- Thực hiện chỉ thị của trên, từ tháng 5 đến tháng 10/1947 Tỉnh đội Dân quân Liên tỉnh Quảng-Hồng và Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh lần lượt được thành lập (tiền thân của Bộ CHQS tỉnh ngày[r]
Trang 1BÀI DỰ THI
LỰC LƯỢNG VŨ TRANG QUẢNG NINH – LỊCH SỬ VÀ NHỮNG CHIẾN CÔNG
Người dự thi: Hà Hoàng Giang
Đơn vị: Chi bộ trường PTDT Nội Trú Hải Hà- Quảng Ninh.
Câu hỏi 1: Bạn hãy cho biết câu nói “Quảng Ninh được ví như một nước Việt Nam thu nhỏ” là của ai? Nói vào thời điểm nào? Sông Bạch Đằng nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII) đã lập nên chiến công oanh liệt, hiện nay thuộc những địa
phương nào? Ai là người lãnh đạo lập nên những chiến công đó?
Trả lời:
* Câu nói “Quảng Ninh được ví như một nước Việt Nam thu nhỏ” là của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng nhân chuyến thăm và làm việc tại Quảng Ninh
Từ ngày 27 đến ngày 28/2/1986, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng Phạm Văn Đồng về thăm và làm việc tại tỉnh Quảng Ninh Sau khi nghe lãnh đạo tỉnh báo cáo tình hình phát triển kinh tế-xã hội, đồng chí phấn khởi và biểu dương Đảng bộ, nhân dân các dân tộc và lực lượng vũ trang Quảng Ninh đã có nhiều cố gắng, vượt qua khó khăn, xây dựng và phát triển kinh tế-xã hội đạt được những thành tựu quan trọng
Trước khi kết thúc chuyến thăm và làm việc, Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng căn dặn: “Quảng Ninh là một nơi đầy tự hào của đất nước, Đảng bộ, nhân dân lao động
và các LLVT Quảng Ninh là những người đáng tự hào, các đồng chí phải làm cho Quảng Ninh là một nước Việt Nam thu nhỏ nhưng giàu đẹp hơn nhiều”
Hỏi: Sông Bạch Đằng nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII) đã lập nên chiến công oanh liệt, hiện nay thuộc những địa phương nào? Ai là người lãnh đạo lập nên những chiến công đó?
Trả lời:
Quảng Ninh là mảnh đất giàu truyền thống yêu nước chống giặc ngoại xâm Nhiều tên đất, tên làng, tên sông đã gắn liền với những chiến công oanh liệt, một trong những địa danh gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc ta là sông Bạch Đằng (còn gọi là Bạch Giang), hiện là sông Vân Cừ, sông chảy giữa thị xã Quảng Yên/ tỉnh Quảng Ninh và Thuỷ Nguyên/ TP Hải Phòng Sông có chiều dài 32km, là con đường thuỷ tốt nhất để đi vào Hà Nội (Thăng Long ngày xưa)
Sông Bạch Đằng là nơi quân và dân ta (thế kỷ X và XIII) đã lập nên những chiến công oanh liệt Những chiến công đó là:
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ nhất: Cuối mùa đông năm 938, vua Nam Hán phong con là Vạn Vương Hoằng Thao làm Gia Vương sai đem thủy quân đi xâm lược nước ta Nắm vững đường tiến quân từ hướng biển vào, Ngô Quyền đã huy động quân sĩ đẵn gỗ, đẽo thành cọc, đầu bịt sắt nhọn, cắm xuống sông Bạch Đằng, xây dựng thành một trận địa ngầm, có quân mai phục hai bên, sẵn sàng chờ giặc tới
Hoằng Thao đem thủy binh ồ ạt kéo vào phía cửa sông Bặch Đằng Đang lúc thủy triều lên ngập hết bãi cọc, Ngô Quyền cho quân dùng thuyền nhẹ ra đánh, nhử quân Nam Hán từ Vịnh Hạ Long vào Quân ta vờ rút chạy, tướng trẻ Hoằng Thao mắc mưu, đắc chí thúc quân đuổi theo vượt qua trận địa ngầm của quân ta Quân ta
Trang 2chiến đấu cầm cự với giặc Khi thủy triều rút mạnh, Ngô Quyền ra lệnh cho toàn
bộ quân ta phản công địch Thủy quân Nam Hán hoảng hốt quay đầu lại Ra đến gần cửa biển, thuyền địch đâm phải cọc nhọn, bị vỡ và bị đâm rất nhiều quân giặc phần bị giết, phần bị chết đuối, thiệt hại đến quá nửa Hoằng Thao cũng bỏ mạng tại đây Vua Nam Hán điều quân tiếp viện, nửa đường nghe tin Hoằng Thao chết trận, vội cùng tàn quân rút chạy ý chí xâm lược nước ta của quân Nam Hán bị đè bẹp
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 2: Năm 981, quân Tống theo hai đường thủy bộ
