Đặc biệt, Việt nam cần phải cải cách hệ thống hưu trí sang một hệ thống tài khoản cá nhân một phần với mức hưởng được xác định dựa trên mức đóng partially-funded defined-contribution sch
Trang 1HỆ THỐNG HƯU TRÍ VIỆT NAM:
Hiện trạng và những thách thức trong điều kiện dân số già hoá
GIANG THANH LONG*
Tháng 4, 2004
Diễn đàn Phát triển Việt nam
* Giang Thanh Long là giảng viên trường ĐH Kinh tế quốc dân, Hà nội; là nghiên cứu viên của Diễn đàn Phát triển Việt nam Bạn đọc có thể liên lạc với tác giả qua địa chỉ: gtlong@vdf.org.vn
Trang 2để dự báo – là rất cao Xét về mặt xã hội, sự tồn tại của nợ lương hưu tiềm
ẩn đồng nghĩa với việc gánh nặng nợ sẽ do các thế hệ hiện tại và tương lai chi trả nếu chúng ta tiếp tục duy trì hệ thống hưu trí này Vì thế, hệ thống hưu trí Việt nam không những bất ổn về mặt tài chính, mà còn dẫn đến sự bất công bằng giữa các thế hệ Để tránh tình trạng này, hệ thống hưu trí hiện nay cần phải được cải cách Đặc biệt, Việt nam cần phải cải cách hệ thống hưu trí sang một hệ thống tài khoản cá nhân một phần với mức hưởng được xác định dựa trên mức đóng (partially-funded defined-contribution scheme) với những cân nhắc kỹ lưỡng về tác động kinh tế và
xã hội để từ đó có thể tránh được cả sự bất ổn về mặt tài chính của hệ thống và sự bất công bằng giữa các thế hệ
Trang 3Thuật ngữ
Tỷ lệ thực hiện Tỷ lệ giữa số người thực sự đóng góp cho hệ thống với số người phải đóng
góp theo quy định của pháp luật
Tỷ lệ đóng góp Tỷ lệ nhất định trong mức thu nhập mà người tham gia phải đóng góp cho hệ
thống
Hệ thống có mức hưởng được xác định trước Là hệ thống mà mức hưởng được xác định
theo một công thức cho trước Công thức này bao gồm số năm đóng góp, thu nhập và các tiêu chuẩn về mặt xã hội, và nó xác định người đóng góp được hưởng lương hưu hay một lần Người bảo đảm (nhà nước, người thuê lao động, công ty bảo hiểm) phải chịu rủi ro tài chính đối với các khoản tiền phải trả cho người hưởng tính được theo công thức đưa ra
Hệ thống có mức hưởng được xác định theo mức đóng Là hệ thống mà mức hưởng được
xác định dựa trên khoản đóng góp của từng cá nhân theo tài khoản của họ cùng với lợi tức thu được từ khoản đầu tư khi những người này thoả mãn các điều kiện nhất định do hệ thống đưa ra Người lao động là người chịu rủi ro tài chính
Nợ lương hưu tiềm ẩn (ròng) Chênh lệch giữa tổng mức chi trả với tổng mức dự trữ của quỹ
hưu trí
Hệ thống tài khoản cá nhân tượng trưng (NDC) Là hệ thống mà sự tham gia của người lao
động được ghi chép lại bằng tài khoản dưới dạng sổ sách (ví dụ như sổ bảo hiểm chẳng hạn), và cuốn sổ đó ghi lại mức đóng góp cùng với mức lãi suất được hưởng
do chính phủ quy định, nhưng quỹ hưu trí không bao giờ tích luỹ thực sự trong những tài khoản này Thay vào đó, tiền đóng góp được sử dụng để chi trả chi những người hưởng hiện tại, và những tài khoản đóng góp là tài khoản không tích luỹ hay tượng trưng mà thôi Khi người lao động đến tuổi về hưu, tài khoản tượng trưng của anh/chị ta sẽ được chuyển thành khoản tiền hưởng đều hàng năm (nhiều hay ít phụ thuộc vào thời gian nghỉ hưu dự tính và lãi suất) và khoản tiền này được lấy từ khoản đóng góp của người lao động vào thời điểm đó - những người đang đóng góp để tạo dựng cho mình một tài khoản nhất định
Tỷ lệ phụ thuộc người già Tỷ lệ giữa dân số trên 60 tuổi so với dân số từ 15 đến 60 tuổi Pay-as-you-go (PAYG) Là hệ thống an sinh xã hội mà khoản tiền thu được hiện tại (hầu hết
từ các khoản đóng góp, ví dụ như một phần nhất định trong tổng quỹ lương) được sử dụng để chi trả cho chi phí hiện tại
Tỷ lệ chi phí PAYG Là tỷ lệ giữa tổng mức chi phí với tổng mức thu từ đóng góp của hệ
thống Nó cho biết tỷ lệ đóng góp cần thiết để đảm bảo quỹ cân bằng
Tỷ lệ thay thế Tỷ lệ mức hưởng so với mức đóng (tính trung bình)
Tổng tỷ suất sinh Số trẻ em mà một phụ nữ có thể có nếu chị ta sống hết độ tuổi sinh đẻ, và tỷ
lệ này được phân chia theo các lứa tuổi khác nhau
Tỷ lệ phụ thuộc trẻ em Tỷ lệ dân số dưới 15 tuổi so với dân số từ 15 đến 60 tuổi
