LỜI NÓI ĐẦUĐể hoàn thành Chương trình đào tạo sau đại học của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, được sự đồng ý của Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường,
Trang 1LỜI NÓI ĐẦU
Để hoàn thành Chương trình đào tạo sau đại học của Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, được sự đồng ý của Khoa Đào tạo sau đại học, Khoa Quản lý tài
nguyên rừng và Môi trường, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Nghiên cứu sự đa
dạng và giá trị bảo tồn của các loài bò sát (Reptilia) và ếch nhái (Amphibia) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới TS Nguyễn Quảng Trường, Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh Vật, người hướng dẫn khoa học và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho tôi trong quá trình thực hiện và hoàn thành luận văn này Xin cảm ơn ThS Lưu Quang Vinh, Khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường, Trường Đại học Lâm nghiệp Việt Nam, đã hướng dẫn và giúp đỡ tôi thực hiện nghiên cứu thực địa, chỉnh sửa bản thảo luận văn Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong Khoa Đào tạo Sau đại học, khoa Quản lý tài nguyên rừng và Môi trường Trường Đại học Lâm nghiệp đã luôn động viên, giúp đỡ và chỉ dẫn nhiều ý kiến chuyên môn quan trọng, giúp tôi nâng cao chất lượng luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban quản lý và cán bộ công nhân viên KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn; lãnh đạo và người dân các xã của Khu BTTN đã giúp đỡ tôi trong việc điều tra, nghiên cứu để hoàn thành luận văn này Tôi vô cùng biết ơn sự quan tâm, giúp đỡ, động viên của gia đình, người thân và bạn bè đồng nghiệp trong quá trình thực hiện luận văn
Xin cảm ơn sự hỗ trợ kinh phí và thiết bị kỹ thuật của tổ chức IDEA WILD Mặc dù bản thân có nhiều cố gắng nhưng trong quá trình thực hiện đề tài không thể tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến quý báu để bản luận văn được hoàn thiện hơn
Cuối cùng, tôi xin cam đoan các kết quả, số liệu được trình bày trong luận văn
là trung thực, khách quan
Xuân Mai, ngày 13 tháng 10 năm 2014
Tác giả luận văn Phạm Thị Kim Dung
Trang 2CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1.C ÁC CÔNG TRÌNH CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN Ở V IỆT N AM 3
1.2 C ÁC NGHIÊN CỨU Ở TỈNH B ẮC K ẠN VÀ KBTTN K IM H Ỷ 5
C HƯƠNG 2: MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 7
2.1 M ỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 7
2.2 Đ ỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU 7
2.3 N ỘI DUNG NGHIÊN CỨU 7
2.4 P HƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 8
2.4.1 Công tác chuẩn bị 8
2.4.2 Khảo sát thực địa 8
2.4.3 Phân tích mẫu vật và định loại 11
2.4.4 Đánh giá nhân tố tác động đến khu hệ bò sát và ếch nhái 14
CHƯƠNG 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA KHU VỰC NGHIÊN CỨU 15
3.1 Đ IỀU KIỆN TỰ NHIÊN 15
3.1.1 Vị trí địa lý 15
3.1.2 Địa hình 15
3.1.3 Địa chất, đất đai 16
3.1.4 Khí hậu thủy văn 16
3.2 H IỆN TRẠNG DÂN SINH KINH TẾ XÃ HỘI 17
3.2.1 Dân số, dân tộc 17
3.2.2 Tập quán sinh hoạt, sản xuất 17
CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 19
4.3 C ÁC LOÀI QUÝ HIẾM VÀ ĐẶC HỮU 65
4.4 S O SÁNH SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT VÀ ẾCH NHÁI CỦA KBTTN K IM H Ỷ VÀ CÁC KHU BẢO TỒN KHÁC CÓ SINH CẢNH TƯƠNG TỰ Ở V IỆT N AM 66
4.4.1 So sánh sự tương đồng về thành phần loài ếch nhái của KBTTN Kim Hỷ với các khu bảo tồn khác có sinh cảnh tương tự ở Việt Nam 66
Trang 34.4.2 So sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát của KBTTN Kim Hỷ với các khu bảo tồn khác có sinh cảnh tương tự ở Việt Nam 67
4.5 C ÁC NHÂN TỐ ĐE ĐỌA ĐẾN KHU HỆ BÒ SÁT , ẾCH NHÁI VÀ ĐỀ XUẤT MỘT SỐ BIỆN PHÁP BẢO TỒN
69
4.5.1 Các nhân tố đe dọa 69
4.5.2 Kiến nghị đối với công tác bảo tồn 70
Trang 4DANH LỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT SỬ DỤNG TRONG LUẬN VĂN
et al (tài liệu tiếng Anh)
cs (tài liệu tiếng Việt) Cộng sự
IUCN Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên thế giới
NĐ32/2006/NĐ-CP Nghị định 32 năm 2006 của Chính phủ
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
BẢNG 2.1: TỌA ĐỘ CÁC TUYẾN KHẢO SÁT Ở KBTTN KIM HỶ ERROR! BOOKMARK
NOT DEFINED.9
BẢNG 2.2: CÁC CHỈ TIÊU HÌNH THÁI CÁC LOÀI BÒ SÁT VÀ ẾCH NHÁI ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED.11
BẢNG 4.3: CHỈ SỐ ĐA DẠNG CÁC ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU TRONG KBTTN KIM HỶ ERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED.63
BẢNG 4.4: CHỈ SỐ TƯƠNG ĐỒNG (DICE INDEX) VỀ ĐA DẠNG LOÀI ẾCH NHÁI VÀ BÒ SÁT GIỮA CÁC ĐIỂM NGHIÊM CỨU TRONG KBTTN KIM HỶ ERROR! BOOKMARK NOT
BẢNG 4.7: CHỈ SỐ ĐA DẠNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI GIỮA CÁC KBTTN VÀ VQGERROR!
BOOKMARK NOT DEFINED.68
BẢNG 4.8: CHỈ SỐ TƯƠNG ĐỒNG (DICE INDEX) VỀ ĐA DẠNG LOÀI BÒ SÁT GIỮA CÁC KBTTN VÀ VQG ERROR! BOOKMARK NOT DEFINED.68
Trang 6DANH MỤC CÁC HÌNH ẢNH, BIỂU ĐỒ
HÌNH 2.1: CÁC VẢY ĐẦU Ở BÒ SÁT 13
HÌNH 4.1: SỰ ĐA DẠNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI ẾCH NHÁI THEO CÁC HỌ 606 0
HÌNH 4.2: SỰ ĐA DẠNG VỀ THÀNH PHẦN LOÀI BÒ SÁT THEO CÁC HỌ 63
HÌNH 4.3: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI TẬP HỢP THEO NHÓM GIỮA CÁC ĐIỂM NGHIÊN CỨU TRONG KBT (GIÁ TRỊ GỐC NHÁNH VỚI SỐ LẦN NHẮC LẠI LÀ 1000) 64 HÌNH 4.4: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI ẾCH NHÁI TẬP HỢP THEO NHÓM GIỮA CÁC VQG, KBTTN (GIÁ TRỊ GỐC NHÁNH VỚI SỐ LẦN NHẮC LẠI LÀ 1000) 67
HÌNH 4.5: SỰ TƯƠNG ĐỒNG VỀ ĐA DẠNG LOÀI BÒ SÁT TẬP HỢP THEO NHÓM GIỮA CÁC VQG, KBT (GIÁ TRỊ GỐC NHÁNH VỚI SỐ LẦN NHẮC LẠI LÀ 1000) 68
Trang 7ĐẶT VẤN ĐỀ
Khu hệ ếch nhái và bò sát của Việt Nam rất đa dạng với khoảng 620 loài đã được ghi nhận (Nguyen et al 2009; Frost 2014; Uetz & Hošek 2014) Hàng năm vẫn có nhiều loài bò sát, ếch nhái mới được phát hiện với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam Từ năm 1980 đến 2013 có 3 giống mới và hơn 180 loài mới đã được phát hiện cho khoa học (Nguyen et al 2009, Ziegler & Nguyen 2010)
Tuy nhiên, những nghiên cứu về bò sát và ếch nhái ở vùng núi đá vôi còn khá hạn chế, có một số công trình công bố liên quan đến thành phần loài bò sát và ếch nhái như: VQG Phong Nha – Kẻ Bàng, Ziegler & Vu (2009) đã ghi nhận tổng
số 138 loài với 93 loài bò sát và 45 loài ếch nhái Luu et al (2013) đã cập nhật danh lục với tổng cộng 151 loài bò sát và ếch nhái (101 loài bò sát, 50 loài ếch nhái) trong đó ghi nhận mới 13 loài bổ sung cho VQG Phong Nha-Kẻ Bàng và tỉnh Quảng Bình Nguyen et al (2011) công bố về thành phần loài bò sát ở VQG Cát Bà ghi nhận 40 loài Trong những năm gần đây, có hàng loạt loài tắc kè mới được công
