TÌNH HÌNH NGHIỆN MA TUÝ VÀ NHIỄM HIV/AIDS
Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS trên thế giới
Tình hình nghiện ma tuý:Theo báo cáo của Cơ quan phòng chống Ma túy và
Tội phạm của Liên Hợp Quốc (UNODC) năm 2017, ước tính có khoảng 246 triệu người, tương đương với khoảng hơn 5% dân số toàn thế giới trong độ tuổi từ 15 đến
64% đã từng sử dụng ma túy trái phép, với hơn 13 triệu người tiêm chích ma túy (PWID) Ít nhất 190.000 trường hợp tử vong liên quan đến ma túy, chủ yếu do sử dụng các chất dạng thuốc phiện.
Việc tiêm chích các chất dạng thuốc phiện như heroin đang gia tăng lây nhiễm HIV ở Đông Nam Á Sử dụng ma túy không chỉ gây ra sốc quá liều và chấn thương do tai nạn, mà còn dẫn đến hành vi bạo lực và tình trạng nghiện Ngoài ra, người sử dụng còn phải đối mặt với các bệnh mãn tính như bệnh mạch vành, xơ gan, cùng với các bệnh lây truyền qua đường máu như HIV, viêm gan B, viêm gan C và các rối loạn tâm thần.
Tính đến cuối năm 2019, toàn cầu có khoảng 38 triệu người sống chung với HIV, trong đó có 1,8 triệu trẻ em dưới 15 tuổi Phần lớn người nhiễm HIV sinh sống tại các quốc gia thu nhập thấp và trung bình Từ khi bắt đầu đại dịch, ước tính có khoảng 35 triệu người đã tử vong vì các nguyên nhân liên quan đến HIV, với 940.000 ca tử vong chỉ trong năm 2019 Theo UNODC, trong số hơn 13 triệu người tiêm chích ma túy, khoảng 1,6 triệu người nhiễm HIV, chiếm 11,5% tổng số người tiêm chích ma túy toàn cầu Ngoài ra, tỷ lệ nhiễm viêm gan C trong nhóm tiêm chích ma túy ước tính đạt 51%, trong khi tỷ lệ nhiễm viêm gan B là 8,4%, tương ứng với 1,2 triệu người.
Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS ở Việt Nam
Tình hình nghiện ma tuý: Theo báo cáo năm 2015, toàn quốc thống kê được
Tính đến tháng 12 năm 2020, cả nước Việt Nam có 246.500 người nghiện ma túy được quản lý, trong đó 38.244 người đang cai nghiện bắt buộc tại các cơ sở Gần 80% trong số đó sử dụng ma túy tổng hợp (ATS) và chất hướng thần mới, với tỷ lệ cao tại một số địa phương như Đồng Nai (87%), Đà Nẵng (85%) và Trà Vinh (90,7%) Gần đây, bên cạnh ma túy truyền thống và ATS, các loại ma túy mới như cần sa và “cỏ Mỹ” cũng ngày càng phổ biến Đặc biệt, tỷ lệ người sử dụng ma túy dưới 16 tuổi chiếm 0,1%.
Tỷ lệ người nghiện ma túy từ 30 tuổi trở lên chiếm 50,9%, trong đó nam giới chiếm 96% và nữ giới chỉ 4% Đa số người nghiện ma túy sống trong cộng đồng với tỷ lệ 64,5%, trong khi 22,4% đang cai nghiện tại các cơ sở chữa bệnh, giáo dục và lao động xã hội, và 13,1% đang bị giam giữ Heroin là loại ma túy phổ biến nhất, chiếm 75% trong số các loại ma túy được báo cáo.
Công tác điều trị nghiện tại Việt Nam đang được chú trọng và xã hội hóa, với số lượng người tiếp cận dịch vụ cai nghiện ngày càng tăng Tuy nhiên, tỷ lệ tái nghiện vẫn ở mức cao, lên tới 80%, và ở một số địa phương có thể vượt quá 95%.
Tình hình nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam chủ yếu tập trung ở ba nhóm có hành vi nguy cơ cao: nhóm tiêm chích ma túy (NCMT), nhóm nam tình dục đồng giới (MSM) và nhóm phụ nữ mại dâm (PNMD) Theo giám sát năm 2015, tỷ lệ nhiễm HIV trong các nhóm này lần lượt là 9,3%, 2,7% và 5,1% Dịch HIV/AIDS đã lan rộng ra tất cả các tỉnh, thành phố, với 99,8% quận/huyện và hơn 80,3% xã/phường bị ảnh hưởng Tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh, số lượng người nhiễm HIV cao và diễn biến dịch phức tạp, khó kiểm soát, đặc biệt tại các tỉnh miền núi phía Bắc, đồng bằng sông Cửu Long, miền Đông Nam Bộ, và các huyện miền núi Nghệ An và Thanh Hóa.
Tính đến ngày 31/12/2020, cả nước có 213.008 người sống với HIV và 107.812 người đã tử vong do căn bệnh này Trong năm 2015, có 202.437 người nhiễm HIV được báo cáo, trong đó nữ giới chiếm 34,1% và nam giới chiếm 65,9% Lây truyền qua đường tình dục chiếm 50,8%, trong khi lây truyền qua đường máu là 36,1% Tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm nghiện chích ma túy là 9,3%, phụ nữ bán dâm 2,7% và MSM 5,2% Trung bình mỗi năm, Việt Nam phát hiện thêm 11.000 ca nhiễm HIV, chủ yếu ở độ tuổi 16-29 (40,1%) và 30-39 (33,8%), với đường lây chủ yếu qua quan hệ tình dục không an toàn (67,2%) và qua đường máu (16,6%).
