Nghiên cứu ở ngoài nước Trong thời gian gần đây với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những nghiên cứu nhằm phục hồi, phát triển đất trống đồi núi trọc đã và đang được thực hiện tại n
Trang 1-
TRỊNH THỊ TRANG NHUNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC
TẠI HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỦ XANH
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HÀ NỘI - 2010
Trang 2-
TRỊNH THỊ TRANG NHUNG
NGHIÊN CỨU HIỆN TRẠNG ĐẤT TRỐNG ĐỒI NÚI TRỌC
TẠI HUYỆN LẠC SƠN TỈNH HÒA BÌNH
VÀ ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP PHỦ XANH
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ BẢO VỆ RỪNG
MÃ SỐ: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Người hướng dẫn khoa học: TS LÊ ĐỒNG TẤN
HÀ NỘI - 2010
Trang 3ĐẶT VẤN ĐỀ
Hệ sinh thái rừng có vai trò cực kỳ quan trọng đối với việc bảo vệ môi trường sống và nền kinh tế quốc dân ở nhiều quốc gia Giữ đất, giữ nước, điều hoà khí hậu, phòng chống ô nhiễm và thiên tai là những tác dụng chính của rừng Vì vậy, cho đến nay nhiều nước trên thế giới đã coi tác dụng bảo vệ môi trường của rừng lớn hơn nhiều so với giá trị kinh tế của nó
Tuy nhiên sức ép về kinh tế và dân số đã và đang dẫn đến việc sử dụng quá mức tài nguyên rừng ở các nước đang phát triển, đặc biệt là nạn chặt phá rừng bừa bãi Tình hình đó làm cho nguồn tài nguyên có thể tái tạo được như rừng và đất rừng bị cạn kiệt nhanh chóng, môi trường rừng nói riêng và môi trường sống nói chung bị suy thoái nghiêm trọng Thảm thực vật rừng thoái hoá kéo theo quá trình suy thoái của đất do xói mòn, rửa trôi Đất rừng ở nhều nơi bị hoang hóa trở thành những vùng đất trống đồi trọc, giảm sức sản xuất của đất
Thực tế cho thấy, ở nhiều vùng đất trống trọc rộng lớn ở vùng nhiệt đới châu Á, châu Phi và châu Mỹ La-tinh hiện nay đều có nguồn gốc từ rừng
do các hoạt động khai thác và sử dụng quá mức của con người tạo nên Trên những vùng đất đó, tiềm năng sẳn xuất đều giảm, năng suất cây trồng không cao, chức năng bảo vệ đất, bảo vệ môi trường cũng bị suy giảm Các nhà khoa học đã nhận định mất rừng dẫn đến trọc hoá đất đai là nguyên nhân chính gây
ra các thảm họa như thiên tai, bão lụt và hạn hán
Theo số liệu thống kê của Cục Kiểm lâm, tính đến đến ngày 31/12/2008 diện tích rừng trên toàn quốc là 13,12 triệu ha, đạt độ che phủ 38,7%; tổng diện tích đất trống đồi núi trọc khoảng hơn 5 triệu ha chiếm 13,01% diện tích đất tự nhiên và chiếm 35,1% diện tích đất có rừng (Quyết định 1267/QĐ-BNN-KL ngày 04/5/2009 về việc công bố hiện trạng rừng toàn quốc năm 2008) Ngoài diện tích đất trống đồi núi trọc đã quy hoạch cho lâm
Trang 4nghiệp còn có một số diện tích đất trống trọc đang được sử dụng trong nông nghiệp chưa được thống kê một cách cụ thể Phần lớn diện tích đất trống trọc phát sinh từ các hệ sinh thái rừng đã bị thoái hoá ở các mức độ khác nhau nhưng vẫn còn tiềm năng cho sản xuất và phủ xanh Vấn đề đặt ra là thực hiện như thế nào để phát huy hiệu quả và tiềm năng vốn có của chúng Nghĩa là cần có những đánh giá chính xác hiện trạng, nhu cầu và điều kiện kinh tế của từng địa phương để từ đó xác định chiến lược phủ xanh đúng đắn