bố ở sinh cảnh núi đá vôi như: Ngo (2011) công bố loài Cyrtodactylus martini ở Lai Châu; Ngo & Chan (2011) công bố loài mới C cucphuongensis ở VQG Cúc Phương, Ninh Bình; Luu et al (2011) công bố loài C huongsonensis ở Mỹ Đức, Hà Nội; Nguyen et al (2013) công bố loài Gekko adleri và loài Hemiphyllodactylus
zugi ở Hạ Lang, Cao Bằng Nguyen et al (2012) phát hiện loài nhái cây wa-za Gracixalus waza ở vùng núi đá vôi của tỉnh Cao Bằng Milto et al (2013) công bố
thêm hai loài nhái cây mới ở đảo Cát Bà: Liuixalus calcarius và Philautus
catbaensis
Khu bảo tồn thiên nhiên (KBTTN) Kim Hỷ được thành lập theo quyết định
số 1804/QĐ-UB ngày 01 tháng 9 năm 2003 của UBND tỉnh Bắc Kạn Nhiệm vụ chính là bảo tồn sinh cảnh đặc trưng rừng trên núi đá vôi, các hệ động, thực vật và các nguồn gen quý hiếm đang có nguy cơ bị tuyệt chủng, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học đồng thời ổn định và nâng cao đời sống trong khu vực bảo tồn Mặc
dù đã được thành lập hơn 10 năm, nhưng hiểu biết về khu hệ động vật ở KBTTN
Trang 8này còn rất hạn chế, đặc biệt là nhóm bò sát và ếch nhái Cho đến nay chưa có công trình nghiên cứu cụ thể nào về bò sát, ếch nhái ở khu vực này
Trên cơ sở thực tế đã đề cập ở trên, tôi chọn đề tài “Nghiên cứu sự đa dạng
và giá trị bảo tồn của các loài bò sát (Reptilia) và ếch nhái (Amphibia) ở Khu Bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn.” Kết quả của đề tài sẽ góp phần cung cấp
thông tin cập nhật về hiện trạng đa dạng của các loài bò sát và ếch nhái trong khu vực làm cơ sở khoa học cho công tác quản lý và quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh
học ở KBTTN Kim Hỷ
Trang 9Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Các công trình công bố có liên quan ở Việt Nam
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa và có địa hình phức tạp tạo nên sự đa dạng về sinh cảnh ở cả vùng đồng bằng, trung du và vùng núi nên phù hợp cho sự phát triển của động vật nói chung, ếch nhái và bò sát nói riêng [57] Theo Nguyễn Văn Sáng và cs (2009), các nghiên cứu về ếch nhái và bò sát ở Việt Nam có thể chia thành các giai đoạn cụ thể như sau:
Trước năm 1954: Tuệ Tĩnh (1623–1713) đã ghi nhận 16 vị thuốc có nguồn gốc từ ếch nhái và bò sát Sau đó những nghiên cứu về ếch nhái và bò sát hoàn toàn
do người nước ngoài thực hiện Các kết quả nghiên cứu được xuất bản trên nhiều ấn phẩm khác nhau cả trong nước và ngoài nước cho một khu vực hay chung cho cả vùng Đông dương Nửa đầu thế kỷ XX, ba cuốn chuyên khảo của Bourret gồm Les Serpents de l’Indochine xuất bản năm 1936, Les Tortues de l’Indochine xuất bản năm 1941 và Les Batraciens de l’Indochine xuất bản năm 1942 được coi là tài liệu đầy đủ nhất ở thời điểm đó về thành phần loài ếch nhái và bò sát của vùng Đông dương (Việt Nam, Lào và Campuchia) Tác giả này đã ghi nhận 177 loài và phân loài thằn lằn, 245 loài và phân loài rắn, 45 loài và phân loài rùa và 171 loài và phân loài ếch nhái ở vùng Đông dương Trong giai đoạn từ 1900 đến 1954, đã có 75 loài mới được mô tả từ bộ mẫu chuẩn thu ở Việt Nam trong đó nổi bật nhất là hàng loạt công bố của Smith (giai đoạn 1920-1940) và của Bourret (giai đoạn 1930-1940) [8]
Thời kỳ 1954–1974: Tài liệu tổng kết về các kết quả khảo sát ở miền Bắc của Trần Kiên và cs (1981) đã ghi nhận có 68 loài ếch nhái và 159 loài bò sát [13]
Thời kỳ 1975–1986: Đào Văn Tiến đã thống kê ở Việt Nam có 87 loài ếch nhái, 77 loài Thằn lằn, 165 loài rắn, 32 loài rùa và 2 loài cá sấu [13]
Trang 10Nghiên cứu về ếch nhái được đẩy mạnh đặc biệt từ những năm 1990 trở lại đây Việc thành lập các Vườn Quốc gia, Khu Bảo tồn Thiên nhiên đã đòi hỏi phải tiến hành khảo sát và đánh giá tổng thể về hiện trạng nguồn tài nguyên sinh vật nhằm tạo lập cơ sở khoa học cho việc xây dựng kế hoạch, quy hoạch và quản lý
Thời kỳ 1987–2009: Năm 1996, Nguyễn Văn Sáng và Hồ Thu Cúc đã ghi nhận ở nước ta có 340 loài gồm 82 loài ếch nhái và 258 loài bò sát [5], đến năm
2005 tổng số loài đã lên tới 458 loài gồm 162 loài ếch nhái và 296 loài bò sát [6], và cuốn danh lục mới xuất bản năm 2009 đã ghi nhận tổng số loài là 545 loài gồm 177 loài ếch nhái và 368 loài bò sát [36] Theo thống kê chưa chính thức, số lượng loài
bò sát và ếch nhái hiện nay khoảng 630 loài gồm 200 loài ếch nhái và khoảng 430 loài bò sát [25,61]
Trong thời kỳ 1975–1986 phát hiện được 6 loài mới cho khoa học, trong đó chỉ
có 3 loài có tác giả là người Việt Nam thì từ năm 1987–2009, số loài phát hiện mới cho khoa học đã tăng lên 108 loài, trong đó có 65 loài có nhà khoa học Việt Nam tham gia
và có tới 11 loài có tác giả đứng đầu là người Việt Nam [8] Trong 5 năm trở lại đây 2009-2013, có 14 loài ếch nhái mới được công bố với mẫu chuẩn thu ở Việt Nam như:
Leptolalax applebyi Rowley & Cao, 2009; Leptolalax croceus Rowley, Hoang, Le,
Dau & Cao, 2010; Odorrana geminata Bain, Stuart, Nguyen, Che & Rao, 2009;
Theloderma lateriticum Bain, Nguyen & Doan, 2009; Rhacophorus vampyrus Rowley,
Le, Tran, Stuart & Hoang, 2010; Gracixalus quangi Rowley, Dau, Nguyen, Cao & Nguyen 2011; Theloderma nebulosum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011;
Theloderma palliatum Rowley, Le, Hoang, Dau & Cao, 2011; Gracixalus waza
Nguyen, Le, Pham, Nguyen, Bonkowski & Ziegler, 2012; Tylototriton ziegleri
Nishikawa, Matsui & Nguyen 2013; và 2 loài mới ghi nhận cho Việt Nam là
Leptobrachium promustache và Tylototriton notialis (Bain et al 2009, Nishikawa et al
2013) [25] Trong giai đoạn 2009-2014 có 47 loài bò sát mới được mô tả như:
Cnemaspis psychedelica Grismer, Ngo & Grismer, 2010; Calamaria concolor Orlov,
Nguyen, Nguyen, Ananjeva & Ho, 2010; Tropidophorus boehmei Nguyen, Nguyen, Schmitz, & Ziegler, 2010; Scincella darevskii Nguyen, Ananjeva, Orlov, Rybaltovsky
Trang 11& Bohme, 2010; Scincella apraefronTaLis Nguyen, Nguyen, Bohme & Ziegler, 2010;
Scincella apraefronTaLis Nguyen, Nguyen, Böhme & Ziegler 2010; Acanthosaura brachypoda Ananjeva, Orlov, Nguyen & Ryabov, 2011; Cyrtodactylus huongsonensis Luu, Nguyen, Do & Ziegler, 2011 [61] Riêng năm 2013 có 15 loài bò
sát và ếch nhái mới cho khoa học được phát hiện trong đó có 5 loài ếch nhái gồm:
Kaloula indochinensis Chan, Blackburn, Murphy, Stuart, Emmett, Ho, and Brown, Leptolalax botsfordi Rowley, Dau, and Nguyen, Oreolalax sterlingae Nguyen,
Phung, Le, Ziegler, and Böhme, Rhacophorus helenae Rowley Tran, Hoang, and Le,
Tylototriton ziegleri Nishikawa, Matsui, and Nguyen, và 10 loài bò sát Azemiops kharini Orlov, Ryabov & Nguyen; Cyrtodactylus kingsadai Ziegler, Phung, Le &
