ở các nước trong khu vựcĐông Nam Á Việc sử dụng ma túy gây ra ảnh hưởng đến sức khỏe như sốc quá
Trang 21liều; chấn thương do tai nạn, hành vi bạo lực; tình trạng nghiện ma túy Các ảnhhưởng mãn tính như là các bệnh (bệnh mạch vành, xơ gan,…), các bệnh lây truyềnqua đường máu do vi rút (HIV, viêm gan B, viêm gan C ) và các rối loạn tâmthần[12-14]
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Trên toàn cầu, hết năm 2019, ước tính có 38 triệu
người (31,1–43,9 triệu người) sống chung với HIV, trong đó có 1,8 triệu (1,3–2,4triệu) người là trẻ em (<15 tuổi) Đa số những người nhiễm với HIV sống tại cácnước thu nhập thấp và trung bình Ước tính có khoảng 35 triệu người đã tử vong docác nguyên nhân liên quan đến HIV, riêng năm 2019, có 940 000 (670 000–1,3triệu) trường hợp tử vong Theo UNODC, trong hơn 13 triệu người tiêm chích matúy, có khoảng 1,6 triệu người (từ 1,2 đến 3,9 triệu người) nhiễm HIV, chiếmkhoảng 11,5% số người tiêm chích ma túy trên toàn cầu Tình trạng nhiễm vi rútviêm gan B và viêm gan C trong nhóm TCMT cũng ở mức cao: Tỷ lệ nhiễm viêmgan C ở nhóm TCMT trên toàn cầu ước tính 51,0%, tỷ lệ nhiễm viêm gan B trongnhóm TCMT là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người (số liệu được tổng hợp từ báocáo của 63 quốc gia)[14, 15]
1.2.2 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Tình hình nghiện ma tuý: Theo báo cáo năm 2015, toàn quốc thống kê được
201.180 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý, đến 12/2020, cả nước đã có 246.500người nghiện có hồ sơ quản lý, trong đó có 38.244 người đang cai nghiện bắt buộctrong các cơ sở cai nghiện ma túy; gần 80% có sử dụng ATS và chất hướng thầnmới Tại một số địa phương, tỷ lệ người nghiện sử dụng ATS và chất hướng thần rấtcao như Đồng Nai 87%, Đà Nẵng 85%, Trà Vinh 90,7 % Thời gian gần đây, ngoài
ma túy truyền thống và ATS thì các loại ma túy khác như: Cần sa, “cỏ Mỹ” xuấthiện ngày càng nhiều Độ tuổi sử dụng ma tuý dưới 16 chiếm 0,1%; từ 16 đến dưới
30 là 49%; từ 30 tuổi trở lên chiếm 50,9%; hầu hết là nam giới (96%), nữ chiếm4% Đa phần người nghiện ma tuý ở trong cộng đồng chiếm tỷ lệ 64,5%; số ngườiđang cai nghiện trong các cơ sở Chữa bệnh, Giáo dục, Lao động xã hội (22,4%); sốđang trong các trại giam, trại tạm giam, nhà tạm giữ (13,1%) Trong số các loại matuý được báo cáo, sử dụng Heroin vẫn là chủ yếu chiếm 75%; ma túy tổng hợp
Trang 22(10%); thuốc phiện (7%); cần sa (1,7%) Công tác điều trị nghiện ở nước ta rất đượcquan tâm, đang được từng bước xã hội hóa và số người được tiếp cận dịch vụ cainghiện ngày càng tăng Tuy nhiên tỷ lệ tái nghiện vẫn còn ở mức cao (80%), thậmchí có nơi trên 95%[13, 14, 16, 17]
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Ở Việt Nam dịch HIV/AIDS tập trung chủ yếu ở
ba nhóm quần thể có hành vi nguy cơ cao: Nhóm tiêm chích ma túy (NCMT), nhómnam tình dục đồng giới (MSM) và nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD) Theo kết quảgiám sát trọng điểm 2015, tỷ lệ hiện nhiễm HIV trong nhóm NCMT, PNMD, MSMtương ứng là 9,3%, 2,7% và 5,1% Dịch HIV/AIDS đã xảy ra ở tất cả tỉnh, thànhphố với 99,8% số quận/huyện và trên 80,3% số xã/phường Tại các thành phố lớnnhư Hà Nội và Hồ Chí Minh có số lượng lớn người nhiễm HIV với diễn biến dịchphức tạp, khó kiểm soát Có số lượng lớn người nhiễm HIV tập trung tại các tỉnhmiền núi phía Bắc, vùng đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, các tỉnhmiền núi Tây Bắc, các huyện miền núi Nghệ An và Thanh Hóa[14, 18-21]
Từ thời điểm 31/12/2015, toàn quốc có 202.437 người nhiễm HIV đang cònsống với HIV được báo cáo, 85.194 người nhiễm HIV đang giai đoạn AIDS và đã
có trên 86.716 người nhiễm HIV đã tử vong Trong số những người được báo cáoxét nghiệm mới phát hiện nhiễm HIV trong năm 2015, nữ chiếm 34,1%, nam chiếm65,9%, lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, lây truyền qua đường máuchiếm 36,1%, mẹ truyền sang con chiếm 2,8%, không rõ chiếm 10,4% Kết quảgiám sát trọng điểm năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và MSM là 5,2%[16]
Đến hết 31/12/2020, theo báo cáo của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trungương thì cả nước có 213.008 người nhiễm HIV hiện đang còn sống và 107.812người nhiễm HIV đã tử vong Trung bình mỗi năm cả nước phát hiện thêm 11.000
ca nhiễm HIV và 2.800 người tử vong Số người mới phát hiện nhiễm HIV tậptrung chủ yếu ở độ tuổi 16 - 29 (40,1 %) và 30- 39 (33,8 %) Đường lây chủ yếu làquan hệ tình dục không an toàn (67,2 %) và qua đường máu (16,6 %), mẹ sang con1,8 % Tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm nghiện chích ma túy tại 20 tỉnh triển khai giám
Trang 23sát trọng điểm HIV năm 2019 chiếm 12,78 % có xu hướng giảm so với năm 2017(13,98 % )[14].
