1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Hoạt động thông tin – thư viện với vấn đề đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đại học

369 32 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Hoạt Động Thông Tin – Thư Viện Với Vấn Đề Đổi Mới Căn Bản Và Toàn Diện Giáo Dục Đại Học
Trường học Đại Học Quốc Gia Hà Nội
Thể loại Tài Liệu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 369
Dung lượng 2,88 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một trong những tiêu chuẩn bắt buộc trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội và Đại học Quốc gia

Trang 1

HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN – THƯ VIỆN VỚI VẤN ĐỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN VÀ TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

Trang 8

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG TIÊU CHÍ, TIÊU CHUẨN ĐÁNH GIÁ CHẤT LƯỢNG THƯ VIỆN ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM – VẤN ĐỀ QUAN TRỌNG GÓP PHẦN ĐỔI MỚI CĂN BẢN & TOÀN DIỆN GIÁO DỤC ĐẠI HỌC

PGS.TS Trần Thị Quý∗∗ ∗ ∗

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vào những thập kỷ cuối của thế kỷ XX, nền kinh tế thế giới

từng bước dịch chuyển sang nền kinh tế tri thức và chịu sự tác động chung của nền kinh tế tri thức Trong nền kinh tế này, thông tin/tri thức có ý nghĩa quyết định đến sự tồn tại và phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc Thông tin/tri thức ở đây chính là thành tựu khoa học và công nghệ mà chủ thể sản sinh và nắm bắt nguồn tri thức này chính là con người có trình độ cao Vì vậy, năm 1990, sự phát triển con người đã được Liên hợp quốc chính thức thừa nhận

là thước đo để đánh giá, xếp hạng mức độ phát triển kinh tế - xã hội của các quốc gia và các vùng lãnh thổ trên thế giới Với ý nghĩa như vậy, ngay từ những năm đầu của giai đoạn đổi mới đất nước

để thực hiện thành công công cuộc công nghiệp hóa (CNH), hiện đại hóa (HĐH) để hội nhập quốc tế, Đảng và Nhà nước rất chú trọng tới phát triển khoa học & công nghệ, đổi mới giáo dục & đào tạo (GD&ĐT) Đảng và Nhà nước coi hai nhiệm vụ quan trọng này

là quốc sách hàng đầu Ngay từ Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII (1996), Đảng và Nhà nước đã khẳng định: nâng cao dân trí, bồi dưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam

∗ Nguyên Chủ nhiệm Khoa TT – TV, Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Trang 9

là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hóa,

hiện đại hóa, là yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền

vững Trong Văn kiện Hội nghị Trung ương lần thứ hai khóa VIII,

Đảng khẳng định: “Nguồn lực con người là quý báu nhất, có vai trò quyết định, đặc biệt đối với nước ta, khi nguồn lực tài chính và nguồn lực vật chất còn hạn hẹp”.

Để có nguồn nhân lực chất lượng cao, trong sự nghiệp phát triển nguồn nhân lực, ngành giáo dục & đào tạo có nhiệm vụ hết sức quan trọng Đặc biệt “giáo dục đại học là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của kinh tế tri thức” Tiếp tục khẳng định quan điểm này sau hơn hai mươi năm đổi mới, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 – 2020 được trình bầy tại Đại hội Đại

biểu toàn quốc lần Đảng Cộng sản Việt Nam, Đảng chỉ rõ “Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu Đổi mới căn bản nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế ” và “Thực hiện đồng bộ các giải pháp để nâng cao chất lượng giáo dục đại học” (Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần

thứ XI, tr.130-131) Bởi các cơ sở đào tạo đại học là “cơ sở sản xuất”

mà đầu ra là nguồn nhân lực có trình độ cao đủ khả năng tiếp nhận tri thức mới để sản xuất, chế biến tri thức, biết vận dụng các tri thức, thông tin mới, tiên tiến hiện đại vào sản xuất làm gia tăng giá trị cao, đóng góp cho sự tiến bộ của đời sống xã hội Như vậy,

sứ mệnh của giáo dục đại học Việt Nam phải tạo ra nguồn nhân lực đủ về lượng và chất, đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế tri thức,

là nguồn nhân lực “chủ công” mở đường cho việc xây dựng nền kinh tế tri thức của Việt Nam Để hoàn thành sứ mệnh của mình, một trong những nhiệm vụ cấp bách của ngành GD & ĐT là cần phải đổi mới giáo dục đại học, đảm bảo chất lượng và nâng cao chất lượng đào tạo Điều đó có nghĩa là đổi mới giáo dục đại học, cần phải đổi mới một cách đồng bộ nhiều hoạt động trong công tác quản trị đại học, trong đó có các hoạt động của quản lý và điều

hành công nghệ giáo dục đại học; Kiểm định chất lượng trường đại

Trang 10

học; Đổi mới phương thức đào tạo từ niên chế sang tín chỉ hướng

về người học; tăng cường tính chủ động, nâng cao ý thức trách nhiệm, khả năng linh hoạt cho người học trong việc chủ động chọn môn học, chọn thầy dạy Với phương thức đào tạo mới sẽ tạo

ra những sản phẩm có tính thích ứng cao với thị trường lao động Đồng thời làm cho hệ thống giáo dục đại học nước ta dễ dàng hội nhập với khu vực & thế giới Một trong những tiêu chuẩn bắt buộc

trong Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Bộ Giáo dục & Đào tạo và của Đại học Quốc gia Hà Nội và

Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đòi hỏi là các trường đại học phải có thư viện với những yêu cầu hết sức cụ thể cho nhiều mức đánh giá khác nhau về số lượng và chất lượng đội ngũ, về cơ sở vật chất,

hạ tầng công nghệ; Về số lượng và chất lượng tài liệu dành cho một ngành/bộ môn đào tạo để đảm bảo tốt nhu cầu khai thác tài liệu, sách báo của cán bộ quản lý, giảng viên và người học trong nghiên cứu, giảng dạy

và học tập theo phương thức của đào tạo tín chỉ; Về mức độ được tin học hóa hoạt động nghiệp vụ thông tin thư viện; Về tỷ lệ gia tăng số cán bộ

và học viên, sinh viên, nghiên cứu sinh đến thư viện; Về công tác chia sẻ, hợp tác quốc tế; Về mức kinh phí đầu tư dành cho phát triển thư viện

Để có cơ sở khoa học, đánh giá khách quan mức độ ảnh hưởng tác động từ sự chuyển đổi của nền kinh tế thế giới sang nền kinh tế tri thức dưới tác động của công nghệ thông tin và từ quá trình đổi mới, hội nhập của đất nước đến sự biến đổi của nghề TT-TV; Cũng như nhận dạng được thực trạng của hệ thống các cơ quan thông tin- thư viện đại học, đánh giá hiệu quả hoạt động và tác động của các cơ quan TT-TV đại học đến chất lượng đào tạo trong các trường đại học và sự phát triển kinh tế - xã hội; Xây dựng các tiêu chí phù hợp với tiêu chuẩn đánh giá chất lượng thư

viện của trường đại học trong “Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học” của Bộ Giáo dục & Đào tạo ban hành năm 2007, trong quá trình kiểm định chất lượng giáo dục đại học

là vấn đề rất phải đầu tư nghiên cứu Chỉ có như vậy chúng ta mới

Trang 11

có một hệ thống các tiêu chí của các tiêu chuẩn đánh giá với các mức độ khác nhau về chất lượng Do vậy, cần có một sự đầu tư nghiên cứu bài bản của các nhà quản lý, các nhà chuyên môn chuyên ngành và liên ngành Tuy nhiên hiện nay các đề tài nghiên cứu theo hướng này còn rất ít cả trong và ngoài nước:

Nhưng thực tế ở Việt Nam hiện nay chưa có một công trình nghiên cứu khoa học nào theo hướng nghiên cứu của đề tài để đáp ứng yêu cầu của xã hội như đã phân tích ở trên Những công trình

đã có mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu nội dung đơn lẻ về nguồn nhân lực; về nguồn lực thông tin, về việc ứng dụng tin học xây dựng thư viện số của một hoặc một số thư viện đại học nào

đó ở Hà Nội Còn việc nghiên cứu tiêu chuẩn của thư viện trường đại học mới chỉ có 02 bài báo đăng trong các kỷ yếu khoa học

ngành Thông tin-thư viện Chính vì vậy, đề tài“Cơ sở lý luận và thực tiễn xây dựng tiêu chuẩn đánh giá Thư viện đại học đáp ứng yêu cầu kiểm định chất lượng giáo dục ở Việt Nam hiện nay”là đề tài hoàn toàn mới

Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài và ở Việt Nam

Ngoài nước, việc nghiên cứu thực trạng của Hệ thống thư

viện đại học trên cơ sở so sánh, đề xuất các tiêu chí cho bộ kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học của hệ thống giáo dục đai học quốc gia nào đó hầu như chưa có Chỉ có một số rất ít công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề kiểm định chất lượng thư viện các trường đại học mà thôi Cơ bản, những công trình này tập trung vào hai nội dung chính:

Một là đánh giá vai trò của thư viện các trường đại học và phân tích vai trò thư viện các trường đại học dưới góc độ nhìn nhận thư viện là một trong những tiêu chí cốt lõi để đánh giá mỗi trường đại học Như công trình “Đánh giá nghiên cứu và vai trò của thư viện” (http://www.oclc.org/research/publications/library/ 2010/2010-01.pdf) của MacColl là một báo cáo hướng dẫn nhìn