Nguyen; Sphenomorphus sheai Nguyen, Nguyen, Van Devender, Bonkowski & Ziegler; Cyrtodactylus phuocbinhensis Nguyen, Le, Tran, Orlov, Lathrop, Macculloch,
Le, Jin, Nguyen, Nguyen, Hoang, Che, Murphy & Zhang; Calotes bachae Hartmann, Geissler, Poyarkov, Ihlow, Galoyan, Rödder & Böhme; Cyrtodactylus dati Ngo;
Gekko adleri Nguyen, Wang, Yang, Lehmann, Le, Ziegler & Bonkowski; Hemiphyllodactylus zugi Nguyen, Lehmann, Le, Duong, Bonkowski & Ziegler; và Oligodon cattienensis Vassilieva, Geissler, Galoyan, Poyarkov Jr., Van Devender &
Böhme [7]
Nhận xét chung: Những công trình nghiên cứu trên đã bổ sung thêm nhiều loài bò sát, ếch nhái cho Việt Nam Số loài mới cho khoa học được công bố hàng năm cũng tăng lên rõ rệt qua các thời kỳ Những kết quả nghiên cứu trên cũng chỉ ra các mối đe dọa chính đối với khu hệ ếch nhái Việt Nam bao gồm: khai thác quá mức cho thương mại
và mất sinh cảnh do chuyển đổi đất rừng sang mục đích sử dụng khác
1.2 Các nghiên cứu ở tỉnh Bắc Kạn và KBTTN Kim Hỷ
Tỉnh Bắc Kạn nằm ở vùng Đông Bắc Việt Nam và có 3 khu bảo tồn là VQG
Ba Bể, KBTTN Kim Hỷ và Khu Bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Đã có một
số nghiên cứu về đa dạng sinh học ở tỉnh Bắc Kạn nhưng mới chỉ tập trung vào VQG
Ba Bể và Khu bảo tồn loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Theo Nguyễn Văn Sáng và
Trang 12cs (2009) ghi nhận 27 loài ếch nhái và 64 loài bò sát ở Bắc Kạn, chủ yếu ở các huyện
Hỷ, huyện Na Rì, tỉnh Bắc Kạn” do Chi cục kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn thực hiện năm
2003 trong đó ghi nhận 51 loài bò sát và 32 loài ếch nhái [13] Gần đây nhất trong báo cáo “Quy hoạch và phát triển rừng bền vững tại KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2012– 2020” của Đỗ Quang Huy và cs đã ghi nhận lại trong khu vực có 64 loài bò sát và 39 loài ếch nhái [2]
Như vây, ngoài các báo cáo và công bố trên thì chưa có đợt điều tra chính thức, nghiên cứu cụ thể nào về các loài ếch nhái và bò sát ở Khu BTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn Vì vậy, những nghiên cứu đầy đủ hơn về khu hệ ếch nhái, bò sát ở khu vực là hết sức cần thiết Căn cứ vào điều kiện địa hình khu vực, tổng kết các phương pháp nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước, trong nghiên cứu này tôi sử dụng phương pháp điều tra theo tuyến
Trang 13Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU
2.1 Mục tiêu nghiên cứu
- Mục tiêu tổng quát: Đánh giá sự đa dạng và giá trị bảo tồn của khu hệ bò sát và ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ
- Mục tiêu cụ thể:
+ Đánh giá sự đa dạng về thành phần loài ếch nhái và bò sát tại KBTTN Kim Hỷ + Đánh giá đặc điểm phân bố của các loài ếch nhái và bò sát tại KBTTN Kim
Hỷ theo điểm nghiên cứu và dạng sinh cảnh
+ Đánh giá giá trị bảo tồn của các loài ếch nhái và bò sát ở KBTTN Kim Hỷ dựa vào số lượng loài quý hiếm (bị đe dọa) và đặc hữu
+ Xác định các nhân tố đe dọa đến các loài bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ + Đề xuất giải pháp bảo tồn bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Các loài bò sát và ếch nhái
- Phạm vi nghiên cứu của đề tài: Chúng tôi tiến hành khảo sát ở 3 điểm (6 tuyến) thuộc địa bàn KBTTN Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn
2.3 Nội dung nghiên cứu
a) Xác định sự đa dạng về thành phần loài bò sát, ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ
- Lập danh sách loài, xác định các nhóm loài chiếm ưu thế trong khu vực
- Ghi nhận các loài mới cho KBTTN Kim Hỷ và cho tỉnh Bắc Kạn
- So sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái của khu vực nghiên cứu với một số khu vực khác có sinh cảnh tương tự
b) Ghi nhận sự phân bố của các loài theo các dạng sinh cảnh sống trong khu vực
- Theo sinh cảnh
- Theo phân bố địa lý
Trang 14c) Nghiên cứu, xác định các nhân tố đe dọa đến các quần thể của các loài bò sát, ếch nhái ở khu vực nghiên cứu từ đó đề xuất biện pháp bảo tồn loài
- Mất sinh cảnh sống
- Khai thác quá mức
Và đề xuất các biện pháp bảo tồn
- Khu vực cần ưu tiên bảo tồn
- Hoạt động ưu tiên
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Công tác chuẩn bị
- Thu thập và tham khảo các tài liệu có liên quan đến công tác điều tra, báo cáo đã công bố về bò sát và ếch nhái của các KBTTN, VQG ở các vùng lân cận như VQG Ba Bể, KBT loài và sinh cảnh Nam Xuân Lạc Khoá định loại và các tài liệu tham khảo có liên quan đến bò sát và ếch nhái
- Chuẩn bị các bản đồ hiện trạng, quy hoạch khu vực nghiên cứu
- Tài liệu nhận dạng bò sát và ếch nhái
- Các dụng cụ cần thiết trang bị phục vụ cho công tác điều tra như: gậy bắt rắn, cồn, lọ bảo quản mẫu, dụng cụ giải phẫu, máy ảnh, đèn pin, êtiket, máy định vị GPS
+ Kế thừa tài liệu
Tổng hợp tài liệu kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học, các cơ quan nghiên cứu về động vật trong những năm trước đây tại KBTTN Kim Hỷ
Luận chứng kinh tế kỹ thuật KBTTN Kim Hỷ, Tỉnh Bắc Kạn do Chi cục
Kiểm lâm tỉnh Bắc Kạn soạn thảo
2.4.2 Khảo sát thực địa
a) Chọn địa điểm khảo sát
Tiến hành điều tra sơ bộ nhằm xem xét điều kiện địa hình và các dạng sinh cảnh chính của khu vực nghiên cứu, từ đó xác định các tuyến điều tra phù hợp
Chọn địa điểm khảo sát: Mẫu vật ếch nhái thường được thu thập ở ven các suối, vũng nước, ao nhỏ hoặc các vùng ẩm ướt ven các đường mòn trong rừng Mẫu
Trang 15bò sát thường được thu ở đường mòn, cửa hang động hay các vách đá Toạ độ các điểm nghiên cứu được xác định bằng máy định vị vệ tinh GPS Garmin 60
b) Điều tra theo tuyến
Qua kết quả điều tra sơ bộ, tham khảo bản đồ địa hình, thảm thực vật và kết hợp với tìm hiểu tài liệu tại KBTTN Kim Hỷ tôi đã xác định được 3 dạng sinh cảnh chính như sau:
+ Sinh cảnh 1 (SC1): Rừng trên núi đá vôi ít bị tác động
+ Sinh cảnh 2 (SC2): Rừng trên núi đá vôi và rừng ven khu dân cư đã bị tác động + Sinh cảnh 3 (SC3): Đất nông nghiệp và khu dân cư, làng bản
Các tuyến điều tra:
Bảng 2.1: Tọa độ các tuyến khảo sát ở KBTTN Kim Hỷ
Lủng Pảng (Tọa độ: E0452889/N2451849)
(Tọa độ: E0452889/N2451849)
Côn Minh (Tọa độ: E0450396/N2447582)
(Tọa độ: E0448915/N2447991)
Bản Cào (Tọa độ: E0448025/N2449770)
(Tọa độ: E0449781/N2454878)
Hang Dơi (Tọa độ: E0451777/N2455497)
(Tọa độ: E0455478/N2454999)
Hang Dơi (Tọa độ: E0451777/N2455497)
Trang 16Trên các tuyến khảo sát, chúng tôi quan sát và ghi nhận các loài ếch nhái và
bò sát ở các dạng sinh cảnh khác nhau
d) Xử lý mẫu vật
Mẫu vật ếch nhái thu được thường đựng trong các túi nilon, mẫu bò sát đựng trong túi vải Sau khi chụp ảnh mẫu vật, mẫu vật đại diện cho các loài được giữ lại làm tiêu bản nghiên cứu tại Trường Đại học Lâm nghiệp Tổng số đã thu thập được