1.2.3 Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hoá
Tình hình nghiện ma tuý: Thanh Hóa là tỉnh có dân số đông thứ 3 trên toàn
quốc (3.400.439 người), với diện tích 11.120 km2 rộng bao gồm 27 huyện thị thànhphố và 637 xã phường Tỉnh có biên giới với nước Lào và tiếp giáp 4 tỉnh khác(Hoà Bình, Nghệ An, Sơn La, Ninh Bình) là điều kiện thuận lợi gia tăng tình trạngbuôn bán, sử dụng ma tuý của tỉnh Theo số liệu của công an tỉnh đến hết 12/2015
có 6.530 người nghiện có hồ sơ quản lý tại và hơn 1.000 người nghi nghiện trong đógần 80% trong độ tuổi từ 18 – 45 và chủ yếu là nam giới Số người nghiện đangsinh sống tại cộng đồng dân cư là 3.319 người Loại ma tuý thường dùng nhiều nhất
là Heroin chiếm 90,9% còn lại dùng thuốc phiện (3,8%), dùng nhiều loại (4,4%)còn lại 0,9% dùng ma tuý tổng hợp, cần sa và các chất hướng thần khác Hình thức
sử dụng chủ yếu là chích 90,7%, còn lại là các trường hợp khác như hít, hút, uốngchiếm tỉ lệ không đáng kể Người nghiện ma tuý có 20,6% trong tình trạng khôngnghề nghiệp, thường là người có học vấn thấp, có tiền án tiền sự hoặc do tính chấtcông việc hay thay đổi, di chuyển thường xuyên Người nghiện ma tuý gây nên cáctội phạm ảnh hưởng đến an ninh xã hội Người sử dụng ma tuý có ở 27/27 huyện thịcủa tỉnh, tập trung nhiều tại 7 huyện là: Thành phố Thanh Hóa, huyện Thọ Xuân,huyện Quan Hóa, huyện Mường Lát, huyện Quảng Xương, huyện Tĩnh Gia, huyệnHoằng Hóa Chiều hướng và diễn biến HIV/AIDS trên địa bàn Thanh Hoá ngày mộttăng và diễn biến phức tạp[5, 22]
Tình hình nhiễm HIV/AIDS: Từ trường hợp nhiễm HIV phát hiện đầu tiên
tháng 11 năm 1995 đến 31/12/2015, số nhiễm HIV/AIDS là 4.262 còn sống, quản lýđược, có 1.949 đã tử vong do AIDS, 27/27 huyện, thị xã, thành phố và584/635(91,8%) xã phường, thị trấn đã phát hiện có người nhiễm HIV/AIDS[5]
Số liệu báo cáo đến 31/12/2020, lũy tích người nhiễm HIV/AIDS là 8.372người; trong đó số người đang còn sống và quản lý được là 4.099 (3.567 ngườiThanh Hóa và 532 ở trại giam) HIV có mặt tại 100% huyện, thị xã, thành phố;
Trang 2493,8% xã/phường/thị trấn Lây nhiễm HIV tại Thanh Hóa cũng tập trung ở cácnhóm nguy cơ cao là TCMT, PNBD và lây từ mẹ sang con[23].
1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG MA TUÝ
1.3.1 Đặc điểm kinh tế và xã hội của người nghiện ma túy tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội cho thấy phần lớnngười nghiện ma túy có trình độ văn hoá thấp, 69% có trình độ văn hoá dưới trunghọc phổ thông, đặc biệt là ở trong cộng đồng các đồng bào dân tộc khu vực miềnnúi Hầu hết người sử dụng ma túy là nam giới (95%), có gia đình (59%) Độ tuổi
sử dụng ma tuý đang có xu hướng trẻ hoá, độ tuổi dưới 30 chiếm tỷ lệ lớn Tuynhiên, ở các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Hòa Bình, Tuyên Quang vàThanh Hoá thì tuổi trên 30 lại chiếm tỷ lệ lớn Điều này có thể do người nghiện tạicác tỉnh miền núi phía Bắc có thời gian sử dụng thuốc phiện lâu hơn ở các tỉnh đồngbằng và thành phố lớn
Về chi phí cho sử dụng ma tuý gấp 3 lần thu nhập của các đối tượng nghiện.Khoản tiền phải trả cho ma tuý này góp phần lớn gây nên gánh nặng về kinh tế chocác gia đình và là lý do dẫn tới các hành vi phạm pháp như trộm cắp, cướp giật gâyảnh hưởng đến an ninh, an toàn và gây bất ổn trong xã hội[29, 30]
Về vi phạm pháp luật, theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hộicho thấy, có 38% đối tượng có tiền án tiền sự, 11% có tên trong hồ sơ do nhà nướcquản lý Tuy nhiên, ở các thành phố lớn tỷ lệ này khá cao, như ở Hải phòng tỷ lệ cóhành vi phạm pháp là 40,8%, tỷ lệ có tiền sự là 13,0% Lý do người nghiện ma tuýcần tiền để thoả mãn cơn nghiện, nên các đối tượng phạm pháp dưới nhiều hìnhthức đa dạng khác nhau như trộm cướp, buôn lậu, buôn bán vận chuyển chất gâynghiện và nhiều loại hình phạm pháp khác Nghiện ma tuý và vi phạm pháp luậtluôn song hành cùng nhau, nối tiếp nhau khiến cho người nghiện không dứt rađược Điều trị nghiện CDTP bằng Methadone là một trong những phương pháp hữuhiệu trong việc giảm tình trạng phạm pháp ở trong nhóm người sử dụng ma tuý[1,
29, 30]
1.3.2 Đặc điểm về sử dụng ma túy và hành vi nguy cơ
Trang 25Tại Việt Nam, người nghiện ma tuý chủ yếu sử dụng Heroin Tuổi bắt đầu sửdụng khoảng 20 tuổi, thời gian sử dụng ma tuý từ 5-10 năm (33,3%), nhiều trườnghợp bị sốc thuốc (là nguyên nhân trực tiếp gây tử vong), ảnh hưởng lớn đến sứckhoẻ của họ[21, 26, 27].