Trang 12

nhận lại một cách tương đối về các chế độ đánh giá nghiên cứu và vai trò của các thư viện trọng quá trình đánh giá nghiên cứu tại năm nước: Hà Lan, Ai-len, Vương quốc Anh, Đan Mạch và Úc Bản báo cáo cung cấp tập hợp những thành tựu nghiên cứu về thực tế thời gian gần đây về các nội dung liên quan đến thư viện trong đánh giá công tác nghiên cứu và những đề xuất cho thư viện phục vụ cho nghiên cứu Hai là Báo cáo về mối quan hệ giữa việc đánh giá trường đại học và các thư viện của David Shulenburger – Phó chủ tịch Liên hiệp các vấn đề học thuật của những trường đại học Công cộng và Land-grant Báo cáo được trình bày trong hội thảo khu vực về tương lai của các trường đại học nghiên cứu công cộng, tổ chức vào 21/4/2010 tại một trường đại học ở Mỹ Nội dung báo cáo bàn về việc đánh giá các trường đại học dựa trên tiêu chí thư viện của các trường đại học đó Ngoài ra có cuốn sách “Kế hoạch xây dựng thư viện học thuật nghiên cứu” là cuốn sách được viết bởi Philip D Leighton, David C Weber Cuốn sách đề cập đến các vấn đề cần tính đến cho việc xây dựng thư viện nghiên cứu học thuật trong môi trường đại học Cụ thể là các vấn đề: Lên kế hoạch xây dựng và phát triển; Tính toán thiết kế để thư viện có thể tồn tại và phát triển lâu dài; Chi phí; Thiết kế không gian; Tham vấn ý kiến của nhiều bên tham gia vào quá trình xây dựng Hay Bài báo “Đánh giá về các tiêu chuẩn đối với thư viện trường đại học ở Phi-líp-pin” (http://journals.upd.edu.ph/index.php/jpl/ article/viewFile/1146/1193) Với cái nhìn thư viện luôn là một phần quan trọng cốt yếu của trường đại học, bài báo đi vào bàn luận các đặc điểm của các tiêu chuẩn nói chung mà không đi vào những thư viện cụ thể Sau đó, đặc điểm của thư viện các trường đại học

sẽ được phân tích dựa trên các tiêu chuẩn đã xác định Gần đây,

Bộ tiêu chuẩn cho các thư viện trường đại học, cao đẳng được thông qua vào tháng 10 năm 2011 http://www.ala.org/ala/mgrps/ divs/acrl/standards/standardslibraries.cfm Bộ tiêu chuẩn được thông qua bởi Liên hiệp thư viện các trường đại học, cao đẳng của

Trang 13

Mỹ, được thiết kế nhằm chỉ dẫn cho thư viện các trường đại học

và cao đẳng trong việc phát triển và duy trì vai trò tham gia giáo dục sinh viên Những tiêu chuẩn này cung cấp một bộ khung sườn

sử dụng cách tiếp cận dựa trên sản phẩm đào tạo đầu ra Thành phần chính của Bộ tiêu chuẩn nằm trong mục “Các nguyên tắc và chỉ dẫn thực hiện” Chín nguyên tắc và các chỉ dẫn thực hiện liên quan là những tiêu chuẩn có thể áp dụng các thư viện trường đại học Tuy nhiên, việc áp dụng còn tùy thuộc vào đặc thù của từng thư viện.Những nguyên tắc cơ bản:

1 Tính hiệu quả của tổ chức

2 Các giá trị chuyên môn

9 Các mối quan hệ bên ngoài

Bộ tiêu chuẩn cho rằng thư viện trường đại học cần: Tuân thủ theo các nguyên tắc trên; Xác định và lựa chọn những chỉ dẫn thực hiện thích hợp với nhiệm vụ và hiệu quả của tổ chức; Có thể thêm các chỉ dẫn thực hiện phục vụ cho các loại hình thư viện đặc biệt; Phát triển các sản phẩm đầu ra có thể kiểm soát được và lấy người dùng làm trung tâm; Sử dụng các đánh giá định lượng và/hoặc định tính; Thu thập căn cứ từ việc đánh giá mà chứng minh được mức độ thành công; Sử dụng dữ liệu đánh giá cho việc cải thiện không ngừng các hoạt động thư viện

Ở Philippine, đã nghiên cứu soạn thảo “Bộ Tiêu chuẩn các thư viện ở Philippine” Trong đó đề cập đến sứ mệnh các mục tiêu và các nhiệm vụ của thư viện đại học; Nghiên cứu việc quản lý; Nguồn nhân lực của thư viện; Phát triển sưu tập số của thư viện; Các dịch

vụ sử dụng thư viện; Cơ sở vật chất của thư viện; Ứng dụng công

Trang 14

nghệ thông tin; Nguồn lực tài chính; Mối liên kết và mạng; Hội đồng và các thành viên Ngoài ra còn một số các công trình dừng lại ở việc nghiên cứu từng vấn đề đơn lẻ như việc nghiên cứu đề ra các các tiêu chuẩn cho hệ thống các cơ quan thông tin, thư viện đại học; Nghiên cứu công tác tổ chức và hoạt động của các cơ quan thông tin - thư viện đại học; Nghiên cứu những vấn đề liên quan đến nguồn nhân lực trong các cơ quan thông tin-thư viện đại học Về công tác tổ chức và hoạt động của thư viên và nguồn nhân lực của thư viện đại học cũng đã có một số các công trình tiêu biểu thuộc lĩnh vực này như: “Quản trị các cơ quan thông tin, thư viện”(Library and Information Center Management) của tác giả Stueart, Robert D và Moran, Barbara B (2007); Nhiều bài báo đã đề cập đến nguồn nhân lực như Nghề thư viện y khoa; Đào tạo cán bộ thư viện thế kỷ XXI; Phiếu điều tra nhu cầu đào tạo liên tục dành cho cán bộ thư viện bang California; Bảng hỏi đánh giá cán bộ thư viện các trường học công lập LAS CRUCES Chính sách đánh giá cán bộ thư viện của Trường Đại học Victoria; Cán bộ thư viện: các chuyên gia thông tin trong kỷ nguyên thông tin; Giá trị và giá trị của thư viện; Công cụ đánh giá cán bộ thư viện; Những nét vắn tắt

về cán bộ thư viện đại học; Nghề thư viện - Tư vấn, Thống kê, Lương bổng; Sự phát triển nghề thư viện; Hướng dẫn cho các chương trình đào tạo trong các thư viện đại học; Hướng dẫn cho các cán bộ thư viện đại học và cao đẳng; Hướng dẫn cho các trung tâm cung cấp giáo trình học liệu; Người cán bộ thư viện đại học thành công: các chiến lược quý giá từ cho các lãnh đạo thư viện; Làm thế nào để các cán bộ thư viện chuẩn bị cho việc tồn tại và phát huy được những ích lợi từ những thay đổi nhanh chóng của công nghệ thông tin; Hiệp hội các thư viện nghiên cứu và cao đẳng: Các chuẩn nghiệp vụ cho cán bộ và lãnh đạo thư viện; Mô tả công việc cho cán

bộ thư viện đại học; Cán bộ thư viện đại học có thể học được gì từ

những nhà cung cấp thông tin; Chính sách đối với cán bộ thư viện đại học; Nhu cầu đào tạo liên tục đối với cán bộ thư viện đại học

Trang 15

Thái lan; Giải quyết xung đột: Nghiên cứu thực tiễn về cán bộ thư viện đại học và các khoa đào tạo; Tăng cường công tác hướng dẫn:

cán bộ thư viện có thể học được gì từ nghiên cứu công tác đào tạo;

Sơ đồ tuổi của các cán bộ thư viện đại học; Các câu truyện nổi bật

2005 về cán bộ thư viện đại học; Viễn cảnh thư viện đại học 2012; Năng lực của các chuyên gia thông tin thế kỷ XXI; Xác định vai trò: cán bộ thư viện là một đối tác trong việc đào tạo kiến thức thông tin; Cán bộ thư viện số cần được đào tạo gì? Như vậy, việc nghiên cứu thực trạng thư viện đại học ở Việt Nam nói chung và ở Hà Nội nói riêng thông qua các tiêu chí đánh giá của kiểm định chất lượng giáo dục trường đại học ở Việt Nam chưa hề có một công trình nghiên cứu nào Đây là vấn đề cần nghiên cứu

Trong nước, việc nghiên cứu thực trạng hệ thống thư viện đại

học trên cơ sở đó đề xuất các tiêu chí để đáp ứng Tiêu chuẩn trong Quy định đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học của Bộ GD&ĐT chưa có một công trình khoa học nào Đề cập đến tiêu chuẩn cho thư viện đại học là vấn đề còn rất mới ở Việt Nam Cho đến nay mới chỉ có một số văn bản pháp quy đề cập đến các quy định cho thư viện đại học ở Việt Nam như: ngày 14/07/1986, Bộ trưởng Bộ Đại học và Trung học chuyên nghiệp nay là Bộ Giáo

dục & Đào tạo đã ban hành “Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học (ban hành kèm theo Quyết định số 688/ĐH).