% Tỷ lệ nhiễm HIV trên nhóm nghiện chích ma túy tại 20 tỉnh triển khai giám sát trọng điểm HIV năm 2019 chiếm 12,78 % có xu hướng giảm so với năm 2017(13,98 % )[14].
Tình hình nghiện ma túy và nhiễm HIV/AIDS tại tỉnh Thanh Hoá 1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG MA TUÝ
Tình hình nghiện ma túy tại Thanh Hóa, tỉnh có dân số đông thứ ba cả nước với 3.400.439 người, đang diễn biến phức tạp do điều kiện địa lý thuận lợi cho buôn bán và sử dụng ma túy Đến cuối năm 2015, có 6.530 người nghiện được quản lý, trong đó hơn 1.000 người nghi nghiện, chủ yếu là nam giới trong độ tuổi 18-45 Số người nghiện sống trong cộng đồng là 3.319, với heroin là loại ma túy phổ biến nhất, chiếm 90,9% Hình thức sử dụng chủ yếu là tiêm chích (90,7%), trong khi 20,6% người nghiện không có nghề nghiệp và thường có học vấn thấp Tình trạng nghiện ma túy đã dẫn đến nhiều tội phạm ảnh hưởng đến an ninh xã hội, với người sử dụng có mặt tại tất cả 27 huyện, tập trung chủ yếu ở 7 huyện lớn Đồng thời, tình hình HIV/AIDS cũng đang gia tăng và diễn biến phức tạp trên địa bàn tỉnh.
Từ khi phát hiện trường hợp nhiễm HIV đầu tiên vào tháng 11 năm 1995, đến cuối năm 2015, tổng số người nhiễm HIV/AIDS còn sống là 4.262, trong khi 1.949 người đã tử vong do AIDS Tình hình dịch bệnh đã lan rộng, với 27/27 huyện, thị xã, thành phố và 584/635 (91,8%) xã, phường, thị trấn ghi nhận có trường hợp nhiễm HIV/AIDS.
Tính đến ngày 31/12/2020, tổng số người nhiễm HIV/AIDS tại Việt Nam là 8.372, trong đó 4.099 người còn sống và đang được quản lý, bao gồm 3.567 người ở Thanh Hóa và 532 người tại các trại giam Virus HIV đã xuất hiện ở tất cả các huyện, thị xã và thành phố trên toàn quốc.
93,8% xã/phường/thị trấn Lây nhiễm HIV tại Thanh Hóa cũng tập trung ở các nhóm nguy cơ cao là TCMT, PNBD và lây từ mẹ sang con[23].
1.3 MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA NGƯỜI SỬ DỤNG MA TUÝ
Đặc điểm kinh tế và xã hội của người nghiện ma túy tại Việt Nam
Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, phần lớn người nghiện ma túy có trình độ văn hoá thấp, với 69% có trình độ dưới trung học phổ thông, đặc biệt trong cộng đồng dân tộc miền núi Đáng chú ý, 95% người sử dụng ma túy là nam giới và 59% có gia đình Độ tuổi người nghiện ma túy đang trẻ hoá, với tỷ lệ lớn dưới 30 tuổi, nhưng tại các tỉnh miền núi phía Bắc như Thái Nguyên, Hòa Bình, Tuyên Quang và Thanh Hoá, tỷ lệ người trên 30 tuổi lại cao hơn Nguyên nhân có thể là do người nghiện ở miền núi sử dụng thuốc phiện lâu hơn so với các tỉnh đồng bằng và thành phố lớn.
Chi phí sử dụng ma túy gấp ba lần thu nhập của người nghiện, tạo gánh nặng kinh tế lớn cho gia đình Khoản tiền này không chỉ ảnh hưởng đến tình hình tài chính mà còn là nguyên nhân dẫn đến các hành vi phạm pháp như trộm cắp và cướp giật, gây ra bất ổn và đe dọa an ninh xã hội.
Theo báo cáo của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, 38% người có tiền án tiền sự và 11% có tên trong hồ sơ quản lý nhà nước Tại các thành phố lớn như Hải Phòng, tỷ lệ này cao hơn, với 40,8% có hành vi phạm pháp và 13,0% có tiền sự Người nghiện ma túy thường phạm tội để có tiền thỏa mãn cơn nghiện, thông qua các hình thức như trộm cướp, buôn lậu và vận chuyển chất gây nghiện Sự liên kết giữa nghiện ma túy và vi phạm pháp luật khiến người nghiện khó thoát ra Điều trị nghiện bằng Methadone được coi là phương pháp hiệu quả giúp giảm tình trạng phạm pháp trong nhóm người sử dụng ma túy.
Đặc điểm về sử dụng ma túy và hành vi nguy cơ
Tại Việt Nam, heroin là loại ma túy chủ yếu được người nghiện sử dụng, với độ tuổi khởi đầu khoảng 20 Thời gian sử dụng ma túy thường kéo dài từ 5-10 năm, dẫn đến nhiều trường hợp sốc thuốc, nguyên nhân trực tiếp gây tử vong và ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe của người nghiện.