Nhiều người nghiện ma túy đã tham gia các hình thức cai nghiện ma tuý khácnhau như: Cai nghiện tại trung tâm, cai nghiện ở cơ sở tư nhân, tự mua thuốc để caihoặc điều trị cắt cơn tại cộng đồng…nhưng đa số đều tái nghiện do thèm muốn matuý, bị bạn bè rủ rê, do buồn chán, thất vọng
Dùng chung bơm kim tiêm (BKT) và các dụng cụ tiêm chích là nguyên nhânchính làm lây truyền HIV trong nhóm người TCMT Kết quả giám sát trọng điểmlồng ghép hành vi trong các nhóm nguy cơ cao tại Việt Nam năm 2014, có 13,1%trong số người NCMT cho biết có sử dụng chung bơm kim tiêm trong vòng 1 thángqua, tỷ lệ này khá cao ở Sơn La (38%), Kiên Giang (34%), Đắc Lắc(32%), Gia Lai(22,7%) Tỷ lệ người TCMT đã nhiễm HIV tiếp tục sử dụng chung BKT khi tiêmchích khá cao Đây là yếu tố tiềm ẩn nhiều nguy cơ làm gia tăng tỷ lệ nhiễm HIVtrong nhóm này ở các tỉnh/ thành phố như Hà Nội, Quảng Ninh, Yên Bái, ThanhHoá, Đồng Nai, thành phố Hồ Chí Minh và Cần Thơ
Tỷ lệ người TCMT có sử dụng bao cao su (BCS) thường xuyên khi quan hệtình dục với PNBD vẫn ở mức thấp, giao động từ 38% đến 74%, tỷ lệ này là mộttrong những chỉ số cảnh báo nguy cơ lây truyền HIV từ nhóm TCMT sang nhómPNBD và ngược lại Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ 50%người TCMT có quan hệ tình dục với PNBD trong 4 tuần qua sử dụng bao cao su[16, 20, 28]
Gần 1/5 (18,2%) người TCMT tại Hải Phòng cho biết từng có quan hệ tìnhdục với PNBD trong 12 tháng qua, trong số đó, có một tỷ lệ đáng kể (8,9%) ngườiTCMT không dùng BCS thường xuyên khi quan hệ tình dục với PNBD trong vòng
12 tháng qua[12, 14, 18-20, 31]
Nhiều nghiên cứu trên thế giới khẳng định để phòng chống HIV/AIDS cóhiệu quả cần phải tiến hành các biện pháp giảm các hành vi nguy cơ trong nhómtiêm chích ma túy, thông qua chương trình khuyến khích sử dụng 100% BCS,
Trang 26chương trình trao đổi BKT sạch và chương trình điều trị thay thế bằngMethadone[32-36].
1.3.3 Tác động của ma tuý đến sức khỏe, gia đình và xã hội
Tác động đến sức khỏe: Ước tính trên toàn cầu có khoảng 1.650.000 người
TCMT sống chung với HIV, tương ứng với 13,5% người TCMT có HIV (+) Haikhu vực nổi bật với tỷ lệ nhiễm HIV cao trong nhóm người TCMT là Tây Nam Á
và Đông Nam Âu với tỷ lệ lần lượt là 29% và 23% Tử vong sớm là vấn đề thườnggặp của người TCMT Nguyên nhân chủ yếu do nhiễm các bệnh truyền nhiễm, đặcbiệt là HIV, và do quá liều Một nghiên cứu gộp ở 65 nghiên cứu thuần tập từ 25quốc gia cho thấy tỷ lệ tử vong ở người TCMT là 2,35 người chết trên 100 người-năm, đây là tỷ lệ tử vong cao hơn nhiều so với tỷ lệ tử vong của dân số có cùng độtuổi Châu Á là khu vực có ước tính số người TCMT lớn nhất, chiếm hơn 1/3 sốTCMT trên toàn cầu, tỷ lệ tử vong là 5,25 người trên 100 người-năm Can thiệp dựatrên bằng chứng có thể có hiệu quả để phòng, điều trị và chăm sóc HIV cho ngườiTCMT, bao gồm cả chương trình bơm kim tiêm sạch, điều trị thay thế các CDTPbằng Methadone, điều trị kháng virus và Naloxone Giám sát hệ thống gần đây nhấtnhấn mạnh tầm quan trọng của điều trị thay thế các CDTP, nó giúp giảm tới 54%nguy cơ lây nhiễm HIV mới ở nhóm TCMT, chủ yếu bằng giảm tần xuất TCMT[13,17]
Đồng nhiễm HIV và viêm gan C: Việc dùng chung bơm kim tiêm làm cho
người TCMT rất dễ bị nhiễm HIV và viêm gan C Người ta ước tính rằng trungbình có 13,1% trong tổng số lượng người TCMT đang sống với HIV Ước tính cókhoảng 2,2% dân số thế giới bị nhiễm viêm gan C, tỷ lệ này cao gấp 25 lần ở ngườiTCMT Xác định tình trạng nhiễm viêm gan C rất quan trọng trong điều trị và dựphòng lây nhiễm cho người khác Ở nhiều nước châu Âu, số người TCMT có HCV(+) cao nhưng số người tham gia điều trị lại thấp Có khoảng 49% các trường hợpnhiễm HCV trong nhóm TCMT không được chẩn đoán và trong số được chẩn đoánchỉ có 19% bắt đầu điều trị thuốc kháng virus[15, 37]
Nguy cơ với sức khỏe tâm thần: Các bằng chứng nghiên cứu cho thấy những
người nghiện ma tuý thường có vấn đề căng thẳng tâm lý, có tỷ lệ tự sát cao hơn và
Trang 27có chất lượng cuộc sống thấp hơn Vấn đề với sức khỏe tâm thần mà người nghiệnhay gặp phải như: Trầm cảm (cảm thấy rất buồn và mệt mỏi); lo lắng (rất lo lắng và
sợ hãi); rối loạn lưỡng cực (tâm trạng thay đổi, có lúc tràn đầy năng lượng, kíchthích, thậm chí tức giận, sau đó lại cảm thấy buồn, mệt mỏi, tuyệt vọng); rối loạntăng động (khó chú ý, tập trung, ngồi yên); rối loạn nhân cách xã hội (khó có mốiquan hệ tốt và không quan tâm đến cảm xúc của người khác) [6, 8, 9]
Tác động đến gia đình người bệnh và xã hội: Để thoả mãn nhu cầu sử dụng
ma tuý, mỗi ngày mỗi người nghiện ma túy cần ít nhất từ 50.000-100.000 VNĐthậm chí 1.000.000 - 2.000.000VNĐ/ ngày Vì vậy khi lên cơn nghiện ma tuý,người nghiện sẵn sàng bán tài sản, đồ đạc của gia đình, trộm cắp, hành nghề mạidâm hoặc thậm chí giết người, cướp của để lấy tiền mua ma tuý Bên cạnh đó, cácthành viên khác trong gia đình giảm sút về sức khỏe do lo lắng, mặc cảm, vì tronggia đình có người nghiện Người nghiện ma túy còn ảnh hưởng đến xã hội do gâymất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn xã hội: Lừa đảo, trộm cắp, giết người,mại dâm, bệnh tật Điều đó làm tăng các chi phí ngân sách xã hội dành cho cáchoạt động ngăn ngừa, khắc phục, giải quyết các hậu quả do ma tuý gây ra[8, 9]
1.4 ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ
1.4.1 Các nguyên tắc trong điều trị nghiện ma túy
WHO và UNODC đồng thuận khuyến nghị các quốc gia thực hiện 9 nguyêntắc trong điều trị nghiện ma tuý[8, 17, 30, 38], bao gồm:
1) Tính sẵn có và dễ tiếp cận của chương trình điều trị:
2) Sàng lọc, đánh giá, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị;
3) Điều trị dựa trên bằng chứng;
4) Đảm bảo quyền con người và phẩm hạnh của bệnh nhân;
5) Tập trung vào các nhóm đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt;
6) Điều trị lệ thuộc và hệ thống tư pháp;
7) Sự tham gia của cộng đồng và định hướng bệnh nhân;
8) Quản lý (lâm sàng) các dịch vụ điều trị;
Trang 289) Hệ thống điều trị - phát triển chính sách, kế hoạch chiến lược và điều phối các dịch vụ.