Tiếp đến, ngày 10 tháng 03 năm 2008, Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể

thao và Du lịch đã ký và ban hành “Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học” ban hành theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL.Ngày 4/5/2007, Bộ trưởng Bộ Văn hóa và Thông tin, nay là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã phê duyệt

“Quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020” trong đó có đề cập đến phát triển Hệ thống thư viện các trường đại học theo hướng hiện đại phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học Việt Nam Gần đây, trong hoạt động Kiểm định chất lượng giáo dục đại học, thư viện đã trở

Trang 16

thành một trong những tiêu chí đánh giá chất lượng của nhà trường Tiêu chuẩn thư viện đại học cần đạt được khi đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học đã được cụ thể hóa đầu tiên vào năm 2004 đó là “Quy định tạm thời về kiểm định chất lượng trường đại học” ban hành kèm theo quyết định số 38/2004/QĐ-BGD&ĐT ngày 2/12/2004 Tiếp đến năm 2007, Bộ trưởng Bộ Giáo

dục và Đào tạo đã ký Quyết định số 65/2007/QĐ ban hành “Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học” Trong quy định đã đề cập rất rõ các mức đánh giá khác nhau về đội ngũ cán bộ của thư viện và về các mặt tổ chức quản lý hoạt động của thư viện như: Cơ cấu tổ chức hoạt động; Công tác phát triển vốn tài liệu; Chuẩn hóa trong hoạt động nghiệp vụ; Công tác ứng dụng công nghệ thông tin; Phát triển hạ tầng công nghệ và trang thiết vị; Các sản phẩm và dịch vụ; Công tác đối ngoại và hợp tác quốc tế

Để có cơ sở khoa học nhìn nhận, đánh giá về thực trạng thư viện đại học của mình và định hướng phát triển, thông qua việc

đối chiếu so sánh với các tiêu chuẩn trong “Quy định tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học”do Bộ GD&ĐT ban hành năm 2007, một số lãnh đạo của các thư viện đại học đã tiến hành nghiên cứu và công bố tại các hội thảo khoa học như bài “Vai trò của thư viện đại học trong kiểm định chất lượng trường đại học” của ths Nguyễn Văn Hành công bố tại hội thảo “Xây dựng thư viện hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” do Vụ Thư viện, Bộ VH, TT

& DL tổ chức tại Đà Nẵng tháng 10/2008 Bài “Trung tâm thông thư viện Đại học Quốc gia Hà nội phát triển đáp ứng yêu cầu kiểm định chất lượng đào tạo” của tác giả Vũ Thị Kim Anh đăng trong kỷ yếu

tin-Hội thảo “Đổi mới tổ chức quản lý và tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động thông tin-thư viện” tổ chức tại Hà Nội tháng 12/2010 Bên cạnh hai bài tham luận trên còn một sô các công trình nghiên cứu khác liên quan đến hầu hết các vấn đề/nội dung của thư viện đại học đã được đề cập trong Quy định tiêu

Trang 17

chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường đại học” Nghiên cứu

về chất lượng đội ngũ cán bộ thông tin thư viện đại học đã có nhiều công trình ở các cấp khác nhau của PGS.TS Trần Thị Quý:

«Nguồn nhân lực thông tin, thư viện trong các trường đại học trên địa bàn Hà Nội, thực trạng và giải pháp»; “Nâng cao chất lượng đào tạo ngành thông tin-thư viện của trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn đáp ứng nhu cầu xã hội”; “Đào tạo nguồn nhân lực thông tin-thư viện ở Việt Nam-50 năm nhìn lại”; “Nâng cao chất lượng đào tạo cử nhân ngành thông tin-thư viện, nhu cầu cấp bách trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”;”Phát triển nguồn nhân lực thông tin-thư viện của các trường đại học ở

Hà Nội, đáp ứng yêu cầu đổi mới đất nước”, “Những yếu tố đảm bảo chất lượng đào tạo cử nhân ngành thông tin-thư viên” Đề cập đến tổ chức quan lý, ứng dụng công nghệ thông tin và phát triển nguồn tài nguyên thông tin của thư viện đại học đã có nhiều bài báo được công bố Tiêu biểu là chùm bài của TS.Nguyễn Huy Chương như “Từ thực trạng đổi mới mô hình thư viện đại học

Mỹ, suy nghĩ về xu hướng đổi mới tổ chức, quản lý thư viện đại học Việt Nam”, “Đề xuất giải pháp thúc đẩy hoạt động Thư viện Đại học Việt Nam”, “Tổ chức tài nguyên số phục vụ đổi mới giảng dạy học tập trong Trường đại học”, “Xây dựng thư viện điện tử và phát triển nguồn tài nguyên số trong hệ thống thư viện đại học Việt Nam”, “Nghiên cứu, khảo sát các sản phẩm, dịch vụ thông tin

và nguồn học liệu trực truyến tại một số đại học lớn ở nước ngoài” Ngoài ra còn các bài như “Đổi mới mô hình tổ chức, quản lý của Trung tâm Thông tin-Thư viện Học viện Công nghệ Bưu chính Viễn thông” của Ths.Nguyễn Văn Hành; Bài “Vai trò của thư viện đại học trong việc đổ mới chương trình giáo dục và phương pháp giảng dạy, học tập ở đại học” của ông Lê Ngọc Oánh; Bài “Vài nét về cơ chế đầu tư cho các Thư viện Đại học Việt Nam hiện nay” của ThS Phạm Thị Tâm; Bài “Chính sách đầu tư phát triển hoạt động TT-TV của Học viện Ngân hàng phục vụ đào

Trang 18

tạo nguồn nhân lực cho ngành Ngân hàng và Kinh tế Quốc dân” của Bùi Sỹ Hùng Bài “Chính sách đầu tư phát triển Trung tâm học liệu phục vụ công tác đào tạo, nghiên cứu khoa học của Đại học Thái Nguyên và khu vực miền núi phái Bắc” của PGS TS Nguyễn Duy Hoan; Bài “Đầu tư hiện đại hoá thư viện- nhìn từ góc độ trường Đại học Cần Thơ với việc đổi mới phương pháp dạy và học trong nhà trường” của ThS Nguyễn Huỳnh Mai, ThS Ngô Hùỳnh Hồng Nga; Bài “Hiện đại hoá hoạt động TTTV phục vụ nhiệm vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học tại Học viện Kỹ thuật quân sự” của Đinh Minh Chiến; Bài “Nguồn tin điện tử phục vụ cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập tại các trường Đại học và Cao đẳng Việt Nam” của Th.S Nguyễn Thị Đào; Bài “Giải pháp nguồn nhân lực cho thư viện điện tử tại các trường Đại học ở Việt Nam, nhìn từ góc độ đào tạo” của ThS Đào Thị Uyên Bài “Thư viện Đại học Khoa học Tự nhiên- Đại học Quốc gia TP HCM với việc Xây dựng hệ thống TT-TV điện tử” của Dương Thuý Hương Bài

“Nâng cao chất lượng các dịch vụ TT-TV nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của cán bộ giảng viên và sinh viên Đại học Huế” của PGS TS Huỳnh Đình Chiến, ThS Huỳnh Thị Xuân Phương; Bài “Dịch vụ cung cấp thông tin tại Thư viện trường Đại học Sư phạm Thành Phố Hồ Chí Minh” của Phạm Thu Hoa; Bài “Tập trung xây dựng Thư viện hướng hoạt động vào người đọc” của Tạ

Bá Thắng; Bài “Thư viện Quốc gia Việt Nam phục vụ bạn đọc là sinh viên các trường đại học” của TS Lê Văn Viết; Bài ‘Công tác phục vụ bạn đọc của Thư viện trường Đại học Mở TP Hồ Chí Minh” của Th.S Âu Thị Cẩm Linh Bài “Thư viện, trường Đại học Bách Khoa Hà Nội với việc phục vụ công tác giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học trong môi trường Thư viện hiện đại” của ThS Tạ Minh Hà Bài “Giải pháp xây dựng nguồn học liệu điện tử hướng tới xây dựng Thư viện số tại các trường Đại học” của PGS.TS Hoang Đức Liên, TVV Nguyễn Hữu Ty; Bài “Hợp tác Thư viện- Một giải pháp tăng cường nguồn lực thông tin phục vụ đào

Trang 19

tạo và nghiên cứu khoa học tại Đại học Quốc gia Thành Phố Hồ Chí Minh” của Hoàng Thị Thục; Bài “Vấn đề chuẩn hoá ngành TT-

TV Việt Nam” của Ths.Nguyễn Minh Hiệp; Bài “Quản lý mô hình thư viện hiện đại tại trường Đại học Cần Thơ phục vụ mục tiêu đào tạo Khoa học Công nghệ” của Hùynh Thị Thu Trang; Bài

“Chặng đường phát triển của Thư viện Học viện âm nhạc Quốc gia Việt Nam” của Bùi Thị Hoà; Bài “Tình hình thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực thư viện tại Thư viện trường Đại học Luật Hà Nội và các khu vực phía Bắc” của ThS Đàm Viết Lâm; Bài “Tình hình hoạt động và định hướng phát triển của thư viện trường Đại học Mỹ thuật Thành Phố Hồ Chí Minh” của Hồ Sỹ Minh Tuấn Bài “Một số giải pháp quản lý vốn tài liệu Thư viện phục vụ sinh viên tự học ở trường Đại học Hồng Đức trong giai đoạn hịên nay” của Bùi Ngọc Nhơn Bài “Mô hình hoạt động Trung tâm Học liệu Đại học Cần Thơ” của CN Nguyễn Thị Tuyết Trinh Về vấn đề đầu tư cho hệ thống thư viện đại học Việt Nam, Vụ Thư viện Bộ Văn hóa,Thể thao & Du lịch cũng có bài

“Đầu tư xây dựng thư viện hiện đại đáp ứng yêu cầu cải tiến phương pháp giảng dạy, học tập, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học ở nước ta” công bố tại Hội thảo khoa học “Xây dựng thư viện hiện đại, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay” tổ chức tại Đà Nẵng năm 2010; Bài “Hướng đến một mô hình thư viện đại học hiện đại phục vụ chiến lược nâng cao chất lượng giáo dục đại học” của Vụ Giáo dục Đại học, Bộ GD&ĐT