Nhiều người nghiện ma túy đã thử các phương pháp cai nghiện như cai tại trung tâm, cơ sở tư nhân, tự mua thuốc hoặc điều trị cắt cơn tại cộng đồng Tuy nhiên, hầu hết đều tái nghiện do cơn thèm thuốc, sự tác động từ bạn bè, hoặc cảm giác buồn chán và thất vọng.
Việc sử dụng chung bơm kim tiêm (BKT) và các dụng cụ tiêm chích là nguyên nhân chính lây truyền HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy (TCMT) Theo kết quả giám sát năm 2014, có 13,1% người NCMT tại Việt Nam cho biết đã sử dụng chung BKT trong tháng trước, với tỷ lệ cao ở Sơn La (38%), Kiên Giang (34%), Đắc Lắc (32%) và Gia Lai (22,7%) Đặc biệt, tỷ lệ người TCMT nhiễm HIV tiếp tục sử dụng BKT là rất cao, tạo ra nguy cơ gia tăng tỷ lệ nhiễm HIV tại các tỉnh như Hà Nội, Quảng Ninh, Yên Bái, Thanh Hóa, Đồng Nai, TP Hồ Chí Minh và Cần Thơ.
Tỷ lệ người tiêm chích ma túy (TCMT) sử dụng bao cao su (BCS) khi quan hệ tình dục với phụ nữ bán dâm (PNBD) vẫn ở mức thấp, chỉ từ 38% đến 74% Đây là một chỉ số cảnh báo về nguy cơ lây truyền HIV giữa hai nhóm này Nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh cho thấy chỉ 50% người TCMT có quan hệ tình dục với PNBD trong 4 tuần qua sử dụng bao cao su.
Gần 18,2% người tham gia khảo sát tại Hải Phòng cho biết đã có quan hệ tình dục với người bán dâm trong 12 tháng qua Đáng chú ý, có tới 8,9% trong số đó không sử dụng bao cao su thường xuyên khi quan hệ tình dục với người bán dâm.
Nhiều nghiên cứu toàn cầu nhấn mạnh rằng để phòng chống HIV/AIDS hiệu quả, cần thực hiện các biện pháp giảm thiểu hành vi nguy cơ trong nhóm tiêm chích ma túy Các biện pháp này bao gồm khuyến khích sử dụng 100% bao cao su, triển khai chương trình trao đổi bơm kim tiêm sạch và cung cấp chương trình điều trị thay thế bằng Methadone.
Tác động của ma tuý đến sức khỏe, gia đình và xã hội 1.4 ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ
Tác động đến sức khỏe: Ước tính trên toàn cầu có khoảng 1.650.000 người
TCMT sống chung với HIV, với 13,5% người TCMT có HIV (+), đặc biệt cao ở Tây Nam Á (29%) và Đông Nam Âu (23%) Tử vong sớm là vấn đề nghiêm trọng, chủ yếu do nhiễm bệnh truyền nhiễm và quá liều, với tỷ lệ tử vong ở người TCMT là 2,35 trên 100 người-năm, cao hơn so với dân số cùng độ tuổi Châu Á có số lượng người TCMT lớn nhất, chiếm hơn 1/3 toàn cầu, với tỷ lệ tử vong 5,25 trên 100 người-năm Can thiệp dựa trên bằng chứng, như chương trình bơm kim tiêm sạch, điều trị thay thế bằng Methadone, điều trị kháng virus và Naloxone, có thể hiệu quả trong phòng ngừa và chăm sóc HIV cho người TCMT Điều trị thay thế CDTP giúp giảm 54% nguy cơ lây nhiễm HIV mới trong nhóm TCMT.
Việc sử dụng bơm kim tiêm chung làm tăng nguy cơ nhiễm HIV và viêm gan C ở người tiêm chích ma túy (TCMT) Trung bình, khoảng 13,1% người TCMT đang sống với HIV, trong khi tỷ lệ nhiễm viêm gan C ở nhóm này cao gấp 25 lần so với dân số toàn cầu, với ước tính 2,2% dân số thế giới bị nhiễm Việc xác định tình trạng nhiễm viêm gan C là rất quan trọng để điều trị và ngăn ngừa lây nhiễm cho người khác Mặc dù tỷ lệ người TCMT có HCV dương tính cao ở nhiều nước châu Âu, nhưng số người tham gia điều trị lại rất thấp, với khoảng 49% trường hợp nhiễm HCV không được chẩn đoán và chỉ 19% trong số những người được chẩn đoán bắt đầu điều trị thuốc kháng virus.
Nguy cơ sức khỏe tâm thần ở người nghiện ma túy là rất cao, với nhiều nghiên cứu cho thấy họ thường gặp phải căng thẳng tâm lý, tỷ lệ tự sát cao và chất lượng cuộc sống thấp Những vấn đề sức khỏe tâm thần phổ biến bao gồm trầm cảm, lo âu, rối loạn lưỡng cực, rối loạn tăng động và rối loạn nhân cách xã hội, dẫn đến cảm giác buồn bã, lo lắng, thay đổi tâm trạng và khó khăn trong việc duy trì mối quan hệ tốt với người khác.
