Trung Quốc nhưng không thách thức Mỹ ở thời điểm hiện tại trên quy mô toàn cầu.17Mặc dù có mối quan hệ hợp tác, Trung Quốc coi siêu cường duy nhất của thế giới như một mối đe dọa đối với
Trang 1Chương IV
LỢI ÍCH VÀ CHÍNH SÁCH CỦA CÁC NƯỚC LIÊN QUAN NGOÀI KHU VỰC BIỂN ĐÔNG
Trang 3“CHIẾN LƯỢC XOAY TRỤC CHÂU Á
CỦA CHÍNH QUYỀN OBAMA: CHUYỂN TỪ KIỀM CHẾ
NGOẠI GIAO SANG KIỀM CHẾ CHIẾN LƯỢC
TRƯỚC MỘT TRUNG QUỐC ĐANG TRỖI DẬY?”
GS Renato Cruz De Castro Khoa Nghiên cứu Quốc tế, Đại học De La Salle, Philippines
Tóm tắt
Bài viết này nghiên cứu mối liên hệ giữa Chiến lược Xoay trục Châu Á của Tổng thống Barrack Obama và Tuyên bố Hà Nội 2012 về tranh chấp Biển Đông của Ngoại trưởng Hillary Clinton Tháng 7/2010, tuyên bố của Ngoại trưởng Clinton trong Diễn đàn khu vực ASEAN (ARF) đã gợi mở một chiến lược ngoại giao mới nhằm đối phó với một Trung Quốc đang trỗi dậy và đầy quyết đoán - đó là chiến lược kiềm chế Chiến lược này đòi hỏi Washington cùng với các quốc gia thành viên của Hiệp hội các Quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) thuyết phục Trung Quốc chấp nhận cách tiếp cận đa phương trong giải quyết tranh chấp Biển Đông Tuy nhiên, Trung Quốc đã cảnh báo các nước ASEAN không nên can dự Mỹ vào tranh chấp Kết quả là, vị thế của Trung Quốc như là một đối tác kinh tế chính và đôi khi là đồng minh chính trị của phần lớn các quốc gia ASEAN đã ngăn cản Mỹ và ASEAN hình thành một khối ngoại giao để thực hiện chính sách kiềm chế Đứng trước khả năng thất bại của chiến lược ngoại giao này, chính quyền Obama đang tái cân bằng lực lượng hải quân sang Châu Á Điều này đánh dấu sự thay đổi từ chính sách kiềm chế dựa trên việc hình thành một khối ngoại giao với ASEAN sang một hình thái mới dựa trên nền tảng sức mạnh quân sự
Trang 4đã tiến hành các hoạt động đối ngoại rõ ràng và mạnh mẽ trong sáu tháng cuối năm
2010 Nổi bật nhất trong những nỗ lực này là tuyên bố về Biển Đông ngày 24/7/2010 của Ngoại trưởng Clinton tại Hà Nội Đặc biệt là, Tuyên bố Hà Nội 2010 nhắc đến bài phát biểu của Ngoại trưởng Clinton ngày 24/7/2010 ở Việt Nam Ngoại trưởng Clinton khẳng định rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đến những vùng biển chung của Châu Á, và sự tôn trọng của các quốc gia ven biển đối với luật biển quốc tế ở Biển Đông Bà Clinton cũng nhắc đến việc Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện thúc đẩy đàm phán đa phương để giải quyết tranh chấp Quần đảo Trường Sa
Tuyên bố Hà Nội tháng 7/2010 thể hiện sự quan ngại ngày càng tăng của Mỹ đối với năng lực hải quân và sự quyết đoán của Trung Quốc ở Biển Đông Do vậy, Tuyên bố Hà Nội
2010 khởi đầu một chiến lược ngoại giao mới - được gọi đúng với tình hình là chiến lược kiềm chế Tuy nhiên chiến lược như vậy không hề đơn giản Đó là một nhiệm vụ khó khăn
và tẻ nhạt, đòi hỏi Mỹ và các quốc gia Đông Nam Á gây sức ép buộc Trung Quốc chấp nhận
và mềm hóa, nếu không là điều chỉnh, lập trường quyết đoán của nước này trong tranh chấp Biển Đông Tuy nhiên, kể từ năm 2010 đến 2011, Trung Quốc đã thực hiện những chiến thuật như sau để làm suy yếu chiến lược kiềm chế này, cụ thể là:1 (i) tăng cường sự phụ thuộc kinh tế của các quốc gia yêu sách vào Trung Quốc; (ii) ngăn cản các quốc gia này khai thác tài nguyên ở những khu vực tranh chấp; và (iii) tránh đối đầu công khai với Mỹ, trong khi tiếp tục phát triển sức mạnh toàn diện của Trung Quốc Với quan hệ kinh tế đôi bên cùng có lợi với Trung Quốc, các quốc gia Đông Nam Á không thể hình thành một khối ngoại giao
có thể kiềm chế Trung Quốc, và dường như đang hành động theo Mỹ.2 Rõ ràng là, Trung Quốc đã ngăn chặn việc Mỹ và ASEAN áp dụng một chính sách kiềm chế
Tháng 11/2011, chính quyền Obama công bố chiến lược trọng tâm Châu Á Chiến lược này đòi hỏi Mỹ phải rút dần khỏi những chiến dịch chống bạo loạn ở Iraq và Afghanistan và dịch chuyển sự quan tâm cũng như nguồn lực sang khu vực Thái Bình Dương Sự khởi đầu này được coi là một nỗ lực của chính quyền Obama để khẳng định vai trò lãnh đạo của Mỹ trước một Trung Quốc đang nỗ lực sử dụng ảnh hưởng kinh tế
và chính trị đang gia tăng của mình nhằm giành lấy thế chủ động chiến lược ở Đông Á Mục tiêu là tạo đối trọng trước ảnh hưởng chiến lược và sự quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc trong khu vực, nhưng không ở mức khiến các quốc gia trong khu vực phải chọn lựa giữa hai siêu cường.3
1 International Crisis Group [Nhóm Nghiên cứu Khủng hoảng Quốc tế], “Stirring Up the South China Sea: gional Responses,” Asia Report [Báo cáo Châu Á] N 229-24 tháng 7/2012 (Beijing/Jakarta/Brussels, 2012) tr 28.
Re-2 Daniel Blumenthal, “The U.S Stands Up to China’s Bullying,” Wall Street Journal (28/7/2010) tr A-17 http://
proquest.umi.com/pqdweb?index=41&did=2093090381&Src
3 Xem Martin S Indyk, Kenneth G Lieberthal, và Michael E O’ Hanlon, “Scoring Obama’s Foreign Policy: A gressive Pragmatist Tries to Bend History,” Foreign Affairs (Tháng 5-6/2012) 91, 3 tr 33.
Trang 5Pro-“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
Bài tham luận này xem xét mối liên hệ giữa Tuyên bố Hà Nội tháng 7/2010 và Chiến lược Trọng tâm Thái Bình Dương tháng 11/2011, trả lời câu hỏi chính: Mối liên hệ giữa Tuyên bố Hà Nội tháng 7/2010 và Chiến lược Trọng tâm Thái Bình Dương tháng 11 năm
2011 là gì? Bài viết cũng hướng đến những câu hỏi hệ quả: (i) Nội dung của kiềm chế với
tư cách là một chiến lược ngoại giao, và sau đó là một chiến lược chính trị? (ii) Nền tảng chính trị/ chiến lược của kiềm chế (iii) Những điểm quan trọng trong Tuyên bố Hà Nội
2010 là gì? (iv) Trung Quốc đã phản ứng như thế nào đối với chiến lược kiềm chế này? (v)
Có những vấn đề gì nảy sinh khi áp dụng chính sách này cho một Trung Quốc đang trỗi dậy? (vi) Những hạn chế của kiềm chế với tư cách là một chiến lược ngoại giao dài hạn? Và cuối cùng, (vii) Chiến lược xoay trục Châu Á thay đổi kiềm chế từ là một sáng kiến ngoại giao sang thành một sáng kiến chiến lược để đối phó với Trung Quốc trỗi dậy như thế nào?
Từ Kiềm chế Ngoại giao sang Kiềm chế Chiến lược?
Các cường quốc hiện tại đối phó với một cường quốc trỗi dậy và có khả năng xét lại như thế nào? Các nghiên cứu của chủ nghĩa hiện thực đã vẽ ra hình ảnh một thế giới hỗn loạn nơi mà các quốc gia có hai lựa chọn trước một cường quốc đang nổi lên Theo đó, một số quốc gia có thể cân bằng với cường quốc trỗi dậy để bảo vệ an ninh của mình; trong khi những quốc gia khác có thể phù thịnh để bảo vệ những lợi ích kinh tế
và mặt khác là để mở rộng tầm ảnh hưởng của mình.4
Trong tác phẩm kinh điển năm 1987 về việc hình thành liên minh, Stephen Walt nhận xét rằng khi phải đối mặt với một thách thức an ninh to lớn từ bên ngoài, một quốc gia có thể cân bằng bằng cách liên minh với các quốc gia khác để chống lại mối
đe dọa tiềm tàng đó.5 Hoặc có thể phù thịnh bằng cách liên kết với nguy cơ tiềm tàng
- chính là cường quốc đang nổi lên Walt cũng lưu ý rằng có hai phương thức theo đó các quốc gia có thể phản ứng trước một cường quốc trỗi dậy.6 Theo Walt, nếu các quốc gia thiên về cân bằng, khi đó hệ thống quốc tế sẽ vững chắc hơn bởi cường quốc đang trỗi dậy và có khả năng xét lại sẽ phải đương đầu với sự phản kháng mang tính liên kết Tuy nhiên, nếu phù thịnh là chính sách được các quốc gia lựa chọn, thì khi đó an ninh quốc tế sẽ bị đe dọa bởi vì cường quốc đang lên và xét lại có thể lôi kéo thêm đồng minh, trong khi tăng cường sức mạnh và giảm bớt đối thủ Tuy nhiên, những diễn biến hiện nay ở Đông Á đã tạo nên sự phức tạp về an ninh ở khu vực, thách thức suy đoán của chủ nghĩa hiện thực về việc các cường quốc hiện tại thi hành chính sách hoặc cân bằng hoặc phù thịnh cường quốc đang nổi lên - tức Trung Quốc
Cố học giả người Canada Gerald Segal đã suy nghĩ về việc áp dụng chính sách kiềm chế đối với một Trung Quốc đang nổi lên và có khả năng xét lại trong một bài viết năm 1996 với nhan đề “East Asia and the Constrainment of China” [Đông Á và Chính sách Kiềm chế Trung Quốc].7 Ông lập luận rằng ngăn chặn (một hình thức cân bằng)
4 Jack Levy, “Balances and Balancing: Concepts, Propositions, and Research Designs,” Realism and the Balancing of Power (Biên tập) John A Vasquez và Colin Elman (New Jersey: Pearson Education, Inc 2003) tr 129.
5 Stephen M Walt, The Origins of Alliances (New York: Cornell University Press, 1987) tr 17.
6 Tlđd tr 17.
7 Gerald Segal, “East Asia and the Constrainment of China,” trong East Asia Security (Biên tập) Michael E Brown,
Sean M Lynn-Jones và Steven E Miller (London; Cambridge: The MIT Press, 1996).tr 159-187.
Trang 6và can dự (một hình thức phù thịnh) là sản phẩm của Chiến tranh Lạnh và không thể giải quyết được vấn đề đặc biệt như sự trỗi dậy của Trung Quốc Hay nói cách khác, hai chiến lược này đã trở nên lỗi thời ở thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh Thay vào đó, ông kêu gọi một chính sách cân bằng giữa can dự với một hình thức ngăn chặn đã được điều chỉnh mà ông gọi là “kiềm chế.” Thuật ngữ này đề cập đến hành động chung của các quốc gia nhằm gây sức ép buộc Trung Quốc có sự điều tiết trong quan điểm của nước này đối với những vấn đề nhất định.8 Segal cũng thừa nhận những lợi ích trong việc tăng cường quan hệ kinh tế, chính trị, xã hội với Trung Quốc Tuy nhiên, ông cảnh báo các quốc gia phương Tây và các quốc gia ASEAN rằng những tương tác như vậy chỉ được tối ưu hóa khi Trung Quốc bị ngăn chặn không sử dụng vũ lực để hiện thức hóa những yêu sách lãnh thổ của nước này và/để làm nghiêng cán cân sức mạnh ở Đông Á theo hướng có lợi cho Trung Quốc.9
Cần phải can dự với một cường quốc đang trỗi dậy như Trung Quốc nhưng cộng đồng quốc tế không nên do dự kiềm chế quốc gia này khi cần thiết Segal cảnh báo về một số quốc gia có khuynh hướng hùa theo hoặc thỏa mãn những ý muốn nhất thời của Trung Quốc, cốt để không xúc phạm tình cảm của người Trung Quốc đặc biệt với những gì được cho là nỗ lực muốn ngăn chặn Trung Quốc10 Tuy nhiên, ông lưu ý rằng Trung Quốc cũng e ngại một sự phối hợp giữa các lực lượng đối trọng nên quốc gia này cũng đã mềm hóa hay điều chỉnh lập trường đối với những vấn đề tranh cãi trong Diễn đàn Khu vực ASEAN (ARF), và thậm chí đã ký Hiệp ước Không Phổ biến Vũ khí Hạt Nhân (NPT), và Hiệp ước Cấm thử Toàn diện (CBT) Trước hết, kiềm chế không phải
là chính sách đối đầu hay cân bằng chống lại Trung Quốc Ngược lại, nó phải hướng tới mục tiêu hòa nhập Trung Quốc vào hệ thống quốc tế.11 Theo Segal: “Một chính sách kiềm chế Trung Quốc… là nhằm nói với Trung Quốc rằng thế giới bên ngoài có những lợi ích mà sẽ được bảo vệ bởi những phương thức khuyến khích đối với cách hành xử đẹp, răn đe đối với hành vi xấu, và trừng phạt khi sự răn đe thất bại.”12 Như vậy, cách tiếp cận kiềm chế của Segal là chính sách “cây gậy và củ cà rốt”, trong đó hành động can
dự được kết hợp với việc sẵn sàng cứng rắn để ngăn chặn Trung Quốc có bất kỳ hành động hiếu chiến nào.13
Cũng trong bài viết năm 1996, Segal bình luận rằng nhiệm vụ hàng đầu của các quốc gia thành viên ASEAN là kiềm chế Trung Quốc Tuy nhiên, ông tỏ ra tiếc về sự yếu kém chung và tính thiếu gắn kết của hiệp hội Mặc dù Nhật Bản và các quốc gia Đông Bắc Á có thể ngăn cản Trung Quốc, nhưng Mỹ vẫn là chìa khóa đem lại sự cân bằng quyền lực và an ninh trong khu vực Ông nhận xét rằng chính sách của Mỹ đối với một Trung Quốc đang nổi lên vẫn còn mơ hồ vào giữa thập niên 1990 Hơn nữa, Washington chỉ có thể đứng giám sát Trung Quốc nếu các quốc gia trong khu vực
8 Tlđd tr 185.
9 Michael Yahuda, “Gerald Segal’s Contribution,” trong Regional Military Power,” Does China Matter? A ment (Biên tập) Barry Buzan và Rosemary Foot (London; New York: Routledge, 2004).tr 6.
Reassess-10 Segal, “Does China Matter?” trong tlđd tr 19.
11 Segal, “East Asia ” tr 186.
12 Tlđd tr 186.
13 Yahuda, Tlđd tr 6.
Trang 7“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
muốn điều đó.14 Mười sáu năm sau, Tuyên bố Hà Nội 2010 của Ngoại trưởng Clinton
đã đem đến những yếu tố cần thiết cho một chính sách kiềm chế khả thi nhằm vào một Trung Quốc đang trỗi dậy
Ban đầu, Ngoại trưởng Clinton hình dung ra một sự kiềm chế về ngoại giao đối với Trung Quốc trong đó Mỹ sẽ cộng tác cùng ASEAN để phát triển một cơ chế chính thức giải quyết tranh chấp Biển Đông Thông qua cơ chế đó và dựa trên nền tảng của luật biển quốc tế, Washington hy vọng có thể ngăn chặn một Trung Quốc ngày càng lớn mạnh thống trị tuyến đường biển chiến lược này Tuyên bố Hà Nội 2010 của Ngoại trưởng Clinton, theo cách nào đó, cơ bản là sự ủng hộ về ngoại giao đối với một số quốc gia yêu sách - những bên đang tìm kiếm sự ủng hộ của Mỹ đối với đàm phán đa phương, như là một cách thức để kiềm chế Trung Quốc trong việc việc yêu sách chủ quyền và kiểm soát Biển Đông Tuy nhiên, bà Clinton nhấn mạnh Mỹ sẽ đóng vai trò trung lập trong việc quốc gia yêu sách nào có cơ sở pháp lý vững chắc hơn để bảo vệ yêu sách lãnh thổ của mình Thực ra, lợi ích của Mỹ là dựa trên nền tảng tự do hàng hải và tạo điều kiện thúc đẩy một giải pháp đa phương đối với tranh chấp
Tuy nhiên, Trung Quốc ngay lập tức thách thức sáng kiến ngoại giao của Ngoại trưởng Clinton bằng việc ngăn cản lập trường thống nhất của ASEAN về tranh chấp Biển Đông, đe dọa các quốc gia yêu sách khác, và tăng cường xây dựng năng lực hải quân Cuối cùng, chính quyền Obama quyết định ủng hộ chính sách kiềm chế ngoại giao đối với một Trung Quốc đang phát triển hải quân và ngày càng quyết đoán bằng việc dịch chuyển trọng tâm chiến lược và nguồn lực từ Iraq và Afghanistan tới vành đai Thái Bình Dương, nơi mà họ có thể hỗ trợ những lực lượng sẽ triển khai trong tương lai
và các đồng minh song phương để tạo nên thế đối trọng trước một cường quốc Đông
Á đang nổi lên - đó là Trung Quốc.15
Chuyển từ Phòng ngừa sang Kiềm chế?
