1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh

77 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các Giải Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Thu Hút Vốn Đầu Tư Theo Hình Thức Đối Tác Công Tư (Ppp) Vào Lĩnh Vực Thoát Nước Và Xử Lý Nước Thải Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Trần Văn Nam
Người hướng dẫn GS.TS. Sử Đình Thành
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế TP. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Tài chính – Ngân hàng (Tài chính công)
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2021
Thành phố TP Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 77
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thông qua đó có cơ sở để để đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh như hệ thống hoá m

Trang 1

TRẦN VĂN NAM

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) VÀO LĨNH VỰC THOÁT NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

TP Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 2

TRẦN VĂN NAM

CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ THEO HÌNH THỨC ĐỐI TÁC CÔNG TƯ (PPP) VÀO LĨNH VỰC THOÁT NƯỚC VÀ XỬ LÝ NƯỚC THẢI

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

GS.TS SỬ ĐÌNH THÀNH

TP Hồ Chí Minh – Năm 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện Luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong Luận văn đã được ghi rõ nguồn gốc

TP Hồ Chí Minh, ngày 04 tháng 3 năm 2021

Tác giả

Trần Văn Nam

Trang 4

MỤC LỤC TRANG PHỤ BÌA

LỜI CAM ĐOAN i

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG vii

DANH MỤC SƠ ĐỒ viii

TÓM TẮT ix

ABSTRACT x

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU 1

1.1 Lý do chọn đề tài 1

1.2 Mục tiêu 2

1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 2

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 2

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 3

1.5 Ý nghĩa của đề tài 3

1.6 Kết cấu của luận văn 3

Tóm tắt chương 1 4

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU 5

2.1 Nước thải công nghiệp 5

2.1.1 Khái niệm 5

2.1.2 Cơ sở nhận biết nước thải công nghiệp 5

2.1.3 Phương pháp TN & XLNT 6

Trang 5

2.1.4 Quy trình TN & XLNT 6

2.2 Đầu tư 7

2.3 Đầu tư công tư (ppp) 7

2.3.1 Khái niệm về PPP 7

2.3.2 Mô hình Hợp tác công tư - PPP 10

2.3.3 Vai trò của mô hình PPP 12

2.3.4 Các hình thức đối tác công tư PPP 13

2.3.5 Các lĩnh vực đầu tư theo PPP 14

2.3.6 Cơ hội và thách thức của PPP 15

2.4 Các tiêu chuẩn đánh giá lựa chọn nhà đầu tư theo PPP 17

2.5 Đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT 20

2.6 Nguồn vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT 21

2.7 Nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT 22

2.8 Các nghiên cứu trước liên quan 23

2.8.1 Nghiên cứu trong nước 23

2.8.2 Nghiên cứu ngoài nước 25

2.8.3 Khoảng trống nghiên cứu 26

CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ THEO PPP VÀO LĨNH VỰC TN & XLNT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH 28

3.1 Tổng quan về tình hình môi trường TP HCM 28

3.2 Tổng quan về công tác quản lý nhà nước của Sở Kế Hoạch và Đầu tư đối với các dự án đầu tư theo PPP tại TP HCM 29

3.2.1 Thành lập phòng Hợp tác công tư 29

3.2.2 Các hoạt động liên quan đến công tác quản lý nhà nước về PPP do Sở Kế hoạch và Đầu tư thực hiện 31

Trang 6

3.3 Thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại

Thành Phố Hồ Chí Minh 33

3.3.1 Tình hình đầu tư theo PPP tại Thành Phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 - 2019 33

3.3.1.1 Các dự án đã ký kết hợp đồng dự án 33

3.3.1.2 Các dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư 33

3.3.1.3 Các dự án đang kêu gọi đầu tư PPP 34

3.3.2 Tình hình đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh giai đoạn 2015 – 2019 35

3.3.2.1 Các dự án đã ký kết hợp đồng dự án 35

3.3.2.2 Các dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư 36

3.3.2.3 Các dự án đang kêu gọi đầu tư PPP 37

3.3.2.4 Đánh giá hiệu quả của các dự án đã hoàn thành 37

3.3.3 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh 39

3.3.3.1 Các quy định pháp luật về đầu tư theo PPP 39

3.3.3.2 Quy trình về quản lý đầu tư dự án theo PPP 39

3.3.4 Kết quả phỏng vấn chuyên gia về thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh 41

3.4 Đánh giá công tác thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh 42

3.4.1 Thuận lợi 42

3.4.1.1 Chủ trương định hướng của Đảng, Chính phủ về thu hút đầu tư theo PPP 42

3.4.1.2 Khung pháp lý về đầu tư theo PPP đã được đề cập trong các Luật khác nhau và ngày càng được hoàn thiện 43

3.4.2 Khó khăn 44

3.4.2.1 Các quy định điêu chỉnh về đầu tư theo PPP vẫn còn chưa nhất quán 44

3.4.2.2 Số lượng và năng lực đội ngũ chuyên viên quản lý, tham mưu còn yếu kém 46

3.4.2.3 Một số khó khăn khác 46

Trang 7

CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ THEO PPP VÀO LĨNH VỰC TN & XLNT TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ

MINH 48

4.1 Định hướng và quan điểm phát triển trong đầu tư công tư (PPP) 48

4.2 Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh 49

4.3 Kiến nghị 53

4.3.1 Đối với Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành Phố Hồ Chí Minh 53

4.3.3 Đối với Hội đồng nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh 53

4.3.4 Đối với Ủy ban nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh 54

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 1

PHỤ LỤC 4

3.3.1 Phương pháp phỏng vấn sâu 4

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

BOO Xây dựng – sở hữu – vận hành

BOT Xây dựng – chuyển giao – kinh doanh

FDI Đầu tư trực tiếp nước ngoài

PPP Vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư

TN & XLNT Thoát nước và xử lý nước thải

TP HCM Thành phố Hồ Chí Minh

WTO Tổ chức thương mại thế giới

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 Các hình thức PPP 9

Bảng 3.1 Tổng hợp các dự án đầu tư theo PPP…… ……….33

Bảng 3.2 Dự án đã ký kết hợp đồng dự án trong lĩnh vực TN & XLNT 35

Bảng 3.3 Dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư trong lĩnh vực TN & XLNT 36

Bảng 3.4 Dự án đang thực hiện kêu gọi đầu tư PPP trong lĩnh vực TN & XLNT 37

Bảng 3.5 Tổng hợp ý kiến chuyên gia 42

Trang 10

DANH MỤC SƠ ĐỒ

Sơ đồ 2.1 Hình thức hợp tác PPP 11

Sơ đồ 2.2 Các bên tham gia trong đầu tư PPP lĩnh vực TN & XLNT 22

Trang 11

TÓM TẮT

Việt Nam hiện nay có mức thu nhập trung bình - thấp, đứng 68 thế giới về diện tích, 15 thế giới về dân số, đứng 4 thế giới về rác thải, với khoảng 1,83 triệu tấn/năm Hơn nữa, tình trạng suy giảm tài nguyên thiên nhiên, tiêu thụ năng lượng tăng nhanh, ô nhiễm nước, không khí, suy thoái đất và biến đổi khí hậu đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng đến phát triển kinh tế - xã hội Bên cạnh đó, đô thị hoá nhanh và gia tăng dân số với tốc độ chóng mặt đã làm cho môi trường nước ở nhiều khu vực bị ô nhiễm bởi nước thải và chất thải Vì vậy, bảo vệ môi trường để phát triển bền vững hiện nay

đã và đang trở thành vấn đề sống còn của cả Việt Nam và toàn nhân loại

Thông qua nghiên cứu này, tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận chính liên quan đến đầu tư, đầu tư công tư, hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh Hơn nữa, tác giả cũng tập trung vào phân tích – đánh thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh, thực hiện phỏng vấn chuyên gia về thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh để làm rõ hơn thực trạng này Thông qua đó có cơ

sở để để đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh như hệ thống hoá một cách toàn diện các văn bản pháp luật, chính sách đầu tư công tư cần được đổi mới, bỏ quy định hiện hành về qui mô tối thiểu dự án áp dụng hình thức PPP, …

Từ khóa: Đối tác công tư (ppp), thoát nước và xử lý nước thải, vốn đầu tư

Trang 12

ABSTRACT

Vietnam currently has a middle-low income level, ranked 68 in the world in area, 15 in population, and 4 in the world in waste, with about 1.83 million tons / year Furthermore, declining natural resources, rapidly increasing energy consumption, water and air pollution, land degradation, and climate change have seriously affected socio-economic development Besides, under the speed of industrial development, urbanization and increasing population, water resources in the territories are under increasing pressure Consequently, the water environment

in many cities, industrial parks and craft villages is increasingly polluted by wastewater and solid waste Water pollution caused by industrial production plays a large part in the general pollution of water resources Therefore, protecting the environment for sustainable development has now become a vital issue for both Vietnam and all of humanity