Như vậy, hầu như các công trình nghiên cứu mới chỉ là các bài báo được công bố tại các hội thảo và tạp chí khoa học chuyên ngành Chưa có công trình lớn nào điều tra thực tế diện rộng cho

hệ thống thư viện đại học Đặc biệt, việc nghiên cứu cơ sở lý luận

và thực tiễn để xây dựng các tiêu chí đáp ứng các tiêu chuẩn đã được đặt ra trong các văn bản pháp quy về công tác TT-TV của Việt Nam nói chung và trong các quy định trong kiểm lượng chất

Trang 20

lượng đào tạo đại học ở Việt Nam hiện nay nói riêng

Tác giả hy vọng rằng, trong thời gian tới, chắc chắn ngôi nhà TT-TV chung của chúng ta sẽ có nhiều công trinh có tầm quy mô lớn về vấn đề xây dựng tiêu chí, tiêu chuẩn để đánh giá chất lượng

cơ quan TT-TV đại học cả về lý luận và thực tiễn Chí có như vậy, mới góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận của ngành thông tin - thư viện nói chung và hệ thống thư viện đại học nói riêng Cụ thể góp phần hoàn thiện các văn bản pháp quy liên quan đến tiêu chuẩn đo lường, đánh giá hoạt động và tác động của các cơ quan thông tin, thư viện đại học ở Việt Nam trong môi trường biến đổi nghề nghiệp dưới tác động mạnh mẽ của công nghệ thông tin và viễn thông Khẳng định tầm quan trọng của hệ thống thư viện đại học trong sự nghiệp đổi mới căn bản & giáo dục đại học Việt Nam Góp phần nghiên cứu xây dựng Bộ tiêu chuẩn cho thư viện đại học trong tổ chức và hoạt động cũng như tài liệu hướng dẫn phương pháp đánh giá và sử dụng các tiêu chuẩn đó Trong đó đặc biệt xây dựng tiêu chuẩn cho chuyên gia thông tin, thư viện đại học trong môi trường thư viện số phục vụ đào tạo và nghiên cứu khoa học của cán bộ, giảng viên và sinh viên của các trường đại học Cũng như hoàn thiện những văn bản có tính pháp quy liên quan đến phát triển nguồn nhân lực nói riêng và tổ chức quản

lý hoạt động thông tin thư viện đại học nói chung ở Việt Nam

Về thực tiễn, nếu các đề tài theo hướng này được đưa vảo chiến lược nghiên cứu khoa học của ngành TT-TV, chắc chắn chúng

ta có cơ sở khoa học, khách quan để cán bộ quản lý từ Trung ương đến địa phương các cấp, các cơ sở đào tạo, cán bộ quản lý các trung tâm thông tin, thư viện cũng như bản thân mỗi cán bộ thông tin – thư viện thấy rõ thực trạng nguồn nhân lực và khả năng đáp ứng nhu cầu của thực tiễn nghề nghiệp của họ để nghiên cứu đưa ra các quyết định đúng đắn trong việc hoàn thiện các văn bản pháp quy

và định hướng chỉ đạo để phát triển nguồn nhân lực TT-TV; Xác định nội dung, xây dựng chương trình đào tạo cán bộ thông tin, thư

Trang 21

viện cho thế kỷ XXI; Xây dựng chính sách, công cụ đánh giá cán bộ thông tin, thư viện đại học, cải thiện môi trường làm việc, điều kiện sống cho họ nhằm phát huy được những ích lợi từ những thay đổi nhanh chóng của CNTT Nhận dạng và đánh giá thực trạng công tác tổ chức, năng lực hoạt động và tác động của hệ thống thư viện đại học ở Việt Nam trong môi trường số hóa và đổi mới giáo dục đại học thông qua các tiêu chuẩn của Kiểm định chất lượng giáo dục đại học Việt Nam Cuối cùng là góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan thông tin, thư viện đại học, nâng cao chất lượng đào tạo cho các trường đại học, đảm bảo đầu ra của hệ thống các trường đại học này là nguồn nhân lực có chất cao, đáp ứng nhu cầu xã hội, phục vụ sự nghiệp đổi mới giáo dục đại học của đất nước trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa

Tài liệu tham khảo

1 Quy định về tổ chức và hoạt động của thư viện trường đại học (ban hành kèm theo Quyết định số 688/ĐH ngày 14/07/1986 của Bộ trưởng Bộ đại học và trung học chuyên nghiệp)

2 Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 4/5/2007, phê duyệt quy hoạch phát triển ngành thư viện Việt Nam đến 2010 và định hướng đến năm 2020

3 Quy chế mẫu về tổ chức và hoạt động thư viện trường đại học ban hành theo Quyết định số 13/2008/QĐ-BVHTTDL do Bộ trưởng Bộ Văn hoá, Thể thao và Du lịch đã ký ngày 10 tháng 03 năm 2008

4 Trần Thị Quý Kết quả điều tra nguồn nhân lực trong các cơ quan thông tin thư viện trên địa bàn Hà Nội, thực trạng và giải pháp/Đề tài đặc biệt cấp ĐHQG/ chủ trì đề tài: Trần Thị Quý.- H.: ĐHKHXH

& NV, 2008.- 50 tr

5 Nguyễn Huy Chương Xu hướng phát triển thư viện đại học trên thế giới

và quá trình đổi mới hoạt động tại Trung tâm thông tin thư viện Đại học Quốc gia Hà Nội//Kỷ yếu Hội thảo khoa học và thực tiễn hoạt động thông tin – thư viện, năm 2007.-tr.2-10

6 Lê Thanh Tình Yêu cầu đặt ra đối với công tác đào tạo cán bộ thư viện

Trang 22

– thông tin ở Việt Nam và công tac đào tạo khoa học thư viện-thông tin tại trường Đại học Văn hóa Hà Nội//Kỷ yếu hội thảo thực trạng và giải pháp nâng cao chất lượng đào tạo của trường Đại học Văn hóa Hà Nội tháng 3 năm 2000.-tr.247-252

7 Nguyễn Văn Hành Kiểm định chất lượng đào tạo đại học- thời cơ

và thách thức đối với các thư viện đại học Việt Nam//Kỷ yếu Hội nghị khoa học ngành Thông tin-Thư viện trong xã hội thông tin, 2006.- tr 251-257

8 Nguyễn Văn Hành Vai trò của thư viện đại học trong kiểm định chất lượng trường đại học// Kỷ yếu hội nghị thư viện các trường Đại học, Cao đẳng lần thứ nhất, ngày 09 tháng 10 năm 2008, tại Đà Nẵng

9 Quy hoạch phát triển ngành Thư viện Việt Nam tới năm 2010 và định hướng phát triển tới năm 2020// Quyết định số 10/2007/QĐ-BVHTT ngày 4/5/2007 do Bộ trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin ký

10 Trần Thị Minh Nguyệt Nâng cao năng lực đội ngũ giảng viên sau đại học//Kỷ yếu Hội thảo đào tạo sau đại học trong bối cảnh hội nhập quốc

tế, tại Đại học Văn hóa Hà Nội , tháng 3 năm 2009, tr 86-91

11 Trần, Thị Quý Phát triển nguồn nhân lực thông tin thư viện của các trường đại học ở Hà Nội, đáp ứng nhu cầu đổi mới đất nước// Kỷ yếu hội nghị thư viện các trường đại học, cao đẳng lần thứ nhất, ngày 09 tháng 10 năm 2008, tại Đà Nẵng

12 Trần Thị Quý Đào tạo nguồn nhân lực ngành thông tin – thư viện ở Việt Nam-50 năm nhìn lại//Tạp chí Thư viện Việt Nam số 3/2006

13 Trần Thị Quý Đào tạo nguồn nhân lực ngành thông tin – thư viện ở Việt Nam - Thực trạng và giải pháp//Báo cáo tại Hội thảo khoa học tại Đại học Mahasarakham ở Thái lan tháng 2/2003

Trang 23

ĐÀO TẠO NGUỒN NHÂN LỰC THƯ VIỆN SỐ CHO

CÁC THƯ VIỆN ĐẠI HỌC VIỆT NAM

PGS.TS Trần Thị Quý∗ ∗∗ ∗, ThS Đỗ Văn Hùng∗∗ ∗∗ ∗ ∗∗ ∗

1 Yêu cầu đối với nguồn nhân lực thư viện số trên thế giới

1.1 Khái niệm cán bộ thư viện số

Sự phát triển của thư viện số đã tạo ra nhu cầu về sử dụng nguồn nhân lực có kiến thức và kỹ năng làm việc trong môi trường số Môi trường làm việc trong các thư viện đã có sự thay đổi lớn bởi CNTT và viễn thông Làm việc trong môi trường mạng với nguồn dữ liệu số và công cụ làm việc là máy tính đã trở thành phổ biến - đó cũng là môi trường làm việc của cán bộ thư viện trong thế kỷ 21 Xu thế này chính là yếu tố quan trọng dẫn đến sự hay đổi về vai trò của cán bộ thư viện cũng như yêu cầu những kiến thức và kỹ năng mới để làm việc trong môi trường số [1,3,7] Khái niệm về cán bộ thư viện số - digital librarians và vai trò của họ đã được thảo luận trong hai thập niên gần đây Một câu hỏi đặt ra là “Ngành thông thông tin thư viện có cần đến cán bộ thư viện số hay không?” Có thế thấy, từ những năm 1990, thuật ngữ cán bộ thư viện số đã xuất hiện ngày càng nhiều trong các thông báo tuyển dụng Các nghiên cứu của Yuan từ năm 1996 hay nghiên cứu gần đây của Choi and Rasmussen năm 2009 chỉ ra rằng

có nhu cầu ngày càng tăng đối với các công việc liên quan đến thư

∗ Giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

∗∗ Giảng viên Khoa Thông tin – Thư viện Trường ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN

Trang 24

viện số [2], [14] Vậy cán bộ thư viện số là ai? Vai trò của họ như thế nào? Những yêu cầu về kiến thức và kỹ năng đối với cán bộ thư viện số là gì? Cũng như thuật ngữ về thư viện số, định nghĩa thế nào là cán bộ thư viện số cũng đang còn là một tranh cãi, kéo theo đó là các yêu cầu về mặt kiến thức và kỹ năng của cán bộ thư viện số cũng chưa có một sự đồng thuận nhất định

Hastings và Tennant cho rằng trong môi trường số, các bộ thư viện số là người lựa chọn, bổ sung, tổ chức, tạo ra khả năng truy trập và lưu trữ bộ sưu tập số Vài trò của họ là lên kế hoạch, triển khai và hỗ trợ các dịch vụ số [4] Sreenivasulu khẳng định, nhiệm

vụ quan trọng của cán bộ thư viện số là quản trị thư viện số và thực hiện các nhiệm vụ quan trọng đó là quản trị thông tin và tri thức, dịch vụ thư viện số, truy cập nguồn thông tin, và khai thác tri thức từ các nguồn dữ liệu khác nhau [13] Tammaro định nghĩa cán bộ thư viện số là người có năng lực và sự hiểu biết về công nghệ và khoa học thư viện Họ là cầu nối giữa nguồn dữ liệu số đối với người dùng Là một người đại diện của sự sáng tạo, của sự hiểu biết về thông tin và là đại diện của một nhóm người dùng tin

Kỹ năng giao tiếp vẫn là kỹ năng rất quan trọng, thậm chí là càng quan trọng hơn, đối cán bộ thư viện khi làm việc trong môi trường

số [9,10] Bên cạnh đó, khả năng sư phạm cũng cần có trong môi trường số Lin định nghĩa cán bộ thư viện số là những chuyên gia

có những kỹ năng và kinh nghiệm để triển khai thư viện số, họ biết chấp nhận những rủi ro và là người độc lập và linh hoạt Họ

có sự hiểu biết về những tiềm năng cũng như những hạn chế cũng như rủi ro của CNTT và truyền thông mang lại cho thư viện số Đặc biệt là họ phải nhận thức rõ ràng con người là nhân tố tối quan trọng trong phát triển thư viện số [6]

1.2 Vài trò của cán bộ thư viện số

Từ khái niệm ở trên, vai trò của cán bộ thư viện số có thể xác định như sau:

Trang 25

• Người quản trị thư viện số: có vai trò như phát triển, quản

lý và duy trì thư viện số Họ đảm bảo sự hoạt động thông suốt của thư viện;

• Người quản trị tri thức/thông tin: có vai trò thu thập, xử lý,

tổ chức và đảm bảo cho các nguồn thông tin này được lưu trữ và truy cập một cách thuận tiện nhất;

• Giáo viên: có vai trò đào tạo người dùng trong việc tìm kiếm và sử dụng thông tin một cách hiệu quả và đúng luật;

• Chuyên gia hỗ trợ: có chức năng như cầu nối giữa nguồn thông tin và người dùng, hỗ trợ và tư vấn người dùng trong việc giải quyết các nhu cầu thông tin của người dùng tin; và

• Chuyên gia giải mã tri thức: có khả năng hiểu được kiến thức được tạo lập như thế nào Kiến thức đó có thể là từ trong phòng thí nghiệm, từ sự quan sát thực nghiệm, là sự tổng hợp tài liệu, hay chỉ là những ý kiến chủ quan Kiến thức đó đã được chắt lọc, đánh giá và kiểm định trước khi xuất bản chưa [8]

Vài trò của cán bộ thư viện số được Sreenivasulu mô tả trong

sơ đồ truy cập và khai thác thông tin trong sơ đồ 3 [13] Trong đó, cán bộ thư viện số đóng vai trò trung gian là người tiếp nhận và

xử lý các yêu cầu người dùng, phân tích các yêu cầu đó và thực hiện việc chuyển giao tri thức Sử dụng thiết bị di động để khai thác và truy cập nguồn thông tin số bằng các công cụ của thư viện

số sẽ là tương lai của ngành thông tin thư viện Do vậy, có các kiến thức và kỹ năng liên quan đến CNTT, ứng dụng di động và khai thác trực tuyến là yêu cầu quan trọng đối với cán bộ làm việc trong môi trường số

Như vậy có thể thấy cán bộ thư viện số phải là người: quản trị thư viện số, quản trị thông tin và tri thức, phổ biến thông tin số, cung cấp các dịch vụ số và dịch vụ điện tử, cung cấp tri thức từ các nguồn tri thức khác nhau, số hóa tài liệu, bảo quản và lưu trữ dữ

Trang 26

liệu số, cung cấp khả năng truy cập và khai thác nguồn tài liệu số đến người dùng, và họ phải biết cách biên mục và phân loại tài liệu số hay tri thức số Bên cạnh đó, tạo lập tri thức số và tư duy sáng tạo là hai yếu tố quan trọng của người làm trong môi trường

số Choi and Rasmussen xác định rõ hơn về năng lực của một người làm trong môi trường số Họ cho rằng cán bộ thư viện phải

có sự hiểu biết mới nhất về công nghệ cũng như có những kỹ năng công nghệ phù hợp cho công việc và cần có những kinh nghiệm làm việc trong môi trường số Họ cần có các kiến thức và kỹ năng

để tạo lập và quản trị thông tin số Bên cạnh đó kiến thức về siêu

dữ liệu là một trong những kiến thức quan trọng [2]

1.3 Các kiến thức và kỹ năng cần có của cán bộ thư viện số

Từ phân tích vai trò của cán bộ của thư viện số ở trên, chúng

ta có thể tóm tắt các kiến thức và kỹ năng mà một cán bộ thư viện

số cần có trong ba nhóm lĩnh vực tri thức: khoa học thông tin - thư viện, công nghệ thông tin và nhóm kỹ năng phụ trợ

• Các kiến thức và kỹ năng liên quan đến thông tin thư viện bao gồm: nhu cầu tin; đào tạo và phục vụ người dùng tin; lưu trữ và bảo quản dữ liệu số; biên mục, xử lý thông tin, siêu dữ liệu và đánh chỉ mục; bổ sung tài liệu; và dịch vụ thông tin tham khảo trực tuyến

• Các kiến thức và kỹ năng về công nghệ thông tin bao gồm: các kỹ năng cá nhân về CNTT; kiến thức và sự hiểu biết về

hệ thống CNTT và các ứng dụng; kiến thức về web như phát triển web, ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản, công nghệ web 2.0; các tiêu chuẩn về công nghệ và quản lý chất lượng; khai thác và quản trị dữ liệu; và lập trình

• Các kiến thức bổ trợ khác bao gồm: sự hiểu biết thông tin,

kỹ năng nghiên cứu, kỹ năng giao tiếp, các kiến thức liên quan đến pháp lý, bản quyền và sở hữu trí tuệ, và kỹ năng quản trị

Trang 27

Việc xác định nhóm kiến thức và kỹ năng là yếu tố quan trọng không những đối với cán bộ làm trong lĩnh vực thư viện để họ định hướng và nâng cao trình độ chuyên môn của mình, mà còn giúp các thư viện phát triển và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực của mình

Đó cũng là cơ sở để các cơ sở đào tạo ngành thông tin thư viện điều chỉnh chương trình đào tạo phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra

3 Thực trạng nguồn nhân lực thư viện đại học

3.1 Vai trò của nhân lực trong việc nâng cao chất lượng hoạt động thư viện

Tại Việt Nam, có thể nói hai thập kỷ qua là ngành Thông tin – Thư viện (TTTV) đã có một sự chuyển biến lớn trong việc áp dụng công nghệ thông tin vào hoạt động chuyên môn Các hệ thống thư viện trong cả nước như hệ thống thư viện đại học, công cộng, trung tâm thông tin và hệ thống thư viện quân đội đã hoành thành quá trình từ hoạt động truyền thống sang hiện đại với việc ứng dụng các phẩn mềm quản trị và xây dựng CSDL thư mục và toàn văn Hệ thống thư viện trong cả nước đã nhận được một khoản đầu tư khá lớn từ chính phủ Việt nam, Ngân hàng thế giới, Quỹ đông tây cũng các cá nhân và tổ chức trong vào ngoài nước Với đầu tư như vậy, người dùng tin kỳ vọng sẽ được sử dụng những dịch vụ hiện đại và hiệu quả từ thư viện Tuy nhiên số liệu khảo sát (biểu đồ 1) cho thấy rằng chỉ có 19% người dùng đánh giá các sản phẩm và dịch vụ của các thư viện là tốt hoặc rất tốt, trong khi đó 81% người dùng tin đánh giá các sản phẩm và dịch vụ thông tin của các thư viện chỉ ở mức khá trở xuống Đây là một con số đáng suy nghĩ và cần phải được nhìn nhận một cách đúng đắn Khi hệ thống đã được đầu tư khá nhiều, và có sự chuyển biến tích cực về cơ sở hạ tầng tuy nhiên sản phẩm và dịch vụ của các thư viện đang bị đánh giá thấp Điều này thúc đẩy các thư viện cần phải tìm ra nguyên nhân của vấn đề để cải thiện chất lượng hoạt động của mình