Với vị trí địa lý trung tâm và nền văn minh lâu đời, Trung Quốc luôn coi mình là một siêu cường ở Đông Á Cùng với năng lực quân sự đang tăng lên và ảnh hưởng kinh tế ngày càng lớn, Trung Quốc có khả năng thách thức Mỹ, cường quốc chính ở Đông Á Tuy nhiên, Trung Quốc sẽ không dám đối đầu với Mỹ trong hiện tại hay ở tương lai gần Cường quốc Đông Á này tập trung vào phát triển kinh tế để bảo đảm
sự an ninh toàn diện của mình, nhưng không bỏ qua hay thụ động xem nhẹ những thách thức trực tiếp từ bất kỳ siêu cường nào.16 Mối quan ngại an ninh chủ yếu của Trung Quốc là duy trì mối quan hệ kinh tế năng động với Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ
và các quốc gia ASEAN Những mục tiêu cơ bản của Trung Quốc gồm có tăng trưởng kinh tế nhanh, tự do hóa kinh tế và xã hội, toàn cầu hóa, củng cố chính trị (đối với đảng cộng sản), và duy trì lực lượng quân đội hiện đại nhằm đối phó với Đài Loan Tất cả những mục tiêu này này đều hướng tới phát triển tầm ảnh hưởng khu vực của
Trang 8Trung Quốc nhưng không thách thức Mỹ ở thời điểm hiện tại trên quy mô toàn cầu.17Mặc dù có mối quan hệ hợp tác, Trung Quốc coi siêu cường duy nhất của thế giới như một mối đe dọa đối với an ninh quốc gia và sự ổn định trong nước.18 Tư duy này bắt nguồn từ việc Washington ngầm ủng hộ việc duy trì hiện trạng ở Eo biển Đài Loan
và nghị trình được cho là nhằm lật đổ một số nước xã hội chủ nghĩa còn lại của thế giới thông qua quá trình “diễn biến hòa bình.”19 Sự cảnh giác của Trung Quốc đối với Mỹ càng tăng lên khi Mỹ tăng cường sự hiện diện quân đội ở Đông Nam Á, kết quả của cuộc chiến chống khủng bố của chính quyền Bush sau ngày 11/9 Trung Quốc nhiều lần nói về sự cần thiết của một trật tự thế giới mới đa cực thay vì đơn cực như một biện pháp phòng thủ đối với những gì quốc gia này coi là mối đe dọa cấu trúc từ Mỹ Do
đó, Trung Quốc sử dụng sức mạnh quân sự và kinh tế để thúc đẩy một trật tự khu vực
mà theo đó cho phép các quốc gia Đông Nam Á tự do chọn bên giữa hai cường quốc (Trung Quốc và Mỹ) mà không phải đưa ra bất kỳ cam kết vững chắc nào đối với bên nào.20 Bằng việc khai thác năng lực trong các lĩnh vực an ninh, sản xuất và tài chính, Trung Quốc đang duy trì tình trạng “cân bằng không ổn định” ở Đông Á mà không tổn hại trực tiếp đến ưu thế của Mỹ ở khu vực.21
Trong những năm đầu của thế kỷ 21, Mỹ quyết định không đối đầu hay ngăn chặn Trung Quốc nhưng thực hiện một chiến lược phòng ngừa chủ động nhằm đối phó với năng lực và tác động đến dự định của Trung Quốc Chiến lược phòng ngừa cho rằng trong số những cường quốc đang nổi lên, Trung Quốc có tiềm năng nhất để cạnh tranh quân sự với Mỹ trong tương lai.22 Tuy nhiên, chiến lược này không xem Trung Quốc
là mối đe dọa trực tiếp hoặc một đối thủ kiểu Xô Viết Đúng hơn, nó xem Trung Quốc như là đang tiến một cách vô cùng chậm chạp trên con đường đối đầu trực tiếp với Mỹ
Vì vậy, Mỹ phải luôn tuyên bố ý định của mình là vẫn giữ vị trí cường quốc Thái Bình Dương chủ chốt, và rằng Trung Quốc khó có khả năng tiến hành một cuộc chạy đua
vũ trang thu nhỏ hay cạnh tranh địa chính trị với Mỹ.23 Chiến lược này đòi hỏi Mỹ thắt chặt các liên minh song phương ở Châu Á, hạn chế ảnh hưởng của Trung Quốc đối với những đồng minh của mình, và tránh bất kỳ sự đối đầu nào với Trung Quốc
Chiến lược phòng ngừa cơ bản là một sự phản ứng đối với nước cờ ngoại giao trỗi dậy hòa bình của Trung Quốc ở Đông Á Từ cuối thập niên 1990, Bắc Kinh đã trấn
an các quốc gia Đông Nam Á rằng không cần lo ngại việc Trung Quốc nổi lên, và một Trung Quốc như thế không tồn tại Trung Quốc nhiều lần nhấn mạnh rằng sự trỗi dậy của mình là cơ hội đem đến lợi ích kinh tế chung, và tăng cường vị thế vững chắc hơn
17 William H Overholt, Asia, America, and the Transformation of Geopolitics (New York: Cambridge University
Trang 9“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
của khu vực Châu Á đối với Mỹ.24 Rõ ràng nhiều quốc gia Đông Nam Á đã ngã vào sự tấn công quyến rũ (charm offensive) của Trung Quốc, xem Trung Quốc là một người láng giềng ôn hòa và là một đối tác kinh tế trọng yếu Với những diễn biến này, ngay
cả chính quyền Bush cũng không thể buộc các đồng minh Châu Á (trừ Nhật Bản) lựa chọn giữa Mỹ và Trung Quốc, một hành động không phục vụ lợi ích của nước Mỹ Do vậy, Mỹ đã viện đến chiến lược phòng ngừa trong cuộc chơi địa chiến lược quyết liệt và phức tạp mà trong đó Bắc Kinh lôi cuốn Washington vào những mối quan hệ vừa hợp tác vừa cạnh tranh
Tuy nhiên, chiến lược phòng ngừa đầy rẫy những nghịch lý và hạn chế Ví dụ như, trong khi chính sách của Washington đối với Bắc Kinh nhìn chung mang tính thực tiễn
và hợp tác, một vài cơ quan trong chính quyền Mỹ, đặc biệt Bộ Quốc phòng vẫn xem Trung Quốc là mối đe dọa quân sự tiềm tàng Mặc dù hướng tới mục tiêu hội nhập Trung Quốc vào hệ thống quốc tế hiện tại, chính sách này đòi hỏi Mỹ tăng cường quan
hệ an ninh với Nhật Bản, củng cố quan hệ đồng minh song phương ở Đông Á, và triển khai thêm các đơn vị hải quân và không quân từ Đại Tây Dương tới Thái Bình Dương Những biện pháp quân sự rõ rệt này đã hướng đến cân bằng và không phải lôi kéo, một cường quốc đang trỗi dậy Hơn nữa, phòng ngừa là một chiến lược chuyển tiếp trong lúc chưa chắc chắn về việc Trung Quốc sẽ nổi lên như một cường quốc khu vực Trước năm 2008, Mỹ không rõ liệu sự trỗi dậy của Trung Quốc có phá vỡ trật tự khu vực hay không Tuy nhiên, cách hành xử gần đây của Trung Quốc cho thấy họ đang hành động như bất kỳ siêu cường nào trong lịch sử Trung Quốc cố gắng thay đổi những chuẩn mực và trật tự khu vực khi họ đang phát triển các năng lực chính trị và quân sự cần thiết
để thách thức những cường quốc hiện tại
Với nền kinh tế bùng nổ, năng lực quân sự ngày một tăng, cùng ảnh hưởng chính trị ngày càng lớn, Bắc Kinh liên tục thúc đẩy các cơ chế hợp tác chỉ dành cho Châu Á như ASEAN+3 (ASEAN, Trung Quốc, Nhật và Hàn Quốc), và Thượng đỉnh Đông Á
ở lúc ban đầu (đã thất bại do có sự tham gia của Úc và New Zealand)25 Trung Quốc dần phát triển lực lượng hải quân mà nay không còn tập trung vào việc ngăn chặn khả năng Mỹ can thiệp vào khủng hoảng Eo biển Đài loan, mà là cự tuyệt Hải quân
Mỹ tiếp cận đối với Biển Hoa Đông và Biển Đông, hoặc tập trung trong khu vực bên trong cái gọi là chuỗi đảo thứ nhất, kéo dài từ Nhật Bản-Okinawa-Đài Loan xuống đến Philippines Chi tiêu quốc phòng hàng năm của Trung Quốc tăng hai con số kể
từ năm 2006 Kết quả là, trong một vài năm gần đây, Hải quân Quân đội Giải phóng Nhân dân (PLAN) đã sở hữu một hạm đội mạnh gồm các tàu ngầm chạy diesel-điện lớp Kilo do Nga sản xuất và tàu khu trục lớp Sovremenny Trong những năm gần đây, Trung Quốc cũng tiến hành sản xuất ở quy mô chưa từng thấy, bảy lớp tàu khu trục
và tàu chiến, năm lớp tàu ngầm (hai trong số đó chạy bằng năng lượng hạt nhân), và lực lượng hải quân tăng cường như ba lớp máy bay đánh chặn, tàu tên lửa tấn công
24 Dirk Richard Morton, “Becoming a Good Neighbor in Southeast Asia: The Case of China’s Territorial Dispute in the South China Sea, 1989-2006” (Virginia: Luận văn tiến sĩ gửi lên Khoa Old Dominion University, Đại học Old Dominion, tháng 8/ 2007), tr 1-2.
25 Richard Weitz, “Nervous Neighbors: China Finds a Sphere of Influence, “World Affairs 173, 6 (Tháng 3-4/2011)
tr 7 http://proquest.umi.com/pqdweb?index=56&did=2292783311&Src
Trang 10nhanh và các tàu đổ bộ.26
PLAN cũng tăng cường khả năng tác chiến ở những vùng biển xung quanh Đài Loan
và đã triển khai hai lớp tàu ngầm tên lửa đạn đạo và tấn công mới Nỗ lực hiện đại hóa hải quân và chiến lược phát triển hiện nay nhằm mục tiêu chuyển đổi PLAN từ là một lực lượng hải quân phòng thủ ven bờ sang một lực lượng có khả năng phòng thủ chủ động ở các vùng biển gần, và đến năm 2020, triển khai ở các vùng biển xa.27 Không bị bó buộc bởi việc tập trung chiến lược vào Đài Loan, Trung Quốc đã phát triển năng lực hải quân gây xói mòn sự ổn định khu vực và thách thức lợi ích của các quốc gia láng giềng
Với năng lực hải quân của mình, Trung Quốc trở nên quyết đoán hơn ở Biển
Đông Trong tháng 3/2009, tàu hải quân và tàu cá Trung Quốc đã quấy nhiễu tàu USS Impeccable khi con tàu này đang công khai tiến hành các hoạt động khảo sát trên Biển
Đông Trong năm tiếp theo, Trung Quốc cảnh báo Mỹ cần tôn trọng yêu sách biển mở rộng của mình Tháng 3/2010, các quan chức Trung Quốc đã nói với hai quan chức cấp cao Bộ Ngoại giao Mỹ đang thăm Trung Quốc rằng Trung Quốc sẽ không dung thứ bất
kỳ hành động can thiệp nào từ phía Mỹ bởi Biển Đông hiện tại là một phần “lợi ích cốt lõi” về chủ quyền của họ giống như Đài Loan và Tây Tạng.28 Kết quả là, các quốc gia biển/ven biển, cả ở Đông Bắc Á và Đông Nam Á, lo ngại rằng Trung Quốc có thể chiếm một số đảo tranh chấp ở Biển Hoa Đông và Biển Đông do nguồn dự trữ năng lượng tiềm năng của những khu vực biển này cũng như tầm quan trọng là những tuyến giao thương trên biển (SLOCs).29
Washington đã ở thế khó xử về việc sẽ áp dụng chiến lược ngoại giao nào để đối phó với sức ảnh hưởng kinh tế ngày càng lớn, năng lực quân sự đang tăng lên và sự quyết đoán chính trị rõ rệt của Trung Quốc Với mối liên hệ kinh tế rộng khắp với các nước láng giềng của Trung Quốc, cùng sự yếu kém về quân sự của những nước này so với PLA, và việc Bắc Kinh tham gia một số diễn đàn khu vực đang tạo thế cân bằng trước một chiến lược ngoại giao tốn kém và khó khăn của Mỹ ở khu vực.30 Là sản phẩm của Chiến tranh Lạnh, chính sách ngăn chặn có thể là không đủ để đối phó với một tiểu cường thực dụng (không theo ý thức hệ), khôn ngoan về ngoại giao, mạnh mẽ về kinh
tế nhưng bất ổn như Trung Quốc Một chính sách dần định hình đó là kiềm chế, gồm một nhóm các quốc gia bảo vệ lợi ích chung của họ trước sự đe dọa từ năng lực ngày càng lớn của Trung Quốc, bằng cách hình thành một liên minh tạm thời có thể gây
26 Christopher D Yung và Phillip C Saunders, “Introduction” of The Chinese Navy: Expanding Capabilities, Evolving Roles (Biên tập) Phillip C Saunders, Christopher Yung, Michael Swaine, và Andrew Nien-Dzu Yang (Washing-
ton, DC: National Defense University Press, 2011) tr xv.
27 Xem Nan Li, “The Evolution of China’s Naval Strategy and Capabilities: From near Coast” and “Near Seas” to Far Seas,” Tlđd tr 133-134.
28 Edward Wong, “China Asserts Role as a Naval Power,” International Herald Tribune (23/4/2010), tr 1 và 4.
29 Michale A Glosny “Getting Beyond Taiwan? Chinese Foreign Policy and PLA Modernization, “Strategic Forum
Trang 11“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
áp lực ngoại giao/chính trị lên Trung Quốc nhằm thay đổi (không ngăn chặn hay cân bằng) thái độ hành xử của Trung Quốc Hiện tại, chiến lược ngoại giao này được hậu thuẫn bằng sức mạnh quân sự của Mỹ để tăng tính hiệu quả, bởi Trung Quốc đã cố gắng ngăn cản việc hình thành liên minh này của các quốc gia đang bị đe dọa bởi yêu sách biển to lớn của Trung Quốc trên Biển Đông
Bối cảnh Ngoại giao/Chiến lược của Chính sách Kiềm chế
Tuyên bố Hà Nội 2010 và Chiến lược xoay trục Châu Á tháng 11/2011 bắt nguồn từ hai sáng kiến có tính quan liêu trong Chính quyền Clinton vào đầu và giữa thập niên
1990 Sáng kiến đầu tiên là khái niệm chiến tranh hải quân sau Chiến tranh Lạnh “Tiến lên Phía trước từ Biển” của Hải quân Mỹ và Thủy quân Lục chiến Mỹ.31 Học thuyết này định hướng cho Hải quân Mỹ chuyển từ mục tiêu kiểm soát biển theo học thuyết Mahan truyền thống hướng tới triển khai ở những vùng nước ven bờ của thế giới, nơi khủng hoảng khu vực hay những sự kiện bất ngờ đang tăng lên Học thuyết này cũng định hình việc Hải quân và Thủy quân Lục chiến Mỹ tiến hành các hoạt động chung ở các vùng biển ven bờ của vành đai Thái Bình Dương, Biển Na Uy, Vịnh Ả rập và Vùng vịnh Địa Trung Hải Nó cũng lên kế hoạch phát triển các nhóm tàu sân bay chiến đấu
và các nhóm sẵn sàng đổ bộ của những đơn vị Thủy Lục Viễn chinh của Hải Quân Các nhóm hải quân/ thủy lục có thể được triển khai để đối phó với những cường quốc khu vực có lực lượng vũ trang mạnh được trang bị các loại vũ khí thông minh; làm chậm quá trình phổ biến vũ khí; và tăng cường an ninh và ổn định ở các vùng nước ven biển Học thuyết này đòi hỏi việc sử dụng các tàu chiến nổi triển khai ở tiền phương - các tàu tuần dương và tàu khu trục - và các tàu ngầm trang bị tên lửa đạn đạo chiến lược như một sự răn đe về hiện diện tương lai và kế hoạch triển khai sức mạnh từ trên biển tới trên bộ của Hải quân Mỹ Lực lượng hải quân viễn chinh cơ động có thể được sử dụng trong một loạt các nhiệm vụ hải quân ở các khu vực ven biển của thế giới như Biển Đông hay Biển Hoa Đông, Hoàng Hải và Biển Ả rập
Học thuyết cũng tập trung vào khu vực ven biển thay vì các tuyến đường biển dọc những đại dương của thế giới Học thuyết này đòi hỏi sự hợp tác nhiều hơn nữa giữa lực lượng trên biển và lực lượng trên bờ, đồng thời đưa ra ra khái niệm về lực lượng hải quân viễn chinh mà theo đó khái niệm Triển khai Tác chiến từ Biển (OMFTS) được hình thành.32 OMFTS đưa ra một tầm nhìn tác chiến mới với mục tiêu tác động đến các sự kiện trên bờ, có thể là ở Đông Á, để răn đe những đối thủ đang nổi lên như Trung Quốc.33 Viết vào giữa thập niên 1990, hai tác giả khẳng định rằng do học thuyết Hải quân Mỹ đã nhấn mạnh đến nguồn lực hải quân và không quân cần thiết cho các hoạt động triển khai quân sự phối hợp gần bờ, Mỹ có thể “góp phần quan trọng nhất cho các hoạt động hải quân ở khu vực (khu vực Biển Đông) bởi nước Mỹ có khả năng hỗ trợ đối với những cam kết bảo vệ các tuyến giao thông
31 Bộ trưởng Hải Quân, Forward from the Sea (Washington: Bộ Hải Quân, 1992).
32 Tướng C.C Krulak, Operational Manoeuvre from the Sea: A Concept for the Projection of Naval Power Ashore
(Wash-ington: Tổng hành dinh của Thủy quân Lục chiến, 1992).