Chi phí và lợi ích của điều trị: Ít nhất, tỷ lệ tiết kiệm để đầu tư cho điều trị là3:1 (mỗi đồng đô la chi tiêu cho điều trị sẽ tiết kiệm được ba đồng) và khi tính toánrộng hơn đến các chi phí liên quan đến tội phạm, sức khỏe và năng suất lao độngcủa xã hội được đặt vào tính toán thì tỷ lệ tiết kiệm đầy đủ có thể tăng lên tới 13:1.Rõ ràng lợi ích lớn của điều trị ma túy, ngoài việc phục hồi cho bệnh nhân, sứckhỏe sau này và tác động xã hội, đó chính là yếu tố chi phí mà trong các nghiên cứutính toán đến đó là chi phí - hiệu quả[2, 21, 39, 40]
1.4.2 Điều trị nghiện ma túy trên thế giới
Trong nhiều năm qua, các bằng chứng cho thấy rằng hiệu quả của các điềutrị rối loạn sử dụng ma túy đã giúp cho các trường hợp lệ thuộc ma túy tạm dừng sửdụng, dự phòng tái sử dụng lại, giảm thiểu các hành vi tội phạm liên quan đến matúy, thay đổi các rối loạn hành vi khác và có những đóng góp giúp ích cho gia đình
và xã hội
Biểu 1 1 Điều trị lệ thuộc ma túy bằng dược lý theo khu vực trên toàn cầu
Các khu vực khác nhau cũng có các dịch vụ can thiệp khác nhau: Can thiệptâm lý, tư vấn đặc biệt và hỗ trợ xã hội là dễ tiếp cận và sẵn có trên toàn cầu so vớicác can thiệp khác Hơn một phần ba các quốc gia báo cáo có các can thiệp tâm lý
xã hội, phục hồi chức năng và các dịch vụ chăm sóc, trong khi có hơn một phần tư
Trang 29báo cáo có dịch vụ can thiệp dược lý Rất khó để xác định hiệu quả của mỗi biệnpháp can thiệp khác nhau trên toàn thế giới, nhưng các dịch vụ dược lý, tâm lý xãhội và can thiệp ở Châu Âu đạt trình độ cao hơn so với các vùng khác, đặc biệt làTây và Trung Âu Ở các khu vực khác, chính phủ các quốc gia có thể chưa sẵn sàngcho việc điều trị lệ thuộc ma túy bằng thuốc, dẫn đến sự hạn chế phạm vi củachương trình Tại châu Phi, biện pháp can thiệp bằng tư vấn sẵn có hơn các canthiệp khác, có thể là do cần sa là chất phổ biến nhất được điều trị trong các loại matúy Dịch vụ điều trị rối loạn sử dụng và lệ thuộc ma túy còn hạn chế ở hầu hết cácnước, thiếu hụt các chăm sóc liên tục cho những người có nhu cầu can thiệp điều trị.Với ước tính trung bình trên toàn cầu, chỉ có một trong sáu người có rối loạn do sửdụng ma túy hoặc nghiện ma túy được điều trị mỗi năm, cho thấy khả năng tiếp cậndịch vụ và tính sẵn có của các dịch vụ còn hạn chế ở hầu hết các quốc gia Tuynhiên, trên thực tế tỷ lệ này là 1/18 ở Châu Phi so với 1/5 ở Tây và trung Âu, điềunày cho thấy sự khác biệt lớn ở các khu vực
Biểu 1 2 Điều trị nghiện ma túy theo khu vực trên toàn cầu
Có sự khác biệt giữa các vùng về các loại thuốc chủ yếu mà người sử dụng
ma túy được điều trị, Châu Phi chủ yếu là Cần sa, Bắc Mỹ là Cần sa, Cocain và một
ít Opioid, Mỹ Latinh là Cocain và Cần sa Ở châu Á, Opioid là loại thuốc điều trịchính cho những người sử dụng ma túy, tiếp đến là ATS và cần sa Tại châu Âu,
Trang 30Opioid được xếp sau cần sa, Cocain và ATS, trong khi ở châu Đại Dương cần sađược xếp sau Opioid và ATS[13, 17]
1.4.3 Điều trị nghiện ma túy tại Việt Nam
Phương pháp cai nghiện ma túy ở nước ta hiện nay đối với người nghiện matúy dạng thuốc phiện được thực hiện theo quy trình do liên Bộ Lao động - Thươngbinh - Xã hội và Bộ Y tế hướng dẫn, gồm điều trị cắt cơn, giải độc; giáo dục phụchồi hành vi, nhân cách; lao động trị liệu; học văn hóa, học nghề; lao động sản xuất
và hội nhập cộng đồng Các bài thuốc hỗ trợ cắt cơn nghiện chất dạng thuốc phiện
do Bộ Y tế hướng dẫn như: Hỗ trợ cắt cơn bằng thuốc hướng thần, thuốc Bông Sen,Cedemex và phương pháp điện châm Ngoài ra còn điều trị chống tái nghiện matúy nhóm có nguồn gốc thuốc phiện bằng thuốc đối kháng Natrexone[29, 30]
Từ năm 2008, Bộ Y tế đã thí điểm điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốcphiện bằng Methadone, mục tiêu chính nhằm giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhómngười tiêm chích ma túy[3, 41] Cùng với việc điều trị bằng thuốc, các biện pháp hỗtrợ xã hội thông qua hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm cho người cai nghiện matúy, các liệu pháp tâm lý, tư vấn dự phòng nghiện, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháptâm lý gia đình, liệu pháp nhận thức hành vi…đang được thực hiện ở nhiều địaphương thông qua các dự án hợp tác quốc tế với PEPFAR, UNODC
Như vậy, phương pháp và mục tiêu điều trị nghiện ma túy ở nước ta đang cónhững thay đổi, bao gồm điều trị giúp từ bỏ sự phụ thuộc và điều trị duy trì, giảmdần sự phụ thuộc vào ma túy Tuy nhiên phương pháp điều trị để từ bỏ sự phụ thuộcvào ma túy như thời gian qua hiệu quả không cao
Hình thức, biện pháp cai nghiện và kết quả cai nghiện ở nước ta:Luật sửa đổi
bổ sung một số điều Luật Phòng, chống ma túy năm 2008 quy định 2 hình thức cainghiện là cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng và cai nghiện tại Trungtâm; 2 biện pháp cai nghiện là cai nghiện tự nguyện và cai nghiện bắt buộc
Kết quả cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng: Công tác cai nghiện
tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng được áp dụng với 2 biện pháp tự nguyện vàbắt buộc và giao cho Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức thực hiện Chủ tịch UBND cấp
xã thành lập Tổ công tác cai nghiện ma túy do Phó chủ tịch UBND cấp xã làm Tổ
Trang 31trưởng và các thành viên là đại diện các ngành Y tế, Công an, Lao động - Thươngbinh và Xã hội, tổ dân phố và các đoàn thể liên quan Các thành viên làm việc theochế độ kiêm nhiệm và trực tiếp thực hiện các hoạt động cai nghiện Địa điểm, cơ sởvật chất tổ chức các hoạt động cắt cơn, tư vấn, sinh hoạt nhóm là tổ chức cơ sởchuyên biệt hay lồng ghép với cơ sở y tế Từ năm 1994 – 6/2013 cả nước đã cainghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng cho 246.994 lượt người, bình quân mỗinăm cai cho hơn 10.000 lượt người chiếm 8% tổng số người nghiện có hồ sơ quảnlý.