72 mẫu vật để phân tích đặc điểm hình thái
+ Làm tiêu bản:
Gây mê: Mẫu vật được gây mê trong vòng 24 giờ sau khi thu thập bằng miếng bông thấm etyl a-xe-tat Mẫu cơ hoặc mẫu gan dùng để phân tích sinh học phân tử (ADN) được lưu giữ trong cồn 95% và được cách ly foóc môn
Ký hiệu mẫu: Sau khi gây mê, mẫu vật được đeo nhãn có đánh số ký hiệu Nhãn và chỉ buộc không thấm nước, chữ viết trên nhãn không bị tan trong cồn
Cố định mẫu: Việc cố định mẫu cần đảm bảo mẫu có hình dạng dễ phân tích hoặc quan sát sau này Sắp xếp mẫu vật theo hình dạng mong muốn, sau đó phủ vải màn hoặc giấy thấm lên trên, ngâm trong cồn 80–90% trong vòng 8–10 tiếng Đối với mẫu bò sát, ếch nhái cỡ lớn, cần tiêm cồn 80% vào bụng và cơ của con vật để tránh thối hỏng mẫu
Trang 17Bảo quản mẫu vật: Để bảo quản lâu dài, sau khi cố định mẫu được chuyển sang ngâm trong cồn 70%
2.4.3 Phân tích mẫu vật và định loại
Các chỉ tiêu hình thái:
Các chỉ số hình thái theo Nguyen et al (2012) cho các loài ếch nhái, Phung
& Ziegler (2011) cho các loài thằn lằn, và theo David et al (2012) cho các loài rắn Các chỉ số về hình thái được đo bằng thước kẹp điện tử Alpha-Tool với đơn vị đo
nhỏ nhất là 0,01 mm Một số chỉ số chính được thể hiện như sau:
Bảng 2.2: Các chỉ tiêu hình thái các loài bò sát và ếch nhái
STT Kí hiệu Giải thích
Đầu và thân
1 SVL Chiều dài mút mõm đến hậu môn
2 HH Chiều cao tối đa của đầu
3 HL Dài đầu: Đo từ mút mõm đến góc sau của xương hàm dưới
4 SNL Khoảng cách mút mõm đến mũi
5 SE Khoảng cách từ mõm đến mắt
6 NEL Khoảng cách từ góc trước của mắt đến mũi
7 SL Khoảng cách từ mút mõm đến góc trước của mắt
8 ED Đường kính lớn nhất của mắt theo chiều ngang
9 TED Khoảng cách từ bờ trước của màng nhĩ đến góc sau của mắt
10 TD Đường kính lớn nhất của màng nhĩ
11 HW Rộng đầu: Đo phần rộng nhất của đầu
12 IND Khoảng cách gian mũi (giữa 2 lỗ mũi)
13 AOD Khoảng cách góc trước giữa hai ổ mắt
14 IOD Khoảng cách gian ổ mắt: Đo khoảng cách hẹp nhất giữa 2 ổ mắt
15 UEW Rộng mí mắt: Phần rộng nhất của mí mắt trên
Chi trước
16 FLL Dài chi trước từ mép ngoài của đĩa ngón III đến nách
17 LAL Chiều dài cánh tay đo từ nách đến khuỷu tay
18 F1L Chiều dài ngón tay I
Trang 1819 F2L Chiều dài ngón tay II
20 F3L Chiều dài ngón tay III (ngón dài nhất)
21 F4L Chiều dài ngón tay IV
22 FD3 Chiều rộng đĩa bám ngón tay III
23 MTTi Chiều dài củ bàn trong
24 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài
Chi sau
25 HLL Dài chi sau từ mép ngoài đĩa ngón IV chân sau tới bẹn
26 FL Chiều dài đùi (từ lỗ huyệt đến đầu gối)
27 TL Chiều dài ống chân (từ đầu gối đến khớp cổ-bàn)
28 FOT Chiều dài bàn chân (từ khớp cổ bàn đến mút ngón IV)
29 T1L Chiều dài ngón I
30 T2L Chiều dài ngón II
31 T3L Chiều dài ngón III
32 T4L Chiều dài ngón IV (ngón dài nhất)
33 T5L Chiều dài ngón V
34 TD4 Chiều rộng đĩa bám ngón chân IV
35 TBW Chiều rộng ống chân
36 MTTi Chiều dài củ bàn trong
37 MTTe Chiều dài củ bàn ngoài
Trang 1914 t Vảy thái dương trước và vảy thái dương sau
Hình 2.1: Các vảy đầu ở bò sát (Nguồn: Đào Văn Tiến, 1979)
Định loại và phân tích số liệu
So sánh hình thái của mẫu vật thu được với các mẫu đã được định tên đang lưu giữ ở Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật và Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam,
Hà Nội Định loại tên loài theo các tài liệu của Nguyen Van Sang et al (2009), Nguyen et al (2012), Ziegler & Vu (2009) và một số tài liệu khác có liên quan Tên khoa học và phổ thông của loài theo Nguyen et al (2009) và một số tài liệu mới công bố gần đây
Trang 20Đánh giá trình trạng bảo tồn của các loài theo Nghị định 32 năm 2006 của chính phủ, Danh lục Đỏ IUCN (2014) và SĐVN (2007) Loài hiện chỉ ghi nhận phân bố ở Việt Nam được coi là loài đặc hữu
Phân tích thống kê
Sử dụng phần mềm PAST Statistics (Hammer et al., 2001) để phân tích thống kê và so sánh sự tương đồng về thành phần loài bò sát, ếch nhái của khu vực nghiên cứu với các khu vực so sánh Chỉ số Sorensen được sử dụng để so sánh sự tương đồng về thành phần loài giữa hai vùng Các phân vùng có thành phần loài tương tự nhau sẽ tập hợp lại thành nhóm Chỉ số này được tính dựa theo công thức:
djk = 2M / (2M+N) trong đó M là số loài xuất hiện ở cả hai vùng và N là tổng số loài chỉ xuất hiện ở một vùng
2.4.4 Đánh giá nhân tố tác động đến khu hệ bò sát và ếch nhái
Các nhân tố tác động đến các loài ếch nhái, bò sát và sinh cảnh sống của chúng được ghi nhận thông qua quan sát trực tiếp trên hiện trường và thông qua phỏng vấn nhân viên KBTTN và người dân địa phương Đã phỏng vấn 20 người để thu thập thông tin về thành phần loài bị săn bắt trong khu vực nghiên cứu
Trang 21Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI CỦA
KHU VỰC NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
(Thông tin theo tài liệu: Quy hoạch bảo tồn và phát triển rừng bền vững Khu BTTN
Kim Hỷ, tỉnh Bắc Kạn, giai đoạn 2012-2020)
Vùng núi đá: nằm ở phía Tây và Tây Nam khu vực, đây là vùng rừng trên
núi đá vôi tập trung, địa hình phức tạp, gồm nhiều đỉnh cao, độ cao trung bình 700m độ dốc 25-35o có nơi >45o
600-Vùng núi đất: nằm ở phía Bắc và phía Đông - Đông Nam khu vực địa hình ít
phức tạp, độ cao trung bình từ 400-600 m độ dốc từ 25-30o
Trang 223.1.3 Địa chất, đất đai
Địa chất: Nền địa chất khu vực nghiên cứu có nguồn gốc trầm tích nằm
trong quy luật tạo sơn chung của vùng Đông Bắc nước ta, với các sản phẩm trầm tích chủ yếu là bột kết và cát kết phân lớp mỏng, phiến thạch sét, cuội kết hạt nhỏ
và sỏi kết màu xám cùng đá vôi màu đen và xám sáng khó phong hóa
Đất đai: Khu vực có 4 loại đất chính phát triển trên đá vôi, đá Carbonitit,
phiến thạch sét và đá biến chất Trong đó chủ yếu là đất Feralit phát triển trên các sản phẩm của đá vôi
3.1.4 Khí hậu thủy văn
(Thông tin theo tài liệu: Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội tỉnh Bắc Kạn giai đoạn 2010-2020)
a Khí hậu: Kim Hỷ thuộc khu vực khí hậu vùng núi cao phía Bắc Việt Nam,
một năm có 2 mùa rõ rệt: Mùa mưa từ tháng 4 đến tháng 9, mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau
+ Lượng mưa bình quân hàng năm 1500 mm, cao nhất là 1680 mm, mưa tập trung vào tháng 6, 7 chiếm 60% lượng mưa cả năm
+ Độ ẩm không khí bình quân năm là 82%, cao nhất là 89% vào các tháng 6-7, thấp nhất là 70% vào tháng 12
- Chế độ nhiệt: Nhiệt độ bình quân năm là 21,6oC, nhiệt độ tối cao 38,6oC, nhiệt
độ tối thấp là2oC
b Thủy văn: Trong khu vực nghiên cứu có sông Bắc Giang và hệ thống suối