Trang 4I GIỚI THIỆU
Sự thay đổi của dân số có tác động lớn đến hoạt động kinh tế, xã hội của các nước, khu vực và toàn thế giới Trong thời gian gần đây, sự thay đổi của dân số có thể thấy rõ nhất là hiện tượng dân số già hoá nhanh Tỷ lệ người già trong tổng dân số tăng lên nhanh chóng do tỷ lệ sinh giảm và tuổi thọ tăng lên Sự già hoá của dân số đòi hỏi nhà nước phải chi tiêu nhiều cho các khoản hưu trí, chăm sóc sức khỏe và y tế, và vì thế mà tác động đến ngân sách của chính phủ, quỹ hưu trí và sự bền vững tài chính Vấn đề dân
số già hoá trở nên nghiêm trọng khi xét đến hệ thống hưu trí PAYG với mức hưởng được xác định trước Nhiều nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng hai nhân tố này có tác động tiêu cực đến sự ổn định tài chính của quỹ hưu trí nói riêng và ngân sách nhà nước nói chung ở hầu hết các nước trên thế giới*
Bên cạnh việc có thể gây mất ổn định về mặt tài chính do tác động của sự già hoá dân số, hệ thống PAYG với mức hưởng được xác định trước cũng gây ra sự bất công bằng giữa các thế hệ Khi dân số già hoá nhanh thì vấn đề này càng nghiêm trọng vì thế
hệ người lao động trong tương lai phải đóng góp nhiều hơn mới có thể trang trải chi phí cho những người hưởng lợi hiện tại Vì thế, hệ thống hưu trí này sẽ sụp đổ nếu được duy trì do các vấn đề như trốn đóng bảo hiểm, mức hưởng quá cao và nợ lương hưu tiềm ẩn lớn Những khía cạnh có liên quan này đã được đề trong trong các nghiên cứu của Gokhale (1996), Feldstein (1998), Kotlikoff và Leibfritz (1998), Takayama và cộng
sự (1998), và Kunieda (2001)
Mặc dù Việt nam vẫn là nền kinh tế có dân số trẻ với 7% tổng dân số là người trên
60 tuổi, nhưng trong vòng 50 năm nữa, nó cũng sẽ đối mặt với những vấn đề tương tự phát sinh từ dân số già hoá như các nước khác hiện nay Nhờ có tăng trưởng kinh tế và tiến bộ xã hội đầy ấn tượng, mức sống được cải thiện của người dân Việt nam đã dẫn đến tuổi thọ tăng nhanh chóng, từ 40,2 năm vào năm 1950 lên tương ứng 64,8 và 69,2 vào năm 1990 và 2001; và tỷ lệ sinh giảm từ 6 trẻ em/1 phụ nữ vào năm 1960 xuống tương ứng 3,4 and 2,33 vào năm 1990 và 2001 (Tổng cục Thống kê, 2002) Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc (2002) cho Việt nam, vào năm 2050, dân số từ 60 tuổi trở lên sẽ chiếm 24% tổng dân số; và tỷ lệ phụ thuộc người già và dân số tương ứng sẽ là 42% và 77% Bên cạnh đó, hệ thống hưu trí PAYG có mức hưởng được xác định trước
do nhà nước quản lý hiện nay của Việt nam thường trong tình trạng không ổn định về mặt tài chính do số người tham gia hệ thống có hạn, mức đóng góp thấp trong khi tỷ lệ thay thế lại khá cao Sự phức hợp của những nhân tố này sẽ dẫn đến một hậu quả nhãn tiền: sự bất ổn của hệ thống do những tác động tiêu cực về mặt tài chính Một đánh giá thống kê gần đây đối với hệ thống bảo hiểm xã hội của Việt nam cho thấy rằng quỹ bảo hiểm sẽ cạn kiệt vào năm 2030 nếu như chúng ta không thực hiện chính sách cải cách
cộng sự (2001)
Trang 5hệ thống (Tổ chức Lao động quốc tế - ILO, 1998) Đây chính là nguy cơ đối với hệ thống hưu trí Việt nam trong tương lai gần, và việc lựa chọn các chính sách nhằm duy trì nó một cách bền vững là điều cần làm ngay
Bài viết này sẽ phân tích sự bền vững về mặt tài chính của hệ thống hưu trí Việt nam cho đến năm 2050 Hai khía cạnh là sự bất ổn định về mặt tài chính và sự bất công bằng giữa các thế hệ tham gia hệ thống sẽ được trình bày cụ thể trong bối cảnh Việt nam vẫn tiếp tục duy trì hệ thống này Trong phần cuối cùng, bài viết gợi ý một số phương thức chính sách để cải cách hệ thống nhằm ổn định và đảm bảo sự công bằng giữa các thế hệ
II HỆ THỐNG HƯU TRÍ VIỆT NAM: HIỆN TRẠNG VÀ NHỮNG THÁCH THỨC
Hệ thống hưu trí là một bộ phận của hệ thống bảo hiểm xã hội Việt nam - hệ thống bắt đầu hoạt động từ năm 1962 Trước năm 1995, hệ thống hưu trí là hệ thống có mức hưởng được xác định trước và chỉ có lao động của khu vực nhà nước tham gia hệ thống,