33 Thomas Barnett, The Pentagon’s New Map: War and Peace in the 21st Century (USA: Penguin Publishing Group,
2004) tr 28.
Trang 12Mỹ cũng phản đối mạnh mẽ việc sử dụng hay đe dọa sử dụng vũ lực trong giải quyết vấn đề và thúc giục tất cả các bên yêu sách có hành động kiềm chế Tháng 6/1995, người lúc đó là Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng về An ninh Quốc tế ông Joseph Nye đã tuyên bố rằng nếu xung đột quân sự ở Biển Đông ảnh hưởng đến “tự do trên biển thì Mỹ sẵn sàng bảo vệ quyền tự do hàng hải.”36 Mặc dù thông điệp này nhìn chung là gửi tới các quốc gia yêu sách, nhưng lời cảnh báo gián tiếp nhằm vào Trung Quốc bởi nước này đã phát triển và sử dụng sức mạnh hải quân đối với Việt Nam tháng 3/1988 để giành lấy một chỗ đứng ở Trường Sa Do vậy, từ đầu và giữa thập niên 1990, Mỹ đã coi tranh chấp Biển Đông là căn nguyên của những căng thẳng trên biển ở Đông Nam Á mà có thể gây hậu quả nghiêm trọng đối với ổn định khu vực Trên tất cả mọi phương diện, Mỹ đã chấp nhận vai trò như là “nhân tố răn đe chính đối với bất kỳ sự bùng phát thù địch nào.”37Cuối cùng, Tuyên bố Hà Nội 2010 về tranh chấp Biển Đông là một phần tất yếu của chính sách “Mỹ quay trở lại” hay tái can dự của chính quyền Obama Là một quá trình, tái can dự có hai mục tiêu: Thứ nhất, để điều chỉnh nhận thức cho rằng việc Chính quyền Bush cương quyết tập trung vào cuộc chiến toàn cầu chống khủng bố và chiến dịch chống bạo loạn ở Iraq và Afghanistan đã làm chệch hướng sự quan tâm của Washington đối với khu vực Đông và Đông Nam Á Ngoài ra, để khẳng định với đồng minh và bạn bè của nước Mỹ rằng họ sẽ không bao giờ trở thành mối xem thường của bất kỳ cường quốc đang trỗi dậy nào, và họ không cần phải lựa chọn giữa Washington
và Bắc Kinh Đồng thời, chính sách tái can dự phát đi một thông điệp đó là Mỹ không tìm cách ngăn chặn Trung Quốc, mà chỉ muốn biến Trung Quốc thành một thành viên
có trách nhiệm trong khu vực
Thứ hai, chính sách tái can dự cố gắng tìm ra những phương thức và biện pháp để
Mỹ và các quốc gia khu vực có thể phát triển mối quan hệ song phương vì lợi ích chung của họ, Do vậy, nó đòi hỏi củng cố vai trò lãnh đạo của Mỹ, tăng cường sự can dự của
Mỹ, đồng thời áp dụng những phương thức mới trong việc truyền bá ý tưởng và ảnh
34 Douglas T Stuart và William Tow, A U.S Strategy for the Asia-Pacific: Building a Multi-polar Balance-of-Power tem in Asia (London: Oxford University Press, 1995) tr 57.
Sys-35 Xem Bộ Ngoại giao Mỹ, Buổi Họp báo Thường ngày 10/5/1995 DBP Số 67 tr 2 http://dosfan.lib.uic.edu/ERC/
briefing/daily_briefings/1995/950510db.html
36 Richard C Macke, USN, “Statement of the Commander in Chief United States Pacific Command before the House International Relations Committee, 27 June 1995, on the Future of U.S Foreign Policy in Asia and the Pacific,” 30/ 5 và 19/6/1996 (Washington, D.C.: U.S Government Printing Office, 1997) tr 366.
37 Dennis Van Vranken Hickey, The Armies of East Asia: China, Taiwan, Japan and the Koreas (Boulder; Colorado:
Lynne-Rienner Publishers, 2001) tr 27.
Trang 13“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
hưởng của Mỹ ra khắp khu vực.38 Điều này thể hiện rõ nhất trong việc ưu tiên các vấn
đề như thay đổi cán cân lực lượng do sự nổi lên của Trung Quốc Đối với các quốc gia Đông Nam Á, sự trỗi dậy của Trung Quốc ảnh hưởng đến tổng thể mối quan hệ của họ với Mỹ Tuy nhiên, những quốc gia này nhìn nhận và đánh giá khác nhau về mối thách thức Trung Quốc Với chính quyền Obama, chính sách tái can dự tạo cơ hội cho Mỹ
và các quốc gia Đông Nam Á đề ra mục tiêu chính sách đối ngoại chung ngoài việc cân bằng lực lượng và kiểm soát môi trường an ninh khu vực thay đổi.39
Đầu tháng 1/2010, Ngoại trưởng Clinton đề ra bản nguyên tắc chỉ đạo việc Mỹ tham gia vào các diễn đàn đa phương đang phát triển rầm rộ ở Đông Á Theo đó, Mỹ sẽ sử dụng những liên minh song phương của mình tạo tiền đề cho việc tham dự vào những diễn đàn này Đồng thời, Mỹ sẽ linh hoạt trong việc theo đuổi những mục tiêu muốn đạt được.40 Là một cường quốc Thái Bình Dương, Mỹ sẽ xác định rõ những diễn đàn đa phương nào mà họ muốn ủng hộ Ngoại trưởng Clinton đã nhắc đến Diễn đàn Khu vực ASEAN và APEC nhưng bà Clinton cũng không coi nhẹ sự tham gia của Mỹ trong các thể chế đa phương khác như Thượng đỉnh Đông Á và thậm chí là ASEAN+3.41 Tháng 6/2010, Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert Gates nói thêm về chính sách can dự này, tuyên bố rằng “Nước Mỹ là một quốc gia Thái Bình Dương, đang và sẽ vẫn là cường quốc ở Thái Bình Dương.”42 Ông Gates nhắc lại cam kết của chính quyền Obama về một
cơ chế răn đe mở rộng, hiệu quả và mạnh mẽ nhằm bảo đảm sự an toàn cho bạn bè và đồng minh của nước Mỹ.43 Hệ quả tất yếu của điều này, ông Gates nói rằng Mỹ sẵn lòng xây dựng năng lực cho các đồng minh và bạn bè Châu Á để họ không chỉ có thể bảo vệ lãnh thổ của mình mà còn xuất khẩu an ninh ra bên ngoài.44
Chiến lược tái can dự của chính quyền Obama cũng hướng tới việc thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của Mỹ vào thị trương Đông Á và cân bằng ảnh hưởng về kinh tế và chính trị của Trung Quốc ở Đông Á Các quan chức Mỹ đã tăng cường các chuyến thăm đến một số quốc gia ở Đông Á, và lôi kéo các quốc quốc gia chủ chốt vào các đàm phán song phương về hiệp định thương mại mới và các hoạt động quân sự chung Mỹ cũng đưa ra lập cường cứng rắn về những vấn đề an ninh khu vực như tranh chấp biển ở Biển Đông và Biển Hoa Đông, và khủng hoảng hạt nhân ở bán đảo Triều Tiên Chính sách tái can dự này đến vào thời điểm mà nhiều quốc gia Đông Nam Á đang lo ngại về chính sách đối ngoại quyết đoán và hăm hở của Trung Quốc Trung Quốc đã phô trương sức
38 Ngoại trưởng Hillary Rodham Clinton, “America’s Engagement in the Asia-Pacific,” Bài phát biểu tạiTrung tâm Đông-Tây, Khách sạn Kahala, Honolulu, Hawaii, 28/10/2010 2.
39 Satu Limaye, “Introduction: America’s Bilateral Relations with Southeast Asia - Constraints and Promise,” temporary Southeast Asia 32, 3 (Tháng 12/2010).312-313.
Con-40 Ralph Cossa và Brad Glosserman, “Regional Overview: They’re Not Quite Baaaack,” Comparative tions A Quarterly E-Journal on East Asian Bilateral Relations 12, số 2 (Tháng 3/2010): 3-4 http://csis.org/files/
Trang 14mạnh hải quân vượt xa khỏi khu vực ven biển của mình Chủ nghĩa bành trướng biển theo kiểu lấn dần của Bắc Kinh không chỉ thách thức vị thế dẫn đầu về hải quân của Mỹ
ở Tây Thái Bình Dương và Đông Á, mà còn thể hiện ý định hiếu chiến của nước này đối với các quốc gia láng giềng Vì thế, Trung Quốc đã phủ định những nỗ lực trước đây của mình khi muốn tỏ ra rằng sự trỗi dậy của Trung Quốc đem lại lợi ích và hòa bình cho khu vực Điều này đã tạo ra những rạn nứt chính trị giữa Bắc Kinh và các quốc gia láng giềng nhỏ và yếu hơn
Không nghi ngờ gì, những căng thẳng gia tăng giữa Trung Quốc và các quốc gia láng giềng báo hiệu chính sách quay trở lại hay tái can dự của chính quyền Obama sẽ được nhiều nước Châu Á hoan nghênh.45 Chính sách tái can dự trấn an các quốc gia Đông Nam Á rằng họ không cần phải một mình đương đầu với Trung Quốc, đồng thời thúc đẩy lòng tin và dũng khí của những quốc gia này nhằm xác định lại mối quan hệ với cường quốc đang trỗi dậy.46 Nước cờ ngoại giao này sẽ được thử khi Mỹ khẳng định lập trường của mình đối với tranh chấp Biển Đông, và đưa ra một giải pháp để giải quyết vấn đề này
Kiềm chế một Trung Quốc đang trỗi dậy
Vấn đề Biển Đông đã lắng dịu vào cuối những năm 1990 và đầu thế kỷ 21 khi Trung Quốc bắt đầu thực hiện chiến dịch “tấn công quyến rũ” ở khu vực Đông Nam
Á trong khi Mỹ bị cuốn vào cuộc chiến chống khủng bố Tranh chấp bùng phát trở lại vào năm 2009 khi Trung Quốc thể hiện một thái độ quyết đoán, đồng thời củng
cố những yêu sách tài phán của mình bằng việc phát triển năng lực quân sự và theo đuổi chính sách ngoại giao cưỡng bức đối với các bên yêu sách khác.47 Trung Quốc cũng tăng cường tuần tra hải quân (sử dụng tàu ngầm, tàu khảo sát và tàu chiến nổi)
ở vùng đặc quyền kinh tế (EEZ) và lãnh hải của Nhật Bản, và hăm dọa các công ty dầu khí nước ngoài đang hoạt động ở Biển Đông.48 Trước cuộc họp ARF lần thứ 17 tại Hà Nội, các quan chức Việt Nam, Philippines, và Malaysia đã lần lượt bày tỏ sự quan ngại với Washington về sự quyết đoán của Trung Quốc trong việc yêu sách chủ quyền đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa.49 Đáp lại, Mỹ đã thông báo với các quốc gia thành viên ARF về biện pháp can thiệp vào tranh chấp của Ngoại trưởng Clinton và yêu cầu sự ủng hộ của các quốc gia này.50 Kết quả là, 12 quốc gia Châu Á
đã ủng hộ kế hoạch của Mỹ hình thành một cơ chế đa phương nhằm giải quyết tranh chấp Biển Đông.51
45 Wong, “As Beijing Asserts Itself,” tr 1-3.
46 Marvin Ott, “Asia’s Clouded Horizon,” International Herald Tribune, 29/9/2010, 8.
47 Clive Schofield và Ian Storey, The South China Sea Dispute: Increasing Stakes and Rising Tension (Washington Dc:
The Jamestown Foundation, tháng 11/2009) tr 1.
48 Glosny, Tlđd tr 5.
49 Jay Solomon, “U.S Takes on Maritime Spats: Clinton Plan Would Set Up Legal Process for Asian Nations to solve Claims in the South China Sea,” Wall Street Journal (24/7/ 2010) tr 2 http://proquest.umi.com/pqdweb?
Re-index=101&did=2089906641&Sr
50 Carlyle A Thayer, “The United States, China and Southeast Asia,” Southeast Asian Affairs 2011 (Singapore:
Insti-tute of Southeast Asian Affairs, 2011) tr 20.
51 Solomon, Tlđd., tr 2
Trang 15“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
Ngoại trưởng Clinton “nổ phát súng” mở màn cho chính sách kiềm chế Trung Quốc bằng Tuyên bố Hà Nội 2010 Bà nhấn mạnh đến lợi ích biển của nước Mỹ ở Biển Đông,
và thúc giục rằng tranh chấp tài phán giữa các bên yêu sách cần phải được giải quyết bằng một tiến trình đa phương mang tính hợp tác Tuyên bố Hà Nội 2010 được đưa ra
3 năm sau khi căng thẳng ở Biển Đông bùng phát bởi:52
(i) Bắc Kinh có tuyên bố đe dọa các công ty quốc tế đang tiến hành hoạt động thăm
dò dầu khí Các phái viên Trung Quốc đã cảnh báo giới lãnh đạo cao nhất của ExxonMobil rằng việc kinh doanh của họ ở Trung Quốc sẽ chịu tổn thất nếu không rút khỏi các hợp đồng thăm dò khí với Việt Nam;
(ii) Trung Quốc đơn phương ban hành lệnh cấm đánh bắt cá dẫn đến việc bắt giữ hàng trăm ngư dân Việt Nam; và
(iii) Sự bế tắc của nhóm công tác Trung Quốc - ASEAN trong việc soạn thảo bộ quy tắc ứng xử ở Biển Đông, bởi Trung Quốc không mấy quan tâm đến một cơ chế
đa phương như vậy
Tuyên bố Hà Nội 2010 được đưa ra chỉ vài tháng sau khi các quan chức và học giả Trung Quốc xếp yêu sách to lớn của Trung Quốc ở Biển Đông vào nhóm “lợi ích cốt lõi” của nước này - nhóm trước đây chỉ giành cho Tây Tạng và Đài Loan.53 Các điểm mấu chốt của Bản Tuyên bố được tóm tắt như sau:54
(i) Như tất cả các quốc gia khác, Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải, tiếp cận mở đến Châu Á, các khu vực biển chung, và sự tôn trọng luật pháp quốc tế
ở Biển Đông
(ii) Mỹ ủng hộ một tiến trình ngoại giao hợp tác được thực hiện bởi tất cả các bên yêu sách nhằm giải quyết những tranh chấp lãnh thổ khác nhau mà không có sự ép buộc Mỹ cũng phản đối việc đe dọa sử dụng vũ lực bởi bất kỳ bên yêu sách nào.(iii) Mỹ không đứng về bên nào bên trong các tranh chấp chủ quyền lãnh thổ; và(iv) Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện thúc đẩy các sáng kiến và các biện pháp xây dựng lòng tin phù hợp với Tuyên bố ASEAN-Trung Quốc 2002 về ứng xử của các bên
ở Biển Đông
Theo phân tích, Tuyên bố Hà Nội 2010 chỉ đơn thuần lặp lại Chính sách về Quần đảo Trường Sa và Biển Đông ngày 10/5/1995 của Bộ Ngoại giao Mỹ ngoại trừ một khía cạnh quan trọng - vai trò của Mỹ trong tranh chấp Những tuyên bố chính thức trước
đó của Mỹ về tranh chấp Biển Đông chỉ giới hạn về tự do hàng hải, tầm quan trọng của quan hệ quốc tế, và nhu cầu về một giải pháp hòa bình Trên thực tế, chính sách này
đã đề cập rằng Mỹ sẵn sàng hỗ trợ giải quyết tranh chấp bằng bất cứ cách thức nào mà các bên yêu sách thấy có ích Ngược lại, Tuyên bố Hà Nội 2010 thể hiện rõ nguyện vọng