Huyện Lạc Sơn của tỉnh Hoà Bình là một huyện miền núi có tỷ lệ diện tích đất trống trọc khá cao so với diện tích đất tự nhiên Điều này có ảnh hưởng đến chức năng phòng hộ, bảo vệ nguồn nước, bảo vệ môi trường và phòng tránh thiên tai Để góp phần khắc phục những tồn tại nói trên, chúng
tôi đề xuất thực hiện đề tài đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng đất trống đồi núi trọc
tại huyện Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình và đề xuất giải pháp phủ xanh” nhằm mục đích
đánh giá hiện trạng, tiềm năng đất trống đồi núi trọc và đề xuất giải pháp phủ xanh hợp lý
Trang 5Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước
Trong những năm gần đây, diện tích rừng của Việt Nam và các nước đang phát triển đang bị suy giảm nhanh chóng Theo tài liệu của Đại hội Lâm nghiệp diễn ra vào tháng 10 năm 1997 tại Thổ Nhĩ Kỳ, tổ chức Nông lương thế giới FAO đã thống kê được sự suy giảm diện tích rừng trong những năm vừa qua là hết sức nghiêm trọng Theo thống kê, trong giai đoạn 1990 - 1995, khi Châu Âu và khu vực Bắc Mỹ trồng được 8,50 triệu ha rừng, thì các châu lục khác bị mất đến 64,90 triệu ha rừng Nguyên nhân của tình trạng suy giảm diện tích rừng có nhiều nhưng nguyên nhân trực tiếp vẫn là tình trạng phá rừng để phát triển sản xuất nông nghiệp theo phương thức quảng canh của các cộng đồng dân cư tại các nước đang phát triển mà điển hình là hình thức canh tác nương rẫy, trong đó có Việt Nam Các nhà khoa học ước tính có khoảng từ
250 đến 300 triệu người trên thế giới đang sống bằng hình thức canh tác nương rẫy và tác động đến gần một nửa diện tích đất của vùng nhiệt đới Trong đó, riêng vùng Châu Á Thái Bình Dương đã có hơn 30 triệu người sống phụ thuộc vào hệ canh tác nương rẫy trên diện tích khoảng 75 triệu ha (Srivastava, 1986) Như vậy, đói nghèo và tình trạng phá rừng diễn ra song hành với nhau như “hai chân đi
về một hướng” [20]
Canh tác nương rẫy là một dạng sử dụng đất, có lịch sử lâu đời và tỏ ra phù hợp với điều kiện sinh thái của vùng nhiệt đới Trong hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống chỉ có từ 5% đến 10% diện tích đất được sử dụng theo đúng nghĩa, còn lại bị bỏ hoang hoá để tự phục hồi gọi là thời kỳ hưu canh (Fallow) Canh tác nương rẫy xét ở góc độ nào đó thì có thể coi là một phương thức sử dụng đất bền vững trong điều kiện mật độ dân cư thưa Người
ta ước tính có khoảng 2,8 triệu ha đất đang hoặc đã qua canh tác nương rẫy,
Trang 6hàng năm có khoảng 30 nghìn ha rừng nguyên sinh bị chặt hạ để làm nương rẫy, vì vậy vô hình đã biến những diện tích rừng nguyên sinh thành những
vùng đất trống đồi núi trọc chỉ sau một vài chu kỳ canh tác [20].
Canh tác nương rẫy đã gây ra tình trạng xói mòn, thoái hoá đất do vậy
để phục hồi lại những vùng đất bị xói mòn, thoái hoá, đã có nhiều nhà khoa học quan tâm và nghiên cứu
1.2.1 Nghiên cứu ở ngoài nước
Trong thời gian gần đây với sự giúp đỡ của các tổ chức quốc tế, những nghiên cứu nhằm phục hồi, phát triển đất trống đồi núi trọc đã và đang được thực hiện tại nhiều nước trên thế giới Các chương trình đã thực hiện chủ yếu dựa vào nguồn hỗ trợ của các tổ chức quốc tế
Trung tâm nghiên cứu Quốc tế về nông lâm nghiệp (ICRAF) trong báo cáo hàng năm cho biết, trong giai đoạn 1996 – 1998 đã nghiên cứu phủ xanh đất trống đồi trọc bằng nhiều giải pháp khác nhau Có thể nêu một sô mô hình