và nó được nhiều cơ quan chức năng quản lý dưới sự giám sát của chính phủ Trong hệ thống đó, mức hưởng hưu trí được xác định dựa trên số năm đóng góp và thu nhập cơ
sở (thường là mức lương vào thời điểm nghỉ hưu) Khoản hưởng lợi được chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội - quỹ được hình thành từ khoản đóng góp của người sử dụng lao động (một phần của quỹ lương) và từ trợ cấp của chính phủ Quỹ bảo hiểm do chính phủ quản lý và bảo trợ, và là một bộ phận của ngân sách nhà nước Trong gần 30 năm, đặc biệt trong những năm chiến tranh khốc liệt, hệ thống này đã đóng góp đáng kể trong việc ổn định thu nhập và đời sống của người tham gia hệ thống
Tuy nhiên, sự phức tạp và những khó khăn nảy sinh từ việc quản lý hành chính và tài chính, cùng với sự lớn mạnh nhanh chóng của thành phần kinh tế tư nhân, đã khiến chính phủ phải cải cách hệ thống đó thành hệ thống hưu trí PAYG có mức hưởng được xác định trước vào năm 1995, và thành lập Bảo hiểm Xã hội Việt nam (VSI) cùng thời điểm đó để quản lý hệ thống dưới sự bảo trợ của chính phủ
1 Những đặc điểm chính và những bất cập của hệ thống
Tỷ lệ tham gia hệ thống và mức hưởng
Việc tham gia hệ thống hưu trí hiện tại bắt buộc đối với các đối tượng sau: (i) lao động trong khu vực nhà nước, bao gồm những người làm việc trong chính phủ, các tổ chức của Đảng và lực lượng vũ trang; (ii) lao động làm việc trong các doanh nghiệp nhà nước (SOEs); và (iii) các doanh nghiệp tư nhân có số lao động trên 10 người, bao gồm các doanh nghiệp nước ngoài, đại diện của các doanh nghiệp nước ngoài, doanh nghiệp trong các khu công nghiệp và khu chế xuất, và các tổ chức quốc tế Bên cạnh đó, người
Trang 6Việt nam đang làm việc ở nước ngoài, hoặc người nước ngoài đang làm việc tại Việt nam có thể tham gia vào hệ thống bảo hiểm tự nguyện
Tuy nhiên, trên thực tế, tỷ lệ tham gia hệ thống rất thấp vì số lượng người tham gia chủ yếu từ khu vực nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, và có rất ít người tham gia vào hệ thống bảo hiểm xã hội tự nguyện Theo thống kê của Bảo hiểm
xã hội Việt nam (2001), tỷ lệ tham gia hệ thống đối với khu vực nhà nước là khoảng 95% đối với công chức và 93% đối với lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước Số lao động khu vực nhà nước tham gia hệ thống chiếm 86%, trong khi khu vực
tư nhân chỉ chiếm 14% (Hình 1) Điều này có thể thấy rõ hơn trong Bảng 1
Hình 1 Số lượng người đang trực tiếp tham gia hệ thống phân theo khu vực kinh tế trong năm 2000 (1000 người)
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
Bảng 1 Tham gia hệ thống hưu trí của các thành phần kinh tế năm 2000
% Lực lượng lao động 10 90
% Số người đang tham gia 86 14
Tỷ lệ thực hiện (%) 95 27
Nguồn: Tổng cục Thống kê (2001), Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
Các loại hình hưởng thụ của hệ thống chủ yếu là các khoản chi trả dài hạn, bao gồm hưu trí, tử tuất, tai nạn lao động và mất sức lao động Bên cạnh đó, có một số khoản chi trả một lần như trợ cấp mai táng, thanh toán một lần cho một số đối tượng về hưu và các khoản trợ cấp khác cho tai nạn lao động và mất khả năng lao động ở mức độ thấp
Lương hưu trí được thanh toán cho nam giới và nữ giới ở độ tuổi tương ứng là 60
và 55 với ít nhất 20 năm đóng góp, và mức lương này được xác định bằng công thức
Trang 7tính nhất định Ví dụ, mức lương hưu được hưởng được tính bằng cách nhân mức lương
cơ sở với một hệ số; trong đó, mức lương cơ sở được tính bằng mức lương trung bình
của một thời kỳ nhất định, ví dụ như mức lương trung bình của 5 năm cuối đối với lao
động trong khu vực nhà nước Hệ số được tính bằng 3% cho mỗi năm của 15 năm đóng
góp đầu tiên, 2% với mỗi năm cho những năm tiếp theo và -1% đối với mỗi năm nghỉ
hưu sớm Tuy vậy, tổng mức hưởng không vượt quá 75% mức lương cơ sở
Các chế độ khác, ví dụ như tử tuất, thương tật và mất sức lao động được chi trả với
những quy định khắt khe Tất cả mức hưởng nêu trên đều được điều chỉnh theo mức