Một số tồn tại hạn chế của cai nghiện tại gia đình và tại cộng đồng: Chưa
khuyến khích động viên được người nghiện ma túy tự nguyện đăng ký cai nghiện,
số được cai nghiện chỉ chiếm khoảng 8% so với số người nghiện có hồ sơ quản lý
và phần lớn bị bắt buộc cai nghiện tại cộng đồng Chất lượng dịch vụ cai nghiệnkhông đáp ứng yêu cầu đặt ra: Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý, xã hội, chăm sócsức khỏe chưa được quan tâm, tỷ lệ tái nghiện cao (trên 90%) Công tác cai nghiện ởhầu hết các địa phương còn mang tính phong trào, hình thức, tập trung điều trị cắt cơnnghiện từ 10 - 15 ngày Thực tế cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng hiệnnay không giúp được người nghiện cai được nghiện, họ đều tái nghiện và sẽ bị đưavào Trung tâm cai nghiện bắt buộc
Kết quả cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (Trung tâm 06): Hàng năm các Trung tâm tiếp nhận cai nghiện cho từ 40.000 -
50.000 lượt người nghiện, trong đó cai nghiện bắt buộc chiếm 80%, cai nghiện tựnguyện chiếm 20% Góp phần làm giảm sử dụng ma túy trái phép, giảm gánh nặngkinh tế, tâm lý xã hội cho bản thân và gia đình người nghiện, giảm lây nhiễm HIV,giữ gìn an ninh trật tự xã hội
Một số tồn tại hạn chế tại Trung tâm 06: Trung tâm là nơi xử lý vi phạm pháp
luật về hành chính đối với người nghiện do vậy hầu hết các tỉnh, thành phố (59/63tỉnh, thành phố có Trung tâm) đều thành lập, vị trí đặt ở vùng sâu vùng xa, cách lyvới cộng đồng dân cư, đi lại khó khăn, dẫn đến các Trung tâm có ít người vào cainghiện không sử dụng hết công suất đầu tư gây tốn kém, lãng phí cụ thể như: PhúYên công suất thiết kế Trung tâm cai nghiện cho 200 người nghiện nhưng thực tế
Trang 32thường xuyên chỉ có 5 -15 người cai nghiện tại Trung tâm; Bình Định thiết kế caicho 300 người, thường xuyên có 30 – 40 người cai tại Trung tâm; Thừa Thiên Huếthiết kế cai cho 300 người, thường xuyên có 20 – 30 người cai tại Trung tâm Việcdạy nghề còn rất đơn giản, chủ yếu là đào tạo trình độ sơ cấp không đáp ứng yêu cầu củathị trường lao động do vậy sau khi rời Trung tâm học viên không tìm được việc và không
tự tạo được việc làm bằng nghề đã học tại Trung tâm[8, 29, 30]
1.5 ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
1.5.1 Khái niệm về Methadone
Methadone là một chất tổng hợp đồng vận với các chất dạng thuốc phiện,nhưng có chu kỳ bán hủy dài hơn, trên 24 giờ; nó làm chậm lại sự tụt giảmMethadone trong máu, giữ cho người bệnh ở trạng thái không bị chao đảo, không bịkhó chịu Cho phép người bệnh thực hiện đựợc các chức năng hoạt động bìnhthường, trở lại dần các thích thú đã mất và có thể theo đuổi lại lối sống lành mạnh,
kỷ cương, hữu ích, tăng khả năng tái hòa nhập xã hội[42]
1.5.2 Mục đích của điều trị
Giảm sử dụng các chất dạng thuốc phiện bất hợp pháp, giảm tỉ lệ tiêm chíchchất dạng thuốc phiện Giảm tác hại do nghiện các chất dạng thuốc phiện gây ra(hoạt động tội phạm, lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C do sử dụng chungbơm kim tiêm, tử vong do sử dụng quá liều các chất dạng thuốc phiện…) Cải thiệnsức khỏe cá nhân và cộng đồng, giúp người nghiện duy trì việt làm, ổn định cuộcsống lâu dài, tăng sức sản xuất của xã hội[6, 9, 42]
1.5.3 Chỉ định điều trị Methadone
Methadone được chỉ định diều trị trong các trường hợp sau: Điều trị triệuchứng đau, từ đau vừa đến đau nặng, các cơn đau mãn tính Điều trị trong hội chứngcai khi cắt cơn giải độc nghiện các chất dạng thuốc phiện (như là Heroin vàMorphine) Điều trị thay thế nghiện các chất dạng thuốc phiện[6, 9, 42]
1.5.4 Chống chỉ định điều trị Methadone
Dị ứng với Methadone, bệnh gan nặng, bệnh gan mất bù Người đang bị suy
Trang 33hô hấp nặng, hen cấp tính, chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ, viêm loét đạitràng, co thắt đường tiết niệu và đường mật Những người có rối loạn tâm thần nặng
mà chưa được điều trị ổn định: Tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực,trầm cảm có ý tưởng và hành vi tự sát Bệnh nhân đang điều trị bằng thuốc đồngvận, đối vận, hoặc vừa đồng vận vừa đối vận với CDTP (LAAM, Naltrexone,Buprenorphine)
Thận trọng khi điều trị cho các đối tượng sau: Người nghiện nhiều loại ma túy;người bệnh nghiện rượu; người có tiền sử sử dụng Naltrexone; người bệnh tâm thầnđang sử dụng các thuốc hướng thần; người đang bị các bệnh mãn tính [6, 9, 42]
1.5.5 Tác dụng không mong muốn
Người bệnh tham gia điều trị Methadone có một số tác dụng không mongmuốn như: Táo bón, khô miệng và tăng tiết mồ hôi; rối loạn giấc ngủ, buồn nôn,nôn, giãn mạch và gây ngứa, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ; chứng vú to ở đàn ông,rối loạn chức năng tình dục [6, 9, 42]
1.5.6 Tương tác thuốc