ào ạt tiến vào xâm lược nước ta Quân bộ từ Ung Châu (Quảng Tây) theo đường Lạng Sơn tiến vào Quân thủy từ Quảng Châu (Quảng Đông) vượt biển tiến sang Hai đạo quân thủy bộ của địch dự kiến sẽ phối hợp với nhau vào vây hãm Kinh thành Hoa Lư (Ninh Bình)
Được muôn dân, tướng sĩ ủng hộ, Thập đạo tướng quân Lê Hoàn trực tiếp lãnh đạo cuộc kháng chiến chống quân Tống Phát huy sáng tạo chiến thuật của Ngô Quyền hơn 40 năm trước, ông sai quân sỹ đóng cọc ở sông Bạch Đằng để ngăn chặn chiến thuyền của địch Trên các đường tiến công khác của địch, ông bố trí lực lượng ngăn chặn
Khoảng cuối mùa xuân năm 981, trên sông Bạch Đằng đã diễn ra trận thủy chiến
ác liệt Với truyền thống thủy chiến ưu việt của dân tộc, quân ta chiến đấu hết sức dũng cảm, đánh lui thủy quân địch, làm thất bại âm mưu phối hợp hai đạo quân thủy bộ Trên các mặt trận khác, quân ta cũng chặn đánh quyết liệt Quân địch bị đại bại, tướng giặc Hầu Nhân Bảo bị giết chết, nhiều tướng của địch bị bắt sống
- Chiến thắng Bạch Đằng lần thứ 3: Tháng 12/1287, quân Nguyên chia thành 3 đạo
từ 3 mũi tiến đánh nước ta Tháng 2/1288, quân Nguyên vượt sông Hồng đánh chiếm kinh thành Thăng Long, triều đình nhà Trần tạm thời rút lui chiến lược Do rút kinh nghiệm thất bại lần trước, Thoát Hoan thấy đại bản doanh của hắn tại Thăng Long đang đứng trước nguy cơ bao vây, tiến công, tháng 3/1288 giặc đốt phá kinh thành Thăng Long, rồi rút quân về Vạn Kiếp Nhưng khu Vạn Kiếp cũng không còn là nơi an toàn Lương thiếu, quân số hao hụt, tinh thần binh sĩ rã rời, lại
bị quân ta tập kích liên tục Thấy mưu đồ xâm lược sắp thất bại, Thoát Hoan lo sợ
và sớm tìm đường rút lui để khỏi bị tiêu diệt hoàn toàn Thoát Hoan quyết định chia quân làm hai đạo, theo đường thủy bộ rút về trước Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp chỉ huy đạo quân bộ rút về trước theo đường Lạng Sơn Mọi âm mưu và hành động dù
có được tính toán đến đâu cũng không thoát khỏi tai mắt của nhân dân và xét đoán tinh tường của nhà quân sự thiên tài Trần Quốc Tuấn Bạch Đằng là một sông lớn
do sông Đá Bạc, sông Giá và nhiều nhánh sông khác đổ vào Dòng sông rộng mênh mông, bên phải có dãy núi đá vôi Tràng Kênh ăn sát bờ, bên trái có rừng cây
um tùm che lấp bờ biển Theo sự chỉ đạo của Trần Quốc Tuấn, quân ta đẵn gỗ lim, táu trên rừng về, đẽo nhọn đầu cắm xuống sông tạo thành chướng ngại vật lớn Thủy quân ta mai phục trong các nhánh sông, sông Đá Bạc được mở rộng để quân địch tiến vào Bộ binh tận dụng địa hình giấu quân trong núi đá Tràng Kênh và rừng rậm bên Tả Ngạn
Ngày 8/2/1288, một đội quân địch đi trước dò đường tiến vào sông Giá Đến Trúc Động (Thủy Nguyên, Hải Phòng), đội thuyền này bị quân ta chặn đánh phải rút lui Nhiệm vụ trận Trúc Động là bịt đường sông Giá, buộc toàn bộ quân địch phải hành quân theo sông Đá Bạc vào sông Bạch Đằng, vào trận mai phục của Trần Quốc Tuấn
Trang 3Sáng ngày 9/4/1288, đoàn thuyền địch bắt đầu tiến vào sông Bạch Đằng Một đội chiến thuyền của ta được lệnh tiến đánh, rồi giả thua rút chạy Ô Mã Nhi liền thúc quân đuổi theo Lúc bấy giờ, nước thủy triều rút, nên vấp phải cọc gỗ, nhiều
thuyền địch bị tan vỡ và bị đánh Ngay lúc quân địch đang rối loạn, thì thủy quân của ta từ hai bên bờ đổ ra đánh quyết liệt Quân ta lao những bè lửa được chuẩn bị sẵn vào thuyền địch Đạo quân của vua Trần cũng kịp thời đến ứng chiến Cuộc chiến đấu ác liệt từ mờ sáng đến chiều tối, quân ta tiêu diệt toàn bộ đạo thủy quân của địch Các tướng giặc như: Ô Mã Nhi, Phàn Tiếp, Tích Lệ Cơ đều bị bắt sống Quân ta thu được hơn 400 chiến thuyền, vô số giặc bị vùi thây dưới dòng sông Bạch Đằng
Câu hỏi 2: Tỉnh đội Dân quân Liên tỉnh Quảng-Hồng, Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh được thành lập vào thời gian nào? Bạn hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của các sự kiện trên? Ngày truyền thống của LLVT Quảng Ninh được xác định là ngày, tháng, năm nào?