Nghiện ma túy không chỉ ảnh hưởng đến người bệnh mà còn tác động nghiêm trọng đến gia đình và xã hội Mỗi người nghiện cần từ 50.000 đến 2.000.000 VNĐ mỗi ngày để thỏa mãn cơn thèm thuốc, dẫn đến việc họ có thể bán tài sản, trộm cắp, hành nghề mại dâm, hoặc thậm chí phạm tội nghiêm trọng như giết người Sự hiện diện của người nghiện trong gia đình gây ra lo lắng và stress cho các thành viên khác, làm giảm sút sức khỏe tinh thần và thể chất của họ Ngoài ra, tình trạng nghiện ma túy còn gây mất trật tự an toàn xã hội, gia tăng các tệ nạn như lừa đảo, trộm cắp, và bệnh tật, từ đó làm tăng gánh nặng chi phí cho ngân sách xã hội trong việc ngăn chặn và xử lý hậu quả do ma túy gây ra.
1.4 ĐIỀU TRỊ NGHIỆN MA TUÝ
Các nguyên tắc trong điều trị nghiện ma túy
WHO và UNODC đồng thuận khuyến nghị các quốc gia thực hiện 9 nguyên tắc trong điều trị nghiện ma tuý[8, 17, 30, 38], bao gồm:
1) Tính sẵn có và dễ tiếp cận của chương trình điều trị:
2) Sàng lọc, đánh giá, chẩn đoán và lập kế hoạch điều trị;
3) Điều trị dựa trên bằng chứng;
4) Đảm bảo quyền con người và phẩm hạnh của bệnh nhân;
5) Tập trung vào các nhóm đối tượng cần sự quan tâm đặc biệt;
6) Điều trị lệ thuộc và hệ thống tư pháp;
7) Sự tham gia của cộng đồng và định hướng bệnh nhân;
8) Quản lý (lâm sàng) các dịch vụ điều trị;
9) Hệ thống điều trị - phát triển chính sách, kế hoạch chiến lược và điều phối các dịch vụ.
Chi phí và lợi ích của điều trị ma túy cho thấy tỷ lệ tiết kiệm ít nhất là 3:1, tức là mỗi đô la chi cho điều trị sẽ tiết kiệm được ba đô la Khi tính toán đến các chi phí liên quan đến tội phạm, sức khỏe và năng suất lao động, tỷ lệ tiết kiệm có thể lên tới 13:1 Điều này chứng tỏ lợi ích lớn của điều trị không chỉ ở việc phục hồi cho bệnh nhân mà còn ở tác động tích cực đến sức khỏe cộng đồng và hiệu quả kinh tế.
Điều trị nghiện ma túy trên thế giới
Nhiều năm qua, các nghiên cứu đã chỉ ra rằng các phương pháp điều trị rối loạn sử dụng ma túy có hiệu quả trong việc giúp người nghiện tạm dừng sử dụng, ngăn ngừa tái nghiện, giảm thiểu tội phạm liên quan đến ma túy, cải thiện các rối loạn hành vi khác, và đóng góp tích cực cho gia đình và xã hội.
Biểu 1 1 Điều trị lệ thuộc ma túy bằng dược lý theo khu vực trên toàn cầu
Các khu vực khác nhau trên thế giới có các dịch vụ can thiệp khác nhau, với can thiệp tâm lý, tư vấn đặc biệt và hỗ trợ xã hội dễ tiếp cận hơn Hơn một phần ba quốc gia báo cáo có các can thiệp tâm lý xã hội và dịch vụ chăm sóc, trong khi hơn một phần tư có dịch vụ can thiệp dược lý Tuy nhiên, hiệu quả của các biện pháp can thiệp này rất khó xác định, với dịch vụ dược lý và tâm lý xã hội ở Châu Âu đạt chất lượng cao hơn, đặc biệt là tại Tây và Trung Âu Ở nhiều khu vực khác, chính phủ chưa sẵn sàng cho điều trị lệ thuộc ma túy bằng thuốc, dẫn đến giới hạn trong chương trình Tại châu Phi, tư vấn là biện pháp can thiệp phổ biến nhất, do cần sa là chất được điều trị nhiều nhất Dịch vụ điều trị rối loạn sử dụng ma túy còn hạn chế, với chỉ một trong sáu người có rối loạn được điều trị mỗi năm trên toàn cầu, và tỉ lệ này chỉ là 1/18 ở Châu Phi so với 1/5 ở Tây và Trung Âu, cho thấy sự chênh lệch lớn trong khả năng tiếp cận dịch vụ.
Biểu 1 2 Điều trị nghiện ma túy theo khu vực trên toàn cầu
Sự khác biệt giữa các vùng về loại thuốc điều trị cho người sử dụng ma túy rất rõ rệt Ở Châu Phi, Cần sa là loại thuốc chủ yếu, trong khi Bắc Mỹ sử dụng Cần sa, Cocain và một ít Opioid Mỹ Latinh chủ yếu sử dụng Cocain và Cần sa Tại Châu Á, Opioid là loại thuốc điều trị chính, tiếp theo là ATS và Cần sa Ở Châu Âu, Opioid đứng sau Cần sa, Cocain và ATS, trong khi tại Châu Đại Dương, Cần sa xếp sau Opioid và ATS.