Những người nghiện CDTP đồng nhiễm HIV, Lao… đang điều trị Methadoneđồng thời điều trịARV và các bệnh lý khác kèm theo Khi đó, cần lưu ý đến cáctương tác giữa thuốc Methadone với các thuốc khác như: Thuốc ARV, thuốc điềutrị lao, điều trị các bệnh nhiễm trùng cơ hội Khi có tương tác thuốc có thể dẫn tới:Giảm hiệu quả của liệu pháp điều trị bằng Methadone; giảm hiệu quả của liệu phápđiều trị ARV; giảm tuân thủ điều trị[6, 9, 42]
1.5.7 Duy trì điều trị Methadone
Theo Tổ chức Y tế thế giới, tỷ lệ duy trì điều trị của bệnh nhân sau 1 năm đạt
từ 60%-80% là mức trung bình và trên 80% được coi là điều trị thành công Dựatrên khuyến nghị của Tổ chức Y tế thế giới, hướng dẫn điều trị nghiện các CDTPbằng thuốc Methadone của Bộ Y tế cũng quy định thời gian tối thiểu điều trị là 1năm để đảm bảo hiệu quả điều trị Đối lập với tuân thủ điều trị là tỷ lệ bỏ điều trị,đây cũng là chỉ số được các nghiên cứu đo lường để đánh giá hiệu quả điều trị, tỷ lệnày càng thấp thì hiệu quả điều trị càng cao[64]
Trang 34Nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ duy trì điều trị sau 1 năm là 86,4%,năm thứ 2 là 83,5% và năm thứ ba giảm xuống còn 77,7%[48, 63] Nghiên cứu ởcác quốc gia khác cho thấy tỷ lệ bỏ trị sau 12 tháng trong một nghiên cứu tại ĐàiLoan là 41,6%[65]; các nghiên cứu tại Trung Quốc cho tỷ lệ tuân thủ điều trịMethadone chỉ đạt 55,2% sau 12 tháng và 43% sau 24 tháng[66]; tỷ lệ tuân thủ điềutrị Methadone là 74,4% sau 12 tháng tại Israel [67]và 72% sau 12 tháng, 49,8% sau
24 tháng tại Canada[59, 68]
1.5.8 Lịch sử phát triển của điều trị thay thế CDTP bằng Methadone
Trên Thế giới: Hiện nay có các loại thuốc tương đối phổ biến dùng để điều trị
nghiện các CDTP đó là Methadone, Buprenorphine và Naltrexone
Methadone được sản xuất trong Chiến tranh thế giới thứ II với mục đích banđầu là làm thuốc giảm đau, có tác dụng kéo dài thời gian chuyển thương để sử dụngtrên chiến trường Methadone nằm trong danh mục các thuốc thiết yếu của WHO,được quản lý nghiêm ngặt theo Công ước năm 1961 về ma tuý Năm 1964, hai bác
sỹ người Mỹ là Marie Nyswander và Vincent Dole đã dùng Methadone để điều trịthí điểm cho những người nghiện Heroin Từ những kết quả thu được, họ phát hiện
ra rằng Methadone có thể giúp người nghiện ngừng sử dụng Heroin và không bịtăng liều khi dùng Methadone trong thời gian dài Từ đó, liệu pháp điều trị duy trìcho người nghiện Heroin bằng Methadone ra đời
Điều trị thay thế bằng Methadone đã được đánh giá là phương pháp điều trị hiệuquả đối với những người nghiện CDTP và là một trong bốn biện pháp can thiệpbằng thuốc thay thế được Tổ chức Y tế Thế giới khuyến cáo nhằm dự phòng lâynhiễm HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy Hiện nay trên thế giới đã có trên
80 quốc gia đã triển khai chương trình điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone[9, 13, 43]
Tại Việt Nam: Viện Sức khỏe tâm thần Trung ương đã tiến hành triển khai
nghiên cứu và thử nghiệm điều trị thay thế bằng Methadone từ cuối năm 1996.Chương trình thí điểm tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh năm 2008, đến31/12/2015 đã có 57 tỉnh triển khai với 239 cơ sở điều trị Methadone, 43.720 ngườiđược điều trị Methadone; thuốc Methadone đã được cấp phát đến tuyến xã, phường
Trang 35Số liệu báo cáo của chương trình Methadone đến 31/12/2020, đã triển khai tất cả63/63 tỉnh, thành phố với 562 cơ sở điều trị và cấp phát thuốc Methadone, điều trịcho 52.725 bệnh nhân
Kể từ giai đoạn triển khai thí điểm năm 2008 đến năm 2019, hệ thống các vănbản và hướng dẫn chuyên môn đã từng bước hướng dẫn toàn diện về điều kiện hoạtđộng, tổ chức điều trị, phác đồ điều trị (tại cộng đồng, trong trại giam và trong các
cơ sở cai nghiện bắt buộc), việc cung ứng và quản lý thuốc, cơ chế chính sách vềngân sách hỗ trợ cho các đối tượng chính sách tham gia điều trị, phí và lệ phí vàkhung giá dịch vụ điều trị Đặc biệt, đã hướng dẫn cụ thể việc cấp phát thuốcMethadone tại xã/phường/ thị trấn, qua đó tạo điều kiện tiếp cận điều trị và duy trìtuân thủ điều trị cho người bệnh[2, 3, 12, 14, 41, 44-46]
Tại tỉnh Thanh Hoá: Được sự đồng ý của Bộ Y tế, Chương trình thí điểm tại
thành phố Thanh Hoá vào 3/2011 với 01 cơ sở điều trị Methadone, đến 31/12/2015
đã có 17 huyện/thị/thành phố triển khai với 20 cơ sở điều trị Methadone, điều trị cho 1.850 người nghiện ma túy; đến 31/12/2019, tại Thanh Hóa, Chương trình