lương cơ bản (hay tối thiểu), và mức lương hưu tối thiểu bằng với mức lương tối thiểu
Trong hệ thống hưu trí hiện tại, có hai loại hình thụ hưởng, đó là những người
thuộc hệ thống trước năm 1995 và những người thuộc hệ thống sau năm 1995 Những
người thuộc hệ thống trước được chi trả bằng ngân sách nhà nước, trong khi những
người thuộc hệ thống sau được Bảo hiểm xã hội Việt nam chi trả Trên thực tế, Bảo
hiểm xã hội Việt nam nhận trách nhiệm chi trả toàn bộ cho số người được hưởng lợi
của cả hai hệ thống, và sau đó nó nhận khoản thanh toán từ chính phủ thông qua Bộ Tài
SỐ LƯỢNG NGƯỜI ĐÓNG GÓP
Công chức nhà nước (gồm cả lực lượng
vũ trang)
1.973 775
Lao động trong các DN Nhà nước 1.854 775
Lao động khu vực tư nhân 649 1.220
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
Trong hệ thống mới, mức hưởng trung bình khoảng 475.000 đồng với tỷ lệ thay
thế xấp xỉ 56% - một tỷ lệ tương đối cao so với các nước khác Bên cạnh đó, tỷ lệ phụ
Trang 8thuộc của hệ thống (hay còn gọi là tỷ lệ dân số của hệ thống) năm 2000 chỉ là 5,4% cho biết rằng số người hưởng chỉ bằng 5,4% số người đóng góp và điều này cũng thể hiện
sự non trẻ của hệ thống Vì vậy, tỷ lệ chi phí PAYG của hệ thống - tỷ lệ được tính bằng cách lấy tỷ lệ thay thế nhân với tỷ lệ dân số của hệ thống - chỉ khoảng 3%, ngụ ý rằng tổng mức chi trả của hệ thống này chỉ bằng 3% tổng mức đóng góp Tỷ lệ này còn được gọi là tỷ lệ đóng góp bền vững, tức là tỷ lệ đóng góp đủ để cân đối quỹ hưu trí
Tổng mức thu của hệ thống chỉ bằng khoảng 10% GDP danh nghĩa năm 2000 do mức lương còn thấp, tỷ lệ tham gia thấp và việc trốn đóng còn phổ biến, đặc biệt là trong khu vực tư nhân
Nguồn tài chính và tình trạng tài chính
Nguồn thu của hệ thống bao gồm các khoản đóng góp, hỗ trợ của chính phủ, thu từ đầu tư và các nguồn khác (Điều 149, Luật Lao động sửa đổi (2002): trang 82)
Đóng góp cho hệ thống bảo hiểm xã hội bao gồm 5% tiền lương hàng tháng của người lao động và khoản này được dùng cho chi trả hưu trí, tử tuất, trợ cấp mai táng; và 15% tổng quỹ lương của người sử dụng lao động, trong đó 10% dùng cho các khoản chi trả dài hạn, ví dụ như hưu trí, và 5% còn lại dùng cho các khoản chi trả ngắn hạn, ví dụ như ốm đau, thai sản
Phần chi trả và hỗ trợ của chính phủ bao gồm khoản chi trả cho những người thuộc hệ thống trước năm 1995, và hỗ trợ cho các chi phí hoạt động ban đầu của hệ thống, ví dụ như đào tạo, xây dựng cơ sở vật chất và chi phí thanh toán
Hình 2 Cơ cấu đầu tư của phần dự trữ quỹ bảo hiểm xã hội năm 2000
Nguồn: Bảo hiểm xã hội Việt nam (2001)
NH NN &
PTNT 10%
NH Công thương 8%
Quỹ hỗ trợ phát triển 40%
Trái phiếu CP dài hạn 4%
NSNN 13%
NH Ngoại thương 1%
Trái phiếu Chính phủ 6%
NH ĐT & PT 18%
Trang 9Phần dự trữ sau khi đã cân đối quỹ được đầu tư Trên thực tế, trong điều kiện các công cụ và tài sản tài chính ở Việt nam của khu vực tài chính còn hạn chế, các khoản đầu tư của quỹ bảo hiểm xã hội tập trung chu yếu vào các nguồn an toàn nhưng lãi suất rất thấp Các khoản đầu tư này chủ yếu dành cho khu vực nhà nước; ví dụ, trong năm
2000, 52% gửi tại các ngân hàng quốc doanh, 36% cho chính phủ vay trong các dự án nhà nước, và 12% còn lại dùng để mua trái phiếu và thực hiện các khoản đầu tư khác (Bảo hiểm xã hội Việt nam, 2001) Mức lãi suất danh nghĩa trung bình dự tính cho các khoản đầu tư này chỉ là 4,85% (Hình 2)
Hình 3 Số lượng và cơ cấu tuổi của những người đang về hưu năm 2000
Đúng như bản chất của hệ thống PAYG có mức hưởng được xác định trước, phần đóng góp và phần hưởng lợi của hệ thống hưu trí Việt nam hiện nay không tương thích
Số người về hưu thuộc hệ thống trước năm 1995
25,100 27,400
117,400
165,300 180,200 172,600
Trang 10với nhau nên quỹ hưu trí của thể cạn kiệt trong tương lai Vấn đề bất ổn về mặt tài chính của quỹ hưu trí Việt nam càng được thấy rõ hơn trong điều kiện số lượng người được phép nghỉ hưu sớm khá nhiều (mà cách này từng được coi là cách giải quyết lao động