bắt nguồn từ các núi cao, các thung, áng trên các dãy núi đá vôi dẫn nước đưa về sông Bắc Giang Hướng chảy từ Tây sang Đông khu vực, lưu lượng nước chảy mạnh về mùa hè, mùa đông nước rất cạn Các hệ suối gồm có: suối Pắc Bó (xã Ân Tình), suối Kim Vân, Khuổi Luộc, Khuổi Khoang xã Kim Hỷ, suối Khau Lạ, Khuổi Sua xã Lạng San, suối Lủng Pảng xã Côn Minh có nước quanh năm nhưng lúc nhiều lúc ít theo mùa mưa Do hiện tượng Caster, nước ở các suối tụt xuống các ngầm sâu nên một số con suối có đoạn chảy nổi trên mặt đất, có đoạn chảy ngầm trong lòng đất, mùa mưa nước chảy mạnh, mùa khô rất thiếu nước
Trang 23đó có 68 loài động vật quý hiếm có tên trong SĐVN (2007) và Nghị định 32/2006/NĐ-CP (2006)
Đặc biệt trong khu vực có mặt nhiều loài động thực vật đặc hữu hẹp, quý hiếm: Voọc má trắng, Hươu xạ, Lát hoa, Đinh, Nghiến
3.2 Hiện trạng dân sinh kinh tế xã hội
3.2.1 Dân số, dân tộc
KBTTN Kim Hỷ nằm trên địa giới hành chính của 7 xã thuộc 2 huyện (Na
Rì, Bạch Thông), tại 7 xã quanh KBT có 61 thôn bản với 2.703 hộ, 10.868 nhân khẩu, mật độ dân số trung bình là 27,74 người/km2 Trong khu vực có 5 dân tộc chủ yếu sinh sống là Tày, Nùng, Dao, Kinh, H’Mông, trong đó người dân tộc Tày chiếm
đa số Trong vùng lõi, dân tộc Tày chiếm 60%, dân tộc Dao chiếm 17%, dân tộc Nùng chiếm 15%, dân tộc H’Mông chiếm 7%, và dân tộc kinh chiếm 1%
3.2.2 Tập quán sinh hoạt, sản xuất
Sản xuất nông nghiệp trong khu vực chiếm tỷ trọng cao (94,3%) tỷ trọng sản xuất lâm nghiệp còn nhỏ, dịch vụ chậm phát triển Số hộ đói nghèo giảm từ 18% năm 2011 xuống còn 13% năm 2012, thu nhập bình quân đầu người từ 4-5triệu/năm Năng suất lúa bình quân đạt 45-50 tạ/ha, bình quân lương thực 250kg/năm/người
Sản xuất lâm nghiệp: Trong khu vực đã có 1 số dự án: 327, định canh, định
cư, nhưng với vốn đầu tư thấp, không thường xuyên, đến nay trong khu vực trồng
Trang 24được 334 ha rừng mỡ, keo tai tượng, hồi Ngoài ra người dân còn tham gia nhận khoán bảo vệ rừng trên diện tích 6.500 ha, mức khoán 100.000đ/ha/năm, góp phần cải thiện thu nhập
+ Đời sống văn hóa xã hội
Khu vực KBTTN Kim Hỷ là những vùng xã vùng sâu của 2 huyện Na Rì và Bạch Thông, nên đời sống văn hóa xã hội của người dân còn thấp Được sự quan tâm của Nhà nước, các xã trong khu vực đều đã có điện lưới quốc gia, hầu hết các gia đình
có Ti vi nên có điều kiện nâng cao dân trí và tiếp cận khoa học kỹ thuật
Trang 25Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN4.1 Thành phần loài ếch nhái và bò sát ở KBTTN Kim Hỷ
4.1.1 Thành phần loài ếch nhái
Từ kết quả phân tích và định loại mẫu vật, chúng tôi ghi nhận có 23 loài ếch nhái ở KBTTN Kim Hỷ Mô tả từng loài được trình bày dưới đây theo hệ thống phân loại của Nguyen et al (2009) và Frost (2014) Đặc biệt có 8 loài lần đầu tiên được ghi nhận ở tỉnh Bắc Kạn
Họ cóc Bufonidae
1 Cóc nhà Duttaphrynus melanostictus (Schneider, 1799)
Mẫu vật nghiên cứu: Đây là loài phổ biến nên không thu mẫu, mô tả dựa trên ảnh chụp ở hiện trường
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu quan sát phù hợp với so với
mô tả của Bourret (1942)
Loài cóc có kích thước trung bình, tuyến mang tai lớn, thuôn dài ở phía trên màng nhĩ Có đường gờ rõ kéo dài từ mút mõm đến phía sau 2 ổ mắt Lưng màu vàng nhạt, cơ thể thô, lưng và chân có nhiều mụn cóc to, nhỏ xen kẽ, đầu mụn cóc thường có gai đen
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Loài D melanostictus gặp nhiều ở khu vực dân cư và
trên nương rẫy ở thôn Thẳm Mu (xã Ân Tình), Thôn Bản Kẹ (xã Kim Hỷ), chợ Côn Minh B
Việt Nam: Tất cả các tỉnh trong cả nước (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Xri Lan-ka, Ấn Độ, Pakistan, Nê-pal, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Campuchia, Ma-lai-xi-a, Phi-lip-pin (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
Trang 26Họ Cóc bùn Megophryidae
2 Cóc núi miệng nhỏ Ophryophryne microstoma Boulenger, 1903
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu cái trưởng thành VFU KHA.76 và 1 mẫu đực trưởng thành VFU KHA.4, thu vào tháng 4/2014 ở độ cao 323 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Ohler (2003)
Cơ thể chắc mập, SVL 50,3 mm ở con cái, 36,2 mm ở con đực; đầu rộng hơn dài (HW 11,2-14,6 mm, HL 10,2-13,8 mm); mõm ngắn, nhô về phía trước so với hàm dưới; trên mí mắt có gai rất rõ; chiều rộng mí mắt trên rộng hơn khoảng cách gian ổ mắt (UEW 2,9-3.7 mm, IOD 2,8-3,2 mm); màng nhĩ rõ, cách xa ổ mắt, có đường kính bằng khoảng ½ đường kính mắt (TD 2,7-4,2 mm, ED 5,3-6,4 mm), gờ da trên màng nhĩ rõ; lưỡi tròn, hơi lõm ở phía sau; có răng lá mía Con đực có túi kêu
Tương quan chiều dài các ngón tay: II<I<IV<III, các ngón tay dài, không có màng bơi; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, ngón chân không
có màng bơi; khi gập dọc thân khớp chày-cổ đạt đến mắt
Da trên lưng sần sùi, có nhiều nếp da nhỏ trên lưng
Màu sắc mẫu sống: Mặt trên lưng màu nâu xám hoặc nâu vàng, có một hình tam giác sẫm giữa hai mắt; phía trên mắt có 2 gai nhỏ; trên tay và chân có nhiều vệt đen ngang; mặt bụng màu vàng, phần trên có nhiều nốt màu nâu sẫm
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Loài được thu tại bãi cát gần suối ở xã Côn Minh Việt Nam: Lào Cai, Hà Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng, Vĩnh Phúc, Hải Dương, Thanh Hóa, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế, Gia Lai, Đắc Lắk, Lâm Đồng (Nguyen et
al 2009) Đây là lần đầu tiền loài này được ghi nhận ở tỉnh Bắc Kạn
Thế giới: Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia (Nguyen et al 2009, Forst 2014)
3 Cóc mắt bên Xenophrys major (Boulenger 1908)
Trang 27Mẫu vật nghiên cứu: Một cá thể cái VFU KHA.3 thu vào tháng 9/2012 Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Cơ thể dẹp, SVL 73,8 mm; đầu rộng hơn dài (HW 29 mm, HL 27,07 mm,); mõm ngắn, tù, nhô về phía trước so với hàm dưới; lưỡi tròn, hơi khía lõm ở phía sau; con ngươi dọc; có gai da nhỏ trên mí mắt; chiều rộng mí mắt trên hẹp hơn khoảng cách gian ổ mắt (UEW 7,9 mm, IOD 8,1 mm); màng nhĩ rõ, cách xa ổ mắt; đường kính màng nhĩ bằng 1/3 đường kính mắt (TD 3,6 mm, ED 9,59 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp thành hàng, chạm bờ trước lỗ mũi trong; con đực
có túi kêu lớn
Chi trung bình, các ngón dài; ngón chân 1/4 có màng bơi; củ bàn trong hình bầu dục, dẹp; không có củ bàn ngoài; củ khớp dưới ngón không rõ hoặc không có; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm giữa mắt
Màu sắc mẫu sống: Thân màu xám; có một vệt sẫm màu hình tam giác ở giữa hai mí mắt trên, đỉnh hướng về phía sau; mõm và vùng sau mắt và màng nhĩ màu đen, có vệt trắng đứt đoạn từ sau mũi đến hàm; cằm và họng màu đen nhạt với vệt trắng mảnh ở mép kéo xuống; hai bên sườn phía dưới nếp da bên nổi các hạt màu trắng; đùi và các ống chân có các vệt sẫm, mảnh, vắt ngang; mặt dưới cổ chân