đã thực hiện như sau:
Tại châu Phi: gồm các nước Zambia, Tanzania, Zimbabwe Các mô
hình đã thực hiện [18]:
- Mô hình thảm cỏ luân phiên (Rotation wooslost) nhằm phủ xanh đất trong thời kỳ bỏ hoá Trong mô hình này, người ta đã dùng cây Điển
(Sesbania sesban) một loài cây thuộc họ Đậu trồng để phủ xanh đất trong thời
kỳ bỏ hoang Sau 2 -3 năm có thể khai thác làm củi phần còn lại đốt hoặc để mục để tăng thêm chất mùn và chất dinh dưỡng cho đất
- Mô hình trồng cây gỗ + cây ăn quả đa tầng (Multi-strata) Trong mô hình này, các loài cây trồng chủ yếu là cây bản địa sẽ tạo ra một hệ thống trồng trọt bền vững có nhiều sản phẩm và tăng thu nhập
Trang 7- Mô hình chăn nuôi lâm sinh bằng việc tạo ra thảm cỏ chăn nuôi dưới tán rừng thứ sinh
Tại châu Mỹ Latinh gồm các nước: Brazil, Peru, Mexico Các mô hình
đã được xây dựng đều nhằm mục đích bảo đảm an toàn lương thực và phủ xanh đất trống trọc Những mô hình đã thực hiện gồm:
- Mô hình trồng trọt cải tạo vườn nhà (Homegarden)
Mô hình nông lâm kết hợp đa tầng, nhiều sản phẩm (Multitistrata), trồng cây ăn quả với cây lấy gỗ theo mô hình đa loài nhiều tầng
Kỹ thuật sử dụng đất bền vững:
Kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT) là hệ thống canh tác nhằm sử dụng đất dốc bền vững đã được trung tâm đời sống nông thôn Bapstit Mindanao Philipin tổng kết, hoàn thiện và phát triển từ những năm
1970 đến nay Cho đến năm 1992 đã có 4 loại mô hình tổng hợp về kỹ thuật
canh tác nông nghiệp đất dốc bền vững đã được ghi nhận ứng dụng [22] là:
Mô hình kỹ thuật canh tác nông nghiệp đất dốc (SALT1) - với cơ cấu cây trồng được sử dụng để bảo đảm được sự ổn định và có hiệu quả nhất là 75% cây nông nghiệp và 25% cây lâm nghiệp Trong cây nông nghiệp thì 50% là cây hàng năm và 25% cây lâu năm
- Mô hình kỹ thuật canh tác nông súc kết hợp đơn giản (SALT2) - cơ cấu
sử dụng đất thích hợp ở đây là 40% dành cho nông nghiệp, 20% cho lâm nghiệp, 20% cho chăn nuôi
- Mô hình kỹ thuật canh tác NLKH bền vững (SALT3) - với cơ cấu sử dụng đất thích hợp ở đây là 40% nông nghiệp, 60% lâm nghiệp (mô hình đòi hỏi đầu tư cao)
Trang 8- Mô hình kỹ thuật SXNLN với cây ăn quả kết hợp quy mô nhỏ (SALT4)
- cơ cấu sử dụng đất thích hợp là 60% lâm nghiệp, 15% nông nghiệp, 25% cây ăn quả (mô hình này đòi hỏi đầu tư cao)
Các mô hình trên đã được nông dân chấp nhận và cũng đã và đang được kiểm nghiệm ở nhiều nước Đông Nam Á
Tại châu Á gồm các nước: Malaysia, Thái Lan và Việt Nam Các mô hình đã thực hiện là:
- Nghiên cứu sử dụng tri thức bản địa trong canh tác phủ xanh kết hợp bảo vệ đất và tăng thu nhập cho hệ nương rẫy
- Mô hình nông lâm kết hợp để cải tạo thảm cỏ tranh (Imperata cylindrinca)
- Mô hình trồng cây họ đậu trên đỉnh đồi để chống xói mòn
- Mô hình sử dụng độ tàn che của cây họ đậu để kiểm soát cỏ dại
Những nghiên cứu khác cũng đã được thực hiện: phương pháp xây dựng mô hình nông lâm kết hợp (CH.Trachummok, 1982; L.Roche, 1982), đào tạo và huấn luyện kỹ năng xây dựng mô hình nông lâm kết hợp để phủ
xanh đất trống đồi núi trọc (R.F.Fisher, 1991).[18]
1.1.2 Nghiên cứu ở trong nước