Điều trị nghiện ma túy tại Việt Nam 1.5 ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNG METHADONE
Phương pháp cai nghiện ma túy dạng thuốc phiện tại Việt Nam được thực hiện theo quy trình hướng dẫn của liên Bộ Lao động - Thương binh - Xã hội và Bộ Y tế, bao gồm các bước như điều trị cắt cơn, giải độc, giáo dục phục hồi hành vi và nhân cách, lao động trị liệu, học văn hóa, học nghề, lao động sản xuất và hội nhập cộng đồng Các bài thuốc hỗ trợ cắt cơn nghiện do Bộ Y tế khuyến nghị bao gồm thuốc hướng thần, thuốc Bông Sen, Cedemex và phương pháp điện châm Để chống tái nghiện, thuốc đối kháng Natrexone cũng được sử dụng cho người nghiện ma túy có nguồn gốc thuốc phiện.
Từ năm 2008, Bộ Y tế đã triển khai chương trình điều trị thay thế nghiện chất dạng thuốc phiện bằng Methadone nhằm giảm tỷ lệ nhiễm HIV trong nhóm người tiêm chích ma túy Bên cạnh việc sử dụng thuốc, chương trình còn bao gồm các biện pháp hỗ trợ xã hội như hướng nghiệp, dạy nghề, tạo việc làm cho người cai nghiện, cũng như các liệu pháp tâm lý, tư vấn dự phòng nghiện, liệu pháp tâm lý nhóm, liệu pháp tâm lý gia đình và liệu pháp nhận thức hành vi Những hoạt động này được thực hiện tại nhiều địa phương thông qua các dự án hợp tác quốc tế với PEPFAR và UNODC.
Phương pháp và mục tiêu điều trị nghiện ma túy tại Việt Nam đang có sự chuyển biến, bao gồm việc điều trị nhằm từ bỏ sự phụ thuộc và duy trì giảm dần sự lệ thuộc vào ma túy Mặc dù đã có những nỗ lực trong việc điều trị để từ bỏ nghiện, nhưng hiệu quả vẫn chưa đạt được như mong muốn.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống ma túy năm 2008 quy định hai hình thức cai nghiện tại Việt Nam, bao gồm cai nghiện tại gia đình, cai nghiện tại cộng đồng và cai nghiện tại Trung tâm Bên cạnh đó, có hai biện pháp cai nghiện chính là cai nghiện tự nguyện và cai nghiện bắt buộc.
Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng được thực hiện thông qua hai biện pháp tự nguyện và bắt buộc, dưới sự tổ chức của Chủ tịch UBND cấp xã Chủ tịch thành lập Tổ công tác cai nghiện ma túy, do Phó chủ tịch UBND cấp xã làm Tổ trưởng, với sự tham gia của các thành viên từ Y tế, Công an, Lao động - Thương binh và Xã hội, tổ dân phố và các đoàn thể liên quan Các thành viên làm việc kiêm nhiệm và thực hiện các hoạt động cai nghiện tại các cơ sở chuyên biệt hoặc lồng ghép với cơ sở y tế Từ năm 1994 đến tháng 6 năm 2013, cả nước đã thực hiện cai nghiện cho 246.994 lượt người, trung bình mỗi năm cai cho hơn 10.000 lượt, chiếm 8% tổng số người nghiện có hồ sơ quản lý.
Cai nghiện tại gia đình và cộng đồng hiện đang gặp nhiều hạn chế, với chỉ khoảng 8% người nghiện tự nguyện đăng ký cai nghiện Phần lớn người nghiện buộc phải cai nghiện tại cộng đồng, nhưng chất lượng dịch vụ chưa đáp ứng yêu cầu, khiến tỷ lệ tái nghiện lên tới hơn 90% Các hoạt động tư vấn, hỗ trợ tâm lý và chăm sóc sức khỏe chưa được chú trọng, dẫn đến việc cai nghiện thường mang tính hình thức và chỉ tập trung vào việc điều trị cắt cơn trong thời gian ngắn Kết quả là, cai nghiện tại gia đình và cộng đồng không hiệu quả, với nhiều người nghiện tái nghiện và bị đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc.
Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội (Trung tâm 06) hàng năm tiếp nhận từ 40.000 đến 50.000 lượt người nghiện, trong đó cai nghiện bắt buộc chiếm 80% và cai nghiện tự nguyện chiếm 20% Hoạt động của trung tâm không chỉ giúp giảm sử dụng ma túy trái phép mà còn giảm gánh nặng kinh tế và tâm lý cho người nghiện và gia đình họ, đồng thời góp phần ngăn ngừa lây nhiễm HIV và duy trì an ninh trật tự xã hội.
Trung tâm 06 gặp nhiều hạn chế trong việc xử lý vi phạm pháp luật đối với người nghiện, khi hầu hết các tỉnh thành (59/63 tỉnh) đều thành lập nhưng vị trí đặt tại vùng sâu, xa, cách ly với cộng đồng, dẫn đến khó khăn trong việc tiếp cận Điều này khiến số lượng người vào cai nghiện không đạt công suất, gây lãng phí đầu tư; ví dụ, Trung tâm Phú Yên thiết kế cho 200 người nhưng chỉ có 5-15 người cai nghiện, trong khi Bình Định và Thừa Thiên Huế cũng chỉ có 30-40 và 20-30 người tương ứng Hơn nữa, chương trình dạy nghề tại Trung tâm còn đơn giản, chủ yếu đào tạo trình độ sơ cấp, không đáp ứng nhu cầu thị trường lao động, khiến học viên khó tìm việc làm sau khi rời Trung tâm.