52 Barry Bain, “Chinese Diplomacy off Course,” The Wall Street Journal Asia (5/8/2010) tr 13 http://proquest.umi.
Trang 16của Mỹ muốn thúc đẩy các sáng kiến có thể giải quyết những yêu sách lãnh thổ còn tồn tại, cùng các biện pháp xây dựng lòng tin khác phù hợp với Tuyên bố ASEAN - Trung Quốc 2002 Như một học giả Mỹ đã tổng kết: “Ngoại trưởng Clinton đã đề nghị vai trò xúc tác của Mỹ trong các đàm phán đa phương Tuyên bố này trái ngược với sự thể hiện nhạt nhẽo trong chính sách của Mỹ trước đây, ở đó chỉ đề cập về tự do hàng hải, tầm quan trọng của quan hệ quốc tế, và nhu cầu về một giải pháp hòa bình”.55 Điều này ngụ
ý rằng Washington đã sẵn sàng “giám sát ” (hold the ring) việc kiềm chế Trung Quốc trong tranh chấp Biển Đông
Sau bài phát biểu, Ngoại trưởng Clinton đã ký Hiệp ước Thân thiện và Hợp tác với các nước ASEAN Theo đó, Mỹ tán thành hiệp ước thúc đẩy các mối quan hệ của mình
ở khu vực Đông Nam Á, và tăng cường sự hiện diện mạnh mẽ hơn và hiệu quả hơn ở khu vực này.56 Bà Clinton cũng đưa ra cam kết của chính phủ Mỹ với các nước ASEAN đồng thời khẳng định chính quyền Obama sẽ củng cố hơn nữa mối quan hệ với các nước ASEAN và thông báo về sự hiện diện của Tổng thống Obama tại Hội nghị Thượng đỉnh Lãnh đạo Mỹ-ASEAN lần thứ hai ở New York
Trong lịch sử, Mỹ đã tránh đưa ra quan điểm công khai trong nhiều tranh chấp lãnh thổ ở Đông Á Tuy nhiên, do yêu sách biển khổng lồ của Trung Quốc ở Biển Đông, cách hành xử lộ liễu của họ trong vấn đề này, cùng sự mong mỏi thầm lặng từ một số quốc gia ASEAN đã thúc đẩy chính quyền Obama đưa ra một Tuyên ngôn như vậy.57 Thú vị
là, Tuyên bố Hà Nội 2010 được đưa ra sau khi Lầu Năm Góc tuyên bố rằng PLA của Trung Quốc đang dịch chuyển chiến lược từ lực lượng chủ yếu hoạt động trên bộ sang lực lượng hải quân và không quân hùng mạnh Điều này đã khiến quân đội Trung Quốc hiếu chiến hơn ở Đông Á, đặc biệt là ở Biển Đông, và “thái độ quyết đoán đó đã khiến các nước giềng của Trung Quốc lo ngại”58
Về mặt ngoại giao, các quốc gia thành viên ASEAN, công khai hay kín đáo, đã hoan nghênh Tuyên bố Hà Nội 2010 Sự nhấn mạnh về lợi ích quốc gia của nước Mỹ và về bản chất của các yêu sách lãnh thổ trong Tuyên bố đã phủ định đường đứt đoạn tai tiếng trong bản đồ Trung Quốc thế kỷ 14 được Bắc Kinh sử dụng để chứng minh “chủ quyền không thể tranh cãi” của họ đối với toàn bộ Biển Đông.59 Tuy nhiên, do mối quan
hệ kinh tế ngày càng tăng với Trung Quốc, các quốc gia ASEAN không muốn đối đầu
và làm tổn hại quan hệ của họ với cường quốc đang trỗi dậy của Châu Á Họ muốn một lực lượng cân bằng mạnh bên ngoài như Mỹ giữ vai trò này, trong khi họ đóng vai trò
hỗ trợ.60 Các nước ASEAN cũng lưu ý rằng phương thức giải quyết tranh chấp một cách hòa bình (đây là vấn đề lợi ích quốc gia của Mỹ) sẽ có tác động lâu dài Điều đó đem đến
Trang 17“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
một động lực mới để biến tuyên bố 2002 không ràng buộc giữa Trung Quốc và ASEAN
về tranh chấp Biển Đông thành một bộ quy tắc ứng xử có ý nghĩa hơn.61 Hơn nữa, chỉ
có sự dính líu của Mỹ mới đem đến tự tin cho những quốc gia nhỏ khi phải đối diện với Trung Quốc trong các đàm phán đa phương, và hối thúc Trung Quốc đưa tranh chấp
ra giải quyết theo đúng luật pháp quốc tế.62 Trong bất kỳ trường hợp nào, Tuyên bố Hà Nội 2012 đã biến kiềm chế trở thành một chính sách khả thi đối với cả Mỹ và các quốc gia thành viên ASEAN trong việc đối phó với một Trung Quốc đang trỗi dậy
Phản ứng đối với chính sách kiềm chế
Trung Quốc đã có các phản ứng rất nhanh chóng và quyết liệt với Tuyên bố Hà Nội năm 2010 Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã lên án Ngoại trưởng Mỹ Clinton vì đã có tuyên bố công kích Trung Quốc và nói với cộng đồng quốc tế rằng tình hình ở Biển Đông là nguyên nhân gây nên những lo ngại nghiêm trọng63 Ông cho rằng “việc chuyển một vấn đề song phương thành một vấn đề quốc tế hoặc thành một vấn đề đa phương sẽ chỉ làm tình hình thêm tồi tệ và sẽ tạo thêm khó khăn trong việc giải quyết vấn đề.”64 Thú vị là, Trung Quốc cũng cảnh báo các quốc gia ASEAN nhỏ hơn không nên đa phương hóa tranh chấp Ngoại trưởng Dương Khiết Trì thậm chí
đã nói với Ngoại trưởng Singapore George Yeo rằng “Trung Quốc là một nước lớn và các nước khác là những nước nhỏ và đó là một thực tế.”65 Cuối cùng, ông nhắc nhở các nước ASEAN về các mối quan hệ kinh tế của họ với Trung Quốc.”66 Những phản ứng mạnh mẽ này xuất phát từ sự kiềm chế không mấy dễ chịu mà họ phải nhận từ các nước ASEAN sau Sự cố Đá Vành Khăn, và việc họ bị buộc phải ký Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 Thậm chí cách giải quyết đa phương đã làm gợi lên hình dung về việc Mỹ và các đồng minh của nước này tập hợp nhau để chống lại Trung Quốc Như một nhà phân tích Thái Lan đã quan sát: “…Việc Washington lên tiếng ủng
hộ cách tiếp cận đa phương, là sự quay trở lại chính sách của chính quyền Mỹ trong những năm 1990, sẽ làm tăng thêm sự nghi ngờ của Trung Quốc rằng họ sẽ phải đối mặt với một thách thức ngoại giao đáng ngại nếu như ASEAN có chung một tiếng nói trong tranh chấp lãnh thổ tại Biển Đông.”67
Tiếp sau việc Trung Quốc chính thức lên án Tuyên bố Hà Nội năm 2010, là một loạt những phát biểu mang tính dân tộc chủ nghĩa và những cuộc tập trận quân sự
mang tính đối địch Tờ China Daily có đăng bài xã luận nói rằng “một vài các quốc
gia ASEAN đang tham gia vào một cuộc chơi quyền lực tại Biển Đông bởi vì họ muốn
61 Greg Torode, “ASEAN Shows Sudden Resolve against Beijing,” South China Morning Post (6/8/2011) tr 2
http://proquest.umi.com/pqdweb?index=2101880111&sr
62 “Battle of the South China,” tr 2.
63 “U.S.-China Tensions Flare over South China Sea Dispute,” Voice of America (29/7/2010) tr 1-2
http://pro-quest.umi.com/pqdweb?index=195&did=2094862151&Sr
64 China Rejects U.S Suggestion for ASEAN Mediation on Territory,” Wall Street Journal (26/7/2010) tr 2 http://
proquest.umi.com/pqdweb?index=99&did=20911452221&Src
65 Thayer, Tlđd.,tr 21.
66 Cossa and Glosserman, “Regional Overview:U.S Profile Rise…” tr 6.
67 Marwaan Macan-Markar, “Politics: U.S.-China Tension Loom in South China Sea Dispute,” Global Information Network “(27/7/2010), tr 2 http://proquest.umi.com/pqdweb?/index=199&did=2092772891&Sr
Trang 18chiếm lấy nhiều hơn các nguồn tài nguyên đại dương bất chấp các tuyên bố của Trung Quốc về chủ quyền không thể tranh cãi tại đây.”68 Một bài viết học thuật cũng thêm rằng “Trung Quốc sẽ bỏ qua lời kêu gọi của bà Clinton và phủ nhận bất kỳ vai trò nào của Mỹ trong việc tham vấn để giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ của Trung Quốc với các quốc gia láng giềng.”69 Các đại diện ngoại giao của Trung Quốc trên toàn khu vực đã liên tục lặp lại câu niệm chính thống rằng “tranh chấp Biển Đông nên được giải quyết song phương giữa Trung Quốc và từng bên có yêu sách tới chuỗi đảo tranh chấp” -một thủ đoạn mà đến cuối cùng sẽ nâng cao sức mạnh của Trung Quốc như
là một cường quốc và làm giảm giá trị của Tuyên bố Hà Nội vào tháng 7/2010.70 PLA thậm chí đã tuyên bố chính thức rằng “Trung Quốc có yêu sách không thể tranh cãi trên Biển Đông”, nhưng khẳng định rằng Trung Quốc sẽ tiếp tục cho phép các nước khác đi lại tự do trên một trong những tuyến đường hàng hải tấp nập nhất trên thế giới này.”71
Tuyên bố của PLA đã nhắc lại yêu sách chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông, bất chấp Tuyên bố Hà Nội năm 2010 Đồng thời, tuyên bố này cũng nhằm trấn
an Washington và một vài quốc gia ASEAN rằng chính sách của Trung Quốc đối với khu vực là hết sức cởi mở và hòa nhã Tuy nhiên, những nỗ lực này của Trung Quốc đã thất bại khi mà PLAN tiến hành một cuộc tập trận bắn đạn thật tại Biển Đông vào cuối tháng 7/2010 Các tàu chiến của 3 hạm đội Trung Quốc đã được triển khai, cùng với các máy bay chiến đấu và các bệ phóng tên lửa tới các mục tiêu giả định tầm xa.72 Hành động biểu dương lực lượng này của Trung Quốc đã cho thấy không chỉ sự bất mãn của Trung Quốc đối với sự can dự của Mỹ, mà còn cho thấy lập trường cứng rắn của nước này trong tranh chấp Biển Đông.73
Hội nghị thượng đỉnh các nhà lãnh đạo Mỹ - ASEAN lần thứ 2 đã được tổ chức vào ngày 24/9/2010 tại New York Tổng thống Obama đã gặp gỡ tám nguyên thủ quốc gia ASEAN nhằm xây dựng nên một tuyên bố chung kêu gọi một cách tiếp cận đa phương
để giải quyết tranh chấp Biển Đông Mỹ dự liệu rằng các nước ASEAN sẽ có một lập trường mạnh mẽ trong vấn đề này và thúc đẩy một giải pháp hòa bình cho vấn đề Có thể nhìn thấy trước rằng Tổng thống Obama và các nhà lãnh đạo sẽ đưa ra một tuyên
bố trong đó khẳng định lại tự do hàng hải ở Biển Đông và phản đối việc sử dụng hoặc
đe dọa sử dụng vũ lực của bất kỳ bên tranh chấp nào.74 Cách lựa chọn từ ngữ của bản tuyên bố chung được đánh giá là rất quan trọng bởi vì nó được dựa trên một tuyên bố
Trang 19Stron-“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
trước đây về Biển Đông đã được Ngoại trưởng Clinton đưa ra trong cuộc họp ARF 2010 tại Hà Nội Tuy nhiên, Washington đã phải thất vọng
Do lo ngại rằng một tuyên bố như vậy sẽ tạo ra bầu không khí thù địch với Trung Quốc, các quốc gia ASEAN phản đối một tuyên bố chung nhắc tới tranh chấp Biển Đông và tới việc sử dụng vũ lực75 Ba ngày trước cuộc họp giữa các nhà lãnh đạo Mỹ
và ASEAN, một người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã cảnh báo các quốc gia ASEAN rằng Trung Quốc “quan tâm đến bất kỳ kiểu tuyên bố nào đưa ra bởi Mỹ và ASEAN về vấn đề Biển Đông” và rằng “Trung Quốc phản đối bất kỳ quốc gia nào không liên quan đến Biển Đông tham gia vào tranh chấp.”76 Do vậy, Trung Quốc đã ngăn chặn trước cuộc họp thượng đỉnh bằng việc nêu lên phản đối của họ đối với bất kỳ đề xuất nào của Mỹ về Biển Đông Tương tự như vậy, một số quốc gia thành viên nghĩ rằng ASEAN không nên tiếp tục xa cách với Trung Quốc sau Tuyên bố Hà Nội năm 2010 Diễn biến này, theo một cách nào đó, đã cho thấy sự hạn chế của ASEAN trong việc áp dụng và duy trì chính sách kiềm chế với một Trung Quốc đang trỗi dậy về kinh tế Với các mối quan hệ kinh tế hai bên cùng có lợi với Trung Quốc, các quốc gia ASEAN cảm thấy rằng họ không thể đơn giản dính líu vào một cuộc đấu tố Trung Quốc và tạo ra ấn tượng rằng họ sẽ làm bất cứ điều gì mà Washington muốn họ làm.77 Đối với các quốc gia nhỏ này, Trung Quốc không chỉ là một láng giềng, một đối tác thương mại quan trọng nhất, và một nhà đầu tư, mà Trung Quốc đôi khi cũng là một đồng minh chính trị để chống lại chính nước Mỹ Sau hội nghị thượng đỉnh Mỹ-ASEAN, truyền thông không chính thức của Trung Quốc đã mô tả sự kiện này như một dấu hiệu cho một sự quyết đoán mới của Mỹ đối với Biển Đông, và là một nỗ lực - với sự phối hợp kín đáo của Việt Nam - để ngăn chặn Trung Quốc.78 Không thỏa mãn với việc chỉ gây sức ép ngoại giao lên các quốc gia ASEAN trước thềm hội nghị thượng đỉnh, PLAN đã thực hiện một cuộc tập trận lần thứ tư trên Biển Đông trong năm 2010 Tính gộp lại, bốn cuộc biểu dương lực lượng của PLAN là một thể hiện rằng Trung Quốc có chủ quyền không thể tranh cãi trên Biển Đông và rằng họ đang phát triển nhanh chóng các năng lực để duy trì việc triển khai một lực lượng hải quân lớn hơn vào sâu trong vùng biển này.79
Tuy nhiên, Hội nghị thượng đỉnh New York không hoàn toàn là một bước lùi cho
Mỹ và chính sách kiềm chế của họ Vấn đề Biển Đông khó giải quyết đã được thẳng thắn
đề cập bởi Mỹ và ASEAN bên lề cuộc họp Đại Hội Đồng Liên Hợp Quốc về các Mục tiêu Phát triển Thiên niên kỷ, diễn ra trước thềm hội nghị thượng đỉnh.80 Washington cũng lưu ý rằng trong một bữa tiệc làm việc trưa “Tổng thống và các nhà lãnh đạo (ASEAN)
đã nhất trí về tầm quan trọng của một giải pháp hòa bình cho các tranh chấp, của tự do hàng hải, ổn định khu vực, và sự tôn trọng đối với luật pháp quốc tế, bao gồm cả ở Biển
75 “ASEAN Wants No Mention of South China Sea Dispute in Statement of Summit with U.S.,” BBC Monitoring Asia-Pacific (25/9/2010) tr 1 http://proquest.com/pqdweb?index=198&did=2146226801&Sr
Trang 20Đông.”81 Do đó, các cuộc thảo luận về tranh chấp Biển Đông vẫn diễn ra bất chấp các nỗ lực ngoại giao của Bắc Kinh nhằm khuyên ngăn các quốc gia ASEAN không đưa vấn đề này ra công khai và thể hiện một lập trường chung trong tranh chấp
Nói chung, Trung Quốc bực tức với chính sách tái can dự của chính quyền Obama, chính sách mà Trung Quốc coi là một sự can thiệp trắng trợn của một thế lực ở xa không thuộc Châu Á, vào khu vực mà ở đó đáng lẽ ra quyền lực và ảnh hưởng chính trị của Trung Quốc không bị thách thức Trong khi đó, các phản đối của Trung Quốc với Tuyên bố Hà Nội 2010 xuất phát từ thực tế rằng Tuyên bố này đưa ra một giải pháp cho tranh chấp bao gồm việc các quốc gia ASEAN cùng đứng lên để kháng cự lại Trung Quốc và nhất quyết duy trì một cách tiếp cận đa phương dựa trên Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển 1982 (UNCLOS) và các quy định được đưa ra trong Tuyên bố
về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002.82 Trong ngắn hạn, chính sách này hoàn toàn khả thi nếu Mỹ có thể đứng ngoài giám sát và để cho bản thân các nước ASEAN đứng lên chống lại một Trung Quốc đang trỗi dậy
Phá hoại Chính sách kiềm chế
Chưa đầy một năm sau Tuyên bố Hà Nội 2010, Trung Quốc đã làm một phép thử đối với chính sách kiềm chế do Mỹ dẫn đầu Vào ngày 2/3/2011, hai tàu hải giám Trung Quốc đã gây khó dễ và yêu cầu một tàu khảo sát của Philippines rời khỏi khu vực Reed Bank (còn được gọi là Recto Reed) (tiếng Việt: Bãi Cỏ Rong - ND), nằm cách 80km tính
từ đảo Palawan của Philippines Bộ Ngoại giao Philippines, đã gửi công hàm ngoại giao phản đối tới Đại sứ quán Trung Quốc tại Manila vào ngày 5/3, và tuyên bố rằng cho đến thời điểm đó, Trung Quốc đã gây từ năm cho tới bảy vụ việc như vậy tại Biển Đông.83Thông cáo cũng bày tỏ sự lo ngại của Manila về việc Trung Quốc tăng cường sự hiện diện và hoạt động của các tàu trong vùng EEZ của Philippines Cụ thể, thông cáo này
đã dẫn ra vụ việc các tàu tuần tra của Trung Quốc bắn cảnh cáo các tàu đánh bắt cá của Philippines tại vùng lãnh hải của Philippines vào cuối tháng 2/2011 Những vụ gây hấn này của Trung Quốc đã cản trở các hoạt động đánh bắt cá bình thường và hợp pháp của ngư dân Philippines và làm tổn hại đến hòa bình và ổn định của khu vực
Một cách ngẫu nhiên, Việt Nam cũng than phiền về các hoạt động của Trung Quốc trong vùng EEZ của nước này và buộc tội các tàu tuần tra của Trung Quốc vì đã gây khó dễ cho một tàu thăm dò dầu khí đang thăm dò địa chất nằm cách bở biển Việt Nam 120km (80 dặm) Vào ngày 28/5 và 9/6, các tàu tuần tra của Trung Quốc đã cắt cáp của hai tàu thăm dò dầu khí Việt Nam Với tuyên bố rằng hai vụ việc trên xảy ra trong vùng EEZ của mình, Việt Nam đã gửi phản đối ngoại giao đến Trung Quốc Đối mặt với các phản đối ngoại giao này của hai quốc gia ASEAN, một người phát ngôn của Bộ Ngoại giao Trung Quốc đã ngạo mạn tuyên bố rằng “Trung Quốc có chủ quyền không thể