dư thừa ở các doanh nghiệp nhà nước) và dân số già hoá có thể dự đoán được Theo báo cáo của Bộ Lao động, Thương binh và xã hội (2001), tuổi về hưu trung bình trong thực
tế thấp hơn gần 5 năm so với quy định; 60% số người nghỉ hưu hiện nay đã về hưu sớm,
và 12% số người nghỉ hưu hiện nay đã nghỉ hưu khi đang còn ở độ tuổi dưới 45 (Hình 3) Điều này cho thấy rằng thời gian nghỉ hưu của những người này sẽ dài hơn khi tuổi thọ của họ tăng lên, và vì thế mà lượng tiền chi trả cho khoản hưu trí của họ tăng nhanh trong tương lai khi mức hưởng vẫn được chỉ số hoá theo mức lương tối thiểu - mức lương này đương nhiên phải tăng lên theo thời gian khi chi phí sinh hoạt cao hơn
Việc quản lý và khung pháp lý của hệ thống
Kể từ năm 1995, Bảo hiểm xã hội Việt nam chịu trách nhiệm thực hiện các chức năng trong ngắn hạn và dài hạn mà trước đây tương ứng thuộc về Tổng Liên đoàn Lao động Việt nam và Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Bảo hiểm xã hội Việt nam được tổ chức theo cơ cấu chiều dọc và nó có các chi nhánh ở cấp huyện, và các chi nhánh ở địa phương chịu trách nhiệm cả thu và chi Việc phân cấp quản lý theo hình thức này đã tăng hiệu quả quản lý số lượng người tham gia hệ thống thông qua việc cập nhật thông tin về tình hình lao động ở địa phương Tuy nhiên, hình thức này cũng dẫn đến sự gia tăng chi phí hành chính và có thể dẫn đến những vấn đề tiêu cực như tham nhũng hoặc làm sai nguyên tắc Hơn nữa, sự hợp tác trong quản lý giữa Bảo hiểm xã hội Việt nam và các Bộ khác, đặc biệt là Bộ Kế hoạch và Đầu tư với chức năng quản lý các loại hình doanh nghiệp của cả nước, vẫn chưa thực sự có hiệu quả nên việc trốn đóng bảo hiểm xã hội vẫn còn phổ biến, đặc biệt là khu vực tư nhân
Cùng với những vấn đề về quản lý, các quy định về thuế đối với hệ thống bảo hiểm xã hội và các loại hình tiết kiệm an sinh khác cũng khiến cho vấn đề trốn đóng bảo hiểm trở nên nghiêm trọng hơn Ví dụ, các khoản đóng góp của người sử dụng lao động và người lao động và các khoản lợi nhận được từ hệ thống hưu trí không phải đóng bất kỳ một loại thuế thu nhập nào, trong khi các khoản đóng góp vào hệ thống tiết kiệm an sinh không được miễn thuế Điều này khiến các doanh nghiệp tìm mọi cách trốn đóng bảo hiểm xã hội như khai giảm số lượng lao động trong doanh nghiệp, ký hợp đồng lao động ngắn hạn với lao động làm việc thường xuyên (hay dài hạn)…
2 Những thách thức đối với hệ thống
Xuất phát từ quan điểm kinh tế và xã hội, ta có thể thấy rằng hệ thống hưu trí Việt nam phải đối mặt với hai thách thức Thứ nhất là các thách thức trong ngắn hạn có liên quan đến tỷ lệ tham gia hệ thống vẫn còn rất thấp và hiệu quả quản lý còn chưa cao Thứ hai là các thách thức trong dài hạn - được coi là hệ quả của các thách thức trong
Trang 11ngắn hạn – có liên quan đến vấn đề dân số già hoá nhanh, và vì thế mà tỷ lệ phụ thuộc của hệ thống cũng tăng nhanh
Các thách thức trong ngắn hạn
Như đã đề cập ở trên, trong năm 2000, số người đóng góp cho hệ thống từ khu vực
tư nhân chỉ chiếm 14%, và tỷ lệ thực hiện của khu vực này cũng chỉ đạt 27% Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình trạng này chính là do quy định về việc tham gia hệ thống quá hạn hẹp đối với khu vực tư nhân Bên cạnh đó, quá trình tái cơ cấu kinh tế gắn với việc giãn thải lao động nên số lượng lao động trong khu vực nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước, đang giảm xuống Những lao động bị giãn thải lại tham gia hoạt động trong khu vực tư nhân nhưng không tái đăng ký tham gia hệ thống bảo hiểm xã hội nên tỷ lệ tham gia hệ thống giảm xuống
Một điều cũng đáng lưu tâm là số người về hưu thuộc hệ thống trước năm 1995 chiếm tương ứng 66% và 92% tổng số người hưởng chế độ và tổng số người về hưu, và phần lớn những người này đã về hưu sớm; do đó, gánh nặng tài chính để chi trả cho những đối tượng này, thể hiện bằng khoản nợ lương hưu tiềm ẩn (IPD), sẽ tăng lên trong tương lai khi mức lương hưu tối thiểu được điều chỉnh tăng và người hưởng lợi có tuổi thọ cao hơn