1.5 ĐIỀU TRỊ THAY THẾ CHẤT DẠNG THUỐC PHIỆN BẰNGMETHADONE
Khái niệm về Methadone
Methadone là một chất tổng hợp đồng vận với các chất dạng thuốc phiện, có chu kỳ bán hủy dài hơn 24 giờ, giúp duy trì nồng độ ổn định trong máu Điều này giữ cho người bệnh không bị chao đảo và khó chịu, cho phép họ thực hiện các chức năng hoạt động bình thường Nhờ vậy, người bệnh có thể dần trở lại với những sở thích đã mất và theo đuổi lối sống lành mạnh, kỷ cương, hữu ích, từ đó tăng khả năng tái hòa nhập xã hội.
Mục đích của điều trị
Giảm thiểu việc sử dụng các chất dạng thuốc phiện bất hợp pháp và tỉ lệ tiêm chích liên quan đến chúng là rất quan trọng để giảm thiểu tác hại do nghiện gây ra, bao gồm hoạt động tội phạm, lây nhiễm HIV, viêm gan B, viêm gan C từ việc sử dụng chung bơm kim tiêm, cũng như tử vong do quá liều Cải thiện sức khỏe cá nhân và cộng đồng không chỉ giúp người nghiện duy trì việc làm mà còn ổn định cuộc sống lâu dài, từ đó tăng cường sức sản xuất cho xã hội.
Chỉ định điều trị Methadone
Methadone được chỉ định để điều trị triệu chứng đau từ vừa đến nặng và các cơn đau mãn tính Nó cũng được sử dụng trong hội chứng cai khi cắt cơn giải độc nghiện các chất dạng thuốc phiện như Heroin và Morphine, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong điều trị thay thế nghiện các chất này.
Chống chỉ định điều trị Methadone
Người bị dị ứng với Methadone, mắc bệnh gan nặng hoặc mất bù, cũng như những trường hợp suy hô hấp nặng, hen cấp tính, chấn thương sọ não, tăng áp lực nội sọ, viêm loét đại tràng, co thắt đường tiết niệu và đường mật cần thận trọng Đặc biệt, những người có rối loạn tâm thần nặng chưa được điều trị ổn định như tâm thần phân liệt, rối loạn cảm xúc lưỡng cực, và trầm cảm có ý tưởng và hành vi tự sát cũng cần lưu ý Ngoài ra, bệnh nhân đang điều trị bằng các loại thuốc đồng vận, đối vận, hoặc kết hợp cả hai với CDTP như LAAM, Naltrexone, và Buprenorphine cũng cần được theo dõi kỹ lưỡng.
Cần thận trọng khi điều trị cho những đối tượng như người nghiện nhiều loại ma túy, người nghiện rượu, những người có tiền sử sử dụng Naltrexone, bệnh nhân tâm thần đang dùng thuốc hướng thần, và những người mắc các bệnh mãn tính.
Tác dụng không mong muốn
Người bệnh điều trị bằng Methadone có thể gặp một số tác dụng phụ không mong muốn như táo bón, khô miệng, tăng tiết mồ hôi, rối loạn giấc ngủ, buồn nôn, nôn, giãn mạch, ngứa, rối loạn kinh nguyệt ở phụ nữ, vú to ở nam giới và rối loạn chức năng tình dục.
Tương tác thuốc
Những người nghiện CDTP đồng nhiễm HIV và Lao đang điều trị bằng Methadone cần chú ý đến các tương tác thuốc với ARV và thuốc điều trị lao Các tương tác này có thể dẫn đến giảm hiệu quả của liệu pháp Methadone, giảm hiệu quả điều trị ARV và giảm tuân thủ điều trị.
Duy trì điều trị Methadone
Theo Tổ chức Y tế Thế giới, tỷ lệ duy trì điều trị của bệnh nhân sau 1 năm đạt từ 60%-80% được xem là trung bình, trong khi trên 80% được coi là điều trị thành công Bộ Y tế cũng khuyến nghị thời gian tối thiểu điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng Methadone là 1 năm để đảm bảo hiệu quả Ngược lại, tỷ lệ bỏ điều trị là chỉ số quan trọng để đánh giá hiệu quả điều trị; tỷ lệ này càng thấp thì hiệu quả điều trị càng cao.
Nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy tỷ lệ duy trì điều trị Methadone sau 1 năm đạt 86,4%, năm thứ 2 là 83,5% và giảm xuống còn 77,7% vào năm thứ ba Tại Đài Loan, tỷ lệ bỏ trị sau 12 tháng là 41,6%, trong khi ở Trung Quốc, tỷ lệ tuân thủ điều trị Methadone chỉ đạt 55,2% sau 12 tháng và 43% sau 24 tháng Ngược lại, tại Israel, tỷ lệ tuân thủ điều trị Methadone là 74,4% sau 12 tháng.