Through this study, the author systematized the main rationale related to investment, public private investment, public private partnership (ppp) in the drainage and wastewater treatment sector in the City Ho Chi Minh Moreover, the author also analyzes the situation of attracting investment capital in the form of public-private partnerships (ppp) in the drainage and wastewater treatment sector in

Ho Chi Minh City, conducting specialized interviews investment capital attraction

in the form of public-private partnerships (ppp) in the drainage and wastewater treatment sector in Ho Chi Minh City to clarify this situation From there, there are grounds to propose a number of solutions to improve efficiency in attracting investment capital in the form of public private partnerships (ppp) in the drainage and wastewater treatment sector in Ho Chi Minh City such as comprehensively codify legal documents, public private investment policies that need to be renewed, removing the current regulations on the minimum scale of projects applying PPP forms,

Keywords: Public-private partnerships (ppp), drainage and wastewater treatment, investment capital

Trang 13

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU VỀ ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

1.1 Lý do chọn đề tài

Việt Nam chúng ta là quốc gia nhỏ, có dân số đông và hiện nay cũng đã và đang phải đối mặt với tình trạng tài nguyên thiên nhiên suy giảm một cách trầm trọng, tiêu thụ năng lượng ở mức cao này trong tóp của thế giới, nóng lên toàn cầu,

… Đặc biệt là ô nhiễm môi trường đất, nước, không khí đã và đang ảnh hưởng nghiêm trọng tới phát triển kinh tế - xã hội trong những năm qua

Theo Mạng lưới Dấu chân toàn cầu GFN (2018), “Ước tính, nhu cầu về tài nguyên thiên nhiên phục vụ cho các hoạt động kinh tế của con người hiện nay đã gấp 1,7 lần khả năng đáp ứng của trái đất Nếu không thay đổi cách thức phát triển, việc cạn kiệt tài nguyên và ô nhiễm môi trường là không thể tránh khỏi Các dự báo cho hay đến năm 2050 nếu không có những giải pháp hữu hiệu, tổng khối lượng rác thải nhựa, thải ra các đại dương thậm chí sẽ nhiều hơn tổng khối lượng cá hiện có khi đó”

Việt Nam hiện nay có mức thu nhập trung bình - thấp, đứng 68 thế giới về diện tích, 15 thế giới về dân số, đứng 4 thế giới về rác thải, với khoảng 1,83 triệu tấn/năm Hơn nữa, tình trạng suy kiệt tài nguyên thiên nhiên, tiêu thụ năng lượng ở mức cao này trong tóp của thế giới, ô nhiễm đất, nước, khí, biến đổi khí hậu đã và đang tác động cự kì nghiêm trọng đến phát triển KT - XH

Chính vì thế, công tác bảo vệ môi trường hiện nay đã và đang trở thành một trong những chính sách quan trọng của Đảng và nhà nước ta Hiện nay, Đảng và nhà nước ta đã và đang can thiệp vào mạnh mẽ bằng các chính sách trong hoạt động bảo vệ môi trường, ngăn chặn và xử lý các hành vi gây ô nhiễm, làm tổn hại đến môi trường Tuy nhiên, bên cạnh những những kết quả đạt được cũng không tránh khỏi những bất cập và thiếu sót vẫn đang còn tồn tại Do đó, làm thê nào để hoàn thiện những quy định về bảo vệ môi trương, giảm chất thải nguy hại cho môi trường, ngăn chặn sự ô nhiễm sẽ đóng góp rất lớn cho hoạt động gìn giữ và bảo vệ môi trường của Việt Nam nhằm đảm bảo phát triển bền vững hiện nay và mai sau

Trang 14

Thông qua những phân tích ở trên tác giả chọn đề tài: "Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh" nhằm nghiên cứu thực

trạng thoát nước và xử lý nước thải (TN & XLNT), phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến việc thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh từ đó kiến nghị các giải pháp nhằm thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN

& XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh nói riêng và có thể tham khảo cho cả nước

1.2 Mục tiêu

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Phân tích thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT

tại Thành Phố Hồ Chí Minh Từ đó đưa ra các hàm ý quản trị nhằm khắc phục những hạn chế cũng như phát huy những thế mạnh

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

Nghiên cứu nhằm đạt được các mục tiêu sau:

 Tổng hợp lý thuyết cơ sở chung về đầu tư, đầu tư công tư (ppp), TN & XLNT

 Đánh giá thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT

tại Thành Phố Hồ Chí Minh

 Đề xuất các kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu: thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực

TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

Về không gian: Tại thành phố Hồ Chí Minh

Về thời gian: nghiên cứu các tài liệu liên qua đến đề tài nghiên cứu giai đoạn

2015 – 2019

Trang 15

Phạm vi nội dung: đánh thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực

TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Thu thập thông tin thứ cấp: Thu thập thông tin từ các ấn phẩm, các nguồn thông tin chính thống, hệ thống sách báo, tạp chí, từ các trang web - cổng thông tin điện tử của các Bộ ban ngành như: Bộ kế hoạch đầu tư, Bộ tài nguyên và môi trường, Bộ khoa học và công nghệ và Sở kế hoạch đầu tư TP HCM

Phương pháp tổng hợp, chỉnh lý thông tin: Sử dụng các kỹ thuật tổng hợp, chỉnh lý thông tin khoa học để phân tích định lượng các số liệu thu thập

Phương pháp phân tích và phương pháp tư duy kinh tế để có cách thức nhìn nhận, đánh giá vấn đề dưới góc độ kinh tế

Phương pháp tư duy lôgic nhằm đưa ra những đánh giá khách quan, trung thực dựa trên tính logic của vấn đề

Phương pháp diễn giải quy nạp để trình bày vấn đề một cách rõ ràng, tổng quát

Quy trình nghiên cứu (xem phụ lục 1)

1.5 Ý nghĩa của đề tài

Kết quả nghiên cứu bổ sung thêm chứng cứ thực nghiệm về thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh Từ đó, nghiên cứu hy vọng sẽ cung cấp những gợi ý về giải pháp cho các cấp lãnh đạo, điều hành nhằm thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh

1.6 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo, kết cấu của đề tài bao gồm 4 chương:

Chương 1: Giới thiệu về đề tài nghiên cứu

Chương 2: Tổng quan về lý thuyết và cơ sở nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Chương 4: Giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT thải tại Thành Phố Hồ Chí Minh

Trang 16

Tóm tắt chương 1

Trong chương này, tác giả đã trình bày lý do chọn đề tài, mục tiêu và nhiệm

vụ nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, ý nghĩa của luận văn và kết cấu của đề tài

Trang 17

CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ CƠ SỞ NGHIÊN CỨU

2.1 Nước thải công nghiệp

2.1.1 Khái niệm

Theo Tiêu chuẩn quốc gia Việt Nam: “Nước thải công nghiệp là nước thải được sinh ra trong quá trình sản xuất công nghiệp từ các công đoạn sản xuất và các hoạt động phục vụ cho sản xuất như nước thải khi tiến hành vệ sinh công nghiệp hay hoạt động sinh hoạt của công nhânviên Nước thải côngnghiệp rất đa dạng, khác nhau về thành phần cũng như lượng phát thải và phụ thuộc vào nhiều yếu tố: loại hình công nghiệp, loại hình công nghệ sử dụng, tính hiện đại của công nghệ, tuổi thọ của thiết bị, trình độ quản lý của cơ sở và ý thức cán bộ công nhân viên”

(QCVN 40:2011/BTNMT, 2011)

Trong nước thải công nghiệp lại được chia ra làm 2 loại

Nước thải sản xuất bẩn là loại nước thải được tạo ra từ trong suốt quá trình hoạt động sản xuất ra các sản phẩm; từ trong quá trình xúc, tẩy rửa các máy móc, trang thiết bị phục vụ cho hoạt động sản xuất Loại nước thải này chứa nhiều hoá chất độc hại, vi khuẩn, vi rút, mần bệnh …

Nước thải sản xuất sạch là loại nước thải được tạo ra từ trong quá trình làm nguội các máy móc thiết bị trong quá trình vận hành bị nóng lên, hạ nhiệt các máy trạm thông qua quá trình ngưng tụ hơi nước, vì vậy loại nước thải này là loại nước

thải sạch (QCVN 40:2011/BTNMT, 2011)

2.1.2 Cơ sở nhận biết nước thải công nghiệp

Nước thải là một phần kết quả của quá trình hoạt động sản xuất Chính vì vậy, nước thải thường có chứa nguyên liệu, hoá chất độc hại, chất phụ gia trong quá trình sản xuất Ví dụ như nước thải từ sản xuất giấy, bột ngọt (mì chính), nước thải

từ quá trình sản xuất gang, thép, sản xuất thiệt bị y tế,

Do nguồn gốc phát sinh nên hầu hết các loại nước thải công nghiệp có nồng

độ ô nhiễm lớn, nguy hại ở nhiều mức độ tuỳ thuộc vào công nghệ sản xuất, công nghệ xử lý nước thải và cách thức thải Nước thải công nghiệp nhiều khi được tạo ra

Trang 18

từ các sự cố, hiện tượng rò rỉ của các máy móc thiết bị trong quy trình sản xuất hay

có thể là từ quá trình bảo quản nguyên liệu sản xuất trong đầu vào lẫn đầu ra

Thông thường nước thải được tạo ra từ các bước khác nhau trong xuyên suốt quy trình sản xuất (có thể được xử lý sơ bộ hoặc không được xử lý), được thải vào môi trường (cống, rãnh, mương, máng; sông, suối, ao hồ…) Thực tiễn cho thấy tại các tổ chức, nhà máy, doanh nghiệp, vì một số nhiều nguyên nhân nào đó mà hoạt động phân loại nước thải thường rất ít được quan tâm, chú trọng thực hiện hoặc không được thực hiện bởi đầu tư cho một hệ thống xử lý chất thải, nước thải công nghiệp đạt tiêu chuẩn thường tốn rất nhiều thời gian và chi phí

2.1.3 Phương pháp TN & XLNT

Phương pháp TN & XLNT gồm:

 TN & XLNT thải bằng phương pháp cơ học

 TN & XLNT sản xuất bằng phương pháp hóa học (trung hòa, kết tủa)

 TN & XLNT nhiễm bẩn hữu cơ

 TN & XLNT ô nhiễm dầu

 TN & XLNT sản xuất bằng phương pháp hóa học

2.1.4 Quy trình TN & XLNT

Quy trình TN & XLNT được thực hiện:

Bước 1: Nước thải (từ các nhà máy, khu công nghiệp, khu dân cư, …) được

dẫn vào bể tiếp nhận và được lược rác thô Sau đó, bùn thô sẽ được được tách ra khỏi nước thải và được thu gom lại

Bước 2: Sau khi nước thải và bùn thô được tách ra, nước thải được dẫn qua

bể tách mỡ (đối với các hệ thống có yêu cầu) thông qua hệ thống ống riêng biệt Sau

đó, nước thải được bơm lên để tiến hành quá trình lược rác tinh nhằm tách các chất thải rắn có kích thước nhỏ ra ngoài trước khi hệ thống ống dẫn dẫn nước thải xuống

bể điều hòa Cũng như phần bùn thô, phần bùn tinh cũng được tách ra và thu gom lại

Bước 3: Nước thải sau khi được dẫn vào bể điều hòa sẽ được hệ thống các

máy bơm bơm lên bể keo tụ nhằm tạo kết tủa, bông, đồng thời tiến hành châm PAC

Trang 19

(chất trợ keo tụ) và Polymer (chất trợ tạo bông lắng) nhằm liên kết các chất keo có trong nước thải để tạo ra các phần tử lớn hơn từ các phần tử nhỏ mà các giai đoạn lọc thô và và giai đoạn lọc tinh không xử lý được

Bước 4: Nước thải được dẫn thông qua hệ thống ống dẫn để vào bể xử lý kỵ

khí Trong gia đoạn này, nước thải có nồng độ ô nhiễm cao sẽ tiếp xúc với lớp bùn kỵ khí và sinh hóa, thủy phân, axit hóa, acetate hóa, khí methane, và các sản phẩm khác

Nước 5: Nước thải sau khi ra khỏi bể xử lý kỵ khí sẽ tràn qua bể lắng Tại

đây, quá trình lắng tách pha xảy ra và giữ lại phần bùn (vi sinh vật) Sau khi lắng, bùn sế được hệ thống các máy bơm bơm tuần hoàn về bể kỵ khí và thiếu khí nhằm duy trì nồng độ vi sinh vật trong bể Phần bùn dư được bơm về bể chứa bùn Tất cả bùn đã xử lý sẽ được lưu trữ, thu gom và đưa về đơn vị có chức năng xử lý

2.2 Đầu tư

Sachs - Larrain (1993): "Đầu tư là phần sản lượng được tích luỹ để tăng năng

lực sản xuất trong thời kỳ sau của nền kinh tế" Sản lượng bao gồm phần sản lượng

được sản xuất trong nước và nhập khẩu từ nước ngoài - theo luồng sản phẩm; đối với loại sản phẩm hữu hình như nhà cửa, công trình xây dựng, nhà xưởng, máy móc thiết bị hay các sản phẩm vô hình như bằng phát minh sáng chế, phí chuyển nhượng tài sản

Cũng theo Sachs - Larrain, (1993): “Tài sản cố định trong nền kinh tế tại một

thời điểm nào đó được định nghĩa bằng tổng các đầu tư qua các năm, tính đến thời điểm đó Trong thực tế, để tính toán giá trị tài sản tại một thời điểm nào đó người ta cộng tất cả các đầu tư trước đó, rồi trừ đi khấu hao hàng năm Nhưng việc xác định giá trị của tài sản tại một thời điểm nào đó là một việc khó khăn, vì một số loại tài sản không có giá trên thị trường, hoặc giá cả trên thị trường không phản ánh đúng

thực chất của giá trị tài sản”

2.3 Đầu tư công tư (ppp)

2.3.1 Khái niệm về PPP

Hiện nay trên thế giới và tại Việt Nam có rất nhiều định nghĩa về PPP, nhưng

chưa có định nghĩa nào cụ thể, rõ ràng nhất

Trang 20

Khái niệm của PPP có nguồn gốc từ hai quan điểm thú vị “PPP như là một công cụ mới của chính phủ” và “PPP là một trò chơi ngôn ngữ” (Teisman, G R, và

E H Klijin, 2002) Tuy nhiên, theo “ngôn ngữ trò chơi”, PPP được xem như là một trò chơi được xây dựng nhằm mục đích “che đậy” các hoạt động khác nhau của PPP PPP có thể hiểu như việc tư nhân hóa Để không trùng lặp thuật ngữ “tư nhân hóa” và “ký kết hợp đồng ra ngoài”, những người đề xuất cho việc tư nhân hóa này

đã đặt ra một thuật ngữ dễ hiểu hơn, dễ tiếp cận hơn đó chính là PPP Như vậy, PPP

có thể được hiểu và định nghĩa như là một hệ thống, một chuỗi các kết quả của quá trình hợp tác trong các dự án tại các lĩnh vực về tài chính, cơ sở hạ tầng công, …

(Junki Kim, 2009)

Elfredo E Pascual, 2008 cho rằng: “PPP là sự cộng tác giữa khu vực công

cộng và khu vực tư nhân dựa trên một hợp đồng để cung cấp tài sản hoặc dịch vụ, trong đó phân định hợp lý vai trò và chia sẻ công bằng trách nhiệm, chi phí và rủi

ro giữa khu vực công cộng và tư nhân, các rủi ro được chuyển cho bên nào có thể quản lý tốt nhất, đảm bảo chuyển giao rủi ro ở mức tối ưu, không phải là tối đa cho khu vực tư nhân, và khu vực tư nhân sẽ đóng góp không chỉ có vốn mà còn cả công nghệ và năng lực quản lý, việc sử dụng vốn có hiệu quả hơn, mang đến sự sẵn có,

chất lượng và tính hiệu quả của dịch vụ”

Một số định nghĩa khác của Ủy ban quốc gia về PPP của Vương quốc Anh cho rằng “PPP là một kiểu quan hệ chia sẻ rủi ro xuất phát từ nguyện vọng chung của cả khu vực tư nhân và khu vực công nhằm đạt được kết quả mong muốn” Hội đồng Quốc gia về PPP của Canada lại định nghĩa “PPP là một kiểu hợp tác liên doanh giữa khu vực công với khu vực tư, được xây dựng trên cơ sở chia sẻ kinh nghiệm chuyên môn của mỗi bên, nhằm đáp ứng tốt nhất các nhu cầu đã được xác định rõ của xã hội thông qua việc phân bổ hợp lý các nguồn lực, các kết quả và cả

các rủi ro”

Theo Ngân hàng Thế giới: “PPP là việc chuyển giao cho khu vực tư nhân

các dự án đầu tư mà theo truyền thống thì đó là các dự án phải do nhà nước đầu tư

và vận hành Định nghĩa này có hai khía cạnh cần được lưu ý: Nhà đầu tư nhận

Trang 21

trách nhiệm cung cấp dịch vụ thông qua dự án; Một số rủi ro liên quan đến dự án

sẽ được chuyển giao từ khu vực nhà nước cho khu vực tư nhân”

Bảng 2.1 Các hình thức PPP

Hình thức hợp đồng Quyền

sở hữu tài sản

cơ sở hạ tầng

Vốn đầu

Quyền

sở hữu tài sản vận hành

Rủi ro thương mại

Rủi ro kinh doanh

Thời gian hoạt động (năm) Hợp đồng dịch vụ Nhà

nước

Nhà nước

Nhà nước

Nhà nước

Nhà nước

và tư nhân

1 - 2

Hợp đồng quản lý Nhà

nước

Nhà nước

Nhà nước

Nhà nước

Nhà nước

và tư nhân

3 - 5

Hợp đồng cho thuê Nhà

nước

Nhà nước

Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân 20 - 30

Bán/ BOO Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân Tư nhân Không

giới hạn

Nguồn: Tổng hợp từ Jos van Gastel Msc, 2010 và Anand Chiplunkar, 2006

Tại Việt Nam, khái niệm PPP còn mới mẻ và dường như chỉ được sử dụng duy nhất trong các mô hình xây dựng, kinh doanh và chuyển giao (BOT) và hợp đồng hợp tác kinh doanh (BBC), thể hiện mối quan ngại chính là vấn đề vốn (ADB, 2006) Tuy nhiên, khái niệm PPP rộng lớn hơn rất nhiều có thể được sử dụng trong nhiều lĩnh vực khác nhau như dịch vụ cấp nước và dịch vụ vệ sinh, phát điện quy

mô nhỏ, điện thoại di động và an toàn giao thông Theo định nghĩa trong Quyết định

số 71/2010/QĐ-TTg ngày 9 - 11 - 2010 của Thủ tướng Chính phủ thì “Đầu tư theo hình thức đối tác công - tư là việc nhà nước và Nhà đầu tư cùng phối hợp thực hiện

Dự án phát triển kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công trên cơ sở Hợp đồng dự án”

Như vậy, có thể hiểu đơn giản PPP không phải là tư nhân hóa, mà là công -

tư phối hợp thực hiện dự án, cùng chia sẻ trách nhiệm, lợi ích và sự rủi ro, nó giúp cải thiện chất lượng các công trình công

Trang 22

PPP có rất nhiều phương thức khác nhau và trong mỗi phương thức này lại phù hợp với điều kiện của một quốc gia, địa phương, … và tại một thời điểm nhất định mà ở đó vai trò của cơ quan nhà nước và tư nhân được hoán đổi cho nhau Cụ thể, nhiều rủi ro hơn cho khu vực nhà nước trong phương thức hợp đồng dịch vụ/ quản lý; rủi ro nhiều cho khu vực tư nhân trong phương thức BOO, BOT; chia sẻ rủi ro hay chia đều rủi ro cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân Công tác lựa chọn phương thức thực hiện các dự án, hợp đồng PPP còn phụ thuộc và rang buộc bởi rất nhiều yếu tố và từng điều kiện cụ thể

2.3.2 Mô hình Hợp tác công tư - PPP

Hợp tác công tư - PPP (Public Private Partnerships) là mô hình hợp tác cơ quan nhà nước và tư nhân trong việc đầu tư cung cấp các dịch vụ và hàng hóa công Theo mô hình PPP, Nhà nước xây dựng các “yêu cầu” (danh mục dự án hạ tầng cần đầu tư, loại hình dịch vụ công cần cung cấp), xác định các “tiêu chuẩn” cần thiết (về quy mô, về chất lượng, về vốn đầu tư, về thời gian…), bên tư nhân được khuyến khích đầu tư cung cấp hàng hóa, dịch vụ công và được “thanh toán” theo chất lượng dịch vụ Việc “thanh toán” đa dạng tùy thuộc vào từng loại Hợp đồng PPP

Các nhà nghiên cứu đều thống nhất Anh là một trong những nước tiên phong thực hiện và thành công mô hình PPP Hiện nay phương thức này đã được triển khai thành công tại khá nhiều nước trên thế giới Mô hình này được áp dụng ở rất nhiều lĩnh vực dịch vụ công như: Các công trình đường bộ thu phí, đường sắt, sân bay; Xây dựng mới hoặc đầu tư nâng cấp bệnh viện, trường học; Viện nghiên cứu khoa học (trang bị phòng thí nghiệm và sản xuất); Khai thác di sản và thậm chí cả dịch vụ nhà tù giam giữ tù nhân

Mô hình PPP thực hiện thông qua hợp đồng giữa tổ chức thuộc khu vực Nhà nước (bao gồm cả chính quyền địa phương) và bên tư nhân (thường là một Công ty doanh nghiệp dự án - Special Purpose Vehicle) Về mặt lý thuyết có hai kiểu hợp đồng PPP:

 Bên tư nhân được giao để thực hiện một số chức năng của khu vực Nhà nước Tương ứng với các loại hợp đồng này, bên tư nhân sẽ được Nhà nước, chính

Trang 23

quyền địa phương thanh toán các khoản phí, hoặc bên tư nhân được phép thu phí /

lệ phí sử dụng các loại hình dịch vụ đã cung cấp theo hợp đồng PPP

 Bên tư nhân được giao để sử dụng tài sản của Nhà nước, chính quyền địa phương để thực hiện các mục đích kinh doanh thương mại Khi đó bên tư nhân sẽ cần thực hiện một số nhiệm vụ tài chính theo hợp đồng PPP

Cũng có các trường hợp hợp đồng PPP là sự kết hợp giữa hai loại hình nêu trên

Từ nguyên tắc này mà mỗi quốc gia có những quy định riêng về từng dạng Hợp đồng cụ thể tùy thuộc vào nhu cầu và khả năng quản lý của chính phủ

Sơ đồ 2.1 Hình thức hợp tác PPP

Nguồn: Tác giả sưu tầm

Ưu điểm của mô hình này là mang lại lợi ích cho Nhà nước người dân và NĐT Người dân được sử dụng dịch vụ hàng hóa với chất lượng tốt hơn, Nhà nước thì tận dụng được các tiềm lực tài chính, kinh nghiệm quản lý và san sẻ rủi ro với nhà đầu tư Nhà đầu tư thì chấp rủi ro nhưng thu được lợi nhuận Khi thực hiện dự

án theo phương thức PPP những bất cập phát sinh trong công tác đấu thầu, quản lý

dự án, vận hành, bảo dưỡng của dự án công được hạn chế đến mức có thể Với các điều khoản chặt chẽ của hợp đồng PPP, thì ngoài việc chịu rủi ro phát sinh, bên tư nhân phải đảm bảo công trình thực hiện đầu tư và vận hành đúng thời hạn, đúng chất lượng theo các tiêu chí đã ký kết Ngoài ra, khi thực hiện mô hình PPP Chính phủ (hoặc chính quyền địa phương) sẽ giảm được chi phí đầu tư và gánh nặng quản

Trang 24

lý trong một số lĩnh vực hàng hoá dịch vụ công, tập trung thực hiện một số nhiệm

vụ trọng tâm để góp phần thực hiện chính sách phát triển kinh tế địa phương

Theo tài liệu giới thiệu về mô hình hợp tác công tư tại cuộc hội thảo do Tổng lãnh sự quán Anh tại Thành phố Hồ Chí Minh tổ chức (vào tháng 7/2005), thì những đặc điểm của các dự án PPP là:

 Có sự hợp tác chặt chẽ, bình đẳng giữa Nhà nước và khu vực tư Thời gian hợp tác tùy thuộc vào vòng đời khai thác thu hồi vốn của dự án Nhưng thường là hợp tác lâu dài

 Nhà nước chú trọng vào việc xác định những tiêu chuẩn, mục tiêu của dự án Đối tác tư nhân được chủ động trong đầu tư xây dựng và vận hành khai thác (điều này giúp dự án được triển khai nhanh hơn do không vướng vào các trình tự thủ tục đấu thầu, quản lý dự án như ở Việt Nam hiện nay)

 Cơ cấu nguồn vốn rất đa dạng Hình thức hợp tác của khu vực tư cũng rất đa dạng Công ty của Nhà nước cũng có thể hợp tác cùng các thành phần kinh tế khác

 Có sự chia sẻ rủi ro giữa Nhà nước với nhà đầu tư

Tại Việt Nam, Nghị định số 108/2009/NĐ-CP ban hành ngày 27/11/2009 của

Chính phủ quy định mô hình hợp tác công tư được thực hiện dưới 3 hình thức: Hợp đồng BOT (Xây dựng - kinh doanh - chuyển giao); Hợp đồng BTO (Xây dựng - chuyển giao - kinh doanh); Hợp đồng BT (Xây dựng - chuyển giao)

Đến năm 2015, Chính phủ ban hành Nghị định số 15/2015/NĐ-CP theo đó

ngoài 03 hình thức nêu trên, còn có thêm các dạng hợp đồng: Hợp đồng BOO (Xây dựng - Sở hữu - Kinh doanh); Hợp đồng BTL (Xây dựng - Chuyển giao - Thuê dịch vụ); Hợp đồng BLT (Xây dựng - Thuê dịch vụ - Chuyển giao); Hợp đồng O&M (Kinh doanh - Quản lý)

2.3.3 Vai trò của mô hình PPP

Vai trò của mô hình PPP bao gồm:

+ Tăng cường và nâng cao hiệu quả trong việc đầu tư xây dựng phát cơ sở hạ tầng kỹ thuật, quản lý điều hành và quản lý hoạt động dự án

Trang 25

+ Cung cấp nguồn lực về vốn, công nghệ, nguồn nhân lực, … bởi các bên tham gia (cả khu vực nhà nước và khu vực tư nhân hợp tác)

+ Tiếp nhận, chuyển giao các công nghệ hiện đại trên thế giới (cả phần cứng

và phần mềm)

Bên cạnh đó, khi hoạt động đầu tư được thực hiện đúng quy định sẽ cho phép lựa chọn đối tác một cách cạnh tranh, minh bạch thông qua hình đấu thầu và hỗ trợ tốt hơn trong việc lập kế hoạch dự án, công nghệ được áp dụng trên cơ sở xem xét, đánh giá các nguồn lực cũng như chi phí trong toàn bộ vòng đời của dự án

PPP hiện nay đã và đang trở nên rất thu hút với hầu hết Chính phủ các nước đang phát triển vì mô hình này được xem như là một cơ chế ngoài NS phục vụ cho phát triển cơ sở hạ tầng của đắt nước đó Cụ thể:

+ Cung cấp dịch vụ về đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cần thiết cho phát triển đất nước, phục vụ công cộng,

+ Khi áp dụng mô hình PPP có thể sẽ không phải thực hiện chi tiền mặt ngay

từ đầu sẽ giúp giảm các áp lực về chi phí trong các hoạt động thiết kế và thực hiện xây dựng (bởi sự hợp tác nhiều bên)

+ Chuyển rủi ro của dự án sang cho khu vực tư nhân thay vì Nhà nước gánh chịu toàn bộ rủi ro như trước kia

+ Mô hình PPP sẽ có nhiều các lựa chọn về thiết kế, biện pháp xây dựng, công nghệ ứng dụng trong vận hành sản xuất, quy trình quản lý và chất lượng xây dựng cơ sở hạ tầng hạ tầng

2.3.4 Các hình thức đối tác công tư PPP

đồng dự án theo hình thức đối tác công tư, cụ thể như sau: “Hợp đồng Xây dựng –

Kinh doanh – Chuyển giao (BOT) – cam kết giữa nhà nước và NĐT trong đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng; khi hoàn thành NĐT sẽ được kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định; và sau khi hết thời hạn, nhà đầu tư sẽ bắt buộc phải chuyển giao công trình cho nhà nước Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Kinh doanh (BTO) – cam kết giữa nhà nước và NĐT trong đầu tư xây dựng

Trang 26

các công trình, cơ sở hạ tầng; khi hoàn thành NĐT sẽ tiến hành chuyển giao cho nhà nước và được kinh doanh trong một khoảng thời gian nhất định Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao (BT) – cam kết giữa nhà nước và NĐT trong đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng; khi hoàn thành NĐT sẽ tiến hành chuyển giao cho nhà nước và được thanh toán bằng quỹ đất để tiến hành một Dự án khác theo các điều kiện quy định tại Khoản 3 Điều 14 và Khoản 3 Điều 43 Nghị định số 15/2015/NĐ-CP Hợp đồng Xây dựng – Sở hữu – Kinh doanh (BOO) – cam kết giữa nhà nước và NĐT trong đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng; khi hoàn thành NĐT là người sở hữu và được kinh doanh công trình trong một khoảng thời gian nhất định Hợp đồng Xây dựng – Chuyển giao – Thuê dịch vụ (BTL) – cam kết giữa nhà nước và NĐT trong đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng; khi hoàn thành NĐT sẽ tiến hành chuyển giao cho nhà nước và được cung cấp các loại hình dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình trong một khoảng thời gian nhất định; nhà nước có trách nhiệm thuê dịch vụ và thanh toán cho NĐT theo quy định Hợp đồng Xây dựng – Thuê dịch vụ – Chuyển giao (BLT) – cam kết giữa nhà nước và NĐT trong đầu tư xây dựng các công trình, cơ sở hạ tầng; khi hoàn thành NĐT sẽ tiến hành chuyển giao cho nhà nước và được cung cấp các loại hình dịch vụ trên cơ sở vận hành, khai thác công trình trong một khoảng thời gian nhất định; nhà nước có trách nhiệm thuê dịch vụ và thanh toán cho NĐT theo quy định; khi hết thời hạn NĐT bắt buộc phải chuyển giao công trình cho nhà nước Hợp đồng Kinh doanh – Quản lý (O&M) – cam kết giữa nhà nước và NĐT để kinh doanh một phần công trình hay toàn bộ công trình trong một khoảng thời gian nhất định”

2.3.5 Các lĩnh vực đầu tư theo PPP

Lĩnh vực đầu tư của các dự án theo PPP là các dự án xây dựng, cải tạo, vận hành, kinh doanh, quản lý công trình kết cấu hạ tầng, cung cấp trang thiết bị hoặc dịch vụ công gồm:

Công trình xây dựng hạ tầng giao thông và các dịch vụ khác có liên quan;

Trang 27

Hệ thống đèn điện công; hệ thống nước sạch; hệ thống thoát nước và xử lý nước; thu gom, xử lý nước thải, chất thải, …

Nhà máy, công trình thuỷ điện, các hạng mục thi công đường dây truyền tải điện;

Công trình y tế như bệnh viện, giáo dục - đào tạo - dạy nghề như trường học

…, văn hóa - thể thao như sân vận động, nhà văn hoá, …; các công trình công như trụ sở UBND, HĐNN, …;

Công trình như khu công nghiệp, khu công nghệ cao, các trung tâm thông tin liên lạc, …;

Công trình phục vụ cho nông nghiệp, nông thôn như hệ thống kênh, mương, mán phục vụ thuỷ lợi trong sản xuất nông nghiệp;

Các lĩnh vực khác theo quy định của Nhà nước và quyết định được phê duyệt của Thủ tướng Chính phủ

2.3.6 Cơ hội và thách thức của PPP

Từ kinh nghiệm thế giới cho thấy, mô hình PPP mang lại hiệu quả đầu tư

tăng rõ rệt so với cách đầu tư truyền thống do một số yếu tố sau đây:

Vốn đầu tư ban đầu để thực hiện dự án có thể nhỏ, điều này giúp giảm gánh nặng NSNN và nợ nước ngoài Việc cung cấp các dịch vụ của khu vực tư nhân do chính phủ chi trả có thể làm thay đổi gánh nặng chi phí từ phương thức truyền thống

đó là thanh toán trước một khoản tiền lớn sang một loạt các khoản thanh toán thường niên giúp dễ dàng trong quản lý và dự toán trước hơn trong suốt thời gian của dự án, tạo sự minh bạch trong chi tiêu Điều này có nghĩa là với cùng một lượng vốn nhà nước đầu tư, nếu như trước kia tập trung và xây dựng được một công trình thì nay có thể phát triển hai đến ba công trình tương tự nhờ có phần vốn tham gia của tư nhân

Các dự án được đầu tư, xây dựng theo mô hình PPP thường có kết quả và chất lượng tốt hơn Nguyên nhân là với sự tham gia của khu vực tư nhân với: khả năng thực hiện dự án tốt hơn (quy trình, công nghệ, nguồn lực …), kinh nghiêm và khả năng quản lý, ứng dụng và sử dụng các công nghệ tiên tiến, kỹ thuật cao trong

Trang 28

đầu tư xây dựng, quản lý và vận hành (Alan Johnson, 2006) PPP buộc nhà nước phải chú trọng vào đầu ra và lợi ích, thay vì chú trọng đầu vào như hình thức cũ

Tận dụng được kinh nghiệm về quy trình quản lý, năng lực kinh doanh, công nghệ - kỹ thuật hiện đại, kỹ thuật- phương pháp xây dựng, bảo dưỡng và khả năng vận hành của khu vực tư nhân

Các nhà đầu tư tư nhân thường có xu hướng chuyển việc thanh toán sang cho người sử dụng dịch vụ bởi mục đích chính của họ là doanh thu, lợi nhuận và khả năng bù đắp chi phí

Tạo dựng môi trường kinh doanh bình đẳng cho các nhà đầu tư Nếu theo hình thức như hiện nay là nhà nước thực hiện mọi cung ứng về tài chính cho các dịch vụ môi trường, thì phần lớn các dự án sẽ được chỉ định thầu cho các doanh nghiệp nhà nước Nếu chuyển sang hình thức PPP có nghĩa là thực hiện đấu thầu cạnh tranh, công khai, nguồn tiền phần lớn do tư nhân đầu tư ban đầu

Sự ủng hộ của Chính phủ về chủ trương áp dụng thử nghiệm hình thức hợp tác nhà nước tư nhân Hiện nay, nước ta đã có một số quy định liên quan đến vấn đề hợp

tác giữa Nhà nước và tư nhân, có thể coi là khởi nguồn của PPP, như Nghị định

108/2009/NĐ-CP của Chính phủ về “Đầu tư theo hình thức hợp đồng xây dựng - kinh

doanh - chuyển giao (BOT), hợp đồng xây dựng - chuyển giao - kinh doanh (BTO),

hợp đồng xây dựng - chuyển giao (BT)” thay thế Nghị định 78/2007/NĐ-CP ngày 11 -

5 - 2007 của chính phủ đã ban hành Quy chế thí điểm hình thức hợp tác nhà nước tư nhân Nếu được thông qua, Quy chế là văn bản chính thức công nhận hình thức PPP ở Việt Nam Tuy nhiên trong Quy chế này không có danh mục các dự án về môi trường

Ngoài những cơ hội kể trên, thực tế thì PPP không phải là không có những thách thức Với tình hình hiện nay, nếp áp dụng mô hình PPP thì vẫn gặp phải các thách thức như:

Năng lực đàm phán, ký kết hợp đồng của cơ quan nhà nước còn hạn chế, dẫn đến sự chậm trễ trong triển khai dự án, làm nản lòng nhà đầu tư, hoặc không kiểm soát chất lượng, tiến độ của dự án

Trang 29

Chi phí giao dịch cao, về vấn đề tham nhũng khi cả nhà nước và tư nhân cùng tham gia, tiềm ẩn nguy cơ tạo ra các hiện tượng “trục lợi” lớn, các công ty tư nhân chỉ chăm chú thu lợi nhuận, mà không chú trọng đến chất lượng dịch vụ…

PPP ngụ ý nhà nước mất kiểm soát quản lý và vì vậy dẫn đến sự khó chấp thuận trên giác độ chính trị

2.4 Các tiêu chuẩn đánh giá lựa chọn nhà đầu tư theo PPP

Đối với tiêu chuẩn đánh giá năng lực, kinh nghiệm của nhà đầu tư (sơ tuyển

nhà đầu tư), các tiêu chí chủ yếu được sử dụng gồm: Kinh nghiệm thực hiện dự án tương tự về quy mô, khu vực địa lý, đặc điểm kinh tế - xã hội; địa vị pháp lý, lịch sử

và thương hiệu của nhà đầu tư; năng lực kỹ thuật chủ yếu để thực hiện, vận hành dự án; sức mạnh tài chính của nhà đầu tư; khả năng huy động tài chính, nguồn nhân lực được phân bổ cho dự án và một số tiêu chí cần thiết khác phù hợp với từng dự án cụ thể

Việc áp dụng các tiêu chí đánh giá này để đảm bảo rằng chỉ những nhà đầu

tư có năng lực tài chính và chuyên môn đáp ứng yêu cầu tối thiểu mới có thể có cơ hội tham gia quá trình đấu thầu, điều này giúp cơ quan quản lý nhà nước trong giai đoạn sau của quy trình không phải loại đi quá nhiều ứng viên từ danh sách đông đảo các đơn vị dự thầu Điều này cũng khích lệ các nhà đầu tư dự thầu rằng họ sẽ được nằm trong danh sách một số ít các nhà đầu tư có năng lực cạnh tranh bình đẳng như nhau Những nhà đầu tư đáp ứng yêu cầu ở vòng sơ tuyển sẽ được tham gia vòng đấu thầu Tại bước này, hồ sơ dự thầu của nhà đầu tư sẽ được đánh giá theo hai tiêu chuẩn chính là tiêu chuẩn kỹ thuật và tiêu chuẩn về tài chính

Tiêu chí đánh giá về kỹ thuật: Để đáp ứng về kỹ thuật, theo kinh nghiệm

chung của các nước thì các tiêu chí đánh giá nhà đầu tư gồm giải pháp thực hiện dự

án, chất lượng thiết bị công nghệ, khả năng đảm bảo yêu cầu về chất lượng, môi trường của dịch vụ, sản phẩm cung cấp…, cụ thể như sau:

+ Giải pháp thiết kế, quản lý chất lượng công trình và thiết bị;

Trang 30

+ Quản lý thời gian xây dựng (bảng tiến độ thi công từng hạng mục);

+ Biện pháp của nhà đầu tư về quản lý dự án, quản lý tiến độ, quản lý nhà thầu, thầu phụ thực hiện dự án;

+ Mức độ đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật của công trình, thiết bị lắp đặt vào công trình; mức độ ảnh hưởng đến cộng đồng, môi trường trong thời gian khai thác công trình;

+ Năng lực về tổ chức kiểm tra, giám sát và quy trình xác nhận năng lực, tuân thủ thỏa thuận giữa cơ quan quản lý nhà nước, nhà đầu tư và nhà tài trợ (nếu có);

+ Khả năng đáp ứng thực tế về phạm vi cung cấp, chất lượng hàng hóa, dịch

vụ sẽ được nhà đầu tư cung cấp phù hợp với quy mô, chất lượng mà cơ quan quản

lý nhà nước đưa ra;

+ Kế hoạch bảo trì công trình của nhà đầu tư để đảm bảo duy trì công trình đạt tiêu chuẩn phù hợp, đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật của hàng hóa, dịch vụ trong suốt thời gian vận hành khai thác và sau khi chuyển giao công trình;

+ Kế hoạch tổ chức chuyển giao công trình cho Nhà nước theo các nội dung

cụ thể như: Đào tạo bộ máy cán bộ, công nhân kỹ thuật cho Nhà nước để vận hành công trình, chuyển giao công nghệ, hướng dẫn quy trình bảo trì…;

+ Các đề xuất có tính chất cải tiến, áp dụng công nghệ mới của dự án, quyền

sở hữu trí tuệ Việc sử dụng các giải pháp xây dựng hiện đại, công nghệ mới;

+ Các đề xuất về nhân sự như chi tiết kế hoạch nhân sự; kinh nghiệm đối với lĩnh vực dịch vụ trong kế hoạch nhân sự; năng lực và kinh nghiệm chuyên môn của các nhân viên chủ chốt (thể hiện trong sơ yếu lý lịch);

+ Các yêu cầu cần thiết khác

Trang 31

Xác định tiêu chí đánh giá về tài chính: Đối với mỗi hình thức hợp đồng PPP

khác nhau (BOT, BTO, BT và BOO) sẽ có các tiêu chí đánh giá phù hợp để lựa chọn nhà đầu tư theo nội dung sau:

+ Đối với hợp đồng BOT và BTO:

Mức đóng góp và khả năng huy động vốn của nhà đầu tư, thời hạn hoàn vốn,

kỳ thanh toán của khoản nợ để phù hợp với dòng tiền của dự án, giới thiệu về khả năng cấp vốn vay bằng đồng nội tệ, ngoại tệ để phù hợp với những khoản thu nhập bằng đồng nội tệ, ngoại tệ;

khoản về bồi thường và chấm dứt hợp đồng;

do nhà đầu tư yêu cầu (nếu có)

Đối với hình thức hợp đồng BOT (hay BTO) đã gói gọn trách nhiệm thực hiện các chức năng riêng lẻ (thiết kế, thi công và bảo trì) cho một pháp nhân duy nhất Vì vậy, nhà thầu trúng thầu phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật công trình quy định trong hồ sơ mời thầu và thông thường phải chào giá hàng hóa, dịch vụ đã bao gồm các chi phí ở các giai đoạn thiết kế, thi công và vận hành, bảo trì công trình có sức cạnh tranh cao nhất

Đối với hợp đồng BT: Đối với hợp đồng BT chỉ đánh giá về quá trình xây dựng công trình và giá xây dựng công trình, trong đó đặc biệt chú ý đến các tiêu chí

Trang 32

đánh giá về chất lượng công trình, điều kiện thanh toán cho nhà đầu tư, nội dung bảo hành công trình, điều kiện chuyển giao công trình (không phải xét đến nội dung

về vận hành khai thác) Nhà đầu tư được chọn là nhà đầu tư đề xuất tổng vốn đầu tư xây dựng công trình thấp nhất trên cơ sở cùng một mặt bằng về các điều kiện kỹ thuật, tài chính, thương mại khác

2.5 Đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT

Do lĩnh vực TN & XLNT thuộc lĩnh vực vệ sinh môi trường, tại hầu hết các nước đang phát triển thường ít được cơ quan nhà nước và người dân quan tâm bởi nguồn lực về vốn, năng lực thực hiện, của khu vực Nhà nước còn rất nhiều hạn chế và yếu kém về mặt kỹ thuật, công nghệ sử dụng Ngược lại, tại các nước phát triển, Chính phủ các nước này thường đấu thầu để tiến hành lựa chọn NĐT trong khu vực tư nhân để thực hiện các hợp đồng về TN & XLNT Như vậy, PPP lĩnh vực TN & XLNT có thể thay thế cho hoạt động đầu tư công tại lĩnh vực này (về quy trình thiết kế, quy trình xây dựng, công nghệ áp dụng, quy trình quản lý, vận hành và khai thác )

Nếu thực hiện đầu tư công trong lĩnh vực TN & XLNT, cơ quan Nhà nước sẽ phải vận hành tất cả các quá trình TN & XLNT từ hoạt động thu gom đến xử lý Do đó, Nhà nước sẽ phải thực hiện tổ chức bộ máy theo hệ thống, đi từ trên xuống dưới theo đường thẳng, phải cung cấp toàn bộ nguồn vốn, ngân sách cho toàn bộ dự án từ khi bắt đầu thành lập dự án, đầu tư xây dựng cho đến vận hành khai thác Chính vì vậy, khi thực hiện các hợp đồng đầu tư theo PPP, Nhà nước sẽ giảm nhẹ được các khâu này, chỉ cần thực hiện hoạt động thuê NĐT xử lý TN & XLNT, thanh toán cho NĐT tương ứng với khối lượng và mực độ thực hiện công việc mà NĐT thực hiện

TN & XLNT về lâu dài sẽ gây ra các các tác động về ô nhiễm đất, nước, không khí, chính vì vậy hoạt động PPP vào lĩnh vực TN & XLNT này có nhiệm vụ giúp giảm chi phí phát sinh trong tương lai, giảm thiểu tối đa các ảnh hưởng lâu dài về ô nhiễm đất, ô nhiễm nước, ô nhiễm không khí, cho người dân và thế hệ tương lai; giảm gánh nặng về trách nhiệm khắc phục cho các cơ quan nhà nước

Trang 33

Các công nghệ - kỹ thuật được ứng dụng trong TN & XLNT có nhiều quy trình phức tạp, yêu cầu kỹ thuật và trình độ chuyên môn cao, do đó, thu hút đầu tư tại khu vực

tư nhân sẽ đáp ứng tốt hơn các yêu cầu này

Thu hút đầu tư PPP tạo ra các doanh nghiệp mới trong lĩnh vực về sinh môi trường Các công ty hoạt động trong ngành vệ sinh môi trường với ngành nghề chính là

TN & XLNT

Trên thế giới hiện nay, công nghệ - kỹ thuật ứng dụng trong TN & XLNT đã có nhiều cải tiến tại các nước Châu Âu, một số nước Châu Á Chính vì vậy, đầu tư theo PPP lĩnh vực TN & XLNT sẽ thu hút FDI (vốn đầu tư trực tiếp) và các NĐT khu vực tư nhân tại nước ngoài có ưu thế về tiềm lực tài chính (vốn), kỹ thuật - công nghệ, điều hành quản lý tham gia vào lĩnh vực xử lý TN & XLNT này

2.6 Nguồn vốn đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT

Nguồn vốn sử dụng cho hoạt động PPP trong TN & XLNT bao gồm: vốn tự có của NĐT, vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng và vốn từ NSNN:

- Vốn chủ sở hữu của các NĐT: đây là nguồn lực cốt yếu của hình thức PPP trong

lĩnh vực TN & XLNT NĐT khu vực tư nhân có năng lực về vốn tự có sẽ giúp giảm chi phí vay từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng để thực hiện dự án

- Vốn từ các tổ chức tín dụng, ngân hàng: đây là nguồn bổ sung đáng kể cho

NĐT để có đủ nguồn lực trong khi tiến hành thực hiện dự án đầu tư PPP lĩnh vực TN & XLNT khi có sự thiếu hụt về nguồn vốn Tuy nhiên, nguồn lực này sẽ tạo nên một khoản chi phí về vốn vay cho NĐT làm giảm lợi nhuận của các NĐT

- Vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước:

+ Ngân sách nhà nước: mô hình PPP là mô hình hoạt động theo định hướng thu hút sự tham gia đầu tư của các nguồn lực của tư nhân Ở giai đoạn hình thành dự án, nguồn vốn từ nguồn ngân sách Nhà nước giúp cơ quan Nhà nước thực hiện các bước đầu tiên của dự án từ khâu chuẩn bị đầu tư Ngoài ra, trong giai đoạn vận hành, khi doanh thu không đủ bù đắp chi phí, thì cơ quan nhà nước phải sử dụng nguồn NSNN để thanh toán cho các NĐT

+ Các ưu đãi, hỗ trợ của cơ quan nhà nước: các ưu đãi, hỗ trợ của các cơ quan nhà nước bao gồm các chính sách hỗ trợ, ưu đãi về chi phí sử dụng đất,

Trang 34

Ngoài ra, còn có các nhà tài trợ nước ngoài (ODA) Theo Luật NSNN, ODA cũng là vốn NSNN Vốn ODA có thể được sử dụng nhằm hỗ trợ cho các cơ quan nhà nước hoặc lập Quỹ đầu tư PPP

2.7 Nhân tố ảnh hưởng đến đầu tư theo PPP vào lĩnh vực TN & XLNT

Dự án đầu tư theo PPP khi hình thành phải phù hợp với quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành, vùng và kinh tế - xã hội của đô thị Trước khi lựa chọn phương án thực hiện

dự án đầu tư PPP thì cơ quan chức năng phải thực hiện một loạt các hoạt động xét duyệt, đánh giá về khả năng tiếp cận vốn, công nghệ, kinh nghiệm, của các NĐT

Sơ đồ 2.2 Các bên tham gia trong đầu tư PPP lĩnh vực TN & XLNT

Nguồn: Tác giả tổng hợp

Các yếu tố ảnh hưởng đến PPP TN & XLNT bao gồm:

- Khung pháp lý và quy trình thực hiện dự án: cụ thể là các văn bản, khung hướng dẫn và quy định bắt buộc các bên liên quan phải thực hiện Một khung pháp lý đầy đủ sẽ giúp các bên liên quan thực hiện tốt trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn và đồng thời hạn chế tối đa các rủi ro, hoạt động tiêu cực, gian lận trong suốt quá trình đầu tư từ giai đoạn bắt đầu đến giai đoạn kết thúc của dự án

- Bộ máy QLNN: Mô hình PPP trong lĩnh vực TN & XLNT có nhiều điểm khác

Trang 35

thức và trình độ chuyên môn cao, kinh nghiệm phong phú, trong thực hiện các dự án đầu tư Bên cạnh đó, khi có các vấn đề phát sinh về các thủ tục hành chính, tranh chấp, thì bộ máy quản lý nhà nước phải tiến hành giải quyết xử lý Ngoài ra, bộ máy QLNN phải chịu trách nhiệm thông tin, tuyên truyền đến các NĐT và người dân; thực hiện các hoạt động giám sát dự án của các NĐT, thực hiện các hoạt động thanh toán cho các NĐT, thực hiện các hoạt động xử lý vi phạm của các NĐT Chính vì vậy, bộ máy QLNN chiếm một vai trò cực kỳ quan trọng trong PPP lĩnh vực TN & XLNT

- Nguồn lực của các NĐT: trong PPP lĩnh vực TN & XLNT, thông thường khi hình thành một dự án, cơ quan nhà nước sẽ tiến hành các hoạt đậu đấu thầu để lực chọn NĐT có năng lực tốt nhất, đáp ứng các yêu cầu khi thực hiện dự án (từ nguồn vốn, nguồn nhân lực, công nghệ, khả năng quản lý, ) Chính vì vậy, nguồn lực của các NĐT được xem là một yếu tố quan trọng trong các dự án PPP lĩnh vực TN & XLNT

- Công nghệ - kỹ thuật: trong dự án PPP lĩnh vực TN & XLNT, công nghệ có vai trò “cực kỳ - cực kỳ” quan trọng Vì lĩnh vực này có ảnh hưởng rất lớn đến môi trường

và chứa đựng những nguy cơ tiềm ẩn cho người dân và thế hệ tương lai

- Sự tham gia của người dân: yếu tố người dân trong các dự án PPP lĩnh vực TN

& XLNT chính là vai trò giám sát Chính vì vậy, tăng cường các hoạt động tuyên truyền

và vận động người dân là một yếu tố quan trọng đối với PPP lĩnh vực TN & XLNT

2.8 Các nghiên cứu trước liên quan

2.8.1 Nghiên cứu trong nước

Nghiên cứu của Nguyễn Việt Tuấn (2016), nghiên cứu “Quản lý chất thải rắn

sinh hoạt trên địa bàn quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội” tác giả nguyễn Viết Tuấn (2016) đã phân tích đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Đống Đa, Thành Phố Hà Nội Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận Đống Đa, Thành Phố Hà

Nội

Trang 36

Nghiên cứu của Phạm ngọc Ánh (2014), đề tài “Quản lý chất thải rắn sinh

hoạt trên đảo lớn Huyện Lý Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi” của tác giả Phạm Ngọc Ánh (2014) cũng đã phân tích đánh giá được thực trạng công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên đảo lớn Huyện Lý Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi, đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên đảo lớn Huyện Lý Sơn, Tỉnh Quảng Ngãi Tuy nhiên, nghiên cứu này chưa đưa ra được các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý chất thải rắn sinh hoạt trên đảo lớn Huyện Lý Sơn, Tỉnh

Quảng Ngãi

Võ Quốc Trường (2011), nghiên cứu “Hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế

nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ Chí Minh” Tác giả Võ Quốc Trường trình bày các cơ sở lý thuyết về hợp tác công công tư PPP, mô hình PPP, những ưu điểm, nhược điểm của mô hình hợp tác công - tư PPP và đưa ra một số kinh nghiệm về hợp tác công tư PPP tại Singapore và Trung Quốc Bên canh đó, tác giả Võ Quốc Trường