Hình 4 Tỷ lệ phụ thuộc dân số của Việt nam, 2000-2050
Nguồn: Dự báo dân số của Liên hợp quốc (2002)
Các thách thức trong dài hạn
Khi xem xét sự bền vững tài chính trong dài hạn thì có thể thấy rằng những thách thức trong ngắn hạn nêu trên trở nên nghiêm trọng hơn trong điều kiện dân số già hoá
0 10 20 30 40 50 60 70 80 90
Trang 12Chính sách kế hoạch hoá gia đình trong giai đoạn 1970-1990 và sự gia tăng của tuổi thọ nhờ mức sống được cải thiện là hai nguyên nhân chính làm cho dân số Việt nam trở nên già hơn Theo dự báo dân số của Liên hợp quốc cho Việt nam, dân số già (từ 60 tuổi trở lên) sẽ chiếm tương ứng 13% và 24% tổng dân số năm 2025 và 2050, tương ứng gấp hai lần và ba lần so với năm 2000 Hơn nữa, tuổi thọ trung bình của dân
số Việt nam được dự đoán là sẽ tăng từ 69,2 năm vào năm 2000 lên tương ứng 74,1 và 78,2 vào năm 2025 và 2050 Kết quả là, tỷ lệ phụ thuộc người già và dân số tăng lên nhanh chóng và gây áp lực đối với bộ phận dân số trong độ tuổi lao động Ví dụ, tỷ lệ phụ thuộc người già và dân số sẽ tăng tương ứng từ 13% và 69% vào năm 2000 lên 42% và 77% vào năm 2050, trong khi dân số trong độ tuổi lao động sẽ giảm nhanh sau khi đạt đến con số cao nhất vào năm 2030
Sự bền vững về mặt tài chính của hệ thống hưu trí Việt nam chịu tác động của rất
nhiều nhân tố Thứ nhất, tỷ lệ phụ thuộc dân số của hệ thống đang có xu hướng gia tăng nhanh Thứ hai, tỷ lệ đóng góp hiện tại thấp hơn so với tỷ lệ đóng góp bền vững – hay còn gọi là tỷ lệ chi phí PAYG – và vì thế mà quỹ có thể bị cạn kiệt Thứ ba, tỷ lệ thực
hiện có xu hướng giảm xuống do (i) sự thu hẹp của khu vực nhà nước, đặc biệt là các doanh nghiệp nhà nước; (ii) sự dịch chuyển của các đối tượng lao động giãn thải từ khu vực nhà nước sang khu vực tư nhân nhưng lại không đăng ký tham gia vào hệ thống
bảo hiểm xã hội, và (iii) tỷ lệ tham gia của khu vực tư nhân còn quá thấp Thứ tư, mức
hưởng được chỉ số hoá theo mức lương tối thiểu vẫn còn lớn, gắn liền với thời gian hưởng dài do người hưởng lợi nghỉ hưu sớm và tuổi thọ có xu hướng tăng lên
Các thách thức trong dài hạn còn có thể nghiêm trọng hơn nữa khi ta xét đến sự công bằng giữa các thế hệ Như đã đề cập trong rất nhiều nghiên cứu, hệ thống hưu trí PAYG với mức hưởng được xác định trước trong điều kiện dân số già hoá cũng đồng nghĩa với việc các thế hệ trẻ hiện nay và tương lai sẽ phải chịu gánh nặng lớn hơn mới
có thể trang trải được chi phí cho hệ thống Gánh nặng lớn hơn này có thể được thể hiện dưới nhiều dạng khác nhau, ví dụ như tỷ lệ đóng góp tăng lên liên tục, và vì thế mà những người tham gia đóng góp cho hệ thống sẽ tìm cách trốn đóng hoặc nghỉ hưu sớm Tất cả những nhân tố kể trên khiến cho hệ thống hưu trí đối mặt với nhiều vấn đề,
và có thể làm cho hệ thống hưu trí rơi vào khủng hoảng trong tương lai, thể hiện bằng
sự bất ổn về mặt tài chính và sự bất công bằng giữa các thế hệ Việc ổn định tài chính
và duy trì sự công bằng giữa các thế hệ trong hệ thống hưu trí PAYG với mức hưởng được xác định trước với dân số già hoá nhanh chóng là những câu hỏi chính sách hóc búa nhất đối với bất kỳ nền kinh tế nào Do vậy, tìm ra những chính sách có thể áp dụng phù hợp với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định nhằm hạn chế những vấn đề này
và ổn định hệ thống là điều cần phải làm ngay
Trang 13III PHƯƠNG PHÁP DỰ BÁO TÀI CHÍNH CHO HỆ THỐNG HƯU TRÍ
Phần này sẽ sử dụng các phương pháp dự báo thống kê do Tổ chức Lao động quốc
tế xây dựng để đánh giá sự bền vững tài chính của hệ thống hưu trí Tất nhiên, các phương pháp này được điều chỉnh nhằm thích ứng với những điều kiện kinh tế - xã hội nhất định của Việt nam nói chung, và hệ thống hưu trí Việt nam nói riêng Để dự báo tài chính của hệ thống, chúng ta cần ba mô hình, đó là tổng dân số, nền kinh tế vĩ mô và các chỉ số tài chính của hệ thống hưu trí
Có ba bước để đánh giá thực trạng tài chính của hệ thống hưu trí, đó là bước đánh giá nguyên trạng, bước đánh giá độ nhạy của các biến số và bước đề xuất các chính sách cải cách Bước đầu tiên được thực hiện trong điều kiện giả định rằng việc quản lý