Trang 28

40

27

4

Rất tốtTốtKhá

Biểu đồ 1. Người dùng tin đánh giá sản phẩm và dịch vụ thông tin

trong thư viện

Dữ liệu phỏng vấn lãnh đạo các thư viện và các chuyên gia chỉ ra rằng nhân tố con người, cụ thể là cán bộ thư viện, đóng vai trò quyết định đến chất lượng hoạt động của thư viện, đặc biệt là trong môi trường tự động hóa và môi trường số Các chuyên gia cho rằng ngoài yếu tố cơ sở vất chất hiện đại, nguồn dữ liệu phong phú thì một trong những yêu tố quan trọng để thúc đẩy chất lượng của sản phẩm, dịch vụ cũng như tính hiệu quả trong hoạt động của thư viện là nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ thư viện Cán bộ thư viện sẽ là người biến các tiềm lực nội sinh (cơ sở vật chất, dữ liệu) trở thành những sản phẩn và dịch vụ chất lượng, đáp ứng được nhu cầu thông tin của bạn đọc

3.2 Chất lượng nguồn nhân lực

Qua khảo sát chúng tôi nhận thấy rằng, các thư viện đại học đang có một nguồn lực lao động trẻ với 78% nhân lực lao động dưới độ tuổi 45 Lợi thế của nguồn nhân lực này là sẵn sang tiếp thu sự đổi mới, khả năng học hỏi tốt, và năng động Tuy nhiên nguồn nhân lực này đang bị đánh giá là có kỹ năng nghề nghiệp không tốt, đặt biệt là các kỹ năng liên quan đến công nghệ, ngoại ngữ và internet Có tới 49% nguồn nhân lực đang bị đánh giá ở mức khá và trung bình Điều nay đang hạn chế rất lớn đến chất

Trang 29

lượng hoạt động của các cơ quan thông tin thư viện Muốn nâng cao chất lượng dịch vụ, cần phải có một đội ngũ nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nguồn nhân lực có kiên thức và kỹ năng làm việc trong môi trường số và internet - đó chính là nhận định của nhiều nhà quản lý trong ngành thông tin - thư viện

Biểu đồ 2. Độ tuổi và chất lượng nguồn nhân lực ngành TTTV

Đi vào cụ thể từng mức đánh giá nguồn nhân lực có thể thấy rằng cán bộ thư viện đại học được đánh giá tốt ở các kỹ năng nghiệp vụ truyền thống, nhưng bị đánh giá thấp ở các kỹ năng nghiệp vụ hiện đại Điều này có thể lý giải là việc hoạt động trong

Trang 30

một thời gian dài trong môi trường truyền thống dẫn đến các cán

bộ thư viện tích lũy được một hệ thống các kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ truyền thông tương đối tốt Trong khi đó, do mới tiếp cận với ứng dụng công nghệ thông tin, việc nâng cao trình độ và

kỹ năng liên quan đến máy tính, phầm mềm thư viện và internet cần có một thời gian để tích lũy Tuy nhiên điều này cũng chỉ đúng trong vòng khoảng 5 năm sau khi ứng dụng công nghệ thông tin Yêu cầu sau thời gian thử nghiệm, các cán bộ thư viện cần phải nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ liên quan đến CNTT Điều này 1/3 cán bộ thư viện chưa làm được

Thư viện đại học đã được trang bị hệ thống các phần mềm hiện đại, do vậy yêu cầu tối thiểu là cán bộ thư viện phải nắm được các phầm mềm này Kết quả khảo sát chỉ ra rằng có 68% cán bộ sử dụng khá và tốt phần mềm Tuy nhiên vẫn còn có 32% cán bộ thư viện đang gặp khó khăn trong việc sử dụng phần mềm thư viện Xét trên khía cạnh tự động hóa, khi toàn bộ các khâu nghiệp vụ từ đầu vào đến đầu ra trong một cơ quan thư viện đều áp dụng công nghệ thông tin, thì yêu cầu tất yếu là tất cả cán bộ thư viện phải biết sử dụng tốt các phần mềm thư viện Tuy nhiên còn khoảng 1/3 cán bộ thư viện còn yếu kém trong việc sử dụng phần mềm thư viện là một thực trạng cần phải khắc phục của các thư viện đại học hiện nay

T bình

Biểu đồ 3 Kỹ năng sử dụng phần mềm của cán bộ thư viện

Trang 31

Một khía cạnh nữa đó là chất lượng các sản phẩm và dịch vụ tại các cơ quan TTV Có thể nhìn thấy rằng, thực tế các sản phẩm dịch vụ của các cơ quan TTTV đang bị đánh giá thấp với 31% bạn đọc đánh giá là dịch vụ chỉ đạt ở mức trung bình và kém, 40% cho

ở mức khá và chỉ 19% đánh giá ở mức tốt và rất tốt Có thể thấy một thư viện không được đánh giá dịch vụ tốt là một thư viện chưa làm tròn trách nhiệm của mình Để chuyển 80% dịch vụ còn chưa tốt thành tốt đó là một nhiệm vụ thực sự khó khăn Có nhiều giải pháp được đưa ra, trong đó có hướng tới đổi với hoạt động của thư viện theo hướng hiện đại với áp dụng công nghệ cao và thay đổi “thói quen” cũ của thư viện Để làm được việc này, vấn

đề đào tạo nâng cao nguồn nhân lực là giải pháp trực tiếp nhất Máy móc, công nghệ không thể thay thế được con người Do đó việc nâng cao các kiến thức và kỹ năng liên quan đến thư viện hiện đại, liên quan đế người dùng tin trong môi trường internet là nội dung chính của đào tạo cán bộ thư viện

3.3 Kiến thức và kỹ năng cần có đối với cán bộ thư viện

Đề xác định những kiến thức và kỹ năng mà cán bộ thư viện cần có trong giai đoạn hiện nay và trong tương lai, chúng tôi tiến hành điều tra nhu cầu đào tạo của cán bộ thư viện đang làm tại các

thư viện đại học Kết quả được thể hiện trong biểu đồ 4

Thành thạo ngoại ngữ, tin học Khả năng linh hoạt trong công việc

Sử dụng các công cụ tìm kiếm hiện đại

Tư vấn thông tin cho bạn đọc

Kỹ năng trình bày Những nội dung khác

Biểu đồ 4: Các kiến thức và kỹ năng mà cán bộ thư viện mong muốn

Trang 32

Có thể thấy rằng, một trong những nhóm kiến thức và kỹ năng được nhiều cán bộ thư viện đặc biệt quan tâm đó là tin học và ngoại ngữ Có tới 87% cán bộ được hỏi rất cần những kiến thức và kỹ năng này Điều này là hợp lý trong giai đoạn hiện nay, đó là giai đoạn của toàn cầu hóa và hội nhập, cũng như giai đoạn thúc đẩy mạnh mẽ việc

áp dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ Do vậy nhu cầu có kiến thức về công nghệ thông tin để quản lý và làm việc trong môi trường hiện đại là tất yếu Sử dụng thành thạo ngoại ngữ

để khai thác thông tin và phục vụ bạn đọc cũng là một nhu cầu tất yếu khi mà bạn đọc đã cần nhiều hơn những tài liệu bằng tiếng nước ngoài, đặc biệt là tài liệu bằng tiếng Anh

Ở mức độ quan tâm thứ hai là nhóm kiến thức liên quan đến chuyên môn nghiệp vụ như: khả năng tổng hợp và phân tích thông tin tài liệu; sử dụng các công cụ tìm kiếm hiện đại; tư vấn tông tin cho bạn đọc; và phục vụ bạn đọc chuyên nghiệp Các nhóm kiến thức này được trung bình 65% cán bộ thư viện được hỏi khẳng định cần

bổ sung và nâng cao Điều này thể hiện được tính đổi mới trong tư duy của cán bộ thư viện khi chú trọng đến những kiến thức có liên quan đến phục vụ bạn đọc, lấy bạn đọc làm trung tâm Đây cũng là

xu thế chung hiện nay khi khẳng định và nâng cao vị thế của nhóm các phòng có liên quan đến phục vụ “khách hàng” – bạn đọc Lâu nay các phòng xử lý nghiệp vụ trong viện mới được gọi là “tinh hoa” của thư viện Tuy nhiên tiếp cận theo hướng thư viện hiện đại ngày này, vài trò của nhóm phục vụ bạn đọc mới thực sự là quan trọng Cán bộ thư viện không đơn thuần là người giữ kho, giúp bạn đọc mượn/trả lài liệu nữa Mà họ phải thực sự là những chuyên gia thông tin có khả năng hướng dẫn khai thác, tư vấn sử dụng và cung cấp chọn lọc và thẩm định cho người dùng tin

Một nhóm kỹ năng được cán bộ thư viện hiện đại đang đặc biệt quan tâm đó là nhóm kỹ năng mềm Đó là khả năng giao tiếp,

kỹ năng trình bày, khả năng tự học/tự cập nhật kiến thức, hợp tác làm việc nhóm, và khả năng linh hoạt trong công việc Có thể thấy

Trang 33

rằng cán bộ thư viện ý thức rõ được tầm quan trọng của các kỹ năng mềm ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng và hiệu quả công việc của họ Phát triển kỹ năng mềm là nhu cầu không chỉ riêng của người làm công tác thông tin – thư viện, mà nó quan trọng với tất cả các ngành nghề khác

4 Một số đề xuất phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao

Một số nghiên cứu gần đây đã chỉ ra rằng ngành thông tin – thư viện đã có những bước phát triển nhanh và nguồn nhân lực đã được nâng cao [5,13,14] Tuy nhiên, để đáp ứng tốt nhu cầu phát triển, nguồn nhân lực này cần được đầu tư phát triển một cách có định hướng và chiến lược tổng thể Số liệu nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng vẫn còn những tồn tại đối với chất lượng nhân lực ngành thông tin thư viện Để đáp ứng với nhu cầu phát triển của các thư viện đại học trong tương lai, nhân lực này cần được nâng cao và phát triển Một số đề xuất chúng tôi đưa ra sau đây dựa trên những gợi ý của các chuyên gia và những nhà quản lý trong ngành TTTV

Thứ nhất: cần có sự hợp tác chặt chẽ giữa cơ sở đào tạo và các

cơ quan thư viện sử dụng nguồn nhân lực Có thể nói sự phối hợp giữa cơ sở đào tạo và cơ quan sử sụng nhân lực chưa thực sự tốt Vấn còn những đánh giá thiếu tích cực từ phía nhà tuyển dụng đó

là sản phẩm đào tạo chưa đáp ứng được yêu cầu công việc hoặc phải đào tạo thêm Để rút ngắn và tiến tới xóa bỏ khoảng cách này, cách duy nhất là hai bên (người cung cấp dịch vụ đào tạo và người

sử dụng dịch vụ) cùng ngồi lại với nhau, cùng xây dựng các nhóm kiến thức và kỹ năng cần thiết cho người làm công tác TTTV trong giai đoạn hiện nay Trong việc kết nối hai bên làm việc với nhau, vai trò của các hiệp hội nghề nghiệp là rất quan trọng Họ là cầu nối và chất xúc tác để các bên cùng làm việc và hướng tới một mục tiêu chung: nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng sự phát triển của ngành TTTV

Trang 34

Thứ hai: các đơn vị đào tạo cần mạnh dạn đổi mới chương trình đào tạo theo hướng hiện đại hóa Các chuyên gia cho rằng các đơn vị đào tạo đã có những bước tiến vượt bậc trong việc đổi mới và cập nhật chương trình đào tạo Tuy nhiên họ cũng cho rằng, các đơn vị đào tạo chưa có sự đột phá, phần lớn vẫn là có những điều chỉnh nhỏ, dần dần và mang tính thử nghiệp đối với nội dung đào tạo Có lẽ một hạn chế quan trọng khiến các đơn vị đào tạo ngành TTTV chưa tạo được đột phát trong đổi mới chương trình đào tạo đó là sự thiếu hụt giáo viên đảm nhiệm những môn học mới, đặc biệt những môn học liên quan đến công nghệ hiện đại Đo vậy nâng cao đội ngũ giảng viên và tích cực đổi mới nội dung đào tạo theo hướng hiện đại đang là nhiệm vụ trong tâm của các đơn vị đòa tạo trong thời kỳ mới, thời kỳ của intetnet

và thông tin số

Thứ ba: Các thư viện có cơ chế /chế tài khuyến khích nâng cao trình độ chuyên môn và tạo ra môi trường làm việc chuyên nghiệp Lãnh đạo các thư viện cho rằng sức ỳ của những người làm trong các thư viện là rất lớn Nguyên nhân có lẽ do công việc không hấp dẫn, thiếu tính cạnh tranh Dẫn đến cán bộ thư viện thiếu quan tâm đến việc tự cập nhật kiến thức chuyên môn, đặc biệt là các kiến thức về công nghệ mới Có hai lý do mà cán bộ thư viện đưa ra là những kiến thức này không sử dụng trong công việc thực tế mà họ đang đảm nhiệm, và nếu có học xong thì vị trí, công việc hay mức thu nhập của họ cũng không có sự thay đổi gì Thực trạng này dẫn đến các thư viện cần tạo ra một môi trường có tính cạnh tranh, và có những chính sách khuyến khích và hỗ trợ cán bộ thư viện tự học tập và cập nhật kiến thức mới

Thứ tư: Nâng cao vai trò quản lý của nhà nước đối với hoạt động đào tạo nguồn nhân lực ngành thông tin thư viện Các chuyên gia cho rằng Nhà nước cần có chính sách cho phép các đơn

vị đào tạo tự chủ hơn nữa trong việc cập nhật, đổi mới chương trình đào tạo Bên cạnh đó cơ quan quản lý nhà nước cần đóng vai

Trang 35

trò trung gian trong việc tạo lập ra môi trường cộng tác để các đơn

vị đào tạo ngành TTTV cùng làm việc với nhau để định hướng và phát triển các chuyên ngành đào tạo phù hợp với thực tiễn đặt ra, đáp ứng tốt nhu cầu của nguồn nhân lực

5 Kết luận

Thư viện số đang là xu thế tất yếu trong tiến trình phát triển của các thư viện đại học nhằm đáp ứng tốt nhu cầu đổi mới của giáo dục đại học Do đó nhu cầu về nguồn nhân lực chất lượng cao

có kiến thức và kỹ năng làm việc trong môi trường số đang nhu cầu thực tế và cấp thiết Đã có nhiều những nghiên cứu xây dựng những nhóm kiến thức và kỹ năng của cán bộ thư viện số Nhóm kiến thức này là cơ sở để các đơn vị đào tạo xây dựng những chương trình đào tạo phù hợp với xu thế phát triển của ngành Nguồn nhân lực thư viện đại học tuy đã có những đánh giá tốt, nhưng vẫn còn những tồn tại, trong đó phải kể đến chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, cán bộ thư viện còn hạn chế những kiến thức và

kỹ năng làm việc trong môi trường số Để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, cần có sự phối hợp chặt chẽ giữa cơ quan quản lý nhà nước, các cơ sở đào tạo, các cơ quan sử dụng nhân lực và hiện hội nghề nghiệp Sự hợp tác này sẽ góp phần định hướng sự phát triển của ngành, qua đó xây dựng những chiến lược để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 CENL (2010) What is the European library? The Conference of European

National Librarians Retrieved from http://www.theeuropeanlibrary.org/ portal/organisation/about_us/aboutus_en.html

2 Choi, Y., & Rasmussen, E (2009) What qualifications and skills are important for digital librarian positions in academic libraries? A job

advertisement analysis The Journal of Academic Librarianship, 35(5), 457-467

Trang 36

3 Dakshinamurti, G., & Braaksma, B (2005) Preparing academic librarians for changing role: A case of a Canadian information literacy

programme In P Genoni & G Walton (Eds.), Continuing Professional

Development - Preparing for New Roles in Libraries: A Voyage of Discovery

(pp 112-125) Munchen: K.G Saur

4 Hastings, K., & Tennant, R (1996) How to Build a Digital Librarian

D-lib Magazine Retrived from http://www.dlib.org/dlib/november96/ ucb/11hastings.html

5 Hoàng Thị Thu Hương (2011) Quá trình kiểm soát nhân lực thư viện – yếu tố quan trọng trong quản lý và phát triển thư viện hiện đại Truy cập tại http://vietnamlib.net/headlines/qua-trinh-kiem-soat-nhan-luc-thu-vien-yeu-to-quan-trong-trong-quan-ly-va-phat-trien-thu-vien-hien-dai

6 Liu, Y Q (2004) Is the education on digital libraries adequate? New

Library World, 105(1/2), 60 - 68

7 Muhammad, A., & Khalid, M (2010) The Changing Role of Librarians in the

Digital World: Adoption of Web 2.0 Technologies in Pakistani Libraries Paper presented at the World library and information congress: 76th IFLA general conference and assembly Retrieved from http://www.ifla.org/ files/hq/papers/ifla76/145-arif-en.pdf

8 Myburgh, S & Tammaro, A.M (2013) Exploring education for digital librarians:

Meaning, modes and models Cambridge: Woodhead Publishing Limited

9 Ratzek, W (2009) The European approach towards digital library education: dead and or recipe for success? In S F Yin-Lang Theng, Dion

Goh, Jin-Cheon Na (Ed.), Handbook of research on digital libraries: design,

development and impact (pp 514-519) NY.: Information science reference

10 Tammaro, A M (2007) A curriculum for digital librarians: a reflection on

the European debate New Library World, 108(5/6), 229-246

11 Thư viện quốc gia Việt Nam (2013) Hội thảo Chính sách đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực thư viện ở Việt Nam

12 Trần T.Q (2006) Đào tạo nguồn nhân lực ngành thông tin – thư viện

ở Việt Nam-50 năm nhìn lại Thư viện Việt Nam, Số 3, 2006

13 Sreenivasulu, V (2000) The role of a digital librarian in the management of

digital information systems (DIS) The Electronic Library, 18 (1), 12-20

14 Yuan, Z (1996) Analysis of trends in demand for computer-related

skills for academic librarians from 1974 to 1994 College & Research

Libraries, 57(3), 259-272

Trang 37

THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY HOẠT ĐỘNG THÔNG TIN - THƯ VIỆN

ĐẠI HỌC VIỆT NAM

Nguyễn Huy Chương∗ ∗∗ ∗, Trần Mạnh Tuấn∗∗ ∗∗ ∗ ∗∗ ∗

1 Đặt vấn đề

Hoạt động thông tin - thư viện đại học là một lĩnh vực hoạt động quan trọng, sử dụng một đội ngũ cán bộ có chuyên môn nghiệp vụ đặc thù, một hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật đặc biệt,

có những tác động to lớn và quyết định đến toàn bộ hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học và quản lý của trường đại học Ngay từ thập niên 30 của thế kỷ XX, vị giám đốc thứ 11 (từ 1930 đến 1958) của Viện đại học California, giáo sư Robert Gordon Sproul đã nói:

“Thư viện là trái tim của trường đại học… sự phát triển trí tuệ và sức sống của nhà trường, của toàn thể giáo sư và sinh viên tùy thuộc vào sức sống của thư viện”1