và bàn chân màu đen Bụng và dưới đùi màu trắng đục với các vết loang lổ
Trang 28Họ nhái bầu Microhylidae
4 Nhái bầu hoa Microhyla fissipes (Boulenger, 1884)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu trưởng thành VFU KHA.71 thu vào tháng 4/2014, ở độ cao 314 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942), Bain & Nguyen (2004)
Cơ thể nhỏ, bụng hơi phình ở phía sau, SVL 20,9 mm; đầu rộng hơn dài (HW 8,8 mm, HL 8,1 mm); mõm hơi tù, nhô về phía trước so với hàm dưới, vùng
má lõm hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 1,9 mm, NEL 2,3 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn gian mắt và lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (IND 2 mm, IOD 2,6 mm, UEW 1 mm); màng nhĩ không rõ; lưỡi tròn ở sau, không
xẻ thùy Con đực có túi kêu ở góc miệng
Tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III, các ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<V<III<IV, các ngón chân tự do, không có màng bơi, có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài
Da lưng nhẵn, có màu nâu, có nhiều chấm đen; bụng nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Đầu nhỏ, miệng hẹp, giữa lưng có một vết sẫm màu thắt hai chỗ, kéo từ đầu tới hai bên đùi
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu vật được thu thập ở trên đường lên thác Huổi Cải, xã Côn Minh, ngoài ra còn có nhiều cá thể khác gặp trên bờ ruộng
Việt Nam: Có hầu hết ở các tỉnh (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Campuchia, lai-xi-a, Xin-ga-po (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
Ma-5 Nhái bầu hây-môn Microhyla heymonsi Vogt, 1911
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành VFU KHA.74 thu vào tháng 4/2014
Trang 29Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942) và Bain & Nguyen (2004)
Cơ thể nhỏ, thon, SVL 25,9 mm; đầu dài hơn rộng (HL 6,8 mm, HW 5,7 mm), lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 1,7 mm, NEL 2,2 mm); khoảng cách gian mũi nhỏ hơn gian mắt và lớn hơn chiều rộng mí mắt trên (IND 2,1 mm, IOD 2,8 mm, UEW 1,6 mm); màng nhĩ không rõ
Tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III, các ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<V<III<IV; các ngón tay và ngón chân tự do, không có màng bơi, củ bàn ngoài nhỏ hơn củ bàn trong
Da trên lưng nhẵn, bụng màu trắng vàng
Màu sắc mẫu sống: Lưng đồng màu nâu đỏ, nâu nhạt, giữa lưng có một sọc trắng đục mảnh chạy từ mút mõm tới lỗ huyệt, thường có một chấm đen giữa lưng Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: mẫu vật được thu bên đường cạnh bãi cỏ, ngoài ra còn gặp ở các bờ ruộng, ven các hồ nước nhỏ ở khu vực các xã Kim Hỷ, Ân Tình, Lạng San, Côn Minh
Việt Nam: Phân bố rộng khắp từ Lào Cai đến Cà Mau (Nguyen et al 2009) Thế giới: Ấn Độ, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Campuchia, Ma-lai-xi-a, In-đô-nê-xi-a (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
6 Nhái bầu vân Microhyla pulchra (Hallowell, 1861)
Mẫu vật nghiên cứu: 2 mẫu con cái trưởng thành VFU KHA.11 và VFU KHA.8 thu vào tháng 9/2012 và 7/2013
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Màu sắc mẫu sống: cơ thể bầu, SVL 34,5 mm - hình tam giác, đầu nhỏ, miệng hẹp và mõm hơi nhọn, mắt to, lồi; lưỡi hình bầu dục; lưng màu nâu đất hay xám đỏ với những vạch xám đen hoặc nâu làm thành những hình tam giác xen nhau
có đỉnh hướng về phía đầu
Trang 30Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu tại trên vũng nước tại xã Côn Minh và
xã Kim Hỷ
Việt Nam: Từ Bắc vào Nam (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Ấn Độ, Lào, Thái Lan, Campuchia (Nguyen et al
2009, Frost 2014)
Họ Ếch nhái chính thức Dicroglossidae
7 Ếch đồng Hoplobatrachus rugulosus (Weigmann, 1834)
Mẫu vật nghiên cứu: Đây là loài phổ biến nên không thu mẫu Mô tả theo ảnh chụp tại Khe Nà Dường
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của loài phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Đầu dài hơn rộng; mắt lớn và lồi; mõm hơi tù, nhô về phía trước so với hàm dưới; gờ mõm không rõ; vùng má lõm và hơi xiên; màng nhĩ rõ
Màu sắc mẫu sống: Là loài ếch khá lớn, lưng màu nâu xám với nhiều nốt sẫm rải rác, bụng và mặt dưới đùi trắng Trên lưng có nhiều nốt sần và các nếp da nhỏ đứt quãng; trên màng nhĩ có nếp da rõ; ngón chân có màng bơi gần hoàn toàn, trên các ngón tay và chân không có đĩa bám
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: mẫu được thu bên bờ ruộng ở Khe Nà Dường, xã Ân Tình
Việt Nam: tất cả các tỉnh trong cả nước (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc, Đài Loan, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Campuchia, lai-xi-a (Nguyen at el 2009, Frost 2014)
Ma-8 Ếch nhẽo ban-na Limnonectes bannaensis Ye, Fei & Jiang, 2007
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con đực trưởng thành VFU KHA.75 thu vào
Trang 31tháng 4/2014, ở độ cao khoảng 393 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của
Ye et al (2007)
Kích thước cơ thể trung bình, SVL 71 mm; đầu dài hơn rộng (HL 28,5 mm,
HW 25,2 mm); mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới, vùng má hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 4,3 mm, NEL 5,1 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 4,6 mm, IOD 4,2 mm, UEW 4,5 mm); màng nhĩ rõ, có đường kính nhỏ hơn đường kính mắt (TD 3,5 mm); gờ da trên màng nhĩ rõ; răng xếp lá mía xếp thành hình chữ V, lưỡi xẻ thùy ở phía sau
Tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III, các ngón tay tự do, không
có màng bơi; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, ngón chân có màng bơi hoàn toàn, mút các ngón chân có đĩa bám; có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài; khi gập dọc thân khớp chày-cổ đạt đến mắt
Da trên lưng trơn, bụng có màu trắng
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu nâu, trên lưng có các đốm đen nhỏ sau mũi, ổ mắt,
có vệt sẫm mầu, mặt trên các chi có màu nâu, bụng màu trắng, có vân nâu dưới ngực Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: mẫu vật được thu ở thác nước Huổi Cải tại xã Côn Minh Việt Nam: Cao Bằng (Nguyen et al 2009) Đây là lần đầu tiên ghi nhận loài này ở tỉnh Bắc Kạn
Thế giới: Trung Quốc (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
Ghi chú: Trước đây, các ghi nhận của loài ếch nhẽo ở miền Bắc Việt Nam
đều được định loại là loài L kuhlii Tuy nhiên McLeod (2010) cho rằng
Limnonectes kuhlii (Tschudi, 1838) chỉ phân bố ở In-đô-nê-xi-a, các ghi nhận trước