Lịch sử phát triển của điều trị thay thế CDTP bằng Methadone 1.6 MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ METHADONE
Trên Thế giới: Hiện nay có các loại thuốc tương đối phổ biến dùng để điều trị nghiện các CDTP đó là Methadone, Buprenorphine và Naltrexone.
Methadone được phát triển trong Chiến tranh thế giới thứ II với mục đích giảm đau cho quân nhân, và hiện nay nó nằm trong danh sách thuốc thiết yếu của WHO, được quản lý theo Công ước năm 1961 về ma túy Vào năm 1964, hai bác sĩ Marie Nyswander và Vincent Dole đã thử nghiệm Methadone để điều trị cho những người nghiện Heroin, phát hiện rằng nó giúp người nghiện ngừng sử dụng Heroin mà không cần tăng liều Từ đó, liệu pháp điều trị duy trì bằng Methadone ra đời, được đánh giá là phương pháp hiệu quả cho những người nghiện chất gây nghiện và là một trong bốn biện pháp can thiệp thuốc thay thế được WHO khuyến cáo để phòng ngừa lây nhiễm HIV trong nhóm tiêm chích ma túy.
80 quốc gia đã triển khai chương trình điều trị thay thế các CDTP bằng Methadone
Tại Việt Nam, từ cuối năm 1996, Viện Sức khỏe tâm thần Trung ương đã triển khai nghiên cứu và thử nghiệm điều trị thay thế bằng Methadone Chương trình thí điểm được thực hiện tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2008 Đến ngày 31/12/2015, đã có 57 tỉnh triển khai với 239 cơ sở điều trị Methadone, phục vụ 43.720 người Thuốc Methadone đã được cấp phát đến các tuyến xã, phường.
Tính đến ngày 31/12/2020, chương trình Methadone đã được triển khai tại tất cả 63 tỉnh, thành phố, với 562 cơ sở điều trị và cấp phát thuốc Methadone, phục vụ cho 52.725 bệnh nhân.
Từ giai đoạn thí điểm năm 2008 đến 2019, hệ thống văn bản và hướng dẫn chuyên môn đã được xây dựng để hướng dẫn điều kiện hoạt động, tổ chức điều trị và phác đồ điều trị tại cộng đồng, trại giam và cơ sở cai nghiện bắt buộc Hệ thống này cũng quy định việc cung ứng và quản lý thuốc, cơ chế chính sách ngân sách hỗ trợ cho đối tượng tham gia điều trị, cũng như các khoản phí và khung giá dịch vụ điều trị Đặc biệt, đã có hướng dẫn cụ thể về việc cấp phát thuốc Methadone tại các xã, phường, thị trấn, giúp cải thiện khả năng tiếp cận và duy trì tuân thủ điều trị cho người bệnh.
Tại tỉnh Thanh Hóa, chương trình thí điểm điều trị Methadone được triển khai từ tháng 3/2011, ban đầu chỉ có một cơ sở điều trị, nhưng đến cuối năm 2015 đã mở rộng ra 20 cơ sở với 1.850 người nghiện ma túy được điều trị Đến cuối năm 2019, chương trình đã bao phủ 25/27 huyện/thị/thành phố với 42 cơ sở, phục vụ gần 2.700 người Mô hình thí điểm điều trị tại xã Thành Sơn và Trung Sơn, huyện Quan Hóa đã cho kết quả tích cực Tỷ lệ bỏ trị chỉ còn 18,7%, tỷ lệ bệnh nhân tiếp tục sử dụng ma túy giảm từ 100% xuống 17,3% Trong số bệnh nhân, tần suất sử dụng Heroin giảm còn 1-2 lần/tháng (15% đến 20%) Đặc biệt, không phát hiện trường hợp nhiễm HIV mới trong số bệnh nhân âm tính khi bắt đầu điều trị, và môi trường xã hội tại các khu vực có nhiều bệnh nhân điều trị đã cải thiện rõ rệt, giảm tỷ lệ vi phạm pháp luật.
1.6 MÔ HÌNH ĐIỀU TRỊ METHADONE
1.6.1 Mô hình điều trị Methadone trên Thế giới
Các loại mô hình triển khai tại các quốc gia trên Thế giới là:
1) Mô hình phòng khám độc lập là Phòng khám Methadone với các nhân viên y tế chuyên trách, có bác sĩ điều trị, nhân viên tư vấn, nhân viên cấp phát thuốc;
2) Mô hình điều trị Methadone lồng ghép trong các cơ sở y tế, trại tù có bác sĩ điều trị, nhân viên tư vấn, nhân viên cấp phát thuốc làm kiêm nhiệm.
Tại Hồng Kông, chương trình Methadone được khởi động từ năm 1972 với sự thành lập của các phòng khám độc lập, bao gồm bác sĩ điều trị và nhân viên tư vấn Đây là chương trình Methadone lớn nhất và lâu dài nhất ở châu Á, với 21 phòng khám hiện tại phục vụ khoảng 8.000 người nghiện mỗi ngày Tất cả các phòng khám hoạt động liên tục 7 ngày trong tuần, và trong những ngày mưa bão, 12 phòng khám vẫn mở cửa để đảm bảo dịch vụ cho bệnh nhân.