Methadone bao phủ được 25/27 huyện/ thị/ thành phố với 42 cơ sở điều trị và cấpphát thuốc Methadone được mở ra, điều trị duy trì cho gần 2.700 người nghiện matuý, đặc biệt là mô hình thí điểm điều trị Methadone tại tuyến xã đã được triển khaitại xã Thành Sơn và Trung Sơn, huyện Quan Hóa và bước đầu có kết quả rất tíchcực Hiệu quả điều trị: Tỷ lệ bỏ trị (18,7%),tỷ lệ bệnh nhân còn tiếp tục sử dụng matuý giảm (từ 100% xuống 17,3%) Bệnh nhân vẫn còn sử dụng Heroin trong quátrình điều trị thì tần suất dụng từ 1-2 lần/tháng (khoảng 15% đến 20%) Theo kếtquả điều tra, 18% bệnh nhân HIV (+), không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mớitrong số bệnh nhân âm tính với HIV khi mới bắt đầu điều trị Môi trường nơi cónhiều bệnh nhân điều trị thay đổi tích cực, nhất là về mặt trật tự xã hội, giảm tỷ lệ viphạm pháp luật trong số những người tham gia chương trình[5, 22-25]
1.6 MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ METHADONE
1.6.1 Mô hình điều trị Methadone trên Thế giới
Các loại mô hình triển khai tại các quốc gia trên Thế giới là:
Trang 361) Mô hình phòng khám độc lập là Phòng khám Methadone với các nhân viên
y tế chuyên trách, có bác sĩ điều trị, nhân viên tư vấn, nhân viên cấp phát thuốc;2) Mô hình điều trị Methadone lồng ghép trong các cơ sở y tế, trại tù có bác
sĩ điều trị, nhân viên tư vấn, nhân viên cấp phát thuốc làm kiêm nhiệm
Tại Hồng Kông: Thành lập Phòng khám Methadone độc lập với các nhân viên
y tế chuyên trách, có bác sĩ điều trị, nhân viên tư vấn, nhân viên cấp phát thuốc; bắtđầu chương trình thí điểm năm 1972, ở phố High Hồng Kông là nơi có chươngtrình Methadone lâu dài và qui mô nhất ở châu Á Sở Y tế Hồng Kông đã cung cấpMethadone cho người nghiện thuốc phiện từ những năm 1970 Hiện nay, ở HồngKông có 21 phòng khám Methadone, cung cấp Methadone hằng ngày cho khoảng8.000 người nghiện Tất cả các phòng khám đều hoạt động 7 ngày trong tuần Khi
có mưa bão, các phòng khám có các dịch vụ đặc biệt và 12 phòng khám vẫn mở cửatrong những ngày đó để phục vụ bệnh nhân
Tại Trung Quốc: Phòng khám Methadonedo Hội Chữ thập đỏ quản lý Các
nhân viên làm việc cũng được đào tạo về điều trị Methadone như khám, kê liềuMethadone và tư vấn Đã có 716 phòng khám Methadone ở 28 tỉnh, với tổng số
>330.000 bệnh nhân được điều trị bằng Methadone >132,000 điều trị ở liều duy trì.Ngăn ngừa được 7.000 trường hợp nhiễm HIV, giảm được > 42 tấn Heroin tiêu thụ
Tại In-đô-nê-xia: Chương trình Methadone triển khai trong nhà tù ở (4 nhà tù)
….Các Phòng khám điều trị thay thế bằng Methadone có nhân viên y tế trong tùđảm nhiệm việc cấp thuốc Methadone; tích hợp các hoạt động giảm tác hại bao gồmMethadone, bao cao su, VCT & ARV
Tại Ma-lay-xi-a: Là các Phòng khám điều trị và chăm sóc (C&C) Mô hình
này do Cơ quan phòng, chống ma túy quốc gia Malaysia xây dựng và trực tiếp quản
lý Tại các phòng khám này, bệnh nhân được tư vấn điều trị tự nguyện, nếu nhưkhông muốn tiếp tục duy trì điều trị, bệnh nhân có thể tự rút khỏi chương trình bất
kỳ thời gian nào mà không gặp phải bất cứ sự cản trở hay các vấn đề rắc rối liênquan đến pháp luật Một phòng điều trị và chăm sóc của Malaysia hiện có 60 cán bộlàm việc, bao gồm cả các bác sĩ và nhân viên y tế
Trang 37Mô hình tại Mỹ: Là các phòng khám Methadone độc lập, các nhân viên y tế
làm việc tại các phòng khám Methadone ở Mỹ được đào tạo rất tốt Tại đây cácbệnh nhân được khám, tư vấn tâm lý và điều trị thay thế bằng thuốc Methadone:Thất bại với việc điều trị cưỡng bức, từ năm 1964, Mỹ bắt đầu áp dụng rộng rãichương trình Methadone Kết quả đầu tiên mà Mỹ đạt được là giảm được đáng kể tỷ
lệ tội phạm liên quan đến mua bán, tàng trữ chất dạng thuốc phiện, ổn định trật tự
xã hội Sau năm 1980, tỷ lệ lây nhiễm HIV, viêm gan B, C trong nhóm nghiệnHeroin giảm hẳn Hiện nay tại Mỹ có 750 phòng khám Methadone điều trị cho trên210.000 người nghiện Heroin Hầu hết là các phòng khám Methadone tư nhân, hoạtđộng riêng lẻ Mang Methadone về uống ở nhà rất phổ biến, chi phí cho bệnh nhân
> 300 $ US/tháng
Mô hình tại Ét-tô-nia: Là các Phòng khám đặt tại Trung tâm phòng chống
HIV/AIDS của các tỉnh tương tự như Việt Nam Tại Phòng khám các bệnh nhânđược cung cấp các dịch vụ y tế như tư vấn xét nghiệm HIV, điều trị ARV và điều trịthay thế bằng Methadone[6, 8, 13]
Nhìn chung tại các Phòng khám Methadone ở các quốc gia khác nhau, có thể
do các đơn vị chủ quản khác nhau, đặt ở các địa điểm khác nhau Nhưng đều cóđiểm chung là: Thực hiện điều trị thay thế CDTP bằng Methadone, cho uống vớiliều Methadone từ liều thấp (từ 15 – 30mg tùy thuộc vào kết quả đánh giá độ dungnạp CDTP của người bệnh (liều trung bình là 20mg) và tăng dần đến mức độ phùhợp, kết hợp tư vấn tuân thủ điều trị trước, trong điều trị và xét nghiệm để kiểm traCDTP trong nước tiểu Một số điểm khác nhau ở từng nơi, từng quốc gia là tại cácPhòng khám có tích hợp thêm việc cung cấp các dịch vụ khác như tư vấn xétnghiệm HIV (VCT), điều trị ARV, cung cấp BKT sạch, cung cấp dịch vụ việc làm [8, 9]
1.6.2 Mô hình điều trị Methadone tại Việt Nam