đây của loài L kuhlii ở Nam Trung Quốc và Việt Nam được xác định lại là L
bannaensis
Trang 329 Nhái Fejevarya limnocharis (Gravenhorst, 1829)
Mẫu vật nghiên cứu: 3 mẫu VFU KHA.18, VFU KHA.19, VFU KHA.21 thu vào tháng 4/2013 ở độ cao 316 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Cơ thể thuôn dài, SVL 40,8-41,2 mm ở 2 con đực, 44,3 mm ở 1 con cái; đầu dài hơn rộng (HL 17,8 mm, HW 15,6 mm); mõm hơi nhọn, nhô về phía trước so với hàm dưới, gờ mõm tù; lỗ mũi tròn, gần với mút mõm hơn so với mắt; khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 4,7 mm, IOD 4,01 mm, UEW 4,18 mm); màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp thành 2 hàng chữ V; lưỡi dài xẻ thùy
ở phía sau Con đực có túi kêu
Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<IV<I<III; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV; ngón chân khoảng 3/5 có màng bơi; củ bàn trong dài, củ bàn ngoài nhỏ; mút các ngón tay và ngón chân nhọn, không có đĩa bám; khi gập dọc thân, khớp cổ-bàn chạm mút mõm
Da trên lưng sần sùi, có nhiều nếp da đứt quãng, bụng khá nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu xám hay xám xanh, có nhiều vệt xám đen, một số cá thể có vạch trắng chạy giữa sống lưng; bụng và mặt dưới tay, chân trắng Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: gặp nhiều trên đường đi có các vũng nước, bờ ruộng,
bờ ao
Việt Nam: Tất cả các tỉnh trong cả nước (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nepal, Sri lanka, Băng-la-đét, Trung Quốc, Mi-an-ma, Lào, Thái Lan, Campuchia, Ma-lai-xi-a, Singapo, In-đô-nê-xi-a, Philipine, Nhật Bản (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
Họ Ếch nhái Ranidae
10 Chẫu Hylarana guentheri (Boulenger, 1882)
Trang 33Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành VFU KHA.22 thu vào tháng 7/2013 ở độ cao 316 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Cơ thể lớn, SVL 74,6 mm; đầu dài hơn rộng (HL 27,6 mm, HW 25,4 mm); mõm tròn, nhô về phía trước so với hàm dưới, vùng má hơi xiên; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 4,3 mm, NEL 5,1 mm); màng nhĩ rõ, có đường kính nhỏ hơn đường kính mắt (TD 6 mm, ED 9 mm), gờ da trên màng nhĩ rõ; răng xếp lá mía hình chữ V, lưỡi xẻ thùy ở phía sau
Tương quan chiều dài các ngón tay: II<I<IV<III, các ngón tay tự do, không có màng bơi; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, chân ¾ có màng bơi, mút các ngón chân phình thành đĩa nhỏ; khi gập dọc thân khớp chày-cổ đạt đến mắt
Da trên lưng nhẵn, nếp da bên lưng rõ, bụng nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu xám, có những vết nâu sẫm, màng nhĩ rõ, màu nâu sẫm, xung quang có viền xám Trên chân có những vệt ngang nâu sẫm Bụng trắng, ngực thường lốm đốm nâu
11 Chàng mẫu sơn Hylarana maosonensis Bourret, 1937
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu trưởng thành VFU KHA.1 thu vào tháng 9/2012 Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942)
Cơ thể hơi thuôn dài, SVL 39,5 mm; đầu dài hơn rộng (HL 14,8 mm, HW 13,7 mm); lỗ mũi gần với mút mõm hơn so với mắt (SNL 2,5 mm, NEL 3,7 mm); mõm tròn, vùng má hơi xiên, lõm; khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều
Trang 34rộng mí mắt trên (IND 4 mm, IOD 3,3 mm, UEW 3,2 mm); màng nhĩ to, rõ, đường kính màng nhĩ bằng ½ đường kính mắt theo chiều ngang (TD 3,6 mm, ED 5,4 mm),
gờ da trên màng nhĩ rõ
Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<IV<I<III, đĩa đệm nhỏ; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, ngón chân 2/3 có màng bơi; khi gập dọc thân khớp chày-cổ chạm tới giữa mắt
Da mặt trên lưng sần sùi với nhiều mụn cóc nhỏ
Màu sắc mẫu sống: Trên màu nâu với nhiều vệt tối không đều nhau; trên tay, đùi và ống chân có những vệt ngang màu đen; hai bên sườn và phần trước đùi có nhiều chấm đen lớn
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu tại khu vực xã Kim Hỷ
Việt Nam: Ở miền Bắc cho đến Thừa Thiên Huế (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Lào (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
12 Ếch bắc bộ Odorrana bacboensis (Bain, Lathrop, Murphy, Orlov & Ho,
Trang 35Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<IV<I<III, tay ngắn, mút ngón tay phình thành đĩa rộng; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, giữa các ngón chân có màng bơi hoàn toàn, củ bàn trong dài, không
có củ bàn ngoài, khi gập dọc thân, khớp cổ bàn chạm đến mút mõm
Da trên lưng ráp; lưng, hai bên thân, các chi có nhiều nốt sần; bụng nhẵn Màu sắc mẫu sống: Mặt trên lưng màu xám xanh, có nhiều vân xanh từ mắt xuống đến lưng xung quanh các nốt to, sẫm màu, chia thành các nốt hai bên lưng; môi màu xám với những nốt sẫm mầu xung quanh; họng, bụng và mặt dưới các chi
có màu trắng; mặt trên hai bên đùi có nhiều hoa văn màu tối, màng bơi sẫm màu Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu ở khu vực gần suối thôn Bản Cuôn, xã Côn Minh
Việt Nam: Lào Cai, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Nghệ An (Nguyen et al 2009) Thế giới: Đây là loài mới chỉ được biết đến ở Việt Nam (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
13 Ếch xanh Odorrana chloronota (Günther, 1876)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con đực trưởng thành VFU KHA.72 thu vào tháng 4/2014, ở độ cao khoảng 370 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bain et al (2003)
Cơ thể thuôn, SVL 49,7 mm; đầu dài hơn rộng (HL 20,6 mm, HW 15,7 mm),
lỗ mũi tròn, gần với mút mõm hơn so với mắt (SNL 3 mm, NEL 4,4 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 5,3 mm, IOD 4,4
mm, UEW 5,1 mm); mắt to và lồi; màng nhĩ to, rõ, đường kính màng nhĩ bằng 2/3 đường kính mắt (TD 4,2 mm, ED 6,3 mm), gờ trên màng nhĩ rõ; răng lá mía xếp thành hình chữ V; lưỡi rộng, xẻ thùy ở phía sau
Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<I<IV<III, tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, giữa các ngón chân có màng bơi hoàn
Trang 36toàn; có củ bàn trong; khi gập dọc thân, khớp cổ bàn chạm gần đến mút mõm Con đực không có túi kêu
Da trên lưng nhẵn; mặt bụng nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Mặt trên lưng màu xanh, hai bên sườn có màu nâu nhạt, họng, bụng và mặt dưới các chi có màu trắng; môi có sọc trắng, kéo dài đến trên cánh tay, kết thúc là một chấm trắng nhỏ; miệng rộng, mõm tròn; chân và tay màu nâu, có nhiều sọc ngang sẫm
Ma-14 Ếch g-ra-mi-ne Odorrana garaminae (Boulenger, 1900)
Mẫu vật nghiên cứu: Một mẫu con cái trưởng thành VFU KHA.7 thu vào tháng 9/2012
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bain et al (2003)