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì quá trình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi trọc, đất không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia tăng Trong những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có những công trình nghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và đưa những diện tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế
cũng như giải quyết vấn đề nông thôn miền núi
Trang 9Công cuộc phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở nước ta đã được thực hiện
từ những năm 1960 Đến năm 1980 thực sự trở thành vấn đề cấp bách Điều
đó được thể hiện qua nhiều chương trình, dự án đã và đang thực hiện:
- Dự án PAM - phủ xanh đất trống đồi núi trọc
- Chương trình 327 - trồng rừng phòng hộ
- Dự án trồng rừng trên đất cát ven biển Nam Trung Bộ Việt Nam (PACSA)
- Dự án trồng rừng phòng hộ đầu nguồn JBIC tại 5 tỉnh miền trung
- Chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng do Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 2 Quốc hội khoá X ngày 29/7/1997
- Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước “phủ xanh đất trống đồi núi trọc ” mã số 04A (1986 - 1990) do Bộ Lâm nghiệp chủ trì
- Chương trình nghiên cứu cấp Nhà nước “Khôi phục rừng và phát triển lâm nghiệp” mã số KN03, Bộ Lâm nghiệp chủ trì
Theo hướng nghiên cứu này, Trung tâm Khoa học tự nhiên nay là Viện nghiên cứu khoa học và công nghệ Việt Nam cũng đã đầu tư một số đề tài nghiên cứu như:
- Nghiên cứu xây dựng mô hình phủ xanh đất trống đồi trọc miền núi Nghệ An (1993 - 1997), GS.TSKH Trần Đình Lý làm chủ nhiệm
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và xây dựng mô hình phủ xanh đất trống đồi núi trọc ở Bắc Trung Bộ (1997 -1999), GS.TS Trần Đình Lý làm chủ nhiệm
- Nghiên cứu cơ sở khoa học và xây dựng mô hình cải tạo, sử dụng hợp
lý hệ sinh thái vùng cát huyện Gio Linh, Quảng Trị (2001 - 2003), GS.TSKH Trần Đình Lý làm chủ nhiệm đề tài
Ngoài các chương trình trên, còn có nhiều đề tài cấp cơ sở thuộc các viện nghiên cứu chuyên ngành như: Viện Khoa học lâm nghiệp Việt Nam,
Trang 10Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam, Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật Việt Nam đã và đang được thực hiện
1.2 Xu hướng nghiên cứu phủ xanh đất trống đồi núi trọc
1.2.1 Khái niệm và phân loại đất trống đồi núi trọc
Trong nhiều tài liệu của nước ta hiện nay, đề cập đến ĐTĐNT thì vấn
đề cải tạo, sử dụng hợp lý chúng để đảm bảo sự phát triển bền vững đã trở thành vấn đề rất được quan tâm Mặc dù vậy, cho đến nay chưa có tài liệu nào trình bày rõ nghĩa và chính xác khái niệm này Vì hiểu khái niệm ĐTĐNT khác nhau dựa trên những tiêu chuẩn không giống nhau nên cách đánh giá về
số liệu diện tích ĐTĐNT đưa ra không thống nhất Ví dụ, Bộ Lâm nghiệp (cũ)
và Tổng cục thống kê đưa ra số liệu diện tích ĐTĐNT của cả nước năm 1993
là 11 triệu ha, cũng trong thời gian đó các địa phương cũng đưa ra số liệu về ĐTĐNT của địa phương mình nhưng khi tổng hợp thì các số liệu đó không khớp nhau ở cả hai phía Trong năm 2005 một số tài liệu cho rằng diện tích ĐTĐNT của Việt Nam là 9,5 triệu ha, một số tài liệu khác nhau lại đưa số liệu khoảng 11 triệu ha Sở dĩ có sự sai khác đó là vì không thống nhất về khái niệm nên việc xác định đối tượng và mức độ tác động để phủ xanh trên các đối tượng đó cũng khác nhau, mức chi phí và cách thực hiện cũng khác nhau
[26].