và khung pháp lý của hệ thống hưu trí không thay đổi trong bối cảnh nền kinh tế xã hội
và dân số thay đổi Bước thứ hai được thực hiện nhằm kiểm định dự báo nguyên trạng nêu trên với những giả định khác nhau cho các chỉ số, ví dụ như tỷ lệ thực hiện, tỷ lệ đóng góp và thay thế, để xem kết quả thu được có khác hay không và khác như thế nào
so với dự báo ban đầu Bước thứ ba là đưa ra một số đề xuất chính sách nhằm ổn định tài chính cho hệ thống và đảm bảo sự công bằng cho các thế hệ tham gia
1 Dự báo dân số
Dự báo dân số của Việt nam được lấy từ dự báo dân số do Liên hợp quốc thực hiện năm 2002 với giả định tỷ lệ sinh ở mức trung bình Giả định này được sử dụng vì tổng tỷ suất sinh trung bình của Việt nam đang có xu hướng giảm, nhưng vẫn giữ ở mức 2,1 trẻ em/1 phụ nữ - tỷ lệ đảm bảo sự tái sinh của dân số
2 Dự báo thị trường lao động
Từ tổng dân số ban đầu và các chỉ số dân số khác, ví dụ như tỷ lệ sinh, tỷ lệ chết,
tỷ lệ di cư, tổng dân số trong tương lai, bao gồm cả dân số trong độ tuổi lao động (tức là
từ 15 đến 59 tuổi), sẽ được dự báo Bên cạnh đó, ta coi số lượng lao động là một tỷ lệ nào đó của dân số trong độ tuổi lao động và dựa vào những biến đổi của tỷ lệ này trong quá khứ, ta có thể dự đoán được số lượng lao động trong tương lai Số lượng lao động không có việc làm được tính bằng cách lấy dân số trong độ tuổi lao động trừ đi số lượng lao động có việc làm (Hình 5)
Trang 14Hình 5: Phương pháp dự báo thị trường lao động
Nguồn:Tổ chức Lao động quốc tế (1998)
Thông thường, số người đang làm việc bao gồm cả những người ngoài độ tuổi lao động, nhưng sự tham gia lực lượng lao động của họ không đáng kể hoặc không được thống kê đầy đủ nên trong dự báo, ta có thể bỏ qua số lượng người lao động này Bên cạnh đó, số người lao động cũng có thể được dự báo bằng cách chia kết quả dự báo GDP thực tế cho kết quả dự báo tương ứng về năng suất lao động Tuy nhiên, năng suất lao động thường không được thống kê chính xác hoặc đầy đủ nên ta không sử dụng phương pháp này
3 Dự báo kinh tế vĩ mô
Tăng trưởng kinh tế và lạm phát
Trong ngắn hạn, tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm có thể tính toán dựa trên những dự báo trong ngắn hạn về chiến lược kinh tế quốc gia Trong dài hạn, tốc độ tăng trưởng GDP được coi là một nhân tố ngoại sinh Các giả định khi dự báo GDP trong cả ngắn hạn và dài hạn được liên kết với nhau bằng phương pháp nội suy GDP danh nghĩa được tính bằng cách nhân GDP thực tế với chỉ số điều chỉnh GDP của từng năm Chỉ số điều chỉnh GDP trong quá khứ được tính bằng cách lấy GDP danh nghĩa chia cho GDP thực tế Sự thay đổi của chỉ số điều chỉnh GDP thường được dự đoán dựa trên những giả định nào đó về lạm phát trong tương lai
Tỷ lệ lạm phát thể hiện sự gia tăng của mức giá chung trong nền kinh tế và thường được thể hiện bằng Chỉ số giá hàng tiêu dùng (CPI) Giả định về sự thay đổi của lạm phát trong tương lai hết sức quan trọng đối với hoạt động dự báo thống kê của hệ thống hưu trí nếu như tất cả mức hưởng của hệ thống này được chỉ số hoá theo giá cả của nền kinh tế Dự báo về lạm phát có thể dựa trên chiến lược kinh tế mà quốc gia đang theo
Tổng dân số
ban đầu
Tổng dân số
dự báo
Dân số trong tuổi
lao động ban đầu
Số lượng người làm việc (tính bằng % của dân số trong độ tuổi lao động)
Tỷ lệ tham gia lực lượng lao động
Số thất nghiệp (dự báo)
Số lao động có việc làm (dự báo)
Dân số trong độ tuổi lao động dự báo
Tỷ lệ sinh, chết, di cư
Trang 15đuổi cùng với các chính sách điều chỉnh của nó Tuy nhiên, một điều cũng nên lưu ý là, trong đánh giá thống kê, tỷ lệ lạm phát cũng là một nhân tố ngoại sinh của mô hình
Lương và Lãi suất