Cơ thể lớn SVL 90,7 mm; đầu rộng hơn dài (HW 33,4 mm, HL 32,9 mm), lỗ mũi gần với mút mõm hơn so với mắt (SNL 6,6 mm, NEL 8,3 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 9,2 mm, IOD 8,5 mm, UEW 8,1 mm); mắt to và lồi; màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng ½ đường kính mắt theo chiều ngang (TD 5,4 mm, ED 11,4 mm), gờ da trên màng nhĩ rõ; răng
lá mía xếp hình chữ V, lưỡi to dài, xẻ thùy ở phía sau
Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<I<IV<III, đĩa đệm nhỏ; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, giữa các ngón chân có màng bơi hoàn toàn, có củ bàn trong
Trang 37Da trên lưng ráp
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu xanh lá cây, hai bên sườn có màu nâu, có nhiều hạt sần nhỏ Môi có sọc trắng; họng, bụng và mặt dưới các chi có màu trắng; mặt trên hai chân và tay có các sọc ngang màu nâu sẫm
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu ở khu vực xã Ân Tình
Việt Nam: Bắc Kạn, Lạng Sơn, Lâm Đồng (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Trung Quốc (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
15 Ếch G-ra-ham Odorrana grahami (Boulenger, 1917)
Mẫu vật nghiên cứu: Một mẫu con cái trưởng thành VFU KHA.6 thu vào tháng 9/2012
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bain et al (2003)
Cơ thể lớn, SVL 103,5 mm; đầu dài hơn rộng (HL 37,9 mm, HW 36,7 mm);
lỗ mũi gần với mút mõm hơn so với mắt (SNL 7,8 mm, NEL 8,6 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn gian mắt và chiều rộng mí mắt trên (IND 10,6 mm, IOD 10,4 mm, UEW 8,1 mm); mắt to và lồi; màng nhĩ rõ, đường kính màng nhĩ bằng ½ đường kính mắt theo chiều ngang (TD 5,8 mm, ED 11,5 mm), gờ trên màng nhĩ rõ, răng lá mía xếp hình chữ V, lưỡi to dài, xẻ thùy ở phía sau
Ngón tay tự do, tương quan chiều dài các ngón tay: II<I<IV<III, đĩa đệm nhỏ; tương quan chiều dài các ngón chân: I<II<III<V<IV, các ngón chân có màng bơi hoàn toàn, có củ bàn trong
Da trên lưng ráp, bụng nhẵn
Màu sắc mẫu sống: Mặt trên lưng màu xám xanh, có nhiều vân xanh từ mắt xuống đến lưng Môi màu xám với những nốt sẫm mầu xung quanh; họng, bụng và mặt dưới các chi có màu trắng; mặt trên hai bên đùi có nhiều vân hoa màu tối, màng bơi sẫm màu
Phân bố:
Trang 38Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu được thu ở Bản Kẹ xã Kim Hỷ
Việt Nam: Lai Châu, Lào Cai (Nguyen at al 2009) Đây là lần đầu tiên ghi nhận loài này ở tỉnh Bắc Kạn
Thế giới: Trung Quốc (Nguyen et al 2009, Frost 2014)
16 Hiu hiu Rana johnsi Smith, 1921
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu con cái trưởng thành VFU KHA.9 được thu vào tháng 9/2012
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942) và Inger (1999)
Kích cỡ nhỏ, SVL 53,4 mm; đầu dài hơn rộng (HL 19 mm, HW 17,9 mm), chiều dãi mõm dài hơn đường kính mắt (SL 7,6 mm, ED 6 mm); màng nhĩ rõ, gần bằng 3/4 đường kính mắt (TD 4 mm, ED 6 mm); khoảng cách gian mũi hẹp hơn so với khoảng cách gian ổ mắt nhưng rộng hơn so với mí mắt trên (IND 4,4 mm); có răng lá mía
Ngón tay không có màng bơi, mút ngón không có đĩa; chân sau dài và mảnh, chân có 1/3 màng bơi
Da: gờ da trên màng nhĩ rõ; gờ da lưng-sườn nhỏ kéo dài từ mắt đến háng; trên đùi và cẳng chân có những nếp da xiên chéo
Màu sắc mẫu sống: Lưng có màu xám nhạt; có một vệt hình thoi màu đen phủ hết màng nhĩ; bụng trắng, ngực và ức có đốm xám
Trang 39Họ Ếch cây Rhacophoridae
17 Ếch cây sần nhỏ Kurixalus bisacculus (Taylor, 1962)
Mẫu vật nghiên cứu: 1 mẫu trưởng thành VFU KHA.35 thu vào tháng 7/2013, ở độ cao 409 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp mô tả của Taylor (1962)
SVL 44,7 mm; đầu dài hơn rộng (HL 17,2 mm, HW 16,6 mm); mõm hình tam giác, mút mõm nhọn, nhô về phía trước so với hàm dưới, vùng má lõm; lỗ mũi nằm gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 3,1 mm, NEL 4,3 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn so với gian mắt và nhỏ hơn chiều rộng của mí mắt (IND 3,6 mm, IOD 2,9 mm, UEW 3,9 mm); màng nhĩ rất rõ, có đường kính (TD 3,6 mm), nếp da trên màng nhĩ rõ; lưỡi xẻ thùy phía sau
Tương quan chiều dài các ngón tay: I<II<IV<III, tay không có màng bơi Tương quan chiều dài giữa các ngón chân: I<II<III<V<IV; chân có màng bơi, ở giữa các ngón II, III, IV, V chiếm ¾ chiều dài ngón chân, riêng màng ở giữa ngón I
và II chỉ chiếm một nửa Chiều rộng đĩa bám của ngón chân nhỏ hơn chiều rộng đĩa bám của tay Có củ bàn trong, không có củ bàn ngoài
Da trên lưng có nhiều nốt sần nhỏ Hai bên sườn, hai bên đùi và trên đầu cũng có nhiều nốt sần nhỏ
Màu sắc mẫu sống: Lưng màu nâu sẫm, khu vực sau mắt có màu nâu đen hình tam giác; có 2 đường đen sau mắt kéo dài lên mí mắt trên màng nhĩ, và kéo dài xuống hai bên hông Trên tay và chân có nhiều vệt màu đen ngắn, dưới cằm và bụng có nhiều nốt đen, họng, ngực và dưới tay có màu vàng trắng Mặt dưới chân, tay và lỗ huyệt có nhiều nốt nhỏ màu trắng
Phân bố:
Ở khu vực nghiên cứu: Mẫu của loài được tìm thấy trên cây ở trong rừng ở Cốc San, giữa xã Ân Tình và xã Côn Minh
Trang 40Việt Nam: Từ Lào Cai, Hà Giang cho đến Thừa Thiên – Huế, Gia Lai (Nguyen et al 2009)
Thế giới: Campuchia, Trung Quốc, Lào, Thái Lan, Ấn Độ, Mi-an-ma (Nguyen et al 2009, Frost, 2014)
Ghi chú: Trước đây các mẫu vật ở miền Bắc Việt Nam được định loại là loài
Kurixalus verrucosus, nhưng sau đó Ye et al (2010) xác định loài phân bố ở Việt
Nam là Kurixalus bisacculus còn loài Kurixalus verrucosus thì chỉ phân bố ở Tây
Tạng, Trung Quốc
18 Ếch cây đầu to Polypedates megacephalus Hallowell, 1861
Mẫu vật nghiên cứu: 4 mẫu trưởng thành VFU KHA.10, VFU KHA.13, VFU KHA.34 thu vào tháng 7/2013, và VFU KH.69 thu vào tháng 4/2014 ở độ cao từ 246–629 m so với mực nước biển
Đặc điểm hình thái: Đặc điểm hình thái của mẫu vật phù hợp với mô tả của Bourret (1942) và Orlov et al (2001)
Mẫu mô tả đại diện: VFU KHA.10 và VFU KH.69
Cơ thể trung bình, SVL 79,5 mm ở con cái, 75,6 mm ở con đực; đầu dài hơn rộng (HL 28,3-39,3 mm, HW 25,2-26,7 mm); lỗ mũi gần mút mõm hơn so với mắt (SNL 3,4-4,2 mm, NEL 7,6-8,9 mm); khoảng cách gian mũi lớn hơn so với chiều rộng mí mắt trên nhưng nhỏ hơn nhiều chiều rộng gian mắt (IND 4,4-5,0 mm, IOD 8,7-9,1 mm, UEW 3,5-3,8 mm); màng nhĩ rất rõ (TD 4,2-4,6 mm), nếp da trên màng nhĩ rõ; lưỡi xẻ thùy phía sau Ngón tay và ngón chân dài; ngón tay không có màng bơi; ngón chân có màng bơi hoàn toàn, củ bàn trong rõ
Da trên lưng nhẵn, bụng và dưới các chi ráp
Màu sắc sống: lưng có màu vàng cam, nâu vàng hay xám nhạt với bốn sọc sẫm dọc lưng hoặc những đốm nâu, nhiều cá thể chỉ đồng nhất một màu; bụng màu trắng; chi sau có các vệt ngang sẫm màu
Phân bố: