Số liệu về giáo dục đại học và một số hoạt động phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam
Số liệu về giáo dục đại học Việt Nam
Việt Nam là quốc gia đông dân thứ 3 ở Đông Nam Á, đứng thứ 8 tại Châu Á và thứ 14 trên toàn cầu, với dân số khoảng 92 triệu người (91,7 triệu người tính đến ngày 1 tháng 7 năm 2023).
Tỷ lệ người trong độ tuổi từ 15-24 tại Việt Nam chiếm khoảng 18%, cho thấy nhu cầu đào tạo trình độ cao đẳng và đại học ở nước này là rất lớn.
Đến cuối năm 2014, Việt Nam có tổng cộng 436 trường Cao đẳng và Đại học, trong đó 80% là trường công lập với 347 trường, còn lại 20% là trường tư với 89 trường Tổng số sinh viên cả nước đạt 2.363.942, trong đó có 313.620 sinh viên theo học tại các trường ngoài công lập Số lượng giảng viên hiện có là 91.420, trong đó 17.308 giảng viên làm việc tại các trường ngoài công lập.
TT Các tiêu chí Số lƣợng Đơn vị tính
1 Trường đại học, cao đẳng 436 Trường
3 Trường ngoài công lập 89 Trường
5 Giáo viên công lập 74.112 Người
6 Giáo viên ngoài công lập 17.308 Người
8 Sinh viên công lập 2.050.322 Người
9 Sinh viên ngoài công lập 313.620 Người
Bảng 1 Thống kê số lượng các trường đại học, cao đẳng, giáo viên, sinh viên của Việt
Năm 2014, Việt Nam đã tạo hành lang pháp lý cho giáo dục nói chung và giáo dục đại học (ĐH) nói riêng với phương châm giáo dục là quốc sách hàng đầu Chính phủ đã ban hành nhiều văn bản pháp luật quan trọng, bao gồm Luật Giáo dục ĐH số 08/2012/QH13 được Quốc hội thông qua vào ngày 18/06/2012, Nghị định 73/2012/NĐ-CP quy định về hợp tác và đầu tư nước ngoài trong giáo dục vào ngày 26/09/2012, và Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản giáo dục và đào tạo để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa và hội nhập quốc tế Thêm vào đó, Quyết định ban hành Điều lệ trường ĐH số 70/2014/QĐ-TT ngày 10/12/2014 cũng đã góp phần quan trọng trong việc hoàn thiện hệ thống giáo dục ĐH tại Việt Nam.
1Theo Thông tấn xã Việt Nam trích nguồn từ Tổng cục thống kê năm 2016
2 Theo sốliệu của Trung tâm Tư liệu & dịch vụ thống kê-Tổng cục thống kê năm 2014
Nghị định 43/2006/NĐ-CP ban hành ngày 25/04/2006 quy định quyền tự chủ và trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp công lập, trong khi Thông tư liên tịch 07/2009/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 15/04/2009 hướng dẫn cụ thể cho lĩnh vực giáo dục và đào tạo Nghị định số 16/2015/NĐ-CP đã mở rộng quyền tự chủ, đặc biệt là về tài chính cho các trường đại học Những chính sách này nhằm đổi mới giáo dục đại học, nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực và năng lực nghiên cứu, đồng thời tăng cường tính tự chủ cho các trường đại học trong bối cảnh hội nhập quốc tế.
Theo bảng xếp hạng QS năm 2016, Việt Nam không có trường đại học nào nằm trong top 1000 toàn cầu, trong khi đó, trong danh sách 350 trường đại học Châu Á, Đại học Quốc gia Hà Nội là trường có thứ hạng cao nhất, đứng ở vị trí 139 Điều này cho thấy khoảng cách đáng kể giữa các trường đại học Việt Nam và các trường trong khu vực cũng như trên thế giới.
Hệ thống thư viện hỗ trợ học tập tại các trường đại học hiện chưa đáp ứng đầy đủ nhu cầu đào tạo và nghiên cứu Theo khảo sát, có đến 36% người dùng cho rằng thư viện chỉ đáp ứng rất ít hoặc không đáp ứng nhu cầu của họ, trong khi 44% cho rằng chỉ có khoảng 1/3 nhu cầu được đáp ứng Chỉ 19% người đọc khẳng định thư viện cung cấp gần đủ tài liệu cần thiết Trung bình, mỗi giảng viên và sinh viên chỉ có 03 cuốn sách để tham khảo.
Giáo dục đại học Việt Nam đang đối mặt với thách thức trong việc cân bằng giữa chất lượng đào tạo và nhu cầu nghề nghiệp thực tiễn của xã hội Để theo kịp sự phát triển toàn cầu, giáo dục đại học cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu của thị trường lao động Ngoài ra, nguồn nhân lực Việt Nam cần trang bị khả năng làm việc trong môi trường quốc tế và cạnh tranh với các nguồn nhân lực trong khu vực Hơn nữa, việc phát triển năng lực tự học tập suốt đời là cần thiết để cập nhật kiến thức mới và thích ứng với sự thay đổi của khoa học công nghệ và kinh tế xã hội.
Một số hoạt động phát triển TNGDM tại Việt Nam
Tại Việt Nam đã có những hoạt động về TNGDM như sau:
Chương trình Tài nguyên giáo dục mở Việt Nam, được hỗ trợ bởi Vietnam Foundation, phát triển từ VOCW năm 2005, do Bộ Giáo dục và Đào tạo phối hợp với VEF và VAFC Đến năm 2008, chương trình đã được đổi tên thành VOER Hiện tại, VOER đã xây dựng 22.171 tài liệu và 518 tuyển tập từ 8.372 tác giả, đóng góp đáng kể vào nguồn tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam.
3 Bảng xếp hạng các trường đại học trên thế giới của QS năm 2016 http://www.topuniversities.com/university- rankings/world-university-rankings/2016
4 Chỉ thị số 3031/CT-BGDĐT của Bộ Trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ chủ yếu năm học 2016 -
Vào năm 2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã chủ trì việc xây dựng cuốn tài liệu hướng dẫn phát triển TNGDM cho các trường đại học tại Việt Nam, nhưng đến nay tài liệu này vẫn chưa được chính thức xuất bản.
Chương trình OER@University Roadshow 2016 được tổ chức bởi Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở (RDOT) thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng với Khoa Thông tin – Thư viện (FLIS) Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, và Chương trình học liệu mở Việt Nam Sự kiện này phối hợp với liên chi hội các trường đại học phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASAL) nhằm giảng dạy cho cán bộ thư viện và giảng viên của các trường đại học trên toàn quốc.
Khoa Thông tin – Thư viện Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội, kết hợp với RDOT, NALA, VFOSSA và UNESCO, đã tổ chức hai hội thảo quốc tế về TNGDM Sự kiện này nhằm thúc đẩy nghiên cứu và trao đổi kiến thức trong lĩnh vực giáo dục.
Kết quả khảo sát tài nguyên giáo dục mở tại các trường đại học việt nam
Nhận thức và hiểu biết về Tài nguyên giáo dục mở
Khảo sát cho thấy sự khác biệt rõ rệt trong nhận thức về TNGDM giữa giảng viên, cán bộ thư viện và sinh viên Trong khi gần 68% giảng viên và hơn 50% cán bộ thư viện biết đến TNGDM, chỉ có 34% sinh viên nhận thức được vấn đề này Hơn nữa, mặc dù gần 60% giảng viên và trên 36% cán bộ thư viện có kiến thức về TNGDM, tỷ lệ hiểu biết về giấy phép sử dụng TNGDM vẫn thấp, chỉ 40% giảng viên và 35,4% cán bộ thư viện thừa nhận đã hiểu khái niệm này trước điều tra Thực trạng này cho thấy sự phát triển TNGDM tại Việt Nam vẫn gặp nhiều thách thức, mặc dù nhu cầu và nhận thức từ các bên liên quan là đáng kể.
3) Ở khía cạnh trải nghiệm thực tế về TNGDM, có mộttỷ lệ không cao giảng viên và cán bộ thư viện (sau khi nắm được khái niệm về TNGDM của UNESCO cung cấp tại bảng hỏi) cho rằng đã tham gia vào một số dự án liên quan đến TNGDM Trong số 178 giảng viên trả lời, có 19,2% tán thành và 3% tán thành câu hỏi cho rằng “Tôi đã tham gia vào một số dự án có liên quan đến TNGDM”, con số tương tự đối với cán bộ thư viện lần lượt là 12,1% và 2,8% (trong tổng số 215 người trả lời) Điều này cho thấy sự sẵn sàng tham gia và kinh nghiệm sẵn có của 2 đối tượng chính tạo ra TNGDM là còn khá hạn chế, đòi hỏi các kế hoạch truyền thông hiệu quả, các khóa bồi dưỡng nâng cao nhận thức có tính hệ thống và tạo cơ hội trải nghiệm thực tế cho các bên liên quan
Bảng 1 Nhận thức của của giảng viên về TNGDM
Các khía cạnh nhận thức
Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/OCW trước khi tham gia cuộc điều tra này
Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/OCW trước khi tham gia cuộc điều tra này
Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử dụng mở( ví dụ Creative Commons) 18.9% 14.9% 25.1% 34.3% 6.9%
Tôi đã tham gia vào một số dự án có liên quan đến OERs
Theo tôi, chất lượng khoa học của học liệu mở là đáng tin cậy
Tất cả những tài liệu truy cập mở (open access) và miễn phí được coi là OERs 7.4% 13.1% 30.7% 37.5% 11.4%
Bảng 2 Nhận thức của cán bộ thư viện về TNGDM
Các khía cạnh nhận thức
Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/OCW trước khi tham gia cuộc điều tra này
Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/OCW trước khi tham gia cuộc điều tra này 9.3% 22.0% 32.6% 29.5% 6.6%
Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử dụng mở( ví dụ Creative Commons)
Tôi đã tham gia vào một số dự án có liên quan đến OERs
Theo tôi, chất lượng khoa học của học liệu mở là đáng tin cậy 1.8% 10.0% 39.7% 35.2% 13.2%
Tất cả tài liệu truy cập mở (open access) và miễn phí được coi là OERs, với gần 45% sinh viên đồng ý với quan điểm này, trong khi gần 30% không có ý kiến và hơn 1/3 phản đối Điều này cho thấy sự hiểu biết chưa nhất quán về TNGDM trong nhóm sinh viên, mặc dù họ có nhu cầu và hiểu biết nhất định Do đó, cần nâng cao nhận thức của sinh viên về TNGDM và các vấn đề liên quan đến việc sử dụng nguồn tài nguyên quan trọng này.
Bảng 3 Nhận thức của của sinh viên về TNGDM
Các khía cạnh nhận thức
Tôi đã biết về sự tồn tại của OERs/OCW trước khi tham gia cuộc điều tra này 24.1% 22.5% 19.4% 23.6% 10.5%
Tôi đã hiểu về khái niệm của OERs/OCW trước khi tham gia cuộc điều tra này
Tôi đã hiểu khái niệm về giấy phép sử dụng mở( ví dụ Creative Commons) 23.4% 32.4% 26.1% 14.9% 3.2%
Tất cả những tài liệu truy cập mở (open access) và miễn phí được coi là OERs 14.8% 13.8% 29.1% 29.1% 13.2%
Sử dụng, tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở và tài liệu số
2.1 Về sử dụng Tài nguyên giáo dục mở
Mức độ tích cực trong việc sử dụng tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) cho đào tạo và học tập là khá cao, với giảng viên và sinh viên coi đây là nguồn học liệu quan trọng Hơn 48% giảng viên sử dụng TNGDM để biên soạn giáo trình và bài giảng, tuy nhiên, chỉ 29% giảng viên khai thác học liệu từ các dự án quốc tế như OpenCourseWare và 21% từ các dự án trong nước như Vietnam Open Education resources Điều này có thể do việc áp dụng TNGDM chưa thường xuyên, dẫn đến tỷ lệ giảng viên giới thiệu TNGDM cho sinh viên chỉ đạt 24,6%.
Bảng 4 Việc sử dụng TNGDM của giảng viên
Sử dụng tài nguyên giáo dục mở
Tán thành Rất tán thành
Tôi thường sử dụng OERs cho việc biên soạn giáo trình, bài giảng
Tôi luôn khuyến khích sinh viên khai thác
OERs phục vụ học tập của họ 7.5% 8.1% 22.0% 41.6% 20.8%
Tôi thường xuyên khai thác OERs từ một số dự án OERs quốc tế như:
Tôi thường xuyên khai thác OERs từ những dự án Vietnam Open Education resources (VOER, địa chỉ trang website tại http://voer.edu.net)
Tôi đã giới thiệu /chia sẻ một số nguồn
OERs cho đồng nghiệp hoặc sinh viên 12.3% 12.3% 26.3% 38.6% 10.5%
Tôi chưa bao giờ sử dụng OER cho việc giảng dạy của tôi 29.3% 21.3% 22.0% 18.3% 9.1%
Tỷ lệ sinh viên quan tâm đến việc sử dụng TNGDM cho mục đích học tập ở Việt Nam khá khả quan, với 49,8% sinh viên đã từng khai thác nguồn tài nguyên này Mặc dù chỉ có 13,8% thường xuyên truy cập vào website của dự án VOER, nhưng tín hiệu tích cực từ nhóm sinh viên năng động vẫn là điều đáng chú ý Hơn 33% sinh viên không quan tâm nhiều đến loại hình học liệu này, nhưng sự phát triển ban đầu của TNGDM tại Việt Nam có thể tạo tiền đề cho sự phát triển mạnh mẽ hơn trong tương lai.
Bảng 5 Việc sử dụng TNGDM của sinh viên
Sử dụng tài nguyên giáo dục mở
Tôi đã từng sử dụng OERs cho việc học tập của tôi 13.0% 21.2% 16.1% 30.1% 19.7%
Tôi thường xuyên khai thác OERs từ những dự án Vietnam Open Education resources
(VOER, dịa chỉ trang website tại http://voer.edu.net)
2.2 Vấn đề sử dụng tài liệu số
Tài liệu số dễ dàng được phân bổ, chia sẻ và quản lý, chiếm phần lớn trong tổng số tài nguyên giáo dục Văn hóa và cách thức sử dụng tài liệu số ảnh hưởng đáng kể đến việc khai thác tài nguyên giáo dục một cách hiệu quả.
Kết quả điều tra cho thấy giảng viên có sự chủ động cao trong việc sử dụng tài liệu số trong giảng dạy, với 46,3% và 24% giảng viên rất đồng thuận và đồng thuận với việc giới thiệu tài liệu trực tuyến cho sinh viên Hơn 40,9% giảng viên thường xuyên tương tác với sinh viên qua website môn học và các nền tảng trực tuyến Đặc biệt, 77,8% giảng viên sử dụng máy tìm tin trực tuyến để tìm kiếm tài liệu số Những con số này cho thấy tài liệu số đang trở thành ưu tiên trong giảng dạy, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của giáo dục trực tuyến tại Việt Nam.
Bảng 6 Tình hình sử dụng tài liệu số của giảng viên
Sử dụng tài liệu số
Tôi thường giới thiệu các tài liệu trực tuyến/gửitài liệu tham khảo dạng điện tử cho sinh viên
Tôi chủ yếu giao tiếp với sinh viên thông qua website môn học, môi trường trực tuyến 9.5% 17.2% 32.5% 30.8% 10.1%
Tôi gặp khó khăn trong việc sử dụng tài liệu số do không biết cách tổ chức chúng trên máy tính cá nhân, thiếu phần mềm chuyên dụng, và internet chậm.
Tôi thường dùng các máy tìm kiếm (ví dụ như google) để tìm các tài liệu số
Tôi thường sử dụng tài liệu số trong thư viện/được thư viện giới thiệu
Đối với sinh viên, các nguồn tài liệu số như tài liệu từ giáo viên, thư viện, Internet và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành đã đáp ứng tốt nhu cầu thông tin, với tỷ lệ hài lòng đạt 6.5%, 14.1%, 26.5%, 34.1% và 18.8% Những tài liệu này cơ bản đã thỏa mãn nhiều nhu cầu của người dùng.
Tỷ lệ sinh viên hài lòng với chất lượng và khả năng đáp ứng của các nguồn tin lần lượt đạt 50,3%, 45,2%, 65,6% và 54,4% Tuy nhiên, có đến hơn 30% sinh viên chỉ cảm thấy thỏa mãn ở mức độ bình thường, trong khi khoảng 10-15% không hài lòng Mặc dù đã có những tác động tích cực đến hoạt động học tập, nhưng nguồn tài liệu số cần được cải thiện để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của sinh viên.
Bảng 7 Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin của các loại nguồn tài liệu điện tử
Mức độ thỏa mãn nhu cầu thông tin Rất không thỏa mãn
Chưa thỏa mãn Bình thường
Nguồn tài liệu do giáo viên cung cấp 5.2% 9.3% 35.2% 34.2% 16.1% Nguồn tài liệu từ thư viện 5.9% 10.6% 38.3% 35.1% 10.1% Nguồn tài liệu từ internet 2.1% 7.9% 24.3% 44.4% 21.2%
Nguồn tài liệu từ các cơ sở dữ liệu chuyên ngành
Sinh viên hiện nay có tính chủ động cao trong việc tiếp cận thông tin điện tử, với hơn 89% ưu tiên sử dụng máy tìm tin trên Internet Tuy nhiên, 42,6% sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm tài liệu học tập, và gần 40% không biết cách đánh giá thông tin tìm được qua Internet Những yếu tố này vừa là lợi thế vừa là thách thức lớn trong việc triển khai các dự án TNGDM thông qua phương pháp số hóa.
Bảng 8 Các phương tiện tìm kiếm thông tin của sinh viên
Các phương tiện tìm kiếm thông tin
Không tán thành Không ý kiến
Tán thành Rất tán thành
Tôi thường xuyên tìm kiếm trên internet ( thông qua Google, Yahoo,
Tôi thường xuyên tìm kiếm trong thư viện
Tôi thường xuyênhỏi mượn/ tư vấn từ thầy cô, bạn bè về tài liệu mà tôi cần 2.7% 10.1% 36.2% 38.8% 12.2%
Tôi thường xuyên tìm ở các nhà sách và thường mua tài liệu học tập 5.3% 15.5% 32.6% 36.9% 9.6%
Tôi thường tìm kiếm ở các cơ sở dữ liệu chuyên ngành
Tôi thường gặp khó khăn khi tìm tài liệu mình cần cho việc học tập
Sinh viên hiện nay thể hiện sự chủ động trong việc khai thác và sử dụng thông tin số cho học tập, với 60,6% thừa nhận rằng phần lớn tài liệu học tập của họ được lấy từ Internet Tuy nhiên, đa số sinh viên chưa chú trọng đến việc thẩm định và đánh giá chất lượng của các nguồn thông tin này trước khi sử dụng.
Khoảng 30,7% sinh viên rất đồng ý và 9,5% đồng ý rằng họ không quá quan tâm đến nguồn gốc hay tác giả của tài liệu trên internet, miễn là nội dung phù hợp với nhu cầu sử dụng Hơn 40% sinh viên không biết các tiêu chí đánh giá chất lượng và độ tin cậy của thông tin, trong khi chỉ khoảng 40% sinh viên chú trọng đến việc sử dụng tài liệu từ thư viện.
Bảng 9 Việc sử dụng học liệu số phục vụ học tập của sinh viên
Mức độ sử dụng học liệu số
Phần lớn tài liệu tôi sử dụng cho việc học tập của tôi là từ trên internet
Phần lớn tài liệu tôi sử dụng cho việc học tập của tôi là từ thư viện
Tôi thường không quan tâm lắm đến nguồn, tác giả của tài liệu tìm được trên internet, miễn là phù hợp với nôi dung mà tôi cần sử dụng
Tôi không biết cách/tiêu chí đánh giá chất lượng và độ tin cậy của một tài liệu trên internet
Tôi chỉ tìm kiếm và đọc tài liệu khi ôn tập chuẩn bị cho kỳ thi
Tôi thích dùng tài liệu số/tài liệu trực tuyến hơn là tài liệu in trên giấy 10.2% 22.6% 39.2% 21.0% 7.0%
Thường thì tôi chỉ sử dụng bài giảng của thầy/cô trên lớp để ôn tập và làm các bài kiểm tra
Gần 40% sinh viên chỉ tìm kiếm tài liệu khi ôn thi, trong khi 52,1% cho rằng việc sử dụng bài giảng của giảng viên là đủ cho việc ôn tập và kiểm tra Những con số này cho thấy sự thiếu chủ động trong việc tiếp cận và xử lý thông tin của sinh viên, từ đó cần có giải pháp cải thiện phương pháp giảng dạy và đánh giá Điều này là cơ sở quan trọng để xây dựng chiến lược phát triển giáo dục tại Việt Nam.
2.3 Vấn đề tạo lập và chia sẻ Tài nguyên giáo dục mở
Tạo lập và chia sẻ TNGDM cần sự tham gia của nhiều bên liên quan, đặc biệt là giảng viên và cán bộ thư viện Kết quả khảo sát cho thấy có tín hiệu tích cực về mức độ sẵn sàng tham gia của cộng đồng, với 86,4% giảng viên sẵn sàng chia sẻ và khuyến khích sinh viên sử dụng học liệu Ngoài ra, 73% giảng viên cũng cho biết họ sẵn sàng tái sử dụng hoặc tùy biến tài liệu, trong khi gần 50% có ý thức về việc tạo ra phiên bản mới dựa trên tài liệu hiện có Những con số này cho thấy tiềm năng phát triển TNGDM tại Việt Nam.
Mặc dù giảng viên có sự sẵn sàng chia sẻ tài nguyên giáo dục, nhưng liên quan đến sở hữu trí tuệ cá nhân, mức độ này giảm xuống đáng kể Cụ thể, 48,1% giảng viên không sẵn sàng chia sẻ tài liệu do họ tạo ra, trong khi hơn 30% không có ý kiến Hầu hết giảng viên chỉ đồng ý chia sẻ một phần học liệu của mình (77,2%) Tuy nhiên, nếu có hệ thống pháp luật đủ mạnh bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ, 74,7% giảng viên sẽ đồng ý tham gia vào việc xây dựng nền tảng TNGDM, với chỉ hơn 4% phản đối Điều này cho thấy, việc làm rõ và đảm bảo quyền sở hữu trí tuệ sẽ khuyến khích giảng viên tham gia vào việc tạo dựng TNGDM một cách khả thi và nhận được sự đồng thuận cao.
Bảng 10 Mức độ sẵn sàng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM của giảng viên
Mức độ sẵn sằng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM
Tôi sẽ chia sẻ và khuyến khích sinh viên/đồng nghiệp độc tài liệu đó 1.1% 3.4% 9.1% 55.1% 31.3%
Tôi sẽ tái sử dụng hoặc tuỳ biến tài liệu đó để thích hợp nó vào giáo trình của tôi 2.9% 5.2% 19.0% 49.4% 23.6%
Tôi sẽ tuỳ biến, bổ sung và xuất bản một phiên bản mới 6.9% 11.0% 32.9% 32.9% 16.2%
Tôi chưa sẵn sàng để chia sẻ những học liệu và giáo trình của tôi 9.8% 16.8% 30.1% 32.9% 10.4%
Tôi sẵn sàng chia sẻ một phần một số học liệu của tôi 1.8% 4.1% 17.0% 59.1% 18.1%
Tôi sẵn sàng chia sẻ toàn bộ học liệu của mình với cộng đồng 3.5% 7.6% 25.7% 47.4% 15.8%
Tôi sẵn sàng chia sẻ học liệu nếu có sự hỗ trợ từ cơ quan chủ quản và hệ thống pháp luật có chế tài đủ mạnh để bảo vệ quyền lợi của tôi Đặc biệt, cán bộ thư viện thể hiện mức độ sẵn sàng cao trong việc chia sẻ học liệu, với 80% đồng thuận tham gia vào quá trình này Hơn nữa, 57,5% cán bộ thư viện bày tỏ sẵn sàng tham gia tạo dựng học liệu mở, cho thấy sự ủng hộ mạnh mẽ đối với việc khuyến khích sử dụng tài nguyên giáo dục mở.
Bảng 11 Mức độ sẵn sàng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM của cán bộ thư viện
Mức độ sẵn sằng tham gia tạo lập và chia sẻ TNGDM
Chắc chắn tôi sẽ chia sẻ và khuyến khích bạn đọc sử dụng tài liệu đó
Tôi sẽ tuỳ biến, bổ sung và xuất bản một phiên bản mới 2.3% 9.3% 30.8% 44.9% 12.6%
Mặc dù có sự sẵn sàng tham gia vào việc tạo dựng TNGDM, tỷ lệ cán bộ thư viện chủ động chia sẻ và giới thiệu TNGDM tới bạn đọc vẫn chưa cao, với mức trung bình dưới 30% Điều này cho thấy kinh nghiệm của đội ngũ thư viện trong phát triển TNGDM tại Việt Nam còn hạn chế Đặc biệt, tỷ lệ phối hợp với giảng viên trong việc thu thập và xây dựng nền tảng TNGDM cho các trường đại học chỉ đạt dưới 20%, gây ra nhiều khó khăn cho hoạt động phát triển TNGDM, vốn yêu cầu tính tương tác và sự hợp tác cao.
Bảng 12 Sự tham gia chia sẻ và tạo dựng TNGDM của cán bộ thư viện
Sự tham gia chia sẻ và tạo dựng
Tôi đã từng chia sẻ/ giới thiệu OERs với bạn đọc thư viện
Tôi thường xuyên khai thác OERs từ một số dự án OERs quốc tế như:
Tôi chưa tùng thu thập và chia sẻ/ giới thiệu OER tới bạn đọc
Tôi đã từng phối hợp với giảng viên để thu thập và xây dựng OERs
Vấn đề bản quyền, giấy phép
Vấn đề bản quyền và cấp phép TNGDM là một trong những thách thức lớn nhất ảnh hưởng đến việc tạo lập, chia sẻ và sử dụng tài nguyên giáo dục mở Với kiến thức còn hạn chế về TNGDM, các giảng viên, sinh viên và cán bộ thư viện chỉ có nhận thức sơ khởi về vấn đề này, dẫn đến nhiều khó khăn trong việc áp dụng.
Về giấy phép sử dụng tài liệu, có sự phân chia trong nhận thức của giảng viên, với 19,5% rất đồng ý và 33,9% đồng ý rằng họ quan tâm đến giấy phép sử dụng, trong khi 32,8% không quan tâm hoặc phản đối Điều này dẫn đến gần 20% giảng viên không tin tưởng vào hệ thống giấy phép như Creative Commons, chỉ khoảng 25% sử dụng giấy phép này khi chia sẻ học liệu, và hơn 40% chỉ chú ý đến bản quyền khi chia sẻ tài liệu Đối với cán bộ thư viện, ý thức về giấy phép sử dụng cũng còn hạn chế, với hơn 20% người được hỏi thể hiện sự quan tâm đến giấy phép và bản quyền khi chia sẻ học liệu.
Bảng 13 Sự quan tâm của giảng viên đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM
Sự quan tâm của giảng viên đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM
Không tán thành Không ý kiến
Tán thành Rất tán thành
Tôi luôn quan tâm đến giấy phép sử dụng đối với bất kỳ tài liệu nào tôi sử dụng
Tôi trích dẫn đầy đủ khi sử dụng OERs cũng như các tài liệu khác
Tôi luôn nhắc nhở sinh viên về vấn đề đạo văn trong các hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học
Tôi đã từng chia sẻ học liệu của tôi kèm theo giấy phép Creative
Tôi chỉ quan tâm đến vấn đề bản quyền khi chia sẻ tài liệu với người khác 7.1% 14.3% 38.1% 30.4% 10.1%
Tôi không tin tưởng hệ thống giấy phép như Creative Commons
Tôi sẽ tìm hiểu giấy phép và gắn giấy phép vào tài liệu của tôi khi tôi chia sẻ
Về vấn đề đạo đức và bản quyền trong tiếp cận tài nguyên giáo dục trực tuyến (TNGDM), mặc dù 70% giảng viên nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tránh đạo văn, nhưng có đến 31,6% sinh viên cho rằng không cần trích dẫn khi sử dụng tài liệu miễn phí Hơn nữa, 55,3% sinh viên không chú ý đến vấn đề bản quyền và giấy phép khi sử dụng tài liệu trên mạng, trong khi 45,7% sinh viên chưa quan tâm đúng mức đến đạo văn và trích dẫn trong quá trình học tập.
Nhận thức và hiểu biết về bản quyền cùng giấy phép sử dụng TNGDM đang là vấn đề quan trọng cần chú ý Giảng viên và sinh viên, hai đối tượng chính, vẫn chưa có đầy đủ nhận thức và trải nghiệm về các yêu cầu pháp lý liên quan đến việc sử dụng TNGDM trong giảng dạy, học tập và nghiên cứu.
Bảng 14 Sự quan tâm của cán bộ thư viện đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM
Sự quan tâm của cán bộ thư viện đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM
Tán thành Rất tán thành
Tôi luôn quan tâm đến giấy phép khi thu thập và chia sẻ các nguồn học liệu 4.1% 5.0% 24.8% 45.5% 20.7%
Tôi đã từng chia sẻ học liệu của tôi kèm theo giấy phép Creative Commons 19.0% 25.5% 37.5% 13.9% 4.2%
Tôi không tin tưởng hệ thống giấy phép như Creative Commons
Tôi luôn quan tâm đến bản quyền khi chia sẻ các học liệu
Bảng 15 Sự quan tâm của sinh viên đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng TNGDM
Sự quan tâm của sinh viên đối với vấn đề bản quyền và giấy phép sử dụng
Tôi không để ý lắm đến vấn đề bản quyền, giấy phép khi sử dụng tài liệu trên mạng
Khi chia sẻ, in ấn, photo tài liệu tôi thực sự chưa quan tâm đến vấn đề bản quyền 3.7% 11.6% 26.8% 39.5% 18.4%
Tôi chưa chú ý lắm đến các vấn đề đạo văn và trích dẫn trong quá trình học tập 8.1% 19.4% 26.9% 36.6% 9.1%
Theo tôi sử dụng các nguồn thông tin/tài liệu miễn phí thì không cần trích dẫn
Theo tôi đã là tài liệu miễn phí và truy cập mở thì không cần quan tâm đến bản quyền/giấy phép nữa
Chính sách về Tài nguyên giáo dục mở
Khảo sát cho thấy cần thiết phải có chính sách phát triển tài nguyên giáo dục mở từ nhiều cấp, bao gồm Bộ, trường học và thư viện Tuy nhiên, thực trạng xây dựng và triển khai chính sách về tài nguyên giáo dục mở còn hạn chế, thiếu sự chủ động và đồng bộ Đặc biệt, vai trò của giảng viên và các nhà nghiên cứu trong việc chia sẻ tài nguyên này dường như chưa được đánh giá đúng mức.
Bảng 16 Sự cần thiết phải có chính sách cần có dành cho TNGDM theo đánh giá của giảng viên và nhà nghiên cứu
Tầm quan trọng của các chính sách
Nhà trường cần tham gia vào các dự án phát triển OERs của cộng đồng
Nhà trường cần có kế hoạch truyền thông đối với việc sử dụng OERs 1.2% 1.7% 17.3% 43.9% 35.8%
Nhà trường cần có bộ phận chuyên trách hỗ trợ giảng viên chia sẻ OERs
Việc chia sẻ OERs nên đưa thành một phần nhiệm vụ của giảng viên
Cần có một chương trình quốc gia về OERs 1.8% 3% 23.1% 47.9% 24.3%
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng chính sách và chỉ đạo các trường phát triển nội dung
Bộ Khoa học và Công nghệ cần tham gia phát triển và hỗ trợ các trường về hạ tầng và giải pháp công nghệ cho OERs
Kết quả khảo sát cho thấy giảng viên và nhà nghiên cứu trong các trường đại học đều đánh giá cao sự cần thiết của các chính sách cho tài nguyên giáo dục mở Đặc biệt, 40.2% người tham gia khảo sát đồng tình mạnh mẽ với việc các trường đại học nên tham gia vào các dự án phát triển tài nguyên giáo dục mở cùng cộng đồng Hơn 40% các nhà nghiên cứu ủng hộ các chính sách truyền thông, bộ phận chuyên trách và yêu cầu từ Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ Tuy nhiên, chỉ có 20.5% rất tán thành và 33.9% tán thành việc chia sẻ tài nguyên giáo dục mở trở thành nhiệm vụ của giảng viên, trong khi 36.3% lưỡng lự và 5.8% không đồng tình với ý kiến này.
Phân tích dữ liệu từ giảng viên và nhà nghiên cứu cho thấy một phát hiện thú vị: trong số 51 phiếu trả lời không coi việc chia sẻ TNGDM là nhiệm vụ của giảng viên, có một tỷ lệ đáng kể phản đối hoặc không có ý kiến.
Nhiều ý kiến cho rằng sự thiếu quan tâm của giảng viên đối với việc chia sẻ nội dung TNGDM đang cản trở sự phát triển tài nguyên này tại các trường đại học Điều này cho thấy các nhà nghiên cứu và giảng viên dường như đang tự loại mình ra khỏi quá trình phát triển này.
Bảng 17 Mức độ tán thành của cán bộ thư viện về chính sách cần có cho TNGDM
Tầm quan trọng của các chính sách
Nhà trường cần tham gia vào các dự án phát triển OERs của cộng đồng 0.5% 1.8% 16.7% 48.6% 32.4%
Nhà trường cần có kế hoạch truyền thông đối với việc sử dụng OERs 0.5% 4.5% 16.4% 43.2% 35.5%
Nhà trường cần có bộ phận chuyên trách hỗ trợ giảng viên chia sẻ OERs 0.5% 3.7% 23.4% 50% 22.5%
Việc chia sẻ OERs nên đưa thành một phần nhiệm vụ của giảng viên 0.5% 2.8% 26.4% 38% 32.4% Cần có một chương trình quốc gia về
Bộ Giáo dục và Đào tạo cần xây dựng chính sách và chỉ đạo các trường phát triển nội dung OERs 0.5% 4.1% 19.7% 39.4% 36.2%
Bộ Khoa học và Công nghệ cần tham gia phát triển và hỗ trợ các trường về hạ tầng và giải pháp công nghệ cho OERs 0.9% 4.1% 20.5% 46.1% 28.3%
Việc thu thập và chia sẻ OERs cần được đưa thành một nhiệm vụ của cán bộ thư viện 0.5% 1.8% 16.7% 48.6% 32.4%
Kết quả khảo sát cho thấy, khi được hỏi về các chính sách liên quan đến giáo dục mở, cán bộ thư viện thể hiện sự đồng tình cao, với trên 70% ủng hộ Họ cũng nhận thức rõ mối liên hệ giữa TNGDM và công việc của mình, với 48.6% tán thành và 32.4% rất tán thành việc coi thu thập và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở là nhiệm vụ của cán bộ thư viện Tuy nhiên, vẫn có một tỷ lệ đáng kể, 26.4%, lưỡng lự trong việc khẳng định vai trò của giảng viên trong việc chia sẻ nguồn tài nguyên này.
Bảng 18 Đánh giá của các nhà nghiên cứu về chính sách TNGDM
Chính sánh về OER đang triển khai tại trường đại học Có Không
Trường có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu OERs 46.2% 53.8%
Trường hiện có chính sách khuyến khích hoặc thúc đẩy phát triển và sử dụng OERs như là các tài nguyên học tập và nghiên cứu 50% 50%
Trường có cơ sở vật chất để đào tạo và phát triển OERs 48.5% 51.5%
Khi được hỏi về chính sách tài nguyên giáo dục mở tại cơ quan công tác, ý kiến của giảng viên và nhà nghiên cứu có sự khác biệt rõ rệt Mặc dù các chính sách liên quan đến chia sẻ và nhập khẩu tài nguyên giáo dục mở, khuyến khích phát triển và sử dụng tài nguyên này đã được ghi nhận tại nhiều trường đại học, nhưng hơn 50% giảng viên và nhà nghiên cứu cho rằng cơ quan của họ vẫn chưa thực hiện những chính sách này.
Bảng 19 Các chính sách của thư viện dành cho TNGDM
Chính sách của thư viện về OER Có Không
Thư viện có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu OERs 35% 65%
Thư viện hiện có chính sách khuyến khích hoặc thúc đẩy phát triển và sử dụng OERs như là các tài nguyên học tập và nghiên cứu 52.6% 47.4%
Thư viện có cơ sở vật chất để đào tạo và phát triển OERs 57.3% 42.7%
Tại các thư viện đại học, 65% cán bộ thư viện thừa nhận rằng cơ quan của họ chưa có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu tài nguyên giáo dục mở (OER) Mặc dù vậy, hơn 50% thư viện đã ghi nhận sự hiện diện của cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và phát triển TNGDM, cùng với các chính sách thúc đẩy việc sử dụng OER cho học tập và nghiên cứu.
Phân tích số liệu cho thấy sự khác biệt rõ rệt giữa các trường đại học miền Bắc và miền Nam trong chính sách chia sẻ, nhập khẩu và khuyến khích phát triển tài nguyên giáo dục mở, mặc dù điều kiện cơ sở vật chất ở hai khu vực này được đánh giá khá tương đồng.
Hơn một nửa (52.6%) giảng viên và nhà nghiên cứu ở phía Bắc đã ghi nhận chính sách về chia sẻ và nhập khẩu tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) tại trường đại học của họ, con số này gấp đôi so với chỉ 23.5% ở các trường đại học phía Nam.
Tại khu vực phía Nam, chỉ có 25.6% cán bộ thư viện nhận thấy cơ quan của họ có chính sách về chia sẻ và nhập khẩu tài nguyên số (TNGDM), trong khi 42% cho rằng có chính sách khuyến khích phát triển và sử dụng TNGDM trong nghiên cứu và học tập Ngược lại, ở phía Bắc, tỷ lệ cán bộ thư viện nhận định rằng thư viện của họ thực hiện các chính sách này lần lượt là 40.9% và 59.1%, cao hơn khoảng 15% so với khu vực phía Nam.
Kết quả tham chiếu chéo cho thấy, tình hình triển khai các chính sách liên quan đến tài nguyên giáo dục mở tại các trường đại học phía Bắc đang hiệu quả và đầy đủ hơn so với các trường đại học phía Nam.
Bảng 20 Chính sách ảnh hưởng đến TNGDM
Các trường chưa nhận thấy lợi ích thực sự của OERs 1.8% 5.3% 15.2% 56.1% 21.6%
Thiếu chính sách và chỉ đạo chung của Nhà nước 2.4% 4.7% 22.9% 47.1% 22.9%
Thiếu chính sách của trường về phát triển
Nghiên cứu chỉ ra hai nguyên nhân chính cản trở sự phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam Thứ nhất, nhận thức về lợi ích của TNGDM ở cấp cơ sở còn thấp và thiếu chính sách cụ thể để phát triển nguồn tài nguyên này Thứ hai, ở cấp quốc gia, sự thiếu chỉ đạo chung từ Nhà nước trong việc ban hành chính sách hướng dẫn các trường đại học phát triển TNGDM cũng là một rào cản lớn Khoảng 75% người được hỏi cho rằng đây là những yếu tố chính gây khó khăn trong việc thúc đẩy TNGDM tại các trường đại học.
Những rào cản phát triển Tài nguyên giáo dục mở
Nguyên nhân chính cản trở sự phát triển của TNGDM tại Việt Nam bao gồm nhận thức hạn chế về TNGDM, thiếu quan tâm và các biện pháp khuyến khích chia sẻ TNGDM, nguồn kinh phí không đủ, cùng với sự thiếu hụt trang thiết bị cần thiết cho sự phát triển này.
Sự thiếu nhận thức về TNGDM được xem là nguyên nhân chính cản trở việc tạo lập và phát triển TNGDM, với 75,5% giảng viên và 76,8% cán bộ thư viện đồng ý với quan điểm này.
TNGDM vẫn là một khái niệm mới mẻ tại Việt Nam, do đó, việc truyền thông và đào tạo để nâng cao nhận thức về vấn đề này sẽ là yếu tố quyết định cho sự phát triển TNGDM trong nước.
Bảng 21 Nhận thức của giảng viên về các rào cản đối với sự phát triển của TNGDM
Các rào cản đối với sự phát triển của
Thiếu nhận thức về OERs 2.9% 4.1% 17.4% 48.8% 26.7%
Sợ vi phạm bản quyền 4.1% 5.8% 24.6% 46.2% 19.3%
Nghi ngờ về tính hữu dụng/lợi ích thực sự của OERs 5.3% 8.2% 28.1% 47.4% 11.1%
Có khả năng ảnh hưởng tiêu cực tới uy tín của người tạo lập OERs
Thiếu sự quan tâm và biện pháp khuyến khích chia sẻ OERs
Thiếu sự hỗ trợ và cơ chế thưởng, đánh giá cũng như ghi nhận từ Nhà trường có tỷ lệ 50.9%, trong khi chính sách phát triển OERs của trường chỉ đạt 46.2% Bên cạnh đó, bình luận và đánh giá từ người sử dụng cũng cho thấy sự không hài lòng với 39.5%.
Thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng OER
Thiếu trang thiết bị công nghệ (phần cứng, phần mềm) 4.2% 7.9% 21.2% 49.7% 17.0%
Theo cán bộ thư viện, khó khăn lớn nhất trong công việc là vấn đề kinh phí, với 72,9% thừa nhận điều này, cùng với các rào cản pháp lý và quyền sở hữu, cũng như vấn đề bản quyền trong phát triển TNGDM, chiếm 68,9% Đây là hai mối lo ngại chính xuất phát từ bản chất công việc của họ và cũng là hai thách thức lớn của ngành thư viện Việt Nam hiện nay.
Bảng 22 Nhận thức của CB thư viện về các rào cản đối với sự phát triển của TNGDM
Thiếu nhận thức về OERs của cộng đồng 1.8% 4.5% 25.1% 37.7% 30.9%
Các rào cản pháp lý và quyền sở hữu, vấn đề bản quyền
Người sử dụng nghi ngờ về chất lượng của OERs
Giảng viên không/chưa quan tâm đến việc chia sẻ nội dung OERs 1.6% 7.1% 33.1% 38.6% 19.7%
Thiếu chính sách của trường về phát triển
Cán bộ thư viện thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng
Thư viện thiếu trang thiết bị công nghệ( phần cứng, phần mềm) để phát triển
Trong số các nguyên nhân cản trở sinh viên tiếp cận nguồn học liệu, vấn đề kinh phí mua tài liệu và thiếu trợ giúp kỹ năng từ thư viện không phải là nguyên nhân chính, lần lượt chiếm 27,8% và 28% Nguyên nhân lớn nhất là khó khăn về ngoại ngữ, chiếm 50,3%, khiến sinh viên gặp khó khăn trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu tiếng nước ngoài Tiếp theo là thiếu kiến thức và kỹ năng về máy tìm tin và nguồn thông tin, chiếm 35,8% Trong khi vấn đề ngoại ngữ cần thời gian khắc phục thông qua gia tăng nguồn học liệu trong nước, thì việc nâng cao kiến thức và kỹ năng khai thác thông tin có thể đạt được nhờ sự tham gia tích cực từ thư viện, cơ sở đào tạo và cộng đồng trong phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM).
Bảng 23 Các rào cản trong tiếp cận TNGDM của sinh viên
Ngoại ngữ của tôi không tốt nên rất khó khăn trong việc tìm kiếm và sử dụng tài liệu tiếng nước ngoài
Tôi tìm kiếm tài liệu không hiệu quả vì không có kiến thức và kỹ năng về máy tìm cũng như hiểu biết nguồn thông tin
Tôi không được thư viện tìm hướng dẫn và hỗ trợ tìm kiếm tài liệu trong thư viện
Tôi không có kinh phí để mua tài liệu học tập 11.8% 24.6% 35.8% 16.0% 11.8% Tôi không tìm được những tài liệu tôi cần 7.4% 22.3% 35.6% 23.9% 10.6% Tôi không biết cần tìm tài liệu ở đâu 8.6% 23.5% 32.1% 24.6% 11.2%
Thực trạng công nghệ thông tin và công nghệ mở
Sử dụng công nghệ mở
Kết quả khảo sát cho thấy, mặc dù các thiết bị công nghệ cá nhân đã đầy đủ, hạ tầng công nghệ tại các trường đại học vẫn còn yếu kém Hơn nữa, ba nhóm đối tượng tham gia khảo sát đều thiếu tự tin về kỹ năng công nghệ trong việc tạo lập, tìm kiếm và chia sẻ học liệu Ngoài ra, vấn đề phát triển nội dung cho tài nguyên giáo dục mở cũng đang trở thành mối quan tâm lớn.
Bảng 24 Những khó khăn về công nghệ mà sinh viên gặp phải
Sử dụng CNTT khai thác tài liệu
Tôi tìm kiếm tài liệu không hiệu quả vì không có kiến thức và kỹ năng về máy tìm cũng như hiểu biết nguồn thông tin
Tôi không có máy tính/internet để khai thác và sử dụng các tài liệu số/tài liệu trực tuyến
Theo khảo sát, 69.8% sinh viên sở hữu máy tính và internet để truy cập tài liệu số, cho thấy hầu hết đã có thiết bị công nghệ cần thiết Tuy nhiên, hiệu quả sử dụng vẫn chưa cao, với 33.3% sinh viên không tự tin về kiến thức và kỹ năng máy tính, trong khi 35.9% cho rằng họ thiếu các kỹ năng này Chỉ có 30.7% sinh viên cảm thấy việc tìm kiếm tài liệu của mình không bị ảnh hưởng bởi hạn chế công nghệ.
Bảng 25 Mức độ tán thành của các nhà nghiên cứu về rào cản trong việc sử dụng
Rào càn về công nghệ
Nhà nghiên cứu thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng OER 3.6% 7.7% 23.8% 45.8% 19%
Nhà nghiên cứu thiếu trang thiết bị công nghệ
Trường đại học thiếu hạ tầng công nghệ 3% 6.6% 21.6% 45.5% 23.4% Trường đại học thiếu cộng đồng phát triển nội dung OERs 2.4% 8.3% 14.9% 45.8% 28.6%
Thực trạng công nghệ thông tin trong phát triển tài nguyên giáo dục mở hiện còn hạn chế ở ba yếu tố chính: kỹ năng, trang thiết bị và cộng đồng Đặc biệt, thiếu cộng đồng phát triển nội dung TNGDM là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất, với 74.4% ý kiến đồng tình Ngoài ra, 68.9% giảng viên và nhà nghiên cứu cho rằng các trường đại học chưa đủ hạ tầng công nghệ, trong khi 66.7% thừa nhận thiếu thiết bị phần cứng và phần mềm, cùng với 64.8% cảm thấy thiếu kỹ năng cần thiết để tạo lập tài nguyên giáo dục mở.
Bảng 26 Mức độ tán thành của cán bộ thư viện về rào cản trong việc phát triển
Rào cản về công nghệ
Cán bộ thư viện thiếu các kỹ năng cần thiết về công nghệ, kỹ thuật để xây dựng OER 1.8% 6.8% 29.3% 45.9% 16.2%
Thư viện thiếu trang thiết bị công nghệ (phần cứng, phần mềm) để phát triển OERs 1.8% 6.8% 25.2% 43.2% 23%
Thiếu trang thiết bị công nghệ (66.2%) được coi là một trở ngại lớn trong việc phát triển TNGDM tại các thư viện, bên cạnh đó, 62.1% cán bộ thư viện cũng thừa nhận rằng họ còn thiếu kỹ năng cần thiết để tạo lập loại tài nguyên này.
Xu hướng công nghệ tại Việt Nam
Xu hướng nguồn mở đang phát triển mạnh mẽ tại Việt Nam, với sự quan tâm ngày càng tăng từ các trường đại học đối với sản phẩm công nghệ mở Hiện nay, Việt Nam đã có hai tổ chức lớn liên quan đến công nghệ mở: Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) và Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở (RDOT), thuộc Bộ Khoa học và Công nghệ Sự hình thành của các tổ chức này khẳng định định hướng phát triển công nghệ mở trong các dịch vụ công của chính phủ, đồng thời thúc đẩy ứng dụng công nghệ mở trong cả khu vực công và tư nhân Cộng đồng người dùng đã bắt đầu áp dụng phần mềm nguồn mở trong hoạt động công nghệ thông tin, điển hình là các thư viện đại học đã chuyển sang sử dụng phần mềm thư viện điện tử Koha và phần mềm thư viện số như Dspace và Greenstone thay cho các phần mềm thương mại.
Hiện nay, lĩnh vực TNGDM đang thiếu sự hỗ trợ từ các công ty công nghệ, với Hanoi Sping và Vietnam Foundation là những đơn vị đang hợp tác phát triển nền tảng công nghệ Vai trò của các công ty này rất quan trọng trong việc tư vấn và xây dựng các chuẩn mở cho việc tạo lập, lưu trữ, đánh giá, khai thác và chia sẻ TNGDM Một khuyến nghị quan trọng từ khảo sát là cần làm rõ lợi ích bền vững để thu hút các công ty công nghệ mở tham gia vào phát triển công nghệ cho TNGDM.
7 Vai trò của thƣ viện trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở
Khảo sát cho thấy cán bộ thư viện các trường đại học nhận thức rõ vai trò trung tâm của thư viện trong phát triển tài nguyên giáo dục mở, đặc biệt phục vụ cho nhà trường và sinh viên Tuy nhiên, họ tỏ ra thận trọng trong việc chia sẻ nguồn học liệu với cộng đồng các thư viện đại học Cần có hành lang pháp lý mạnh mẽ để bảo vệ quyền lợi của các bên tham gia phát triển tài nguyên này và tạo tâm lý an toàn cho thư viện khi chia sẻ Đồng thời, việc tập trung vào vai trò của thư viện có thể dẫn đến việc đánh giá thấp vai trò của người sử dụng như sinh viên, giảng viên và nhà nghiên cứu trong việc tái tạo và chia sẻ tài nguyên giáo dục mở.
Bảng 27 Mức độ tán thành của sinh viên với vai trò của thư viện trong phát triển
Thư viện nhà trường/giảng viên nên tích cực thu thập và giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí và trực tuyến cho sinh viên 1.1% 2.1% 6.4% 33% 57.4%
Sinh viên, những người trực tiếp hưởng lợi từ sự phát triển của tài nguyên giáo dục mở, thể hiện sự ủng hộ mạnh mẽ (90.4%) đối với việc thư viện trường học cần chủ động thu thập và giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí và trực tuyến.
Bảng 28 Mức độ tán thành của cán bộ thư viện về vai trò của thư viện trong phát triển TNGDM
Vai trò của thư viện
Thư viện phải đóng vai trò là nơi thu thập, tạo lập và chia sẻ OERs của một trường đại học 0.9% 0.9% 14.2% 48.7% 35.4%
Thư viện cần đóng vai trò là đơn vị thúc đẩy, khuyến khích sử dụng OERs trong trường đại học 0.9% 4.5% 13.8% 45.5% 35.3%
Công việc tìm kiếm, thu thập, tạo lập và chia sẻ giới thiệu OERs là nhiệm vụ của giảng viên 3.2% 6.4% 35.9% 38.2% 16.4%
Thư viện nên sử dụng các phần mềm tự do nguồn mở trong việc tạo lập và quản lý nguồn học liệu của mình 2.7% 5.4% 18.6% 46.2% 27.1%
Các cán bộ thư viện hoàn toàn đồng tình với vai trò của thư viện trong việc thu thập, chia sẻ và khuyến khích sử dụng tài nguyên giáo dục mở, với 84.1% và 80.8% số câu trả lời tán thành và rất tán thành Họ cũng đánh giá cao việc sử dụng phần mềm tự do nguồn mở trong quản lý nguồn học liệu, với 73.3% ủng hộ, cho thấy đây là nền tảng quan trọng để thúc đẩy việc chia sẻ tài nguyên giáo dục Tuy nhiên, chỉ có 54.5% cán bộ thư viện cho rằng đây là nhiệm vụ của giảng viên, trong khi 35.9% vẫn chưa chắc chắn về quan điểm của mình.
Bảng 29 Mức độ sẵn sàng của các thư viện trong chia sẻ học liệu
Sự sẵn sàng chia sẻ của thư viện
Chúng tôi chưa sẵn sàng để chia sẻ những học liệu có trong thư viện 11.5% 16.1% 40.4% 28.4% 3.7%
Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ một phần một số học liệu của thư viện 3.1% 5.4% 27.8% 48.4% 15.2%
Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ toàn bộ học liệu của mình với cộng đồng 3.2% 15.3% 34.7% 31.9% 14.8%
Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ những học liệu của tôi nếu cơ quan chủ quản yêu cầu 3.2% 5.1% 26.7% 43.8% 21.2%
Chúng tôi sẵn sàng chia sẻ học liệu nếu hệ thống pháp luật có chế tài đủ mạnh để đảm bảo quyền lợi của tôi/tác giả 2.8% 4.6% 19.7% 46.3% 26.6%
Mặc dù các thư viện tại trường đại học có khả năng đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tài nguyên giáo dục mở, nhưng chúng vẫn chưa hoàn toàn sẵn sàng tham gia vào việc chia sẻ nguồn tài nguyên, điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường liên kết và phối hợp trong cộng đồng.
Chỉ 27.6% cán bộ thư viện cho rằng thư viện của họ đã sẵn sàng chia sẻ học liệu hiện có, trong khi 32.1% khẳng định chưa muốn chia sẻ Đáng chú ý, có đến 40.4% không chắc chắn về khả năng chia sẻ của thư viện mình Mặc dù 46.7% cán bộ thư viện cho biết cơ quan của họ sẵn sàng chia sẻ toàn bộ học liệu, chỉ 14.8% trong số đó rất tán thành Hình thức chia sẻ một phần và theo yêu cầu của trường đại học nhận được sự ủng hộ cao hơn, với hơn 60% đồng ý.
72.9% cán bộ thư viện đồng ý rằng việc áp dụng chế tài mạnh mẽ để bảo vệ quyền lợi của thư viện và tác giả học liệu sẽ nâng cao hiệu quả trong việc chia sẻ học liệu.
8 Vai trò của lãnh đạo trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở Đối với cán bộ lãnh đạo là quản lý các trường đại học, kết quả phỏng vấn chỉ ra rằng họ đều cho rằng mình hiểu thế nào làTNGDM Tuy nhiên, trên thực tế chỉ có 1/3 lãnh đạo hiểu rõ TNGDM.Họ cho rằng TNGDM là nguồn tài liệu dành cho học tập, được xuất bản dưới dạng điện tử vàđược chia sẻ trên mạng cho người dùng sử dụng Họ thường đồng nghĩa nguồn TNGDM hay học liệu mở với cơ sở dữ liệu toàn văn của các công ty mà thư viện trường mua lại, hoặc do thư viện xây dựngđể cho người dùng tin trong trường được sử dụng miễn phí.Họ cũng cho rằng khi phổ biến các tài liệu này cũng cần phải chúýđến vấn đề bản quyền Tuy nhiên cũng có người chưa biết đến các thuật ngữ về giấy phép sử dụng của TNGDM
Các nhà quản lý khẳng định rằng TNGDM cần được triển khai trong các trường đại học và đang trở thành xu thế chung của giáo dục đại học hiện nay Tuy nhiên, do chưa hiểu rõ về TNGDM, phần lớn lãnh đạo chỉ dừng lại ở việc ủng hộ phát triển tài liệu số và chia sẻ chúng một cách thông thường Rất ít lãnh đạo thực sự hỗ trợ việc xây dựng và phát triển TNGDM, và thực tế là họ chưa có kế hoạch cụ thể cho việc này vì còn nhiều công việc khác cần giải quyết.
Vai trò của lãnh đạo, đặc biệt là ban giám hiệu các trường đại học, rất quan trọng trong việc xây dựng chính sách triển khai TNGDM Theo khảo sát, 67.8% người được hỏi cho rằng chính sách về TNGDM trong trường đại học là cần thiết để thúc đẩy việc tạo lập và sử dụng TNGDM Chính sách này chỉ có thể được quyết định khi lãnh đạo nhà trường nhận thức rõ ý nghĩa và tầm quan trọng của TNGDM đối với hoạt động đào tạo và nghiên cứu.
9 Kết luận và đánh giá chung
Một số kết luận và đánh giá dựa trên kết quả khảo sát:
Vai trò của lãnh đạo trong phát triển Tài nguyên giáo dục mở
Kết quả phỏng vấn với cán bộ lãnh đạo các trường đại học cho thấy họ đều nhận thức về TNGDM, nhưng chỉ 1/3 trong số họ hiểu rõ khái niệm này Họ coi TNGDM là nguồn tài liệu học tập điện tử được chia sẻ trực tuyến, thường nhầm lẫn với cơ sở dữ liệu toàn văn do thư viện cung cấp Ngoài ra, họ cũng nhận thức được tầm quan trọng của bản quyền khi phổ biến tài liệu, nhưng một số vẫn chưa quen thuộc với các thuật ngữ liên quan đến giấy phép sử dụng của TNGDM.
Các nhà quản lý khẳng định rằng TNGDM cần được triển khai trong các trường đại học, phản ánh một xu thế chung trong giáo dục đại học hiện nay Tuy nhiên, do chưa hiểu rõ về TNGDM, phần lớn lãnh đạo chỉ dừng lại ở việc ủng hộ phát triển tài liệu số và sử dụng chúng một cách thông thường Rất ít lãnh đạo thực sự hỗ trợ xây dựng và phát triển TNGDM, và thực tế, họ cũng chưa có kế hoạch cụ thể cho việc này vì còn nhiều công việc khác phải giải quyết.
Vai trò của lãnh đạo, đặc biệt là ban giám hiệu các trường đại học, rất quan trọng trong việc xây dựng chính sách triển khai TNGDM Theo khảo sát, 67.8% người tham gia cho rằng chính sách TNGDM trong trường đại học là thiết yếu để thúc đẩy việc tạo lập và sử dụng TNGDM Chính sách này chỉ có thể được quyết định bởi lãnh đạo nhà trường khi họ nhận thức rõ về ý nghĩa và tầm quan trọng của TNGDM đối với hoạt động đào tạo và nghiên cứu.
Kết luận vàđánh giá chung
Một số kết luận và đánh giá dựa trên kết quả khảo sát:
Việc áp dụng Tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) tại các trường đại học hiện nay vẫn chưa phổ biến, chủ yếu do các trường chỉ khai thác thông tin miễn phí trên mạng Hầu hết giảng viên chỉ giới thiệu các nguồn học liệu miễn phí mà chưa nhận thức được tầm quan trọng của việc tạo lập và chia sẻ TNGDM trong đơn vị của mình.
Các trường đại học đã nhận thức được tầm quan trọng của TNGDM, nhưng cần tăng cường quảng bá trong cộng đồng học thuật về nguồn tài nguyên này Sự hiểu biết và nhận thức của cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng, sử dụng và chia sẻ TNGDM hiệu quả.
Xu thế sử dụng tài liệu số ngày càng gia tăng, với giảng viên và sinh viên xem các nguồn học liệu số là kênh thông tin tiện lợi và hiệu quả Điều này tạo nên một "văn hóa số", là điều kiện thuận lợi để phát triển việc học tập và giáo dục trong môi trường số.
Trong cộng đồng các trường đại học, việc hiểu biết về bản quyền và giấy phép mở là rất cần thiết Hiện nay, việc thực thi bản quyền tại các trường chưa được coi trọng, trong khi thư viện có kế hoạch số hóa nhưng lại chưa chú trọng đến vấn đề bản quyền Hơn nữa, kiến thức về giấy phép mở (Creative Commons) của họ vẫn còn hạn chế.
- Vẫn còn tồn tại sự chưa tin tưởng về lợi ích và giá trị mà TNGDM mang lại
TNGDM là một nguồn học liệu mới, miễn phí, khác biệt với việc phải trả tiền cho tài liệu từ các nhà xuất bản Điều này đặt ra câu hỏi về chất lượng của TNGDM và khả năng của nó trong việc thay đổi cách tiếp cận tri thức, cũng như nâng cao chất lượng đào tạo.
Thư viện đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) bằng cách thu thập, đánh giá, lựa chọn, lưu trữ và cung cấp các tài nguyên này cho giảng viên và sinh viên Ngoài việc hỗ trợ giảng viên trong việc phát triển TNGDM, thư viện còn giới thiệu cho sinh viên những nguồn tài nguyên chất lượng, góp phần nâng cao hiệu quả giảng dạy và nghiên cứu.
Việc phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam cần chú trọng đến nhiều yếu tố quan trọng, bao gồm nhận thức của cộng đồng, vấn đề bản quyền và giấy phép, cũng như cơ chế hỗ trợ và chính sách từ nhà nước và các trường Hạ tầng công nghệ cũng đóng vai trò then chốt, bên cạnh sự sẵn sàng của giảng viên và trường trong việc tạo lập và sử dụng TNGDM Ngoài ra, vấn đề bản địa hóa và sự hài hòa lợi ích giữa các bên liên quan cũng cần được xem xét kỹ lưỡng.
Dựa trên số liệu từ báo cáo và thực tiễn triển khai TNGDM, nhóm nghiên cứu đã đưa ra khuyến nghị và hướng dẫn cho việc áp dụng TNGDM tại các trường đại học Việt Nam Đề xuất này tập trung vào chính sách và tổ chức thực hiện nhằm phát triển tài nguyên giáo dục mở cho giáo dục đại học tại Việt Nam.
CÁC ĐƠN Vị PHốI HợP THựC HIệN
Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hiệp quốc – UNESCO
Liên chi hội thư viện các trường đại học phía Bắc - NALA
Liên chi hội thư viện các trường đại học phía Nam - VILASAL
Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở - Bộ Khoa học (RDOT)
Khoa Thông tin – Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội
Trung tâm Thông tin – Thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội
Bản quyền thuộc về nhóm các đơn vị đề xuất chính sách TNGDM Việt Nam
1 Cơ sở xây dựng bản đề xuất 32
3 Vai trò của tài nguyên giáo dục mởđối với giáo dục đại học 34 3.1 Đặt vấn đề 34 3.2 Khái niệm và lợi ích của tài nguyên giáo dục mở 35
2.2 Thực trạng học liệu của các trường đại học Việt Nam và sự cần thiết phải xây dựng tài nguyên giáo dục mở 37
3 Kiến nghị phát triển tài nguyên giáo dục mở tại Việt Nam 38 3.1 Kiến nghị chung 38 3.2 Đề xuất các công việc cụ thể 38
4 Hướng dẫn tổ chức thực hiện 40 4.1 Chính phủ 40 4.2 Các trường đại học 41 4.3 Giảng viên 41 4.4 Sinh viên 42 4.5 Thư viện 43 4.6 Các tổ chức kiểm định 44 4.7 Các công ty công nghệ 44
5 Lộ trình và triển khai thực hiện 465.1 Lộ trình triển khai 465.2 Triển khai thực hiện và các yếu tốđảm bảo thành công của dựán 46
1 Cơ sở xây dựng bản đề xuất
Bản đề xuất dựa trên những cơ sở chính sách, khoa học và thực tiễn sau:
Về các văn bản chính sách
Luật giáo dục đại học ban hành ngày 18/06/2012 số 08/12/QH13
Nghị quyết số 44/NQ-CP của Chính phủ ban hành Chương trình hành động nhằm thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Chương trình này tập trung vào việc đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế.
Cơ sở Khoa học và thực tiễn
Kết quả khảo sát về tình hình giáo dục trực tuyến tại các trường đại học Việt Nam được thực hiện bởi Khoa Thông tin - Thư viện, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội (VNU-USSH) với sự tài trợ của UNESCO.
Hội thảo khoa học về TNGDM lần 1 và lần 2 tại Việt Nam được tổ chức bởi Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQGHN, phối hợp với UNESCO, Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở - Bộ Khoa học (RDOT) và Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) Sự kiện này nhằm thúc đẩy nghiên cứu và phát triển công nghệ mở, đồng thời tạo cơ hội cho các chuyên gia và nhà nghiên cứu trao đổi kiến thức và kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục và công nghệ thông tin.
TNGDM đã được triển khai tại Việt Nam thông qua chương trình tập huấn cho các trường đại học, do RDOT, Khoa Thông tin - Thư viện, Quỹ Vietnam Foundation, cùng với Liên chi hội thư viện các trường đại học phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASA) phối hợp thực hiện Dự án xây dựng TNGDM cũng được thực hiện bởi Quỹ Vietnam Foundation.
Bản ký kết hợp tác phát triển TNGDM giữa 10 đơn vị quan trọng, bao gồm Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển Quốc gia về Công nghệ mở (RDOT), Bộ Khoa học và Công nghệ, cùng với các Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực phía Bắc (NALA) và phía Nam (VILASAL) Sự hợp tác còn có sự tham gia của Câu lạc bộ Phần mềm Tự do Nguồn mở Việt Nam (VFOSSA) và các trung tâm thông tin thư viện lớn như Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Bách khoa Hà Nội, Đại học Thương Mại, Đại học Sư phạm Hà Nội, và Đại học Thăng Long.
Bản khuyến nghị và hướng dẫn của UNESCO về phát triển tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) cho giáo dục đại học năm 2015
Để nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu tại các trường đại học Việt Nam, bản đề xuất chính sách này tập trung vào việc xây dựng nguồn tài nguyên giáo dục mở (TNGDM) với các mục tiêu cơ bản nhằm cải thiện hiệu quả giáo dục và nghiên cứu trong hệ thống giáo dục đại học.
Trong bối cảnh hiện nay, nhiều trường đại học đang gặp phải vấn đề thiếu hụt học liệu phục vụ cho đào tạo và nghiên cứu Để giải quyết vấn đề này, việc phát triển Tài nguyên Giáo dục Mở (TNGDM) được đề xuất như một giải pháp hiệu quả, giúp cung cấp nguồn học liệu phong phú và đa dạng, đáp ứng nhu cầu học tập và nghiên cứu của sinh viên cũng như giảng viên.
Những đề xuất này là cơ sở cho chính phủ tham khảo để xây dựng chính sách phát triển TNGDM trong các trường đại học Việt Nam
Hướng dẫn các trường đại học và các bên có liên quan tạo lập, sử dụng và phân phối TNGDM trong môi trường giáo dục Đại học
3 Vai trò của tài nguyên giáo dục mở đối với giáo dục đại học