Đất trống đồi núi trọc (Denuded hills and waste lands) là đất còn bị hoang hoá hiện chưa có rừng hoặc chưa có thảm thực bì có giá trị sử dụng nhất định che phủ hoặc chưa được sử dụng vào canh tác nông lâm nghiệp hay các mục đích khác [Thuật ngữ lâm nghiệp, nhà xuất bản nông nghiệp 1996]
Có quan niệm cho rằng ĐTĐNT là những vùng đất trống không có cây mọc Với quan niệm này thì diện tích ĐTĐNT rất ít, nhất là ở những vùng nhiệt đới, nơi có mưa nhiều, độ ẩm cao thì những vùng đất không có cây mọc chỉ là sa mạc, đồi cát Các bãi biển, đất trơ sỏi đá do xói mòn rửa trôi quá mạnh hoặc một số dải đất mới bồi tụ
Trang 11Một số quan niệm thì cho rằng ĐTĐNT là những vùng đất không có rừng và cũng không có cây trồng nông nghiệp, cây công nghiệp, chỉ có thảm
cỏ cây bụi tự nhiên, thảm cỏ tự nhiên hoặc đất hoang hoá và các núi đá trơ trọi không có cây mọc Theo quan niệm này loại bỏ các thảm cây trồng nông nghiệp, cây trồng công nghiệp và đồng cỏ đã bị suy thoái, năng suất thấp chưa được cải tạo ra khỏi khái niệm ĐTĐNT
Trong thống kê lâm nghiệp người ta đã xếp tất cả các trạng thái IA (cỏ, lau lách), IB (cây bụi, gỗ, tre rải rác), IC (nhiều cây gỗ tái sinh), núi đá không cây và các bãi cát, lầy, đất bị xâm hại vào nhóm đất trống trọc (Diện tích rừng
và đất rừng chưa sử dụng cho quy hoạch lâm nghiệp năm 2004, Bộ NN&PTNT, 2005)
Dưới góc độ lâm nghiệp Trần Đình Lý (2003) lại quan niệm ĐTĐNT
là những vùng đất lâm nghiệp nhưng chưa có rừng hoặc rừng đã bị mất do tàn phá Nói cách khác là vùng đất lâm nghiệp mà ở đó chưa có hoặc không còn thảm thực vật mà cây gỗ là chủ yếu, có độ che phủ của cây gỗ hiện có dưới 0,3 và cây có chiều cao 3-5m trở lên chiếm ưu thế Ở đây cũng cần nhấn mạnh rằng, rừng không phải chỉ là cây lâm nghiệp mà các kiểu thảm thực vật khác như cây ăn quả, cây công nghiệp dài ngày (Cao su, Cà phê, Cọ dầu…) nếu chúng có độ tàn che hơn hoặc bằng 0,3 với chiều cao 3-5m trở lên đều
thuộc khái niệm rừng (rừng xoài, rừng cao su…).[26]
Các đối tượng sau đây được xếp vào loại hình ĐTĐNT:
- Rừng mới bị khai thác kiệt, đất còn tốt
- Rừng bị chặt phá làm nương rẫy sau một thời gian ngắn bỏ hoang
- Thảm cây bụi xen cây gỗ thưa thớt, độ tàn che của cây gỗ dưới 0,3
- Thảm cỏ tự nhiên
- Đất hoang hoá
- Các bãi bồi ở các cửa sông, các dải cát ven biển và nội đồng hiện không có cây gỗ hoặc có nhưng không đáng kể
Trang 12- Các vùng trồng cây ăn quả, cây công nghiệp hay đồng cỏ chăn nuôi
đã bị thoái hoá, năng suất thấp, độ che phủ kém (<0,3), đất bị bào mòn, rửa
trôi mạnh.[26]
Từ góc độ tổng quát về nông – lâm nghiệp và môi trường, Trần Đình
Lý đưa ra định nghĩa “Đất trống đồi núi trọc là những vùng đất chưa có thảm thực vật cây gỗ là chủ yếu hoặc đã có nhưng bị tàn phá mà trên đó chỉ còn là những trảng cỏ, trảng cây bụi hoặc các loại cây ăn quả, cây công nghiệp hay
định nghĩa đầu tiên về đất trống trọc ở nước ta Tác giả cũng đã căn cứ vào thành phần thực vật, cấu trúc phẫu diện và độ phì của đất, phân chia đất trống trọc ở nước ta thành 3 nhóm như sau:
- Nhóm I: gồm những diện tích do rừng bị khai thác kiệt hoặc do bị đốt, chặt phá rừng để trồng cây nông nghiệp sau 2 – 3 vụ (đôi khi hơn ) rồi bỏ hoá
- Nhóm II: là các loại đất trống đồi trọc được hình thành do rừng bị chặt, đốt để lấy đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày lặp đi lặp lại nhưng không có biện pháp bảo vệ để giữ gìn độ phì của đất, làm cho đất bị xói mòn rửa trôi thoái hoá mạnh