Thực hiện theo Thông tư số 12/2013/TT-BYT ngày 12/4/2013 của Bộ Y tế vềviệc hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Nghị định 96/2012/NĐ-CP ngày15/11/2012 của Chính phủ quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện
Trang 38bằng thuốc thay thế; Nghị định 90/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủquyđịnh về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế
Hình 1 Mô hình cơ sở điều trị Methadone tại Việt Nam
Việt Nam triển khai mô hình điều trị Methadone với tên gọi là cơ sở điều trịMethadone và điểm cấp phát thuốc Methadone là điểm vệ tinh nhận bệnh nhân đã
ổn định liều từ cơ sở điều trị chính
Điều 23 Thông tư số 12/2015/TT-BYT quy định Trách nhiệm của cơ sở điềutrị:
1) Tổ chức điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thếtheo hướng dẫn chuyên môn do Bộ trưởng Bộ Y tế quy định;
2) Bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị và nhân sự phù hợp với nhu cầucông việc và số lượng bệnh nhân điều trị tại cơ sở;
3) Định kỳ hàng tháng báo cáo danh sách người bệnh được điều trị, tình hìnhđiều trị và tuân thủ điều trị của người bệnh tham gia điều trị cho cơ quan có thẩmquyền theo quy định;
4) Chịu sự kiểm tra, theo dõi của Sở Y tế tỉnh và Trung tâm Phòng, chốngHIV/AIDS tỉnh Cơ sở điều trị methadon được thành lập dựa trên nhu cầu thực tế tạimỗi địa phương
Tại Khoản 3 Điều 12, Chương III về Tổ chức điều trị nghiện chất dạng thuốcphiện có quy định về nhân sự cho cơ sở điều trị thay thế: có nhân viên y tế đượcphép khám bệnh, chữa bệnh, kê đơn thuốc gây nghiện; có nhân viên y tế hỗ trợ công
Trang 39tác khám bệnh, chữa bệnh, xét nghiệm, tư vấn; có nhân viên bảo quản và cấp phátthuốc thay thế; có nhân viên phụ trách hành chính Theo đó, nhân sự làm việc tại cơ
sở điều trị Methadone
- Nhân viên cấp phát thuốc - 1-2 người
- Nhân viên xét nghiệm - 01người
- Nhân viên hành chính - 01 người
Cơ sở điều trị Methadone là phòng khám có các nhân viên y tế được đào tạochuyên sâu về chương trình Methadone, có từ 7-9 cán bộ y tế
Các bước hoạt động của mô hình cơ sở điều trị Methadone
Bước 1 Bước 2 Bước 3 Bước 4 Bước 5 Bước 6
đủ điều kiệnđiều trị
Tư vấntuân thủđiều trị vàkhởi liềuMethadone
Dò liềuchobệnhnhân đểđạt liềuduy trì
Điều trịduy trìchobệnhnhân
Đánh giá tuânthủ điều trị cóthể cho bệnhnhân giảm liều
để ra khỏichương trình
Hình 2 Qui trình hoạt động của cơ sở điều trị Methadone
Đa số các cơ sở điều trị Methadone đặt tại các cơ sở y tế như Trung tâmphòng chống HIV/AIDS, Trung tâm Y tế huyện, tại Trung tâm 06, cơ sở xã hộihoá tất cả hoạt động theo quy định chuyên môn của Bộ Y tế [44, 46]
1.6.3 Các nhóm chỉ số chính đánh giá kết quả của chương trình
Các nghiên cứu đánh giá hiệu quả điều trị thay thế chất dạng thuốc phiện bằngMethadone nhìn chung tập trung vào các nhóm chỉ số chính sau:
Trang 401) Tỷ lệ bệnh nhân tiếp tục duy trì điều trị Methadone;
2) Tỷ lệ bệnh nhân giảm và dừng sử dụng CDTP;
3) Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi nguy cơ như tiêm chích chung, không sử dụng
bao cao su trong quan hệ tình dục;
4) Tỷ lệ nhiễm HIV, viêm gan B và viêm gan C;
5) Tỷ lệ bệnh nhân có hành vi phạm pháp luật , hành vi bạo lực gia đình; 6) Tỷ lệ bệnh nhân cải thiện sức khoẻ thể chất, tâm thần và chất lượng cuộc
sống;
7) Tỷ lệ bệnh nhân có việc làm;
8) Tiết kiệm chi phí cho bệnh nhân, gia đình và xã hội[41, 48, 61-63]
1.7 CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ METHADONE
1.7.1 Làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp
Khi điều trị bằng Methadone đến liều điều trị ổn định, người nghiện giảm sựthèm muốn các chất ma túy, điều này đã được chứng minh qua các nghiên cứu: Tácgiả Vũ Văn Công nghiên cứu tại Hải Phòng năm 2009 cho thấy, điều trị Methadone
đã đem lại hiệu quả rõ rệt trong việc làm giảm sử dụng ma túy: Số ngày trung bìnhdùng Heroin trước khi vào điều trị Methadone so với sau điều trị Methadone 30ngày, 30-60 ngày và trên 60 ngày là 29,1; 12,4; 2,3 và 0,5[47]
Kết quả nghiên cứu tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh năm 2009 chothấy: Tỷ lệ sử dụng Heroin giảm sau 3 tháng từ 100% xuống còn 34,6% tại HảiPhòng và 36,2% tại thành phố Hồ Chí Minh; sau 2 năm con số này giảm còn 22,9%tại Hải Phòng và 14,6% tại thành phố Hồ Chí Minh[48]
Nghiên cứu của Nasir và cộng sự tại Malaysia năm 2010 trên 216 bệnh nhân,kết quả cho thấy điểm số giảm sử dụng Heroin sau 12 tháng cải thiện rõ rệt, điểm sốkhác biệt là 2.01 (p<0.001)[49] Báo cáo nghiên cứu của Ball JC và Ross A chothấy bệnh nhân ngừng sử dụng Heroin trong 6 tháng đầu tiên tham gia điều trị là77%, sau 4 đến 5 năm điều trị tỷ lệ này tăng lên tới 92% [50] Kết quả nghiên cứucủa Simpson DD, Sells SB tại Mỹ trên 1.856 bệnh nhân điều trị Methadone trong 3