Trong dự báo nguyên trạng, mức lương dự báo được dựa trên chính sách của chính phủ, tức là dựa trên tín hiệu của mức lương cơ bản (hay mức lương tối thiểu) Do đó, tiền lương được dự báo dựa trên sự thay đổi trong quá khứ của mức tiền lương cơ bản Trong ngắn hạn, tiền lương có thể được dự báo dựa trên những thay đổi gần đây nhất của tiền lương cơ bản Tuy nhiên, trong trung hạn và dài hạn, do tính chất của phương pháp dự báo thống kê nên tốc độ tăng của tiền lương thực tế được coi là xấp xỉ với mức tăng của năng suất lao động - chỉ số được tính bằng cách lấy tốc độ tăng trưởng GDP thực tế trừ đi tốc độ tăng trưởng của số lượng việc làm
Tổng mức lương chi trả được tính bằng cách nhân mức lương trung bình của một lao động với số lao động Đối với hệ thống hưu trí, tổng mức thu của hệ thống được tính bằng mức đóng trung bình nhân với số lượng người đóng Mức hưởng trung bình
có thể được điều chỉnh theo sự thay đổi của mức đóng
Lãi suất có thể được dự báo dựa trên báo cáo của ngân hàng trung ương Bên cạnh
đó, nếu nền kinh tế thể hiện hiệu quả động, tức là lãi suất cao hơn tốc độ tăng dân số cộng với tốc độ tăng GDP bình quân đầu người tại trạng thái dừng dài hạn, thì mức lãi suất dự báo bình quân cao hơn tốc độ tăng trưởng kinh tế Đối với khoản dự trữ của hệ thống hưu trí, mức lãi bình quân phụ thuộc vào các khoản đầu tư trong quá khứ và sự thay đổi của lãi suất trên thị trường tài chính
4 Dự báo tài chính của hệ thống hưu trí
Việc dự báo tài chính của hệ thống hưu trí phụ thuộc vào các chỉ số như số người đóng góp cho hệ thống (số người thực sự tham gia hệ thống) và mức đóng trung bình của những người này Tương tự như vậy, quyết định đến dự báo tài chính còn có các chỉ
số như số lượng người hưởng, mức hưởng, các chỉ số thu nhập và cách thức chỉ số hoá (theo lạm phát hay theo mức lương cơ bản) Cuối cùng, mức lãi đầu tư của khoản dự trữ
từ hệ thống, các khoản thu nhập và chi phí khác
Số lượng người đóng góp
Số lượng người buộc phải tham gia vào hệ thống hưu trí theo quy định của chính phủ có thể được dự báo bằng cách tính theo một tỷ lệ nào đó của số người đang lao động đã được dự báo trước đó Đối với hệ thống hưu trí Việt nam, có ba loại hình mà ta phải dự báo, đó là (i) công chức nhà nước, bao gồm cả lực lượng vũ trang, (ii) lao động làm việc tại các doanh nghiệp nhà nước, và (iii) lao động làm việc trong khu vực tư nhân phù hợp với quy định của chính phủ Những con số này được dự báo bằng cách tính theo tỷ lệ tương ứng với các đối tượng trong các khu vực kinh tế của nền kinh tế
Trang 16Dựa trên tính toán về số lượng người có thể tham gia vào hệ thống hưu trí theo quy định của chính phủ, ta có thể tính số lượng người thực sự tham gia vào hệ thống dựa trên dự báo về tỷ lệ thực hiện tương ứng của các khu vực kinh tế Về nguyên tắc, những con số này phải được cộng thêm với số lượng người mới gia nhập hệ thống và trừ đi số người rời khỏi hệ thống (chết hoặc không tiếp tục được hưởng) Tuy nhiên, trên thực tế, số liệu về sự thay đổi này thường không đầy đủ hoặc không được kịp thời cập nhật nên để đơn giản khi dự báo, chúng ta giả định rằng tốc độ tăng của số người mới tham gia và số người rời khỏi hệ thống khá ổn định Chênh lệch giữa số người phải tham gia hệ thống theo quy định của chính phủ với số người thực sự tham gia vào hệ thống được gọi là số người không chủ động tham gia hệ thống (Hình 6)
Hình 6 Dự báo số người đóng góp cho hệ thống
Nguồn: Tổ chức lao động quốc tế (1998)
Số lượng người thụ hưởng
Để dự đoán được số lượng người thụ hưởng, thông thường ta sử dụng bảng sống của dân số để dự báo Bảng sống thể hiện xác suất chết của giới tính và nhóm tuổi khác nhau (xem phần Phụ lục)
Số lượng
công chức
ban đầu
Số lượng công chức (dự báo)
Số lượng lao
động trong
SOEs
Số lượng lao động trong SOEs (dự báo)
Tỷ lệ trong l ực lượng lao động
Số lượng lao động khu vực
tư nhân (dự báo)
Số lượng người thực
sự đóng góp vào hệ thống
Tỷ lệ trong lực lượng lao động
Số lượng người thực
sự đóng góp vào hệ thống
Tỷ lệ thực hiện
Tỷ lệ thực hiện
Số lượng người thực
sự đóng góp vào hệ thống
Tỷ lệ thực hiện
Số lượng người phải tham gia
Số lượng người không chủ động tham gia