Tại Trung Quốc, các phòng khám Methadone do Hội Chữ thập đỏ quản lý, với nhân viên được đào tạo chuyên sâu về điều trị Methadone, bao gồm khám, kê liều và tư vấn Hiện nay, cả nước có 716 phòng khám Methadone phân bố ở 28 tỉnh.
>330.000 bệnh nhân được điều trị bằng Methadone >132,000 điều trị ở liều duy trì. Ngăn ngừa được 7.000 trường hợp nhiễm HIV, giảm được > 42 tấn Heroin tiêu thụ
Tại In-đô-nê-xia: Chương trình Methadone triển khai trong nhà tù ở (4 nhà tù)
Các phòng khám điều trị thay thế bằng Methadone có đội ngũ y tế trong tù chịu trách nhiệm cấp phát thuốc Methadone Đồng thời, các hoạt động giảm tác hại được tích hợp, bao gồm cung cấp Methadone, bao cao su, xét nghiệm HIV (VCT) và điều trị ARV.
Tại Malaysia, các Phòng khám điều trị và chăm sóc (C&C) được Cơ quan phòng, chống ma túy quốc gia Malaysia xây dựng và quản lý Tại đây, bệnh nhân có thể nhận tư vấn và điều trị tự nguyện, với quyền tự rút khỏi chương trình bất kỳ lúc nào mà không gặp trở ngại pháp lý Mỗi phòng khám hiện có khoảng 60 cán bộ, bao gồm bác sĩ và nhân viên y tế, đảm bảo hỗ trợ tốt nhất cho bệnh nhân.
Tại Mỹ, các phòng khám Methadone độc lập cung cấp dịch vụ điều trị cho hơn 210.000 người nghiện Heroin, với đội ngũ nhân viên y tế được đào tạo bài bản Kể từ năm 1964, chương trình Methadone đã được áp dụng rộng rãi, giúp giảm đáng kể tỷ lệ tội phạm liên quan đến ma túy và ổn định trật tự xã hội Sau năm 1980, tỷ lệ lây nhiễm HIV, viêm gan B và C trong nhóm nghiện Heroin cũng giảm rõ rệt Hiện nay, có khoảng 750 phòng khám Methadone, chủ yếu là tư nhân, cho phép bệnh nhân mang Methadone về nhà uống, tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều trị.
Mô hình tại Ét-tô-nia: Là các Phòng khám đặt tại Trung tâm phòng chống
Tình hình HIV/AIDS tại các tỉnh của Việt Nam tương tự như nhiều nơi khác Tại các phòng khám, bệnh nhân được cung cấp dịch vụ y tế đa dạng, bao gồm tư vấn xét nghiệm HIV, điều trị bằng thuốc ARV và điều trị thay thế bằng Methadone.
Các Phòng khám Methadone trên thế giới đều thực hiện điều trị thay thế CDTP bằng Methadone, bắt đầu với liều thấp từ 15-30mg, tùy thuộc vào khả năng dung nạp của người bệnh, với liều trung bình là 20mg Liều lượng sẽ được điều chỉnh dần cho phù hợp, kèm theo tư vấn tuân thủ điều trị và xét nghiệm kiểm tra CDTP trong nước tiểu Tuy nhiên, mỗi quốc gia có thể có sự khác biệt, với một số Phòng khám cung cấp thêm dịch vụ như tư vấn xét nghiệm HIV (VCT), điều trị ARV, phát thuốc BKT sạch và hỗ trợ việc làm.
1.6.2 Mô hình điều trị Methadone tại Việt Nam
Theo Thông tư số 12/2013/TT-BYT ban hành ngày 12/4/2013 của Bộ Y tế, hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định 96/2012/NĐ-CP ngày 15/11/2012 và Nghị định 90/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016, quy định về điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
Hình 1 Mô hình cơ sở điều trị Methadone tại Việt Nam
CÁC NGHIÊN CỨU VỀ KẾT QUẢ ĐIỀU TRỊ METHADONE 26 1 Làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp 2 Giảm hành vi tiêm chích ma túy và dùng chung bơm kim tiêm
1.7.1 Làm giảm sử dụng ma túy bất hợp pháp
Khi điều trị bằng Methadone đến liều ổn định, người nghiện giảm đáng kể sự thèm muốn ma túy Nghiên cứu của Vũ Văn Công tại Hải Phòng năm 2009 đã chứng minh hiệu quả rõ rệt của Methadone trong việc giảm sử dụng ma túy, với số ngày trung bình sử dụng Heroin giảm từ 29,1 ngày trước khi điều trị xuống còn 0,5 ngày sau 60 ngày điều trị.
Nghiên cứu năm 2009 tại Hải Phòng và thành phố Hồ Chí Minh cho thấy tỷ lệ sử dụng Heroin đã giảm đáng kể, từ 100% xuống còn 34,6% ở Hải Phòng và 36,2% tại thành phố Hồ Chí Minh sau 3 tháng Sau 2 năm, tỷ lệ này tiếp tục giảm xuống còn 22,9% ở Hải Phòng và 14,6% tại thành phố Hồ Chí Minh.
Nghiên cứu của Nasir và cộng sự tại Malaysia vào năm 2010 trên 216 bệnh nhân cho thấy điểm số sử dụng Heroin giảm rõ rệt sau 12 tháng, với sự khác biệt đạt 2.01 (p