81 Cossa and Glosserman, Tlđd, tr 8.
82 Dana R Dillon, “Countering Beijing in the South China Sea,” Policy Review (tháng 6-7/2011) 167 tr 52 http://
proquest.umi.com/pqdweb?index=77&did=2382115331&Src
83 “China Says Philippines Harming Sovereignty, Interests in Spratlys,”BBC Monitoring Asia-Pacific,” BBC ing Asia-Pacific (9/6/2011) tr 1-6.http://proquest.umi.com/pqdweb?index=64did=2369715781&Src
Trang 21Monitor-“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
tranh cãi tại các đảo thuộc Biển Đông và các vùng nước lân cận.”84 Những hành động đơn phương của Trung Quốc được hiểu như một phép thử đối với sự quyết tâm của các bên yêu sách khác trong tranh chấp Biển Đông Ngoài ra, những hành động này đã tạo thêm căng thẳng tại khu vực và đặt Trung Quốc vào trong một tình thế xung đột với hai quốc gia thành viên ASEAN
Để đáp trả, Philippines và Việt Nam đã cáo buộc Trung Quốc vi phạm Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 Hai nước này cũng huy động sự ủng hộ ngoại giao từ các quốc gia ASEAN khác, và yêu cầu Mỹ, cũng như Nhật Bản và Úc ủng
hộ ngoại giao Sáu quốc gia thành viên ASEAN đã ủng hộ lời kêu gọi của Philippines
về một giải pháp hòa bình cho tranh chấp Đáng ngạc nhiên, Singapore cũng hối thúc Trung Quốc thành thực hơn về các yêu sách của nước này tại Biển Đông, và đưa ra ý kiến rằng lập trường không rõ ràng của Bắc Kinh đã làm dấy lên những lo ngại quốc tế
Úc cũng ủng hộ lập trường của Philippines trong Hội nghị Bộ trưởng Philippines-Úc tại Canberra vào ngày 16/6/2011.85 Trong một tuyên bố chung, Washington và Tokyo cảnh báo rằng các hoạt động của hải quân Trung Quốc có thể gây mất ổn định cho an ninh khu vực và tạo ra căng thẳng tại Biển Đông.86 Hai nước đồng minh cũng hối thúc Trung Quốc đóng “một vai trò có trách nhiệm và mang tính xây dựng cho sự ổn định
và thịnh vượng của khu vực và kêu gọi sự tuân thủ của Trung Quốc đối với các chuẩn mực quốc tế về hành vi ứng xử.”87
Rõ ràng là, một loạt các sự kiện trên là một ví dụ của việc hai quốc gia ASEAN, cùng với sáu quốc gia thành viên ASEAN khác, và ba cường quốc chính (Mỹ, Úc và Nhật Bản) đã áp dụng chính sách kiềm chế đối với một Trung Quốc quyết đoán Gây áp lực với Trung Quốc thông qua chính sách này để điều tiết các hành vi hiếu chiến của Trung Quốc tại Biển Đông là một phép thử cho các nước ASEAN và Mỹ Chính sách kiềm chế này có vai trò cực kỳ quan trọng khi đặt trong bối cảnh Philippines, Việt Nam và Trung Quốc đều không sẵn sàng từ bỏ các yêu sách của họ tại quần đảo Trường Sa và các vùng biển xung quanh.88
Đáng chú ý, một vài ngày trước cuộc họp thường niên ARF 2011 tại Jakarta, Trung Quốc và các nước ASEAN đã nhất trí về các hướng dẫn có câu chữ mơ hồ để thực thi Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002 Các quan chức ASEAN cho biết các hướng dẫn này để dành cho các dự án hợp tác chung mà cả hai bên sẽ cùng theo đuổi tại Biển Đông.89 Những dự án này sẽ giải quyết các vấn đề xuống cấp môi trường và xuống cấp biển, dịch bệnh SARS, tội phạm xuyên quốc gia, hàng hải và các
84 Xem Edward Wong, “China Navy Reaches Far, Unsettling the Region,” New York Times (15/6/2011) tr 3 http://
88 Wong, “China Navy Reaches Far,” tr 4
89 _ “ASEAN, China Agree on SC SEA Conflict Guidelines,” Antara (21/7/2011) tr 1 http://proqeust umi.com/pqdweb?index=34&did=2404793141&Src
Trang 22vấn đề đa dạng sinh học khác Tuy nhiên, thỏa thuận này chỉ là một phần của DOC năm 2002 vì nó không thể đứng độc lập một mình Ngoài ra, thỏa thuận này thiếu các điều khoản về quản lý hoặc giải quyết tranh chấp, ví dụ như các quy tắc về can dự mà có thể quy định hoạt động của tàu chiến của các bên yêu sách tại vùng biển tranh chấp ở Trường Sa, hoặc khuôn khổ ngoại giao để giải quyết các tranh chấp lãnh thổ Rõ ràng là, động cơ của Trung Quốc trong việc xây dựng nên những hướng dẫn này là sự tiện lợi có được khi xoa dịu các nước thành viên ASEANkhiến các nước này sẽ loại trừ tranh chấp Biển Đông ra khỏi chương trình nghị sự của ARF trước khi Ngoại trưởng Clinton đặt chân tới Bali, Indonesia.90 Điều này đã tạo ra một hố sâu ngăn cách giữa Mỹ và ASEAN trong việc theo đuổi một mặt trận chung chống lại chính sách thu phục lãnh thổ của Trung Quốc tại Biển Đông Một nhà phân tích Úc đã tiết lộ âm mưu này như sau:
Trung Quốc gần như chắc chắn sẽ đồng ý với các hướng dẫn vì sự tiện lợi của việc làm này, do họ muốn trấn an các nước ASEAN sau khi các tàu Trung Quốc dính líu vào các hành động hung bạo, đã được công bố rộng rãi tại vùng biển của Philippines và Việt Nam trong năm nay Việc không nhất trí sẽ khiến Trung Quốc gặp bất lợi về ngoại giao
Có lẽ, Trung Quốc không muốn các thành viên ASEAN khuyến khích Mỹ can thiệp một lần nữa
Mặc dù Ngoại trưởng Trung Quốc Dương Khiết Trì đã nói rằng Trung Quốc vẫn đang để mở khả năng cho một bộ quy tắc ứng xử vào một thời điểm thích hợp, các quan chức Đông Nam Á nghi ngờ điều này Họ chỉ đơn giản không tin rằng Bắc Kinh sẽ thay đổi thái độ của mình…91
Thách thức Chính sách kiềm chế
Không thỏa mãn với các nỗ lực ngăn cản các cố gắng của Washington muốn khai thác ASEAN như một khối ngoại giao, Trung Quốc đã bắt đầu thách thức các sáng kiến ngoại giao của chính quyền Obama bằng việc tăng cường năng lực hải quân và hành xử ngày càng quyết đoán hơn Với nền kinh tế bùng nổ, Trung Quốc đang dần phát triển một lực lượng hải quân có quy mô cực kỳ lớn Lực lượng hải quân của Trung Quốc đã chuyển từ ngăn chặn khả năng Mỹ can thiệp vào khủng hoảng tại eo biển Đài Loan sang phát triển năng lực để từ chối Hải quân Mỹ tiếp cận Biển Hoa Đông và Biển Đông hay trong cái gọi là chuỗi đảo thứ nhất, kéo dài từ Nhật-Okinawa-Đài Loan xuống Philippines Từ năm 2006, tăng trưởng chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc luôn đạt mức hai con số Đầu thế kỷ 21, Trung Quốc đã giới thiệu ba lớp tàu khu trục mới (Lữ Dương I, Lữ Dương II, và Lữ Châu) với ra-đa và hệ thống vũ khí phòng thủ trên không
có nhiều tính năng hơn, cũng như các tàu khu trục hộ vệ (Giang Vệ II, Giang Khải I và Giang Khải II) với các năng lực chiến đấu và khả năng đi biển được cải tiến.92 PLAN,
90 “ASEAN and China Endorse Guide Lines on South China Sea,” Bernama, (21/7/ 2011), tr 1
Trang 23“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
tương tự như vậy, cũng tăng cường khả năng hoạt động trên các vùng biển xung quanh Đài Loan và triển khai hai lớp mới tàu ngầm tấn công có trang bị tên lửa đạn đạo Những bước phát triển năng lực này cho phép PLAN mở rộng tầm hoạt động từ chuỗi đảo đầu tiên (một đường tưởng tượng chạy từ phía nam Nhật Bản tới Okinawa-Đài Loan và Philippines) tới chuỗi đảo thứ hai, được kéo dài từ phía bắc Nhật Bản tới nhóm đảo Bắc Marianasm, Guam và xa hơn về phía nam tới Palau.93
Vượt ra ngoài trọng tâm chiến lược là Đài Loan, Trung Quốc đã phát triển năng lực hải quân để tạo ra các căng thẳng trong khu vực bằng cách thách thức yêu sách của các quốc gia nhỏ hơn đối với các phần của Biển Đông, và bằng cách thay đổi sơ đồ chiến lược tại Đông Á và Tây Thái Bình Dương, nơi mà Hải quân Mỹ có thể bị đẩy ra bên ngoài các vùng biển quốc tế Thú vị là, các nhà bình luận truyền thông, giới học giả, và các nhà phân tích của Trung Quốc cũng đã nhấn mạnh đến tầm quan trọng của sức mạnh hải quân của họ và nhu cầu cấp bách của việc bảo vệ chủ quyền của Trung Quốc đối với các vùng biển xung quanh Họ đồng quan điểm rằng PLAN cần phải có phạm vi hoạt động không bị giới hạn, và cần phải sở hữu năng lực hoạt động tại các vùng nước sâuđể duy trì sự hiện diện quân sự tại các vùng biển, có năng lực răn đe, và thực hiện các nhiệm vụ ngoại giao quân sự.94
Sự quyết đoán của Trung Quốc trong việc thúc đẩy các yêu sách của nước này tại Biển Đông và Biển Hoa Đông đang được tăng dần lên song song với việc mở rộng các ngành biển và hải quân.95 Để hỗ trợ cho các yêu sách của mình, Trung Quốc đã tiến hành rất nhiều các cuộc diễn tập hải quân, trong đó sử dụng nhiều hơn các tàu chiến nổi hiện đại và thậm chí cả tàu ngầm.96 Những cuộc diễn tập hải quân này nhằm mục đích thể hiện quyết tâm của Trung Quốc muốn giải quyết tranh chấp bằng biện pháp đơn phương và dựa vào quân sự, cũng như để phô trương các năng lực hải quân đang ngày càng được phát triển, và để tạo ấn tượng với các bên tranh chấp khác về quyền
sở hữu “trên thực tế” (de facto) đối với các vùng biển tranh chấp Trung Quốc cũng đã dành nhiều nguồn lực vào việc xây dựng lực lượng hải quân tại Biển Đông PLAN đã thành lập một căn cứ tàu ngầm vô cùng lớn tại Đảo Hải Nam, đặt Hạm đội Phía Nam nằm ở vị trí gần hơn tới các vùng tranh chấp Vào tháng 7/2011, Trung Quốc chính thức thừa nhận việc tái xây dựng một tàu sân bay để có thể triển khai thử nghiệm trong cùng năm Họ cũng đang xem xét nghiêm túc việc xây dựng một tàu sân bay khác, do tàu sân bay đầu tiên của họ (Tàu sân bay Varyag của Liên Xô trước đây) đã được tân trang lại
để thực hiện các nghiên cứu và đào tạo khoa học.”97 Hiện họ vẫn chưa có kế hoạch triển
93 Nan Li, “The Evolution of China’s Naval Strategy and Capabilities: From “Near Coast” and “Near Sea” to “Far Seas” Tlđd tr 129.
94 Daniel M Hartnett và Frederic Vellucci, “Toward a Maritime Security Strategy: An Analysis of Chinese Views since Early 1990s,” Tlđd tr 101.
95 Peter Dutton, “Three Disputes and Three Objectives: China and the South China Sea,” Naval War College Review
(Mùa thu năm 2011) 54, 4 tr 47.
96 Về chi tiết các cuộc tập trận của Trung Quốc xem các vùng biển xung quanh, xem National Institute for Defense Studies, Tlđd tr 14-21.
97 Teddy Ng, “PLA Carrier Launch Downplayed Refitted Soviet Vessel for Training, Beijing Says; Two duced Carriers Reportedly on Way,” South China Morning (ngày 28/7/2011) tr 1
http://proquest.umi.com/pqdweb?index=14&did=2408826031&Src
Trang 24khai tàu sân bay đầu tiên này trong một nhóm chiến đấu, nhưng nó sẽ được sử dụng như là một bản thiết kế cho các tàu sân bay bản địa Được biết, Trung Quốc đang xây dựng hai tàu sân bay bản địa tại nhà máy đóng tàu Giang Nam ở Thượng Hải, đây là một phần của chương trình hiện đại hóa quân sự trên diện rộng của PLAN Ngoài ra, năm
2008, Trung Quốc cũng đã thành công trong việc tìm ra nguyên lý kỹ thuật của máy bay chiến đấu hải quân Su-33 do Nga thiết kế và năm 2009 đã thử nghiệm bay phiên bản với ký hiệu J-15của mình Máy bay J-15 có khả năng đi vào sản xuất trong một vài năm tới, giúp PLAN có được loại máy bay chiến đấu thế hệ thứ tư có có thể được triển khai
từ lực lượng tàu sân bay còn non trẻ của họ.98
Những diễn biến này đã gây lo lắng cho các láng giềng của Trung Quốc, các quốc gia vẫn còn đang sốc trước các cuộc đối đầu của họ với tàu tuần tra Trung Quốc tại vùng biển có tranh chấp Trong thời gian ngắn hạn, các nhà phân tích hải quân của Trung Quốc dự đoán việc triển khai các tàu sân bay của PLAN trong tương lai trong chiến dịch tấn công các đảo san hô chống lại các quốc gia yêu sách khác99 Trong thời gian dài hạn, những tàu sân bay này sẽ cho phép PLAN có năng lực tấn công trên không
để “tấn công các lực lượng hải quân đối địch” và trở thành một lực lượng hải quân khu vực hùng mạnh có thể hoạt động hiệu quả tại nơi mà các nhà phân tích hải quân Trung Quốc gọi là “các vùng biển xa”.100 Rõ ràng là, PLAN tin rằng sức mạnh hải quân vượt trội
sẽ giúp Trung Quốc giải quyết các tranh chấp lãnh thổ với các bên yêu sách nhỏ hơn theo như điều kiện của Trung Quốc, và buộc Hải quân Mỹ phải rời khỏi Biển Đông và những vùng tranh chấp biển ở ngoại vi
PLAN hiện nay có đủ khả năng để thực hiện các hoạt động tác chiến tầm xa, với công nghệ phức tạp và cường độ cao dọc vùng duyên hải của Trung Quốc Được phát triển nhờ vào ngân sách được gia tăng và năng lực đóng tàu trong nước được cải thiện, PLAN hiện đang đi đầu trong quá trình hiện đại hóa quân đội của Trung Quốc và ở vào vị trí tiền tuyến trong nền ngoại giao quân sự của Bắc Kinh Quan trọng hơn, PLAN đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu để theo đuổi chính sách quốc gia của Trung Quốc.101 Kết quả là, các quan chức cấp cao của Trung Quốc đã từ bỏ tư thế ôn hòa và trấn an dư luận như trước đây Thay vào đó, họ ngày càng trở nên quyết đoán và dân tộc chủ nghĩa, tuyên bố thẳng về vị thế đang lên của Trung Quốc, về sự suy yếu của Mỹ, và các yêu sách không thể tranh cãi của họ ở Biển Hoa Đông và Biển Đông Họ nhất nhất miêu tả đất nước của họ như là nạn nhân, chỉ phản ứng và phòng thủ trước các xâm lấn biển ngày càng tăng của hai quốc gia nhỏ hơn - Việt Nam và Philippines, và sự can thiệp không chính đáng từ phía Mỹ
98 Philip Saunders và Joshua K Wiseman, Buy, Build, Or Steal: China’s Quest for Advanced Military Aviation gies (Washington, D.C: National Defense University Press, 2011) tr 47.