Trả lời:
* Tỉnh đội dân quân Liên tỉnh Quảng-Hồng được thành lập vào ngày 01/5/1947
* Tỉnh đội dân quân tỉnh Hải Ninh được thành lập vào tháng 10/1947
* Hoàn cảnh ra đời của các sự kiện trên:
- Ngay sau ngày toàn quốc kháng chiến (19/12/1946) đến đầu năm 1947 phong trào toàn dân đánh giặc trên địa bàn tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh và Đặc khu Hồng Gai phát triển sâu rộng, chiến tranh du kích phát triển, LLVT được tổ chức rộng khắp và chiến đấu dũng cảm, lập công xuất sắc
- Năm 1947, việc tổ chức và chỉ đạo xây dựng LLVT địa phương đã có sự chuyển biến mới từ Trung ương đến các thôn, xã
- Tháng 3/1947, Chính phủ quyết định chuyển Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia Việt Nam thành Bộ Tổng chỉ huy Quân đội quốc gia và Dân quân tự vệ Việt Nam Chính phủ cũng quyết định xây dựng các Ban chỉ huy Tỉnh đội, Huyện đội, Xã đội dân quân thuộc Uỷ ban kháng chiến các cấp
- Từ ngày 25 đến 27/5/1947 (tại Suối Cát, Giang Tiên, Phú Lương, Thái Nguyên), Hội nghị dân quân toàn quốc lần thứ nhất được tổ chức do đồng chí Võ Nguyên Giáp chủ trì Hội nghị đã thông qua một số vấn đề quan trọng: Thống nhất cơ chế
tổ chức lãnh đạo, chỉ huy, nguyên tắc, hình thức tổ chức các cấp dân quân Sau hội nghị dân quân toàn quốc, từ tháng 5/1947 trở đi hệ thống cơ quan quân sự các cấp lần lượt được thành lập và dân quân tự vệ trở thành một bộ phận trong các lực lượng vũ trang của Nhà nước
- Thực hiện chỉ thị của trên, từ tháng 5 đến tháng 10/1947 Tỉnh đội Dân quân Liên tỉnh Quảng-Hồng và Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh lần lượt được thành lập (tiền thân của Bộ CHQS tỉnh ngày nay); Đến tháng 10/1947 hệ thống cơ quan quân sự địa phương từ cấp tỉnh đến cấp huyện, xã trên địa bàn Liên tỉnh Quảng-Hồng và tỉnh Hải Ninh (địa bàn tỉnh Quảng Ninh ngày nay) được kiện toàn đầy đủ, thống nhất, đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ của cuộc kháng chiến
* Ngày truyền thống của LLVT tỉnh Quảng Ninh được xác định là ngày
18/10/1947
Câu hỏi 3: Đồng chí cho biết tên gọi của cơ quan quân sự địa phương của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kỳ? Hãy nêu tên các đồng chí Tỉnh đội trưởng, Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng về chính trị, Chính uỷ, Chính trị viên Tỉnh đội qua các thời kỳ?
Trang 4- Chiến khu Trần Hưng Đạo trong kháng chiến chống Pháp ra đời vào thời gian nào và trong hoàn cảnh nào? Hiện nay, Chiến khu Trần Hưng Đạo thuộc những địa phương nào?
Trả lời:
* Tên gọi của cơ quan quân sự địa phương của tỉnh Quảng Ninh qua các thời kỳ:
- Xuất phát từ yêu cầu, nhiệm vụ trong từng thời kỳ cách mạng, Tỉnh đội dân quân (tiền thân Bộ CHQS tỉnh ngày nay) cũng có sự thay đổi về tên gọi Cụ thể là: Từ năm 1947 đến năm 1948 là 2 tỉnh bao gồm Tỉnh đội dân quân Liên tỉnh Quảng-Hồng và Tỉnh đội Dân quân Hải Ninh; Từ ngày 25/8/1948 đến tháng 10/1956 là: Tỉnh đội Dân quân tỉnh Quảng Yên, Đặc khu đội Hòn Gai và Tỉnh đội Dân quân tỉnh Hải Ninh trực thuộc Liên khu I, sau đó Liên khu 1 hợp nhất với Khu 10 thành Liên khu Việt Bắc Từ tháng 10/1956 đến tháng 3/1963 thuộc Quân khu Tả Ngạn Sau khi Trung ương có quyết định thành lập tỉnh Quảng Ninh (năm 1963), từ tháng 4/1963 đến năm 1964, thuộc Quân khu 3 Từ cuối năm 1964 đến năm 1967 thuộc Quân khu Đông Bắc Từ tháng 3/1967 đến tháng 4/1971 thuộc Bộ Tư lệnh Hải Quân kiêm Quân khu Đông Bắc Từ tháng 4/1971 đến năm 1978 thuộc Quân khu
Tả Ngạn, sau đổi thành Quân khu 3 Từ năm 1978 đến 1979 thuộc Quân khu I; Từ ngày 19/4/1979 đến ngày 18/10/1987 là Đặc khu Quảng Ninh Đến năm 1987 Đặc khu Quảng Ninh sáp nhập với Quân khu 3; Ngày 18/10/1987 Bộ CHQS Quảng Ninh được tái thành lập, trực thuộc Quân khu 3
* Một số đồng chí Tỉnh đội trưởng, Chỉ huy trưởng, Phó Chỉ huy trưởng về chính trị, Chính uỷ, Chính trị viên Tỉnh đội qua các thời kỳ:
- Đ/c Vũ Đình Mai, Tỉnh đội trưởng Liên tỉnh Quảng- Hồng năm 1947 Tỉnh đội trưởng khu Hồng Quảng từ năm 1956 đến năm 1963 và Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Ninh từ năm 1970 đến năm 1975