đã tiến hành phân tích thực trạng Hợp tác công - tư trong lĩnh vực y tế nghiên cứu trường hợp thành phố Hồ Chí Minh Trên cơ sở phân tích thực trạng, tác giả Võ Quốc Trường đã xây dựng các giải pháp về PPP trong y tế - trường hợp nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh, tuy nhiên các biện pháp đưa ra chưa cụ thể và rõ ràng, mang

tính chất xã hội hoá nhiều hơn là hình thức hợp tác công công tư PPP

Hoàng Thị Mỹ Dung (2012), luận văn thạc sĩ “Ứng dụng mô hình hợp tác

công – tư (PPP - Public Private Partnership) vào việc nâng cao năng lực cấp nước Đà Nẵng tại Công ty TNHH MTV cấp nước Đà Nẵng (DAWACO)” tác giả Hoàng Thị

Mỹ Dung đã nghiên xây dựng khung về lý thuyết của PPP, đánh giá thực trạng Từ phân tích và đánh giá thực trạng, tác giả đã đưa ra ưu và nhược điểm của mô hình PPP Tác giả đã xây dựng các biện pháp, tuy nhiên các biện pháp đưa ra chưa cụ thể

và rõ ràng

Ngô Thị Thu Hằng (2015), luận văn thạc sĩ “Mô hình hợp tác công tư (PPP) tại

Việt Nam”, tác giả đã xây dụng các cơ sở lý luận cơ bản về mô hình PPP, phân tích và đánh giá thực trạng và và thực tiễn áp dụng về PPP tại Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả

Trang 37

tiến hành kiến nghị hoàn thiện các văn bản pháp lý về mô hình PPP tại Việt Nam Tác giả đã xây dựng các biện pháp, tuy nhiên các biện pháp đưa ra chưa cụ thể và rõ ràng

2.8.2 Nghiên cứu ngoài nước

Jing Du và các cộng sự (2018), đề tài: "Critical Factors on the Capital

Structure of Public–Private Partnership Projects: A Sustainability Perspective" đã chỉ ra rằng: cấu trúc vốn khoa học là chìa khóa để đảm bảo đủ vốn và đạt được các mục tiêu của các dự án Đối tác công tư (PPP), trong khi cấu trúc vốn không phù hợp

đã gây ra sự thất bại của nhiều dự án Trong khi đó, tính bền vững là một khái niệm quan trọng cần được quan tâm trong suốt vòng đời của các dự án PPP Do đó, nghiên cứu đã: (1) xác định các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến vốn của các dự án PPP từ góc độ bền vững; và (2) mối quan hệ giữa các yếu tố và vốn dựa trên phân tích so sánh định tính (QCA) Nghiên cứu này cũng đã xác định bảy yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến cấu trúc vốn của các dự án PPP Hơn nữa, các chỉ số phi kinh

tế nên được quan tâm cũng như các chỉ số kinh tế Do đó, cấu trúc vốn thích hợp không chỉ cung cấp nguồn vốn dồi dào mà còn thúc đẩy hoạt động lành mạnh lâu dài của các dự án và tạo ra hiệu ứng tích cực cho ngành công nghiệp, khu vực và xã hội Hơn nữa, các phát hiện chỉ ra rằng lợi ích, tình hình bên ngoài, chi phí, khả năng của khu vực tư nhân và hỗ trợ của chính phủ là những yếu tố quan trọng hàng đầu Ngoài ra, mặc dù rủi ro là không quan trọng, tuy nhiên, nó có mối quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác, điều đó có nghĩa là rủi ro nên được quan tâm một cách toàn diện Nghiên cứu này cũng làm phong phú thêm nghiên cứu lý thuyết về cấu trúc vốn của các dự án PPP và đưa ra một ý tưởng mới về sự tích hợp của các dự án bền vững và PPP Ngoài ra, nghiên cứu này cũng giúp hỗ trợ lựa chọn hợp lý cấu trúc

vốn trong thực tế và thúc đẩy ứng dụng thực tế tính bền vững vào các dự án PPP

Nghiên cứu này đã điều tra các nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến vốn của các dự án PPP từ góc độ bền vững Kết quả cho thấy có bảy yếu tố: lợi ích, chi phí, khả năng, rủi ro, điều kiện dự án, hỗ trợ của chính phủ và tình hình bên ngoài Hơn nữa, tất cả bảy yếu tố liên quan đến tính bền vững Lợi ích công cộng, chi phí xã hội

và môi trường, khả năng quản lý vòng đời, hoạt động tiêu chuẩn, loại dự án, thị

Trang 38

trường vốn, tình hình ngành và tất cả các chỉ số về yếu tố rủi ro cần được nhấn mạnh từ góc độ bền vững Sau đó, kết quả của QCA cho thấy rõ mối quan hệ giữa các yếu tố và vốn của dự án PPP

Ý nghĩa chính là: (i) vì lợi ích được coi là yếu tố quan trọng nhất, cả lợi ích công cộng và lợi ích kinh tế nên được xem xét; (ii) lợi nhuận, quy mô đầu tư và xếp hạng tín dụng là các yếu tố kinh tế thiết yếu, trong khi sự phát triển của ngành cần được đánh giá theo các loại dự án; (iii) ngoài các chi phí kinh tế truyền thống, chi phí xã hội và môi trường có tác động quan trọng và do đó đáng được quan tâm; (iv)

cả nhà đầu tư và nhà tài chính đều có mối quan tâm về thị trường vốn, điều kiện ngành, luật pháp và các quy định để đạt được cấu trúc vốn không chỉ cung cấp nguồn vốn dồi dào mà còn theo xu hướng của ngành công nghiệp và xã hội; (v) khả năng quản lý vòng đời của khu vực tư nhân có thể ảnh hưởng mạnh đến hoạt động dài hạn của các dự án PPP, trong khi khả năng tài chính, xây dựng và vận hành tác động đến các cụm từ cụ thể trong vòng đời; và (vi) hỗ trợ từ Chính phủ không chỉ khuyến khích đầu tư của khu vực tư nhân và các tổ chức tài chính, mà còn thúc đẩy hoạt động tiêu chuẩn để đảm bảo hoạt động lành mạnh lâu dài của các dự án PPP

Ann Gardiner và các cộng sự (2015), đề tài: "Public-Private Partnerships for

Climate Finance" đã thảo luận về vai trò của quan hệ đối tác công tư (PPP) trong việc

mở rộng tài chính khí hậu và cách thiết lập các mối quan hệ đối tác để hoàn thành tốt nhất nhiệm vụ PPP cung cấp các khuôn khổ để đảm bảo sự lãnh đạo và trách nhiệm của công chúng trong việc giải quyết biến đổi khí hậu, đồng thời cho phép quyền sở hữu một số thành phần của tài chính khí hậu được chuyển sang tay tư nhân Báo cáo đề xuất khuyến nghị cho các cuộc đàm phán về khí hậu và tài chính khí hậu hiệu quả, và xem xét một số nghiên cứu điển hình về các hình thức đối tác công bằng trên toàn thế giới

2.8.3 Khoảng trống nghiên cứu

Các nghiên cứu trên đã tiếp cận và đã giải quyết vấn đề liên quan về PPP tại một số lĩnh vực như quản lý chất thải rắn sinh hoạt, y tế, giáo dục, cấp nước Tuy nhiên, vẫn còn khoảng trống nghiên cứu như:

Ngày đăng: 21/05/2021, 00:13

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình thức hợp đồng  Quyền - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Hình th ức hợp đồng Quyền (Trang 21)
Bảng 2.1. Các hình thức PPP - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Bảng 2.1. Các hình thức PPP (Trang 21)
Sơ đồ 2.1. Hình thức hợp tác PPP - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 2.1. Hình thức hợp tác PPP (Trang 23)
Sơ đồ 2.2. Các bên tham gia trong đầu tư PPP lĩnh vực TN & XLNT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Sơ đồ 2.2. Các bên tham gia trong đầu tư PPP lĩnh vực TN & XLNT (Trang 34)
Bảng 3.1. Tổng hợp các dự án đầu tư theo PPP - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.1. Tổng hợp các dự án đầu tư theo PPP (Trang 45)
Bảng 3.2. Dự án đã ký kết hợp đồng dự án trong lĩnh vực TN & XLNT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.2. Dự án đã ký kết hợp đồng dự án trong lĩnh vực TN & XLNT (Trang 47)
Bảng 3.3. Dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư trong lĩnh vực TN & XLNT - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.3. Dự án đang thực hiện các thủ tục đầu tư trong lĩnh vực TN & XLNT (Trang 48)
Bảng 3.5. Tổng hợp ý kiến chuyên gia - Các giải pháp nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư theo hình thức đối tác công tư (ppp) vào lĩnh vực thoát nước và xử lý nước thải tại thành phố hồ chí minh
Bảng 3.5. Tổng hợp ý kiến chuyên gia (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w