Technolo-99 Daniel J Kostecka, “From the Sea: PLA Doctrine and the Employment of Sea-Based Airpower,” Naval War lege Review (mùa hè năm 2011) 64, 3 tr 14-15 http://proquest.umi.com/pqdweb?index=448did=2355404271
Trang 25“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
Vào mùa hè năm 2011, các tàu đổ bộ, tàu khu trục, lực lượng thủy quân lục chiến
và các máy bay của Hạm đội Nam Hải thuộc PLAN đã thực hiện một cuộc diễn tập đổ
bộ quy mô lớn dựa trên kịch bản Trung Quốc chiếm lại các đảo bị các lực lượng đối địch - Philippines và Việt Nam - chiếm đóng.102 Việc này rõ ràng ngụ ý rằng, bất chấp tuyên bố về hợp tác chung và giảm căng thẳng chung tại Biển Đông, Trung Quốc khẳng định rằng chủ quyền của họ tại khu vực này là không thể thương lượng - một lập trường dường như sẽ không thay đổi, bởi vì nó sẽ “là một sự thỏa hiệp chính trị quá đáng đối với lô-gic đã tồn tại từ lâu của nước này về chủ quyền không thể chia cắt.103 Theo dõi các diễn biến tại Biển Đông vào giữa năm 2011, một nhà báo Úc đã những nhận xét rất sâu sắc:
…các điềm báo cho việc ngăn ngừa xung đột và kiềm chế một Trung Quốc đang ngày càng lớn mạnh là không tốt Trừ phi các quốc gia ASEAN chuẩn bị sẵn sàng để chấp nhận sự hiện diện ngày càng tăng của Trung Quốc, trải dài trên một vùng Biển Đông rộng lớn nằm ở trung tâm của khu vực Đông Nam Á
Trong khi có thể khẳng định rõ hệ lụy của điều này trên thực tế, song người ta vẫn chưa hiểu yêu sách của Trung Quốc, vốn đang dấy lên hồi chuông cảnh báo không chỉ cho bên yêu sách trong ASEAN mà còn cho các quốc gia không có yêu sách khác, bao gồm Indonesia, Singapore, Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc Các quốc gia này phụ thuộc vào tuyến đường vận chuyển không bị cản trở tại Biển Đông cho các hoạt động thương mại, cung ứng năng lượng và quân sự, và họ không muốn Trung Quốc ở một vị trí có lợi thế hơn để có thể khống chế con đường địa chính trị quan trọng giữa Thái Bình Dương và
Ấn Độ Dương.104
Từ Ngoại giao Kiềm chế đến Chiến lược Kiềm chế?
Một hàm nghĩa chính sách quan trọng của Tuyên bố Hà Nội năm 2010 đó là sự bắt đầu của việc thi hành một cách chính thức chính sách kiềm chế đối với Trung Quốc Ngoại trưởng Clinton nói rõ rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải tại Biển Đông; và Mỹ ủng hộ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002; và quan trọng hơn, Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho một quá trình hợp tác đa phương trong giải quyết tranh chấp Rõ ràng là, chính sách kiềm chế cho phép chính quyền Obama ủng hộ các tuyên bố của họ về tái can dự bằng cách giám sát Trung Quốc-nước đang muốn thực hiện một cuộc định hình lại lãnh thổ trên quy mô lớn tại Đông Á Kết quả là, các quốc gia nhỏ hơn trong ASEAN nhận thấy Mỹ là một đối tác quan trọng trong việc giám sát một Trung Quốc đang trỗi dậy
Ngay lập tức, Ngoại trưởng Trung Quốc nói rằng tuyên bố của Ngoại trưởng Mỹ Clinton đã trở thành một cuộc tấn công thật sự vào Trung Quốc Sau ARF lần thứ 17, giới quân sự Trung Quốc chỉ trích việc quốc tế hóa tranh chấp và đã thực hiện bốn cuộc
102 National Institute for Defense Studies, NIDS China Security Report 2011 (Tokyo: The National Institute for
Trang 26tập trận hải quân lớn tại Biển Đông Trung Quốc cũng cảnh báo các quốc gia Đông Nam Á không nên bất chấp chủ quyền của Trung Quốc đối với Biển Đông mà tham gia vào một trò chơi quyền lực nhằm kiểm soát các nguồn tài nguyên tại vùng biển này Bằng cả biện pháp quân sự và ngoại giao, Trung Quốc cũng đã gây áp lực buộc Hà Nội
và Manila phải đàm phán song phương với Bắc Kinh, thừa nhận tính hợp pháp của yêu sách rộng lớn của Trung Quốc tại Biển Đông, và làm cho Tuyên bố Hà Nội năm 2010 bị mất ý nghĩa và trở nên không thực tế
Đúng như dự đoán, Trung Quốc đã phá hoại chính sách kiềm chế được đưa ra từ tháng 7/2010 Với tư cách là một láng giềng, một đối tác thương mại và một nhà đầu tư quan trọng, và đôi khi là một đồng minh chính trị của hầu hết các nước ASEAN, Trung Quốc đã ngăn cản thành công sự hình thành của một liên minh tình thế giữa các quốc gia có thể sẽ kiềm chế Trung Quốc tại Biển Đông Hơn nữa, với việc xây dựng Hải quân thuộc Quân đội Giải phóng Nhân Dân và biểu dương sức mạnh trên biển, Trung Quốc
đã tăng thêm sức mạnh cho yêu sách về chủ quyền cũng như lợi ích và quyền lợi biển của mình tại Biển Đông trong sự thiệt thòi của các bên yêu sách khác Những diễn biến này, vì vậy, đã khiến chính quyền Obama phải thắt chặt thêm chiến lược ngoại giao kiềm chế của mình với một cây gậy, không phải để theo đuổi một chính sách ngăn chặn kiểu Chiến tranh Lạnh được xem là quá đơn giản và sai lầm với Trung Quốc, nhưng để Trung Quốc phải tôn trọng “sức mạnh Mỹ, ý chí và chiến lược của Mỹ.”105
Vào tháng 11/2011, Tổng thống Obama cảnh báo Chủ tịch Hồ Cẩm Đào rằng Mỹ sẽ điều thêm tàu chiến tới vùng biển ngoài khơi Trung Quốc trong thời gian diễn ra hội nghị Thượng đỉnh APEC 2011 tại Seoul.106 Một năm sau đó, ông Obama thông báo trước Nghị viện Úc rằng cùng với sự can thiệp của Mỹ tại Iraq và Afghanistan đang dần kết thúc, Mỹ đang chuyển hướng dần sang khu vực Thái Bình Dương đang phát triển nhanh như một phản đáp đối với ảnh hưởng của Trung Quốc đang trỗi dậy.107 Trong bài phát biểu của mình, Tổng thống Obama cũng thông báo về việc đặt 2500 quân Lính thủy đánh bộ tại miền Bắc nước Úc để phục vụ cho việc huấn luyện và tập trận tại khu vực và cũng để giúp bảo vệ những tuyến đường biển quan trọng dọc Biển Đông Điểm thú vị là, ông cũng đề cập việc Mỹ đang tăng cường quan hệ quân sự với Philippines, nước đang có tranh chấp biển với Trung Quốc Theo đó, kế hoạch xoay trục chiến lược tới Thái Bình Dương của
Mỹ là nhằm “đảm bảo rằng Mỹ sẽ đóng vai trò lớn hơn và dài hơi hơn trong việc định hình khu vực này cũng như tương lai của nó.” Mục tiêu cuối cùng của Mỹ là nhằm kiến tạo các chuẩn mực và quy tắc tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương, đảm bảo rằng “luật pháp và chuẩn mực quốc tế được tôn trọng, giao thương và tự do hàng hải không bị xâm phạm, các cường quốc mới nổi tạo dựng lòng tin nơi các nước láng giềng, và các mâu thuẫn được giải quyết trong hòa bình mà không đe dọa cưỡng bức lẫn nhau.”108
105 Mark Landler, “How Obama Switched to Tougher Line with China,” International Herald Tribune (21/9/2012)
Trang 27Congres-“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
Rõ ràng, thông báo về xoay trục chiến lược thể hiện sự chuyển hướng căn bản và quan trọng trong chiến lược toàn cầu của Mỹ, từ việc tập trung chống khủng bố sau sự việc 11/9 sang tái phân bổ sự chú ý, nỗ lực, và nguồn lực để giải quyết những thách thức
và nắm bắt lấy những cơ hội tại khu vực Đông Á Điều đó thể hiện sự dịch chuyển từ chính sách phòng ngừa và trấn an với Trung Quốc sang kiềm chế chiến lược đối với cường quốc mới nổi và quyết đoán tại Đông Á này.109 Điều đó cũng thể hiện quyết định của chính quyền Obama chọn giải pháp ở giữa hai thái cực: công nhiên ngăn chặn hay nhân nhượng Trung Quốc trong bối cảnh thất bại của chiến lược kiềm chế ngoại giao Chính quyền Obama đang gửi đi một thông điệp rõ ràng rằng Mỹ đã sẵn sàng đảm bảo
sự ổn định tại Châu Á, bảo vệ các đồng minh, và cân bằng chiến lược lại một Trung Quốc quyết đoán, trong khi tránh cuộc đối đầu toàn diện với Bắc Kinh Tuy nhiên, trong phân tích cuối cùng, xoay trục chiến lược của Tổng thống Obama tại Châu Á lại biểu thị một sự mở rộng hơn là chuyển biến của chính sách phòng thủ tại Châu Á của
Mỹ từ năm 1945, đó là duy trì các lực lượng triển khai tiền phương để củng cố an ninh
và ổn định khu vực và để đảm bảo rằng Washington có thể dính líu tới hầu hết các diễn tiến ngoại giao quan trọng trong khu vực.110
Nhấn mạnh Chính sách Kiềm chế Chiến lược
Tuyên bố của Tổng thống Obama về sự dịch chuyển chiến lược tới Thái Bình Dương kéo theo hai nỗ lực chiến lược liên quan: (i) tái cân bằng trên địa lý các ưu tiên toàn cầu của Mỹ từ Trung Đông và Nam Á sang Thái Bình Dương; và (ii) dịch chuyển từ trọng tâm phát triển quân đội, từ chỗ tập trung vào những chiến dịch chống nổi dậy hao người tốn của sang phát triển các năng lực không quân và hải quân mạnh - những yếu tố cần thiết để Mỹ thực hiện cam kết trong việc duy trì ưu thế công nghệ của mình trong các cuộc chiến không quân và hải quân.111
Cụ thể, hai nỗ lực này bao gồm những yếu tố sau: (i) quân đội Mỹ sẽ tiếp tục đóng góp vào việc duy trì an ninh toàn cầu, tuy nhiên, sẽ có sự xoay trục chiến lược tại Thái Bình Dương trong bối cảnh là nền kinh tế Mỹ và lợi ích an ninh Mỹ gắn chặt với sự tăng trưởng và năng động của khu vực này;112 (ii) sự chấm dứt những chiến dịch chống nổi dậy quy mô lớn của Quân đội và Thủy Lục quân Mỹ vốn chi phối các hoạt động quân sự của Mỹ từ năm 2001, trong khi vẫn duy trì 11 tàu sân bay của Hải quân Mỹ; và (iii) đầu tư ít hơn vào hệ thống vũ khí mới như Máy bay chiến đấu Liên hợp Tấn công (Joint Strike Jet Fighter), phòng thủ và tấn công trên không gian mạng, kỹ thuật vũ khí cho lực lượng Đặc nhiệm, những lực lượng hạt nhân đang có, và mạng lưới tình báo, giám sát và trinh sát rộng, chuyển sang hướng tập trung hơn vào các năng lực cần thiết hơn cho xoay trục chiến lược Thái Bình Dương, cụ thể là sức mạnh không quân và hải
109 Aaron Friedberg, “Buckling Beijing: An Alternative U.S China Policy,” Foreign Affairs 91, 5 (tháng 9-10/2012)
Trang 28quân.113 Theo đó, trọng điểm sẽ là vào các công nghệ mới cho phép Hải quân và Không quân Mỹ có thể đối kháng với những năng lực quân sự mới của Trung Quốc và Iran vốn nhằm ngăn chặn Mỹ thi hành quyền lực ở gần bờ biển hoặc không phận của họ, thông qua chiến tranh mạng, tên lửa đạn đạo và những vũ khí phòng ngự trên không tối tân khác.114 Vì vậy, quân đội Mỹ cần phải đầu tư đúng yêu cầu để đảm bảo khả năng triển khai và đối kháng hiệu quả đối với những năng lực bất đối xứng mới của Trung Quốc
sử dụng trong chiến tranh điện tử kiểu mới
Bộ trưởng Panetta cũng đề cập đến việc quân đội Mỹ đang phát triển các hệ thống
vũ khí mới cho phép Mỹ vượt qua lại khoảng cách rộng lớn của Thái Bình Dương như một tàu tiếp liệu trên không, một máy bay ném bom, và một máy bay tác chiến chống tàu ngầm Theo đó, những hệ thống vũ khí này sẽ giúp cho lực lượng quân đội Mỹ có được “sự tự do thao tập quân sự tại các khu vực mà quyền tiếp cận và tự do hoạt động của nước này có thể bị đe dọa.”116 Thông điệp này rõ ràng là nhắc đến các nỗ lực của Trung Quốc muốn phát triển một “chiến lược phong tỏa, chống tiếp cận” thông qua việc triển khai các tàu ngầm tấn công sử dụng năng lượng diesel, tên lửa chống tàu thuyền, và các vũ khí khác được thiết kế để răn đe Hải quân Mỹ không nên hoạt động gần bờ biển Trung Quốc Ông cũng thêm rằng, chính sách xoay trục cũng sẽ bao gồm các cuộc diễn tập quân sự mở rộng của Mỹ tại Thái Bình Dương và các chuyến viếng thăm cảng biển tại những khu vực ví dụ như Ấn Độ Dương
Thông báo của chính quyền Obama về xoay trục chiến lược tới khu vực Thái Bình Dương được đưa ra vào thời điểm Trung Quốc đang thể hiện rõ vị thế tại khu vực thông
113 Thom Shanker and Elizabeth Bumiller, “Downsizing is Key Word in Planning at Pentagon,” International Herald Tribune (ngày 6/1/2012) tr 1-16 và Tlđd tr 29.
114 Chicago Tribune, “President Obama Unviels Leaner Pentagon Budget: The Navy is Expected to Keep its rent Aircraft Carriers,” The Herald (ngày 6/1/2012) http://search.proquest.com/docview/914461902/13818
Cur-EF83BE5CF
115 Jane Perlez, “U.S Gives Explanation for its “Pivot” to Asia,” International Herald Tribune (ngày 4/6/2012) tr 1
http://search.proquest.com/doc/view/1018261286/13818EF8BE5C
116 David S Cloud, “Panetta Out to Reassure Allies Defense Chief Says U.S Commitment, Asian Pivot Real, “
South Florida-Sun-Sentinel (ngày 2/6/2012) tr 1 http://search.proquest.com/docview/1018147535/13818EF
8BE5C
Trang 29“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
qua việc xây dựng lực lượng hải quân và thể hiện sự quyết đoán tại Biển Đông Tuyên bố này được hình thành và đưa ra bởi vì Bắc Kinh đã cố gắng ngăn chặn việc hình thành một liên minh các quốc gia Đông Nam Á mà có thể sẽ kiềm chế yêu sách biển rộng lớn của Trung Quốc tại Biển Đông, và cũng là khi Trung Quốc đang đối kháng với lợi thế chiến lược của Mỹ ở Thái Bình Dương thông qua chiến lược phong tỏa và chống tiếp cận Chiến lược xoay trục tới khu vực Thái Bình Dương có ngụ ý cho thấy quyết tâm của chính quyền Obama trong việc duy trì hòa bình và ổn định, bảo đảm sự thông suốt của dòng lưu chuyển thương mại và buôn bán, và củng cố ảnh hưởng ngoại giao của Mỹ tại khu vực thông qua việc kết hợp giữa mối quan hệ đang ngày càng được tăng cường giữa
Mỹ với Châu Á và các lực lượng triển khai tiền phương mạnh Đặc biệt, chiến lược xoay trục muốn gửi đi một thông điệp rằng chính quyền Obama sẽ đối xử với Trung Quốc từ vị thế sức mạnh, thông qua hỗ trợ sáng kiến ngoại giao của mình bằng sức mạnh cứng Điều này đã trở nên cần thiết bởi chính sách quyết đoán ngày càng tăng của Trung Quốc tại Biển Đông, và sự gia tăng liên tục trong chi tiêu quốc phòng của Trung Quốc đều gây bất lợi cho lợi ích của Washington cũng như của các đồng minh Châu Á của
họ Điều này nhấn mạnh rằng Washington muốn kiềm chế và thuyết phục, chứ không phải muốn ngăn chặn Trung Quốc
Xét cụ thể tới tình hình rắc rối tại Biển Đông, chính sách xoay trục ám chỉ rằng chính quyền Obama đã nhận ra việc chỉ sử dụng ngoại giao thôi là chưa đủ Do đó, sáng kiến ngoại giao của nước này cần phải được hỗ trợ bởi các năng lực quân sự để đảm bảo rằng một hệ thống kiểu mới, “dựa trên luật pháp” và toàn diện - hệ thống được thiết kế
để giải quyết tranh chấp lãnh thổ - có thể được thiết lập tại một khu vực gồm các quốc gia theo hệ thống Westphalia117 Một nghiên cứu của Quốc hội Mỹ tháng 3/2012 đã chỉ ra rằng: “Việc chính quyền ngày càng nhấn mạnh vào khu vực Châu Á-Thái Bình Dương dường như là một sự thay đổi về cách thức thực hiện hơn là một sự thay đổi các mục tiêu của chính sách… ẩn sau phần lớn chính sách của Obama đó là thách thức lâu dài trong việc kiểm soát các căng thẳng trong quan hệ Mỹ-Trung, trong khi tìm cách hội nhập Trung Quốc sâu hơn vào cộng đồng quốc tế.”118
Tuy nhiên, Trung Quốc lại nghi ngờ xoay trục chiến lược tới Châu Á của chính quyền Obama Một tháng sau khi Tổng thống Obama công bố chính sách chiến lược mới của mình, Bộ Quốc phòng Trung Quốc ngay lập tức đã lên án động thái này, coi đây như là một sản phẩm của kiểu tư duy thời kỳ Chiến tranh Lạnh.119 Cho dù các quan chức Mỹ đã giải thích với những người đồng cấp bên phía Trung Quốc rằng việc tái cân bằng quân đội Mỹ không nhằm ngăn chặn Trung Quốc, thì Bắc Kinh vẫn coi đây như
117 Đây là những quốc gia vẫn còn gắn chặt với các vấn đề về toàn vẹn lãnh thổ và vẫn còn xa lạ với chuẩn mực chống
sử dụng vũ lực trong các tranh chấp lãnh thổ và chính trị kéo dài Toàn vẹn lãnh thổ là đặc tính quan trọng của các quốc gia trong hệ thống Westphalia và có vai trò như “lá chắn kiên cố” để bảo vệ quốc gia và xã hội khỏi những
gì được cho là các thế lực thù địch và nhân tố nguy hiểm tiềm tàng từ bên ngoài Emil J Kirchner, “Regional and Global Security: Changing Threats and Institutional Responses,” Global Security Governance: Competing Percep- tions of Security in the 21st Century (Biên tập) Emil J Kirchnner and James Sperling (London and New York:
Routledge, 2007) tr 282.
118 Manyin et al, Tlđd tr.4.
119 Jeremy Page, “U.S Seeks to reassure China on Defense, “ Wall Street Journal (ngày 9/12/2011) tr 1.
Trang 30là một sự khởi đầu cho cuộc đối đầu giữa hai nước mà sẽ làm gia tăng mâu thuẫn và xung đột trong khu vực.120 Các quan chức Trung Quốc có ý thức rõ về sức mạnh toàn diện đang ngày càng gia tăng của nước họ, và họ cũng nhận thức rõ được cuộc khủng hoảng tài chính hiện tại của Mỹ, cuộc khủng hoảng có thể làm dấy lên những nghi vấn
về liệu chính quyền Obama có thể cấp kinh phí cho lực lượng bố trí tiền phương quy
mô lớn hơn tại khu vực Châu Á-Thái Bình Dương hay không.121 Kết quả là, họ đã có những bước đi để thể hiện rằng Trung Quốc đã sẵn sàng đối đầu với chính sách kiềm chế chiến lược của chính quyền Obama bằng sức mạnh quân sự tương tự và sự quyết đoán mới tại Biển Đông
Từ tháng 7 đến tháng 8/2012, có tin rằng Trung Quốc đã thực hiện bay thử tên lửa
cơ động mặt đất mang nhiều đầu đạn hạt nhân kiểu mới, và tên lửa đạn đạo phóng từ tàu ngầm JL-2.122 Trung Quốc cũng đã thực hiện các biện pháp quyết liệt và sử dụng một màn phô trương ấn tượng về sức mạnh toàn diện của họ để áp đặt sự kiểm soát ở Biển Đông, ví dụ như:123 (i) sử dụng các tàu an ninh biển và nghề cá để ép buộc các bên yêu sách khác tôn trọng yêu sách của Trung Quốc đối với các đảo và vùng biển tranh chấp; (ii) thể hiện sự quyết tâm trong việc đơn phương khai thác các nguồn tài nguyên biển; (iii) thiết lập một cơ cấu quản lý đa phương diện được hỗ trợ bởi một đơn vị đồn trú quân sự mới để quản lý các khu vực tranh chấp; và (iv) ngăn chặn ASEAN trở thành một khối có lập trường thống nhất trong vấn đề này Những động thái này nhằm tạo ấn tượng với Mỹ rằng Trung Quốc không thích sự tham gia của Mỹ vào tranh chấp Biển Đông Những động thái này cũng có mục đích dùng để truyền đi thông điệp tới chính quyền Obama rằng Trung Quốc sẵn sàng làm bất cứ điều gì, trừ chiến tranh, để phá hoại chính sách kiềm chế chiến lược
Kết luận
Một hàm ý chính sách quan trọng của Tuyên bố Hà Nội năm 2010 đó là sự bắt đầu của việc sử dụng một cách chính thức chính sách kiềm chế đối với Trung Quốc Ngoại trưởng Clinton nói rõ rằng Mỹ có lợi ích quốc gia đối với tự do hàng hải tại Biển Đông;
Mỹ ủng hộ Tuyên bố về cách ứng xử của các bên ở Biển Đông năm 2002; và quan trọng hơn, Mỹ sẵn sàng tạo điều kiện thuận lợi cho một quá trình hợp tác đa phương trong giải quyết tranh chấp Rõ ràng là, chính sách kiềm chế cho phép chính quyền Obama ủng hộ các tuyên bố của nước này về việc tái can dự bằng cách đứng ngoài giám sát Trung Quốc quốc gia đang muốn thực hiện một cuộc tái định hình lãnh thổ trên quy
120 Bloomberg News, “Panetta Outlines U.S Military Strategy for Asia: The Defense Secretary Hopes to Back Allies, Not Antagonize China,” The Herald (ngày 1/6/2012) tr 1 http://search.proquest.com/docview/1018107554
123 Robert Sutter và Chin-hao-Huang, “China-Southeast Asian Relations: China Muscles Opponents on South
Chi-na Sea,” Comparative Connections (tháng 9/2012) tr 1-2 www.csis.org/files/publication/1202qchina_seasia.pdf
Trang 31“Chiến lược xoay trục Châu Á của chính quyền Obama: Chuyển từ kiềm chế ngoại giao sang kiềm chế
mô lớn tại Đông Á Kết quả là, các quốc gia nhỏ hơn trong ASEAN tìm thấy ở Mỹ một đối tác quan trọng trong việc giám sát một Trung Quốc đang trỗi dậy
Tuy nhiên, Trung Quốc đã phá hoại chính sách kiềm chế được đưa ra từ tháng 7/2010 Với tư cách là một láng giềng, một đối tác thương mại, một nhà đầu tư quan trọng, và đôi khi là một đồng minh chính trị của các nước ASEAN, Trung Quốc đã ngăn cản sự hình thành của một liên minh tình thế giữa các nước ASEAN do Mỹ ủng
hộ, một liên minh có thể sẽ kiềm chế tham vọng bành trướng của Trung Quốc tại Biển Đông Kết quả là, chính quyền Obama đã quyết định hỗ trợ sáng kiến ngoại giao của nước này bằng một chương trình tái triển khai trên quy mô lớn các lực lượng hải quân
và không quân từ Châu Âu và Trung Đông tới Châu Á Tuy nhiên, Trung Quốc đã ngay lập tức cho chính quyền Obama thấy rằng họ sẵn sàng đối đầu với chính sách kiềm chế chiến lược của Mỹ Nếu chính sách kiềm chế chiến lược này thất bại, khu vực Đông Á
sẽ phải đối mặt với ba kịch bản xấu nhất: một tình thế cân bằng quyền lực tại khu vực, trong đó các quốc gia bất kể lớn nhỏ đều bị cuốn vào một cuộc cạnh tranh dai dẳng, cuộc cạnh tranh có thể tạo ra nguy cơ thành lập liên minh, sắp xếp lại liên minh, xâm lăng, và hàng loạt các khủng hoảng chính trị căng thẳng, những điều làm gợi nhớ lại thời kỳ Chiến tranh Lạnh; hoặc là một khu vực bị thống trị bởi hai cường quốc lớn; hoặc chiến tranh có hệ thống trên quy mô lớn giữa một cường quốc Đông Á mới nổi và siêu cường duy nhất trên thế giới
Trang 33Do đó, trước tiên, tôi sẽ giải thích những vấn đề mà chúng tôi đang phải đối mặt ở Biển Hoa Đông, thảo luận về những điểm đồng và khác biệt từ tình hình ở Biển Đông Tôi sẽ đề cập đến những xung đột giữa Nhật Bản và Trung Quốc và Đài Loan đối với quần đảo Senkaku (Đảo Điếu Ngư hoặc Tiaoyu Tai theo cách gọi của Trung Quốc) Cuộc thảo luận này hướng tới mục tiêu đưa ra những khía cạnh pháp lý một cách công bằng nhất có thể Với cách làm như vậy, lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông có thể được các nước liên quan hiểu đúng hơn, đặc biệt
là những quốc gia tiếp giáp với Biển Đông Mặt khác, Nhật Bản cũng có thể cân nhắc một cách đúng đắn và thích đáng những sự việc diễn ra ở Biển Hoa Đông so với vấn đề ở Biển Đông
Thứ hai, Nhật Bản là một trong những quốc gia biển quan trọng, thực sự là một cường quốc biển hùng mạnh có lợi ích ở Biển Đông Nhật Bản có lợi ích quốc gia quan trọng trong việc bảo đảm an toàn các tuyến giao thương trên biển, tài nguyên biển, an ninh biển và thiết lập cơ chế quản lý đại dương Chúng tôi không thể bỏ qua các tranh chấp ở Biển Đông như thể chúng không liên quan gì đến Nhật Bản Quan điểm này là một khía cạnh khác trong những lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông
Trang 34IIVấn đề An ninh Biển ở Biển Hoa Đông và các vùng biển tiếp giáp bao gồm những vấn đề liên quan đến yêu sách lãnh thổ, phân định ranh giới biển, khai thác nguồn tài nguyên dưới đáy biển và nguồn lợi thủy sản, bảo vệ các tuyến thông thương trên biển, lưu thông hàng hải trong vùng đặc quyền kinh tế, Eo biển Đài Loan và sự dịch chuyển sức mạnh.
Về vấn đề lãnh thổ, Nhật Bản và Trung Quốc, Trung Quốc và Hàn Quốc, và Hàn Quốc và Nhật Bản đang tồn tại những vấn đề nghiêm trọng, nói cách khác, đó là tranh chấp và xung đột Như đã chú dẫn Nhật Bản cũng có tranh chấp lãnh thổ với Nga ở vùng lãnh thổ phía Bắc
Đài Loan và Trung Quốc yêu sách chủ quyền Quần đảo Senkaku chỉ từ năm 1970, Nhật Bản đã liên tục thực hiện việc kiểm soát hiệu quả đối với Quần đảo Senkaku hơn một thế kỷ nay Hàn Quốc hiện đang kiểm soát Takeshima (Dokdo theo cách gọi của Hàn Quốc), nhóm đảo Nhật Bản tuyên bố chủ quyền kể từ khi khu vực này bị Hàn Quốc chiếm đóng bất hợp pháp nửa thế kỷ trước Giữa Hàn Quốc và Trung Quốc, cũng
có tranh chấp chủ quyền đối với một số đá hay bãi ngầm Những vấn đề về lãnh thổ gần đây đã trở nên nóng bỏng và là vấn đề nhạy cảm giữa hai quốc gia
2) Cần thảo luận vấn đề lãnh thổ dựa trên quan điểm pháp lý càng nhiều càng tốt Nếu không, các quốc gia liên quan có thể có những hành động, làm tình hình xấu đi tới mức họ không thể nào kiểm soát được Tôi muốn giải thích lập trường của Nhật Bản đối với Quần đảo Senkaku từ quan điểm này, trích dẫn thông báo1 của Bộ Ngoại giao, Nhật Bản, và đánh giá về quan điểm của phía Trung Quốc Tập trung vào vấn đề này sẽ góp phần làm rõ lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông đồng thời có thể giúp các quốc gia tiếp giáp với biển liên quan cân nhắc những khó khăn
Từ năm 1885, Chính phủ Nhật Bản đã phối hợp cùng chính quyền quận Okinawa tiến hành cácnghiên cứu về quần đảo Senkaku một cách kỹ lưỡng Qua nhiều cuộc khảo sát, có thể khẳng định rằng quần đảo Senkaku không chỉ bị bỏ hoang, mà còn không hề có dấu hiệu cho thấy nằm dướisự kiểm soát của Trung Quốc Ngày 14/1/1895, 10 năm sau khi bắt đầu hoạt động nghiên cứu, trên cơ sở xác nhận này, Chính phủ Nhật Bản đưa ra một Quyết định Nội các tiến hành dựng một cột mốc trên Quần đảo để chính thức sáp nhập Quần đảo Senkaku vào lãnh thổ của Nhật Bản Hành động này được thực hiện phù hợp với những phương thức đã có từ lâu về thụ
đắc chính đáng chủ quyền lãnh thổ theo luật pháp quốc tế: gọi là chiếm giữ lãnh thổ
vô chủ.
Kể từ đó, Quần đảo Senkaku nằm dưới sự kiểm soát hiệu quả của Nhật Bản Ví dụ như, một cư dân của Quận Okinawa đã đưa ra yêu cầu thuê lại các đảo, và được Chính quyền Meiji đồng ý vào năm 1896 Sau khi được phê duyệt, người dân đó đã đưa một
số công nhân đến những hòn đảo này và tiến hành các công việc sau đây: thu thập lông chim, sản xuất cá ngừ khô, thu lượm san hô, chăn nuôi gia súc và sản xuất các mặt hàng
1 Trang chủ của Bộ Ngoại giao Nhật Bản, tôi truy cập vào ngày 15/11/2012
http://www.mofa.go.jp/region/asia-paci/senkaku/senkaku.html
Trang 35Lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông
đóng hộp Thực tế là Chính quyền Meiji đã đồng ý việc Quần đảo Senkaku được sử dụng bởi một cá nhân, nói cách khác là những người có thể điều hành công khai công việc kinh doanh, chứng minh sự kiểm soát hiệu quả của Nhật Bản đối với Quần đảo này.Quần đảo Senkaku còn là một phần không thể thiếu của Quần đảo Nansei Shoto (Quần đảo Tây Nam) thuộc lãnh thổ của Nhật Bản Các quần đảo này không phải là một phần của Đài Loan cũng không phải một phần của quần đảo Bành Hồ (Pescadores Islands) được nhượng lại cho Nhật Bản từ thời nhà Thanh của Trung Quốc theo Hiệp ước Shimonoseki2, được ký sau cuộc Chiến tranh Trung-Nhật,có hiệu lực từ tháng 5/1895 Vì vậy, cáo buộc cho rằng Nhật Bản sở hữu quần đảo Senkaku do kết quả của cuộc chiến tranh Trung-Nhật là hoàn toàn không có cơ sở pháp lý
Quần đảo Senkaku không được tính vào vùng lãnh thổ mà Nhật Bản từ bỏ bởi Hiệp ước Hòa bình San Francisco.3 Quần đảo Senkaku đặt dưới sự quản lý của Mỹ như một phần của Quần đảo Nansei Shoto, theo đúng hiệp ước nói ở trên.4 Quần đảo Senkaku được gộp vào khu vực mà quyền hành chính đối khu vực này được trao lại cho Nhật Bản theo Hiệp định giữa Nhật Bản và Mỹ liên quan đến quần đảo Ryukyu và quần đảo Daito5 được ký ngày 17/6/1971
Mãi cho đến năm 1971, chính quyền Đài Loan và Chính phủ Trung Quốc mới bắt đầu đưa ra yêu sách về chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Senkaku Cùng thời điểm này, Ủy ban Kinh tế Châu Á và Viễn Đông của Liên Hợp Quốc (ECAFE) đã tiến hành một cuộc khảo sát mang tính học thuật6 và qua đó cho thấy tiềm năng về tài nguyên dầu khí trên Biển Hoa Đông Trong ba phần tư của thế kỷ qua, không có bất kỳ quốc gia hoặc khu vực nào đưa ra phản đối, bao gồm cả Trung Quốc, về chủ quyền của Nhật Bản đối với Quần đảo Senkaku Một thực tế đáng chú ý trong cuộc thảo luận về chủ quyền lãnh thổ là chính phủ Trung Quốc đã không tuyên bố chủ quyền đối với Quần đảo này trong một khoảng thời gian hơn 70 năm, kể cả thời gian sau khi kết thúc Chiến tranh Thế giới lần thứ hai
Về mặt chứng cứ, không một bằng chứng lịch sử, địa lý, địa chất nào mà Chính phủ Trung Quốc đưa ra cung cấp cơ sở vững chắc cho việc Trung Quốc khẳng định chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Senkaku xét trên quan điểm luật pháp quốc tế Trái lại, có bằng chứng về việc Trung Quốc công nhận chủ quyền Đảo Senkaku không phải thuộc người Trung Quốc Ví dụ, “Quần đảo Senkaku, Huyện Yaeyama, Quận Okinawa,
Đế quốc Nhật Bản” đã được nhắc đến trong bức thư của một nhà ngoại giao Trung Quốc Đây là lá thư đề vào tháng 5/1920 bày tỏ sự biết ơn, gửi từ lãnh sự Trung Hoa Dân Quốc ở Nagasaki về tình hình nguy hiểm xung quanh quần đảo Senkaku liên quan đến
2 Điều khoản II của Hiệp ước Shimonoseki, ký ngày 17/4/1895.