- Đ/c Lý Chí Dân, Tỉnh đội trưởng Liên tỉnh Quảng Hồng năm 1948
- Đ/c Hà Văn Tuất, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Yên năm 1948
- Đ/c Nguyễn Anh Vũ, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Quảng Yên từ năm 1950-1954
- Đ/c Lý Văn Bài, Tỉnh đội trưởng Đặc khu đội Hồng Gai từ năm 1950-1955
- Đ/c Lý Văn Bài, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh năm1947
- Đ/c Nông Văn Nguyên, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh năm 1947
- Đ/c Võ Quốc Vinh, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh năm 1948
- Đ/c Đặng Công Lệnh, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh từ năm 1949-1952
- Đ/c Mai Trung Lâm, Tỉnh đội trưởng Tỉnh đội Hải Ninh từ năm 1953-1954
- Đ/c Tăng Văn Hội, Tỉnh đội trưởng Khu Hồng Quảng năm 1955
- Đ/c Lê Chính, Chính uỷ Tỉnh đội Quảng Ninh từ năm 1970- 1977
- Đ/c Phạm Xưởng, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1987-1988
- Đ/c Nguyễn Thế Trị, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1988-1991
- Đ/c Tô Quốc Trịnh, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991-1999
- Đ/c Đỗ Ngọc Phương, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1999- 2004
- Đ/c Trần Thành, Chỉ huy trưởng Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004
đến nay
- Đ/c Lê Đắc Sao, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1987-1988
Trang 5- Đ/c Nguyễn Tiến Long, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1988-1991
- Đ/c Phạm Quang Vinh , Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1991-1995
- Đ/c Phạm Ngọc Cương , Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1995-1998
- Đ/c Nguyễn Công Tranh , Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 1998-2004
- Đ/c Trần Quang Dự, Phó Chỉ huy trưởng Chính trị Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2004-2005; năm 2006 đến 2007 là Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh
- Đ/c NguyễnViệt Dĩnh, Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2007-2010
- Đ/c Đặng Xuân Thọ, Chính uỷ Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh từ năm 2010 đến nay
* Hoàn cảnh và thời gian ra đời của Chiến khu Trần Hưng Đạo:
Trong những năm 1925 -1930, nhất là sau hội nghị hợp nhất 3 tổ chức cộng sản: Đông Dương Cộng sản Đảng, An Nam Cộng sản Đảng và Đông Dương Cộng sản Liên Đoàn thành Đảng Cộng Sản Việt Nam (ngày 3/2/1930) Phong trào cách mạng các tỉnh vùng duyên hải Đông Bắc Bộ (Hải Dương, Quảng Yên, Kiến An, Hải Phòng và Hải Ninh) phát triển mạnh mẽ
Từ giữa năm 1944, một cán bộ của Đảng là đồng chí Trần Cung (tức Nguyễn Ngọc Cư) sau khi thoát khỏi nhà tù Hỏa Lò (Hà Nội) đã bí mật về vùng Chí Linh hoạt động Sau ngày Nhật đảo chính Pháp, trong số chiến sĩ cách mạng vượt ngục
Nghĩa Lộ (Yên Bái) tỏa về các tỉnh vùng duyên hải Đông Bắc có đồng chí Hải Thanh (tức Nguyễn Văn Doanh) Sau 3 ngày, anh bắt mối với Nguyễn Văn Tuệ (tức Nguyễn Kiên Tranh), thường gọi là sư Tuệ mới trốn khỏi nhà giam thị xã Nam Định mấy tháng phối hợp tuyên truyền, xây dựng cơ sở Việt Minh Tại vùng Đông Triều, có đồng chí Nguyễn Bình là người hoạt động rất tích cực xây dựng cơ sở cách mạng Nguyễn Bình là công nhân tàu biển của Pháp, nhưng sớm giác ngộ yêu nước chống Pháp, tham gia Việt Nam Quốc dân Đảng, bị bắt cầm tù ở Côn Đảo Trong tù, được các chiến sĩ cộng sản giác ngộ lý tưởng và anh đã đi theo quan điểm giai cấp vô sản Từ năm 1943 trở đi, Nguyễn Bình mở rộng họat động từ Bần Yên Nhân (Hưng Yên) sang Hải Phòng, Kiến An Tiếp theo, Nguyễn Bình lần lượt
cử cán bộ vào Đông Triều tham gia xây dựng căn cứ và đẩy mạnh công tác sắm vũ khí để gửi vào khu căn cứ