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8, BCHTW khóa XI “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng xã

∗ TS GVC Khoa Thông tin – Thư viện, ĐHKHXH&NV, ĐHQGHN Phó Chủ tịch Hội Thư viện Việt Nam, Chủ tịch Liên Chi hội Thư viện Đại học Khu vực Phía Bắc

∗∗ ThS NCVC, nguyên Trưởng phòng NCKH, Viện Thông tin KHXH

1 Nguyên văn; “The library is the heart of the university…The intellectual growth and vitality of every school and every division, of every professor and every student, depends on the vitality of the library” - câu viết được trưng bày trong phòng truyền thống của Đại học UC Berkely, CA, USA

Trang 38

hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” đang đặt ra trước các thư viện đại học, các trung tâm thông tin, trung tâm học liệu… (sau đây gọi chung

là thư viện đại học) những cơ hội và thách thức vô cùng to lớn, đòi hỏi công tác thư viện đại học phải thay đổi và cải tiến không ngừng Các thư viện đại học cần đảm nhiệm tốt vai trò là cầu nối giữa người dùng tin với các nguồn thông tin, giữa người dùng tin với nhau, đặc biệt là giữa người dạy và người học Xu thế phát triển

mô hình trường đại học nghiên cứu, mô hình học từ xa… cũng như phương pháp giảng dạy kích thích tính tích cực và chủ động của người học đã đòi hỏi và tạo điều kiện nâng cao vai trò và vị thế của các thư viện Việc sử dụng các dịch vụ thông tin hiện đại, nhất là các dịch vụ trao đổi, chia sẻ thông tin trên mạng đã góp phần làm cho tương tác người dạy - người học được tiến hành có hiệu quả hơn trên mọi phương diện

Hơn thế nữa, hoạt động thông tin, thư viện đại học còn mang nhiều ý nghĩa lớn lao:

• Thứ nhất, sự phát triển hoạt động thông tin – thư viện sẽ tạo

cơ hội bình đẳng trong việc khai thác, sử dụng các nguồn thông tin đối với đông đảo người dùng tin trong xã hội

• Thứ hai, sự phát triển hoạt động thông tin – thư viện theo hướng hiện đại hoá, ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông là sự chuẩn bị cần thiết để các sinh viên có các

kỹ năng và hành vi thích hợp với trào lưu phát triển hiện nay trên thế giới, do đó giúp họ nhanh chóng hoà nhập được với các phương thức đào tạo và nghiên cứu của các đại học tiên tiến trên thế giới

• Thứ ba, sự phát triển hoạt động thông tin – thư viện trong trường đại học sẽ là môi trường thực tiễn để sinh viên – người lao động chủ yếu trong nền kinh tế dựa trên thông tin và tri thức – hình thành thói quen khai thác, sử dụng thông tin trong quá trình lao động, trong cuộc sống của mình sau này Đây là một đóng góp vô cùng quan trọng

Trang 39

vào giải quyết tốt vấn đề mấu chốt – chất lượng sản phẩm đầu ra - của quá trình đổi mới giáo dục

Khi nói về xu thế phát triển thư viện trong thời gian gần đây,

người ta thường nhấn mạnh đến xu thế chuyển dịch từ thư viện truyền thống sang thư viện điện tử/thư viện hiện đại. Nếu xét tới mục

đích của sự chuyển đổi đó, thì bản thân nội hàm thư viện điện tử/ thư viện số/ thư viện ảo chỉ diễn tả phương thức vận hành (từ góc độ nội tại) của một thư viện mà trong đó các ứng dụng của IT là căn bản và chủ yếu nhất Xét cho cùng, đó không phải là mục tiêu có tính bản chất của thư viện, bởi những tiến bộ của khoa học, công nghệ là một quá trình liên tục, không ngừng Cho nên sự chuyển dịch về phương thức hoạt động của các thư viện đại học ở đây chính là, từ

chỗ chỉ cung cấp các dịch vụ một cách thụ động trước nhu cầu người dùng tin chuyển sang việc bảo đảm thông tin một cách chủ động đến người dùng Đây cũng là một trong hai xu hướng chủ đạo

của hoạt động thông tin - thư viện trong thế kỷ XXI

2 Sơ bộ đánh giá hiệu quả hoạt động thư viện đại học Việt Nam

2.1 Các kết quả đạt được

Từ góc độ chuyên gia thông tin thư viện, có thể nhận xét như sau:

- Về tổ chức: Hiện tại, hầu hết các trường đại học ở Việt Nam đều đã có các Thư viện hoặc Trung tâm Thông tin- Thư viện hoặc Trung tâm học liệu với tư cách một tổ chức độc lập thực hiện các chức năng thông tin thư viện Bên cạnh đó, tại nhiều trường đại học lớn, còn tồn tại song song các phòng tư liệu (chuyên ngành) trực thuộc các khoa, bộ môn, trung tâm nghiên cứu…

- Về cơ sở vật chất kỹ thuật: Đặc biệt là cơ sở hạ tầng thông tin được đổi mới và có bước phát triển rõ rệt Khởi đầu của sự phát triển này là những trường đại học được triển khai các Dự án hiện đại hóa thư viện bằng nguồn vốn vay từ World Bank và nguồn tài trợ của tổ chức AP (Mỹ) Ngoài ra, nhiều trường đã đầu tư lớn cho thư viện thông qua các dự án với kinh phí lên đến hàng chục tỷ đồng

Trang 40

- Về cán bộ thư viện: Đội ngũ cán bộ thông tin thư viện đại học đã được phát triển nhanh về số lượng, chất lượng được nâng cao Đặc biệt, vị trí, vai trò của nghề thư viện, thông tin đã được khẳng định trong các trường đại học Điều này đã tác động trực tiếp đến những thay đổi tích cực trong tâm lý và ý thức làm việc của người lao động

- Về phương thức hoạt động: Tại nhiều trường đại học, việc

áp dụng các chuẩn nghiệp vụ tiên tiến (MARC 21, DDC, AACR2)

và ứng dụng IT đã trở nên quen thuộc, phổ biến, dẫn đến hiệu quả, chất lượng, tính thống nhất và khả năng chia sẻ, hợp tác của hoạt động thông tin thư viện được nâng lên đáng kể

- Về hệ thống sản phẩm và dịch vụ: Nhiều thư viện không còn chỉ triển khai một cách thụ động các dịch vụ như đọc tại chỗ và cho mượn tài liệu, giáo trình Hệ thống sản phẩm được tạo lập đã trở nên đa dạng, phong phú hơn trước rất nhiều Tại các trường đại học lớn, các sản phẩm, dịch vụ mới và đặc trưng như bản tin điện tử, tài nguyên số, các cơ sở dữ liệu đặc thù, phục vụ thông tin nâng cao, tương tác trực tuyến với bạn đọc… đã được cung cấp một cách ổn định tại các phòng phục vụ bạn đọc và trên các cổng thông tin, website

- Sự liên kết giữa các thư viện đại học được tăng cường: Từ nhiều năn nay, các thư viện đại học đã chủ động liên kết với nhau trong nhiều hoạt động như phối hợp tổ chức các hội nghị, hội thảo; các chương trình đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ;

tổ chức tham quan, trao đổi kinh nghiệm cũng như tiến hành việc phối hợp bổ sung, chia sẻ nguồn lực thông tin …

Từ góc độ người dùng tin, có thể thấy một số điểm đáng chú ý sau:

- Sự hình thành tập quán và thói quen khai thác, sử dụng thông tin: Hầu hết sinh viên, học viên cao học, nghiên cứu sinh, cán bộ nghiên cứu, giảng dạy của trường đại học đã ý thức rõ rệt tác dụng, hiệu quả của việc truy cập, tìm tin và là nhóm người dùng tin tích cực nhất trong xã hội Chính tại môi trường đại học, tập quán và thói

Ngày đăng: 20/05/2021, 23:17

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Nguyễn Ngọc Lâm. Về quyền phôtcopy tác phẩm trong môi trường giáo dục/ Nguyễn Ngọc Lâm, Lê Thị Nam Giang, Nguyễn Thị Bích Ngọc. // www.hcmulaw.edu.vn/hcmulaw/index.php?option=com Khác
2. Photocopy tài liệu học tập có vi phạm bản quyền? //danluat.thuvienphapluat.vn/photocopy-tai-lieu-hoc-tap-co-vi-pham-ban-quyen-111600.aspx Khác
3. Việt Nam (CHXHCN). Chính phủ. Nghị định 100/2006/NĐ-CP Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Bộ luật Dân sự, Luật Sở hữu trí tuệ về quyền tác giả và quyền liên quan//www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/.../View_Detail.aspx?ItemID=15307 Khác
4. Việt Nam (CHXHCN). Quốc hội (Khóa 11). Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ: điều 14 //www.noip.gov.vn. – Truy cập ngày 13/6/2011 Khác
6. Vũ Minh Huệ: Bổ sung, hoàn thiện một số quy định về quyền tác giả, quyền liên quan và vấn đề sử dụng, sao chép hợp lý các tác phẩm: Tham luận tại Hội thảo về thực thi quyền tác giả và quyền liên quan trong hoạt động thông tin – thư viện ở Việt Nam (Hà Nội, 8/2014) Khác
7. Bùi Loan Thùy. Xây dựng và thực thi các chính sách liên quan đến quyền tác giả trong phục vụ thư viện ở Việt Nam/ Bùi Loan Thùy, Bùi Thi Hằng//lib.hcmussh.edu.vn/?wca=newmng&wci=v_dat&wce=dtl&itm=1392288971 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w