6 Geological Structure and Some Water Characteristics of the East China Sea and the Yellow Sea, Ủy ban Kinh tế về Châu
Á và Viễn Đông, Ủy ban Phối hợp Khảo sát Chung về Nguồn tài nguyên Khoáng sản ở Khu vực Xa bờ Châu Á, C.C.O.P Thông báo Kỹ thuật Số 2 năm 1969
Trang 36ngư dân Trung Quốc từ tỉnh Phúc Kiến Ngoài ra, một bài viết trên tờ Nhân dân Nhật báo đề ngày 8/1/1953, dưới tiêu đề “Trận chiến của người dân Quần đảo Ryukyu chống lại việc Mỹ chiếm đóng”, đã viết rõ ràng rằng Quần đảo Ryukyu “bao gồm 7 nhóm đảo gồm cả Quần đảo Senkaku” Hơn nữa, ví dụ, “Tân Bản đồ Trung Hoa Dân Quốc” xuất bản ở Trung Quốc năm 1933 và “Bản đồ Thế giới” xuất bản ở Trung Quốc vào năm
1960 đã coi Quần đảo Senkaku là một phần lãnh thổ của Nhật Bản
3) Từ góc độ luật pháp quốc tế, có thể nói rằng Trung Quốc và Đài Loan đã yêu sách quyền sở hữu lịch sử đối với Quần đảo Senkaku dù họ không hề giải thích rõ về cơ sở pháp lý của mình đối với Quần đảo này Vậy Trung Quốc và Đài Loan thực sự có danh nghĩa lịch sử hay không? Chúng tôi nghĩ rằng không bằng chứng nào Trung Quốc đưa
ra sẽ hỗ trợ yêu sách của nước này đối với Quần đảo Senkaku theo quan điểm pháp lý
và cách diễn giải có chủ ý mà Trung Quốc đã ghi trong các tài liệu liên quan đến Quần đảo Senkaku Thêm vào đó, một điểm quan trọng là không hề có bất kỳ bằng chứng nào chứng minh việc “kiểm soát hiệu quả” của Trung Quốc đối với các đảo trong quá khứ, tính cả thời đại Nhà Minh Tôi không tin Trung Quốc đã giải thích rõ về điểm này Nếu không có bằng chứng về sự kiểm soát hiệu quả trong quá khứ thì không nước nào có thể yêu sách chủ quyền, thậm chí là yêu sách quyền sở hữu lịch sử
4) Hiện tại, hành động và cách ứng xử của hai nước trên cơ sở yêu sách chủ quyền đối với Quần đảo Senkaku đã trở nên rõ rệt Có khả năng leo thang tranh chấp về chủ quyền lãnh thổ sẽ diễn ra Trong 20 năm qua Trung Quốc, Đài Loan và Hồng Kông đưa rất nhiều tàu cá, thường xuyên xâm nhập vào lãnh hải Nhật Bản xung quanh quần đảo Senkaku - khu vực Nhật Bản đang kiểm soát hiệu quả, một số công dân Trung Quốc đã đặt chân lên đảo Bốn năm trước, các tàu công vụ Trung Quốc đã cố gắng hiện diện lần đầu tiên trong vùng lãnh hải của Nhật Bản và hai năm trước, một tàu cá Trung Quốc
đã đâm vào tàu tuần tra của Lực lượng Bảo vệ Bờ biển trong vùng lãnh hải Nhật Bản Người dân Nhật cảm thấy tất cả những hành động đó đang phương hại đến tính nguyên trạng của Quần đảo, nghĩ đến khả năng mất mát lãnh thổ khiến họ hết sức thất vọng.Cuối tháng 9/2012, chính quyền Nhật Bản quyết định mua lại Quần đảo Senkaku từ một chủ sở hữu tư nhân người Nhật, nhằm mục đích kiểm soát Quần đảo càng êm thấm càng tốt Hành động của chính quyền bắt đầu bằng thông báo của Thống đốc Thủ đô Tokyo ông Ishihara, một lãnh đạo chính trị nổi tiếng có lập trường cứng rắn với Trung Quốc, về việc mua Quần đảo như động thái quyết đoán để đối phó với Trung Quốc Sau
đó, như các bạn đã biết, chính phủ và người dân Trung Quốc đã phản ứng hết sức gay gắt với những cuộc biểu tình chống Nhật Bản đầy bạo lực bùng phát ở Trung Quốc đại lục Việc mua lại các đảo thuộc Quần đảo Senkaku khiến Trung Quốc nghĩ rằng Nhật Bản đang có động thái mới xâm phạm đến tính nguyên trạng, với khẩu hiệu “quốc hữu hóa” các đảo của chính phủ Nhật Bản đang nổi lên, mặc dù chính quyền của Thủ tướng Noda có ý định xoa dịu tình hình, giữ nguyên trạng bằng cách từ chối xem xét yêu cầu mua lại các đảo của ông Ishihara
5) Có một số điểm đồng về tranh chấp lãnh thổ trong trường hợp Quần đảo Senkaku
và tranh chấp lãnh thổ ở Biển Đông Trung Quốc yêu sách chủ quyền bằng việc khẳng định mối liên hệ lịch sử (danh nghĩa lịch sử) đối với Quần đảo Senkaku và quyền lịch
Trang 37Lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông
sử (vùng nước lịch sử) ở Biển Đông Từ “lịch sử” dường như là điểm nối giữa hai tình huống này Tuy nhiên, “lịch sử” trong trường hợp Quần đảo Senkaku có thể được thảo luận theo quan điểm luật pháp quốc tế, trong khi từ “lịch sử” ở trường hợp của Biển Đông không dễ dàng để thảo luận theo quan điểm đó bởi luật pháp quốc tế không công nhận sự tồn tại của vùng nước lịch sử, ngoại trừ một số trường hợp rất ít về vịnh Công
ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển (UNCLOS) đưa ra vùng nước quần đảo như một khái
niệm mới, nhưng hoàn toàn khác so với vùng nước lịch sử Điều đó có nghĩa rằng hai cách sử dụng từ “lịch sử” khác nhau
Mặt khác, hành động và cách hành xử của các bên đều tương tự trong trường hợp
ở Biển Đông và Biển Hoa Đông Ở Biển Đông một số đảo và đá ngầm bị các nước ven biển chiếm hữu thông qua một quá trình mà đầu tiên các quốc gia đó cho phép tàu thuyền tư nhân gồm cả các tàu cá xâm phạm vùng biển có tranh chấp, sau đó triển khai các tàu của chính phủ tới và lưu lại khu vực này, dẫn đến kết quả các công trình an ninh hoặc quân sự được xây dựng trên đảo, đôi lúc sau khi đụng độ quân sự Cuối cùng, các quốc gia bắt đầu thực hiện kiểm soát hiệu quả bằng việc đảm bảo an ninh cho những người dân sống ở đó
Một điểm khác ở Biển Đông, đặc biệt là vùng nước xung quanh quần đảo Trường
Sa, là mục tiêu hướng tới của sáu bên tuyên bố chủ quyền Đây là tranh chấp chủ quyền
đa phương và các cuộc thảo luận đa phương đang được các bên nỗ lực hướng tới Ở Biển Hoa Đông hầu như tất cả các tranh chấp là song phương và vấn đề lớn nhất là Quần đảo Senkaku, dường như một cuộc thảo luận giữa Nhật Bản và Trung Quốcsẽ không được bắt đầu trong tương lai gần
6) Giữa Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc, việc phân định vùng đặc quyền kinh tế
và thềm lục địa trong Biển Hoa Đông chưa được giải quyết trừ một số hiệp định đặc biệt.Năm 1974, Nhật Bản và Hàn Quốc đã ký kết một hiệp định về khai chung thềm lục địa
ở khu vực mà yêu sách của hai nước chồng lấn7 Ngoài ra, Nhật Bản với Hàn Quốc, Nhật Bản với Trung Quốc, lần lượt đạt được thỏa thuận thiết lập vùng quản lý đánh bắt cá chung tạm thời ở những khu vực mà yêu sách vùng đặc quyền kinh tế của hai nước chồng lấn.Hiệp định Nhật - Trung8 đã thận trọng tránh vẽ bất kỳ đường kẻ nào hoặc thiết lập một khu vực tạm thời ở gần Quần đảo Senkaku Bằng cách làm như vậy, các nguồn lợi thủy sản trong vùng biển này sẽ được bảo vệ phù hợp với lợi ích của cả hai nước9 Gần đây, vào năm 2008, Nhật Bản và Trung Quốc đã đạt được “thỏa thuận sơ bộ” về việc khai thác chung dầu khí dưới đáy biển của Biển Hoa Đông Tuy nhiên, không đạt thêm tiến triển nào trong các cuộc thảo luận để đi đến thỏa thuận cụ thể, trong khi Trung Quốc vẫn tiếp tục khai thác dầu khí ở khu vực rất gần với đường trung tuyến của vùng đặc quyền kinh tế của hai quốc gia
7 Hiệp định giữa Nhật Bản và Hàn Quốc về việc Thiết lập Ranh giới Phía Bắc của Thềm lục địa Tiếp giáp giữa hai nước, Hiệp định giữa Nhật Bản và Hàn Quốc về Khai thác Chung Phía Nam của Thềm lục địa Tiếp giáp giữa hai nước, ký vào ngày 30/1/1974, xem tại http://www.ioc.u-tokyo.ac.jp/~worldjpn/index.html
8 Hiệp định Đánh Nghề cá Trung–Nhật, hiệp định khôi phục lại được ký vào năm 1997
9 Trung Quốc cũng đánh giá cao Hiệp định này Xem báo cáo trên People’s Daily, ngày 24/3/2000: http://english people.com.cn/english/200003/24/eng20000324W104.html
Trang 38Ở Biển Hoa Đông các quốc gia liên quan đã đạt được một số thỏa thuận về khai thác chung đối với thềm lục địa, mặc dù những hiệp định này không hoàn toàn hiệu quả
và cũng không đủ bao quát Những thỏa thuận về khai thác chung như vậy không có hiệu lực để giải quyết các vấn đề lãnh thổ Nhưng điều quan trọng là những hành động hướng tới khai thác chung ở thềm lục địa phải tuân theo các nguyên tắc của UNCLOS Nói chung, đây là một điểm khác biệt so với tình hình ở Biển Đông
Nhật Bản vẫn chưa đàm phán về phân định vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với 8 quốc gia láng giềng
Các tuyến giao thương trên biển ở Biển Hoa Đông đôi khi phải đối mặt vớinhững khó khăn như các vụ thử tên lửa và hành động gần như phong tỏa đối với Triều Tiên Các hoạt động được thực hiện bởi tàu quân sự của một quốc gia không ven biển trong vùng đặc quyền kinh tế cũng gây tình trạng căng thẳng cho quốc gia ven biển Vấn đề liên quan đến Eo biển Đài Loan và sự chuyển dịch quyền lực cũng được xem là mối đe dọa đối với sự ổn định trong khu vực
III1) Lợi ích quan trọng nhất của một quốc gia biển như Nhật Bản ở Biển Đông là quyền tự do hàng hải Đối với cường quốc biển hùng mạnh nhất như Mỹ, thì tự do hàng hải là ưu tiên hàng đầu trong những lợi ích của nước này tại Biển Đông Trong trường hợp này, tự do lưu thông hàng hải sẽ không bị giới hạn đối với các tàu thương mại ngoại trừ các tàu quân sự Diễn giải như thế nào về tự do hàng hải lại là một vấn đề quan trọng khác Nó sẽ bao gồm quyền tự do hoạt động của tàu thuyền quân sự và các chuyến bay của máy bay trên vùng biển thuộc vùng đặc quyền kinh tế (EEZs) và biển cả
Trước tiên, tranh chấp lãnh thổ là mối quan tâm lớn của Nhật Bản cũng như các cường quốc biển khác Các tranh chấp như vậy sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến tự do hàng hải Quyền lưu thông trong vùng lãnh hải của quốc gia khác có sự khác biệt so với quyền tự do hàng hải ở EEZs và biển cả Quá trình yêu sách chủ quyền lãnh thổ cũng
là một mối quan tâm lớn đối với các quốc gia biển vì quản lý đại dương được xây dựng dựa trên khuôn khổ luật pháp quốc tế, các công ước và hiệp định Những lập luận về chủ quyền lãnh thổ ở Biển Đông bao hàm những điều mà chúng ta không thể chấp nhận theo quan điểm luật pháp quốc tế Trung Quốc yêu sách quyền tài phán đối với vùng nước được bao quanh bởi cái gọi là đường chín đoạn mà nước này vẽ ra ở Biển Đông và gọi vùng nước bên trong đường này là vùng nước lịch sử Khái niệm về vùng nước lịch sử không thể tìm thấy trong luật pháp quốc tế, ngoại trừ trường hợp một số vịnh cụ thể Nếu Trung Quốc khăng khăng về điều này thì phải giải thích yêu sách đó dựa trên cơ sở luật pháp quốc tế Nếu không, nước này có thể bị coi là đang cố gắng xây dựng một quy tắc mới nhằm mục tiêu đạt được chủ quyền lãnh thổ Chúng ta không thể coi thường nỗ lực này
Ngoài Trung Quốc, các quốc gia liên quan tiếp giáp với Biển Đông cũng nên giải thích yêu sách chủ quyền của mình dựa trên quan điểm luật pháp quốc tế nếu Trung Quốc cố gắng giải thích yêu sách chủ quyền lãnh thổ của nước này với lập trường tương tự
Trang 39Lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông
2) Chúng ta có thể thảo luận về vùng đặc quyền kinh tế ở Biển Đông gạt sang một bên các tranh chấp lãnh thổ vì các đảo, đá, bãi ngầm trong vùng biển quy định phạm vi của EEZ và Thềm Lục địa Đá và bãi ngầm không thể tạo ra vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Nếu không xác lập các phân định ranh giới liên quan sau khi giải quyết tranh chấp lãnh thổ thì vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa sẽ bị chồng chéo Trong trường hợp như vậy, thảo luận về việc khai thác chung có ý nghĩa hết sức quan trọng, đặc biệt khi kỳ vọng đối với nguồn tài nguyên dầu mỏ và khí đốt là rất lớn
Tuy nhiên, cái gọi là vùng nước lịch sử, không được hiểu là vùng nước thuộc vùng EEZ bởi chúng bao gồm một số đá và bãi ngầm Theo quan sát, vùng nước của EEZ chồng lấn mà Trung Quốc và Việt Nam yêu sách bao trùm một khu vực có nguồn lợi thủy sản dồi dào và nguồn tài nguyên dầu khí phong phú Nhiều khả năng hai bên sẽ đồng ý khai thác chung trong tương lai gần dù họ đang có tranh chấp đối với khu vực này vào thời điểm hiện tại
3) Các cuộc thảo luận đa phương nhằm thiết lập nguyên tắc hiệu quả hơn để quản
lý những vấn đề khác nhau ở Biển Đông cần được thúc đẩy và không bao gồm các quốc gia liên quan tiếp giáp với Biển Đông mà còn cả những quốc gia không tiếp giáp biển với mục tiêu xây dựng một cơ quan quản lý đại dương phù hợp và hiệu quả
Trong số những lợi ích của Nhật Bản ở Biển Đông, bảo vệ các tuyến giao thương trên biển không phải là một vấn đề quá lớn trong thời bình nếu chúng ta có thể gác lại vấn đề diễn giải quyền tự do hàng hải Tuy nhiên, bản thân việc diễn giải là một vấn
đề lớn nếu chúng ta tính đến hoạt động của tàu quân sự của quốc gia không giáp biển trong vùng đặc quyền kinh tế và quyền tự do sử dụng đại dương của họ Đối với những hoạt động quân sự như vậy trong vùng EEZ, một bộ quy tắc hướng dẫn hay nguyên tắc cho hoạt động đó cần được bàn thảo kỹ lưỡng dựa trên các điều khoản và tinh thần của Công ước Liên Hợp Quốc về Luật Biển
Quỹ nghiên cứu Chính sách Đại dương Nhật Bản đã thành lập một nhóm công tác đặc nhiệm, gọi là “EEZ GROUP 21”, để thảo luận và đề xuất Quy tắc hướng dẫn việc Lưu thông Hàng hải và Hàng không trong vùng đặc quyền kinh tế vào năm 200510 Trong Phần giới thiệu có nội dung như sau:
“Những hiểu lầm liên quan đến các hoạt động quân sự trong vùng đặc quyền kinh tế của nước khác đã trở nên quá phổ biến Những vụ việc đáng chú ý gồm có cuộc đối đầu giữa tàu khảo sát Bowditch của Hải quân Mỹ với tàu khu trục của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh tế Trung Quốc vào tháng 3/2001; vụ va chạm giữa một máy bay giám sát EP3 của Mỹ và máy bay chiến đấu của Trung Quốc trong vùng đặc quyền kinh
tế của Trung Quốc vào tháng 4/2001; vụ lực lượng Bảo vệ Bờ biển Nhật Bản truy đuổi
và bắn một tàu do thám Bắc Triều Tiên trên vùng biển của Nhật Bản và vùng đặc quyền kinh tế của Trung Quốc tháng 12/2001; và Việt Nam phản đối Trung Quốc tập trận bắn đạn thật ở vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Với Lực lượng hải quân phát triển và công nghệ đang được nâng cao thì các quốc gia ven biển ngày càng coi trọng việc kiểm
10 Quy tắc hướng dẫn việc Lưu thông Hàng hải và Hàng không trong Vùng Đặc quyền Kinh tế, Quỹ nghiên cứu Chính sách Đại dương, 16/ 9/2005
http://www.sof.or.jp/en/report/pdf/200509_20051205_e.pdf
Trang 40soát các vùng EEZ của mình Những xu hướng đối lập này sẽ dẫn đến tần xuất và cường
độ cao hơn của nhữngvụ việc như vậy.”
Tôi cho rằng tình tình gần đây đã trở nên xấu đi Chúng tôi đang thảo luận việc xem xét lại Quy tắc hướng dẫn sao cho phù hợp với tình hình mới Hay nói cách khác, Quy tắc hướng dẫn hay các nguyên tắc đối với hoạt động quân sự trên biển và trên không trong vùng đặc quyền kinh tế sẽ giúp ích và thậm chí là công cụ cần thiết để ngăn chặn
và giải quyết những vấn đề này
4) Bảo vệ nguồn tài nguyên biển, an ninh biển, và thiết lập cơ chế quản lý đại dương cũng là vấn đề quan trọng đối với các quốc gia biển Quản lý đại dương được xây dựng bởi nhiều tầng thể chế dựa trên nền tảng luật pháp quốc tế Với ý nghĩa đó, chúng ta nên tìm hiểu và áp dụng luật pháp quốc tế, các công ước và hiệp định cũng như các luật mềm để có thể quản lý đại dương một cách đúng đắn