Trung tuần tháng 4/1945, Xứ ủy viên Trần Đức Thịnh, được phân công trực tiếp chỉ đạo phong trào cách mạng tại Bắc Ninh, Hải Dương Về Hải Dương đồng chí triệu tập cuộc họp các cán bộ Đảng của tỉnh tại Đông Thôn, huyện Thanh Miện Tham dự cuộc họp có Nguyễn Văn Kha, Trần Cung, Nguyễn Công Hòa, Vũ Duy Hiệu và Hải Thanh Đồng chí Trần Đức Thịnh phổ biến Chỉ thị “Nhật Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta” Đồng chí nhắc chủ trương của Xứ ủy về xây dựng một chiến khu kháng Nhật ở vùng duyên hải Đông Bắc, mà Hải Dương có vùng núi tiếp giáp với Bắc Giang là nơi có thể lập chiến khu Qua thảo luận, các đại biểu nhất trí phải đẩy mạnh phong trào cách mạng ở Hải Dương lên cao cho kịp với phong trào của các tỉnh bạn Các đồng chí: Trần Cung, Hải Thanh cho rằng, Chí Linh, Đông Triều có tầm quan trọng về kinh tế và quân sự, là nơi có địa lợi, nên đề nghị chọn hai huyện này để lập chiến khu Đề cập tên gọi chiến khu, đồng chí Trần Đức cho biết: Chhiến khu Cao – Bắc – Lạng là “Đệ nhất chiến khu”; Chiến khu Thái – Tuyên – Hà là “ Đệ nhị chiến khu”; Chiến khu Hòa – Ninh –
Trang 6Thanh là “Đệ tam chiến khu”; nếu theo thứ tự thì Chiến khu vùng duyên hải Đông Bắc này là “Đệ tứ chiến khu” Cuối cuộc họp, đồng chí Xứ ủy viên công bố quyết định của Thường vụ Xứ ủy thành lập lại Ban Tỉnh ủy lâm thời tỉnh Hải Dương gồm 5 người là Nguyễn Văn Kha, Trần Cung, Nguyễn Công Hòa, Vũ Huy Diệu và Hải Thanh, do đồng chí Nguyễn Kha làm Bí thư
Cuối hạ tuần tháng 4/1945, tại nhà ông Nguyễn Văn Đài ở phố Mạo Khê, Nguyễn Bình đã gặp Hải Thanh để bàn việc phối hợp hoạt động xây dựng lực lượng chuẩn
bị cho việc thành lập chiến khu Tiếp theo, Nguyễn Bình gặp cả Trần Cung, Hải Thanh ở chùa Bắc Mã (Đông Triều) để thống nhất lực lượng cách mạng; sau đó tiếp tục về Hải Phòng xây dựng cơ sở cách mạng Được các cán bộ của Đảng trực tiếp chỉ đạo, phong trào cách mạng phát triển mạnh mẽ tại các huyện: Chí Linh, Nam Sách, Thanh Hà, Gia Lộc, khu Mạo Khê (huyện Đông Triều) Nhiều cán bộ Việt Minh, thanh niên và binh sỹ yêu nước từ Hải Phòng, Kiến An tìm đến căn cứ cách mạng Đông Triều Cơ sở Việt Minh lan rộng ở cả thi xã Quảng Yên, huyện Yên Hưng, khu mỏ Hòn Gai-Cẩm Phả và huyện Móng Cái là những cơ sở thực tiễn rất quan trọng cho thành lập chiến khu
Tối ngày 7/6 năm Ất Dậu, tại nhà hội viên cứu quốc Nguyễn Kim Ngọc, làng Đạm Thủy (Đông Triều), Ban lãnh đạo khu căn cứ họp bàn và quyết định kế hoạch khởi nghĩa vào ngày 8/6 năm Ât Dậu (tức ngày 16/7/1945) Cuộc họp kiểm điểm công việc chuẩn bị khởi nghĩa trong thời gian qua và thảo luận phương án đánh chiếm các vị trí địch, phân công cán bộ trực tiếp chỉ huy lực lượng đánh từng vị trí địch Thực hiện kế hoạch khởi nghĩa của Ban lãnh đạo căn cứ, trong ngày 8/6 năm Ất Dậu, dưới sự chỉ huy của Nguyễn Bình, nghĩa quân đã chiếm đồn Đông Triều; dưới sự chỉ huy của Hải Thanh, Lê Hai, nghĩa quân đánh chiếm đồn Chí Linh; dưới
sự chỉ huy của Trần Cung, nghĩa quân đánh chiếm đồn Tràng Bạch và tước vũ khí của bọn chủ mỏ Mạo Khê; còn phủ lỵ Kinh Môn do sư Tuệ chỉ huy chưa thực hiện được
Chiều ngày 8/6, các đoàn quân khởi nghĩa cùng những chiến sĩ mới tình nguyện quay súng về với cách mạng đều tập trung tại làng Hổ Lao-Đông Triều trong không khí tưng bừng của ngày hội chiến thắng Buổi chiều cùng ngày, ban lãnh đạo cuộc khởi nghĩa đã họp, kiểm điểm việc thực hiện kế hoạch khởi nghĩa và đề
ra những nhiệm vụ trước mắt trong công cuộc xây dựng và bảo vệ chiến khu Cuộc họp quyết định thành lập ủy ban quân sự cách mạng gồm 4 người để lãnh đạo các mặt công tác xây dựng và bảo vệ chiến khu Phân công các đồng chí trong Uỷ ban quân sự cách mạng: Hải Thanh – Bí thư, phụ trách công tác chính trị; Nguyễn Hiền- Uỷ viên quân sự; Nguyễn Bình – Uỷ viên kinh tế (tài chính, quân nhu, vũ khí); Trần Cung – Uỷ viên, phụ trách công tác dân vận, xây dựng chính quyền và liên lạc với cấp trên Ít lâu sau, đồng chí Trần Đức Thịnh chỉ định thêm Lê Minh (tức Vũ Linh hay Tú Lưu) vào Ban lãnh đạo Chiến khu phụ trách dân vận cùng với đồng chí Trần Cung (đồng chí Lê Tâm là người phụ trách chính tiến công huyện lỵ Kinh Môn, Thanh Hà ngày 10/6/1945)
Sáng ngày 9/6, tại cuộc mít tinh tại sân đình Hổ Lao, đồng chí Trần Cung thay mặt Ban lãnh đạo khởi nghĩa tuyên bố chính thức thành lập Chiến khu kháng chiến mang tên “Du kích cách mạng quân” và công bố danh sách Uỷ ban quân sự cách mạng lãnh đạo chiến khu Tiếp theo, Nguyễn Bình, đại diện ủy ban quân sự cách mạng tuyên đọc “Bảy điều kỉ luật của Du kích cách mạng quân”
Chưa đầy 3 tháng kể từ ngày thành lập, Chiến khu Trần Hưng Đạo đã phát triển rộng lớn, với những vùng căn cứ vũ trang cách mạng: Kim Sơm (Kiến Thụy), Câu
Trang 7Trung, Tứ Nghi (An Lão), Thượng Huyện (Thủy Nguyên) Phả Lại (Chí Linh) và vùng Việt Minh: Kim Môn, Nam Sách, Thanh Hà, Chí Linh, Đông Triều, Thủy Nguyên, An Lão tạo thành một khu vực rộng lớn gồm một phần tỉnh Quảng Yên, Hải Ninh, một phần nông thôn tỉnh Hải Dương và Kiến An Khi thời cơ tổng khởi nghĩa tới, lực lượng vũ trang cách mạng Chiến khu Trần Hưng Đạo và căn cứ vũ trang cách mạng làm nòng cốt cho toàn dân nổi dậy đánh chiếm các phủ lỵ, huyện
lỵ, tỉnh lỵ và thành phố Hải Phòng lật đổ chính quyền tay sai phát-xít Nhật, giành chính quyền về tay nhân dân
Ngày 8/6 năm Ât Dậu (tức ngày 16/7/1945), với những chiến công vang dội cùng một lúc đánh chiếm 4 đồn binh địch ở Đông Triều, Chí Linh, Tràng Bạch, Mạo Khê, đánh dấu ngày chính thức ra đời chiến khu Trần Hưng Đạo - Đệ tứ chiến khu, một căn cứ địa cách mạng có ý nghĩa và tầm vóc quan trọng nhiều mặt trong giai đoạn tiền khởi nghĩa và trong cách mạng tháng 8/1945 ở vùng duyên hải Đông Bắc
Bộ, làm nòng cốt trong hình thành, xây dựng và phát triển LLVT cách mạng vùng châu thổ sông Hồng sau này Chiến khu Trần Hưng Đạo ở vùng duyên hải Đông Bắc Bộ chứng minh chủ trương, đường lối đúng đắn của Đảng ta trong xây dựng LLVT cách mạng, xây dựng căn cứ cách mạng để giành chính quyền
* Hiện nay, Chiến khu Trần Hưng Đạo thuộc địa bàn 2 huyện Chí Linh (tỉnh Hải Dương) và huyện Đông Triều (tỉnh Quảng Ninh)
Câu hỏi 4: Đồng chí hãy cho biết trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, quân và dân Quảng Ninh đã chiến đấu bao nhiêu trận? Tiêu diệt và bắt sống bao nhiêu tên giặc? Thu bao nhiêu vũ khí ? Bạn hãy nêu tóm tắt một số trận đánh tiêu biểu của quân và dân Quảng Ninh trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945-1954) ?
Trả lời:
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược, quân và dân Quảng Ninh
đã đánh 3159 trận, làm chết và bị thương 22.100 tên địch, bắt 2831 tên, thu trên
8000 súng các loại và nhiều quân trang, quân dụng khác
Một số trận đánh tiêu biểu của quân và dân Quảng Ninh trong cuộc kháng chiến chống Thực dân Pháp xâm lược (1945-1954):
- Khởi nghĩa vũ trang ở Đông Triều, Mạo Khê, Tràng Bạch, Chí Linh ngày
08/6/1945
- Trận chiến đấu tập kích đồn Uông Bí và Trại Bí Chợ của du kích quân chiến khu Đông Triều, ngày 01/7/1945
- Trận tập kích đánh chiếm tỉnh lỵ Quảng Yên của du kích quân chiến khu Đông Triều, ngày 20/7/1945
- Trận đánh chiếm tàu Cray-xắc và Ô-đa-xi-ơ trên vịnh Hạ Long, ngày 07 và
11/9/1945
- Trận tập kích địch ở Hà Lầm, đêm 24 rạng ngày 25/12/1946
- Trận phục kích đoàn xe quân sự của địch ở Điền Xá, Tiên Yên, ngày 04/3/1949
- Trận tập kích địch ở thị xã Móng Cái, ngày 27/3/1949
- Trận tập kích địch ở đồn Bình Liêu đêm 24 ngày 25/12/1950
- Quân dân tỉnh Quảng Yên tham gia chiến dịch đường số 18 (23/3 đến 07/4/1951)
- Chống chiến dịch càn quét Bô- lê-rô ở vùng sau lưng địch của quân và dân tỉnh Quảng Yên (28/6 đến 26/8/1952)
- Trận chống càn bảo vệ căn cứ Áng Tái của du kích xã Yên Đức, huyện Đông Triều, tỉnh Quảng Yên, từ ngày 16 đến ngày 17/3/1953
Trang 8- Trận chống càn bảo vệ căn cứ Bằng Tân, xã Thượng Yên Công, huyện Yên Hưng, tỉnh Quảng Yên từ ngày 04 đến ngày 07/10/1953
Câu hỏi 5: Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, quân và dân tỉnh Quảng Ninh đã bắn cháy bao nhiêu máy bay? tiêu diệt và bắt sống bao nhiêu giặc lái Mỹ ? Tên giặc lái Mỹ bị bắt sống đầu tiên trên miền Bắc bị quân dân Quảng Ninh bắt vào ngày, tháng, năm nào? ở đâu? Hãy kể tên một số người trực tiếp bắt sống tên giặc lái Mỹ? Địa phương nào trong tỉnh bắn cháy nhiều máy bay nhất ? Thư khen của Hồ Chủ tịch gửi quân và dân Quảng Ninh bắn rơi 100 máy bay Mỹ được Bác viết vào thời điểm nào? Bạn hãy nêu toàn văn bức thư khen của Bác.
Trả lời:
*Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, quân và dân Quảng Ninh đã bắn cháy 200 máy bay Mỹ (chiến tranh phá hoại lần thứ nhất bắn rơi 173 chiếc, lần thứ 2 bắn rơi 27 chiếc); Dân quân du kích xã Xuân Sơn, huyện Đông Triều
là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay thứ 100 trên bầu trời Quảng Ninh và quân dân
xã đảo Ngọc Vừng, huyện Cẩm Phả là đơn vị bắn rơi chiếc máy bay thứ 200 trên bầu trời Quảng Ninh Quân dân Quảng Ninh đã tiêu diệt và bắt sống nhiều giặc lái Mỹ.
* Tên giặc lái Mỹ bị bắt sống đầu tiên trên miền Bắc bị quân dân Quảng Ninh bắt vào ngày 5/8/1964 tại Vịnh Hạ Long, thuộc thị xã Hồng Gai, tỉnh Quảng Ninh là Trung uý phi công Mỹ E.An-vơ- rét (Everette Alvaez) Đây cũng là tên
tù binh ở lâu năm nhất trong nhà tù Hoả Lò, Hà Nội.
* Tên của một số người trực tiếp bắt sống tên giặc lái Mỹ E.An-vơ-rét là:
Nguyễn Văn Trần, Tống Văn Tạo và Dương Văn Tân
* Địa phương trong tỉnh Quảng Ninh bắn rơi nhiều máy bay Mỹ nhất: Thị xã Hồng Gai là địa phương bắn rơi nhiều máy bay nhất; huyện Yên Hưng (nay là thị xã Quảng Yên) là nơi dân quân du kích hạ nhiều máy bay nhất so với các địa phương trong tỉnh.
* Toàn văn thư khen của Hồ Chủ tịch gửi quân và dân Quảng Ninh nhân dịp bắn rơi 100 máy bay Mỹ (viết vào ngày 19/8/1966).
Thân ái gửi đồng bào các dân tộc, bộ đội, công nhân và cán bộ Quảng Ninh.
Ngày 5 tháng 8 năm 1964, trong trận đầu tiên giặc Mỹ dùng Không quân phá hoại miền Bắc nước ta, quân và dân Quảng Ninh đã chiến thắng vẻ vang, bắn rơi 3 máy bay Mỹ.
Liên tiếp lập chiến công, đến ngày 15 tháng 8 năm nay, Quảng Ninh đã bắn rơi 100 máy bay Mỹ, đồng thời dũng cảm khắc phục khó khăn, thi đua sản xuất Bác rất vui lòng thay mặt Trung ương Đảng và Chính phủ khen ngợi đồng bào, bộ đội và cán bộ tỉnh ta.
Quân và dân Quảng Ninh hãy phát huy truyền thống anh hùng của đất mỏ, luôn luôn đoàn kết chặt chẽ, nâng cao cảnh giác, đánh tan mọi âm mưu tội ác của giặc Mỹ, lập nhiều thành tích chiến đấu và sản xuất to lớn hơn nữa.
Chào thân ái và quyết thắng
BÁC HỒ
Câu hỏi 6: Tính đến tháng 03/2012 tỉnh ta có bao nhiêu bà mẹ được Nhà nước phong tặng hoặc truy tặng danh hiệu “Mẹ Việt Nam Anh hùng”? Hiện có bao nhiêu mẹ còn sống?
Trang 9Trả lời:
* Tính đến tháng 3/2012, tỉnh Quảng Ninh có 125 Bà mẹ được Đảng, Nhà nước phong tặng, truy tặng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng” Hiện nay có 07
mẹ còn sống
Câu hỏi 7: Tính đến hết tháng 3/2012,tỉnh ta có bao nhiêu tập thể và cá nhân được phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân” qua các thời kỳ? Bạn hãy nêu tên các tập thể và cá nhân và thời gian được phong tặng? Hiện nay tỉnh ta có bao nhiêu đồng chí đã hi sinh được công nhận là liệt sỹ?
Trả lời:
*Tính đến tháng 3/2012, tỉnh Quảng Ninh có 78 tập thể và 16 cá nhân được Đảng, Nhà nước phong tặng danh hiệu “Anh hùng LLVT nhân dân”
+ Về tập thể (78 đơn vị):
1 Đội cảnh sát Phòng cháy chữa cháy Hạ Long, Công an tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 01/01/1967
2 Đại đội Tự vệ Nhà sàng Cửa Ông, được phong tặng ngày 22/12/1967
3 Đội cảnh sát tuần tra kiểm soát vịnh Hạ Long, được phong tặng ngày 03/9/1973
4 Trạm 301 (Cửa Ông), Công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 03/9/1973
5 Tự vệ Xí nghiệp Bến cảng Hòn Gai, được phong tặng ngày 03/9/1973
6 LLVT nhân dân xã NgọcVừng, được phong tặng ngày 31/12/1973
7 Đồn 8 Cô Tô, Công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 06/11/1978
8 LLVT nhân dân thị xã Hòn Gai, được phong tặng ngày 06/11/1978
9 LLVT nhân dân thị xã Cẩm Phả, được phong tặng ngày 06/11/1978
10 Đồn 8 (Cô Tô), được phong tặng ngày 31/10/1978
11 Lực lượng Công an nhân dân vũ trang Quảng Ninh, được phong tặng ngày 19/12/1979
12 Đại đội 6, Công an nhân dân vũ trang Quảng Ninh, được phong tặng ngày 19/12/1979
13 Đồn 209 (Pò Hèn), Công an nhân dân vũ trang tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 19/12/1979; được phong tặng lần 2 thời kỳ đổi mới ngày 12/12/2000
14 LLVT nhân dân tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 20/12/1979
15 Lực lượng Công an nhân dân tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng năm 1980
16 Công an huyện Bình Liêu, được phong tặng năm 1980
17 Công an huyện Hải Ninh, được phong tặng năm 1982
18 Công an xã Minh Châu, huyện Cẩm Phả, được phong tặng năm 1982
19 Tiểu đoàn 6, Trung đoàn 41, Bộ CHQS tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 13/12/1989
20 Nhân dân và LLVT xã Hoành Mô (Bình Liêu), được phong tặng ngày
29/11/1990
21 Phòng chống gián điệp và phản động (PA16) Công an tỉnh Quảng Ninh được phong tặng năm 1990
22 Phòng An ninh kinh tế (PA17) Công an tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng năm 1995
23 Nhân dân và LLVT huyện Đông Triều, được phong tặng ngày 30/8/1995
24 Đồn Biên phòng 19 Quảng Đức, được phong tặng ngày 03/8/1995
Trang 1025 Phòng cảnh sát hình sự, (PC14) Công an tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày22/7/1998
26 Phòng Tình báo, Công an tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 22/7/1998
27 Cán bộ, nhân dân và LLVT thị xã Uông Bí, được phong tặng ngày 22/8/1998
28 Cán bộ, nhân dân và LLVT xã Yên Đức, huyện Đông Triều, được phong tặng ngày 22/8/1998
29 Cán bộ, công nhân và Lực lượng tự vệ Nhà máy Điện Uông Bí, được phong tặng ngày 22/8/1998
30 Hải đội 2, Bộ đội biên phòng Quảng Ninh, được phong tặng ngày 11/6/1999
31 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ Bưu điện tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 11/6/1999
32 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ mỏ Than Đèo Nai, được phong tặng ngày 22/8/1999
33 Cán bộ, nhân dân và LLVT huyện Yên Hưng, được tuyên dương ngày
26/4/2000
34 Cán bộ, nhân dân và LLVT xã Hà An, huyện Yên Hưng, được phong tặng ngày 28/4/2000
35 Công an thị xã Cẩm Phả, được tuyên dương ngày 29/8/2000
36 Đồn Biên phòng Cửa khẩu cảng Hòn Gai, BĐBP Quảng Ninh, được phong tặng ngày 28/4/2000
37 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ Bến phà Bãi Cháy, được phong tặng ngày 28/4/2000
38 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ Mỏ Than Hà Tu, được phong tặng ngày 28/4/2000
39 Cán bộ, nhân dân và LLVT huyện Vân Đồn, được phong tặng ngày
08/11/2000
40 Cán bộ, nhân dân và LLVT huyện Hoành Bồ, được phong tặng ngày
10/4/2001
41 Cán bộ, nhân dân và LLVT huyện Bình Liêu, được phong tặng ngày
04/01/2002
42 Cán bộ, nhân dân và LLVT huyện Ba Chẽ, được phong tặng ngày 04/01/2002
43 Cán bộ, nhân dân và LLVT thị xã Móng Cái, được phong tặng ngày
04/01/2002
44 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ Công ty Than Cọc Sáu, được phong tặng ngày 01/02/2002
45 Cán bộ, nhân dân và LLVT xã Đầm Hà, huyện Đầm Hà, phong tặng ngày 27/02/2002
46 Cán bộ, nhân dân và LLVT xã Đồng Văn, huyện Bình Liêu, được phong tặng ngày 27/02/2002
47 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ Điện lực Quảng Ninh, được phong tặng ngày 19/3/2002
48 Phòng PC16, Công an tỉnh Quảng Ninh, được phong tặng ngày 11/8/2003
49 Nhân dân và LLVT xã Vạn Ninh, thị xã Móng Cái, được phong tặng ngày 18/8/2003
50 Cán bộ, nhân dân và LLVT huyện Tiên Yên, được phong tặng ngày
03/11/2004
51 Cán bộ, công nhân viên và Lực lượng tự vệ Công ty Than Hà Lầm, được phong tặng ngày 03/11/2004