- Nhóm III: gồm các bãi cát ven biển và nội đồng, các loại núi trọc trơ sỏi đá mà lớp đất mặt còn rất mỏng hoặc đất phát sinh chưa hoàn chỉnh
1.2.2 Giải pháp phủ xanh đất trống đồi núi trọc
Trước đây quan niệm phủ xanh là trồng rừng trên đất trống đã bị mất hoặc chưa có rừng Nhưng đến đầu những năm 1980, cùng với trồng rừng, các biện pháp khác như nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp đều được coi là phủ xanh đất trống đồi trọc
Trong quyết định số 661/QĐ-TTg ngày 29/7/1998 của Thủ tướng Chính phủ về mục tiêu, chính sách và tổ chức thực hiện chương trình trồng mới 5 triệu ha rừng đã nêu rõ nhiệm vụ đến năm 2010 phải đạt được các chỉ
Trang 13tiêu trồng mới 5 triệu ha rừng Trong đó rừng phòng hộ và rừng đặc dụng 1 triệu ha, khoanh nuôi có trồng bổ sung 1 triệu ha, trồng mới rừng sản xuất 2 triệu ha, trồng cây công nghiệp và cây ăn quả 1 triệu ha
Như vậy, phủ xanh đất trống đồi trọc không chỉ có trồng rừng, mà nó còn có giải pháp khác Đó là thực hiện canh tác theo mô hình nông lâm kết hợp, trồng cây ăn quả, cây công nghiệp, xây dựng vườn rừng, đồng cỏ chăn nuôi…
Phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng trồng rừng
Từ những năm 1976, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu thực hiện những chương trình trồng rừng rộng lớn Hàng năm trồng được 150.000 ha, chi phí cho trồng rừng là 3 triệuVND/ha (Nguyễn Văn Đẳng, 1998), từ năm 1998 chúng ta thực hiện chương trình 661 trồng rừng trên quy mô toàn quốc Trải qua thực hiện giai đoạn 1998-2005, Dự án đã thu được kết quả nhất định; một
số mục tiêu dự án đạt kết quả chưa cao, tiến độ của dự án chỉ mới thực hiện tốt đối với trồng rừng phòng hộ, đặc dụng (đạt 63 % nhiệm vụ dự án), trong khi đó trồng rừng sản xuất còn chậm (đạt 34 % nhiệm vụ dự án) Diện tích rừng tự nhiên có chiều hướng tăng lên nhưng chất lượng rừng còn tăng chậm, diện tích rừng trồng tăng lên về số lượng nhưng năng suất còn tăng chưa đồng đều (Báo cáo tổng kết Dự án 661 giai đoạn 1998 - 2005)
Đối với việc trồng rừng (rừng sản xuất, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ) bằng các loài cây nhập nội, các nghiên cứu thường tập trung vào việc tuyển chọn và khảo nghiệm giống, nghiên cứu điều kiện lập địa, phương thức trồng, sinh trưởng phát triển của các loài, cấu trúc rừng phục vụ cho công tác chăm sóc tu bổ
Đối với việc trồng rừng nhằm mục đích phòng hộ và bảo vệ môi trường, các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu phục hồi các hệ sinh thái rừng nhiệt đới theo hướng đa loài nhiều tầng bằng các loài cây bản địa
Trang 14Trần Ngũ Phương (2000) đã mô tả quy luật cấu trúc và quá trình phục hồi của các kiểu rừng nhiệt đới ở Việt Nam và đưa ra giải pháp tái sinh nhân tạo bằng trồng rừng hỗn loài nhiều tầng kết hợp cây lấy gỗ, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây đặc sản và các sản phẩm phi gỗ khác Theo mô hình này, tầng trên (tầng cây gỗ) là các loài cây gỗ bản địa có giá trị thương mại cao Tầng dưới (tầng ưu thế sinh thái) là các loài cho quả, cây đặc sản Tầng dưới tán là các loài cây thuốc, cây làm thức ăn gia súc và cây lương thực
Hoàng Văn Thắng, Nguyễn Bá Chất, Vũ Đức Năng (2005) đã có thông báo về kết quả xây dựng mô hình trồng rừng hỗn loài tại Cầu Hai – Phú Thọ
Mô hình được xây dựng theo phương thức kết hợp cây phụ trợ để bảo vệ cây non mới trồng có 2 mô hình đã thực hiện sau đây:
- Cây phụ trợ là Keo, cây trồng chính là Vạng trứng + Trám trắng + Re gừng
Phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng khoanh nuôi phục hồi rừng
Phục hồi rừng trước hết là phục hồi lại thành phần thành phần chủ yếu của rừng là thảm thực vật cây gỗ Sự hình thành nên thảm cây gỗ này sẽ tạo điều kiện cho sự xuất hiện các thành phần khác của rừng như tầng cây bụi, tầng cỏ quyết, khu hệ động vật, vi sinh vật… và các yếu tố khác của rừng như
chế độ nhiệt, chế độ ẩm,…[7] Vì vậy khái niệm phục hồi rừng sẽ có ý nghĩa
Trang 15rộng lớn hơn là phục hồi lại cả một quần lạc sinh vật hay một hệ sinh thái rừng hoàn chỉnh Trong thực tế quá trình phục hồi rừng được đánh giá bằng
sự xuất hiện và chất lượng của thế hệ mới các cây gỗ
Phục hồi rừng là một quá trình sinh học gồm nhiều giai đoạn và kết thúc bằng sự xuất hiện một thế hệ mới thảm thực vật cây gỗ bắt đầu khép tán Quá trình phục hồi sẽ tạo điều kiện cho sự cân bằng sinh học xuất hiện, đảm bảo cho sự cân bằng này tồn tại liên tục và cũng vì thế mà chúng ta có thể sử dụng liên tục
Phục hồi rừng sau nương rẫy là quá trình phục hồi lại hệ sinh thái rừng trên đất nương rẫy bỏ hoá
Khoanh nuôi phục hồi rừng là một giải pháp quan trọng để tái tạo lại rừng Đó là việc lợi dụng triệt để quy luật tái sinh và diễn thế đi lên của thảm thực vật với sự can thiệp hợp quy luật của con người nhằm thúc đẩy quá trình phục hồi lại rừng trong một thời gian xác định theo mục đich đề ra Mục đích của khoanh nuôi phục hồi rừng là biến những vùng đất lâm nghiệp hiện chưa
có rừng hoặc không còn rừng mà điều kiện thổ nhưỡng và khả năng tái sinh tự nhiên cho phép thành các loại rừng phòng hộ, sản xuất hoặc rừng đặc dụng trong khoảng thời gian không quá 10 năm
Cho đến nay, khoanh nuôi phục hồi rừng đang là một giải pháp tích cực
để tăng nhanh độ che phủ của rừng nước ta Vấn đề này đã được nhà nước đặc biệt quan tâm, thể hiện qua việc ban hành 2 quy phạm nhằm lợi dụng năng lực tái sinh tự nhiên cho phục hồi rừng:
Quy phạm các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất và rừng đặc dụng (QPN 14 - 92) và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (QPN 21 - 98)
Đã có nhiều công trình nghiên cứu về khả năng phục hồi tự nhiên của thảm thực vật đã bị thoái hoá cần phải phủ xanh (Nguyễn Bá Chất và cộng sự,
Trang 161993; Lâm Phúc Cố, 1996; Nguyễn Ngọc Công, 2002…) Kết quả nghiên cứu của các tác giả cho thấy thảm thực vật đã bị suy thoái đến thảm cỏ, thảm cây bụi đều có khả năng phục hồi thành rừng bằng con đường tái sinh tự nhiên vấn đề là thời gian và chất lượng rừng được phục hồi
Lê Đồng Tấn và các cộng sự đã nghiên cứu xây dựng mô hình khoanh nuôi tái sinh tại một số địa phương: Kon Hà Nừng (giai đoạn 1990 - 1995), Con Cuông - Nghệ An (giai đoạn 1992 – 1996); Sơn La (giai đoạn 1990 - 2000); Lai Châu (giai đoạn 2000 - 2002) và gần đây là tại Trạm Đa dạng sinh học Mê Linh (giai đoạn 2001 – 2005) cho thấy khả năng phục hồi tự nhiên của thảm thực vật không cao Trên đất tốt sau 8 – 9 năm nếu không bị lửa rừng, chặt phá hay chăn thả thì từ thảm cỏ có thể phục hồi thành rừng non đáp ứng được yêu cầu phòng hộ Còn về phương diện kinh doanh thì không đáp ứng được yêu cầu phòng hộ Về phương diện kinh doanh không đáp ứng được
do tỷ lệ các loài cây có giá trị kinh tế không nhiều Trên đất xấu quá trình lâu hơn, có thể mất 14 – 16 năm (ở Sơn La, Mê Linh – Vĩnh Phúc) mới có thể hình thành rừng Tuy nhiên, nếu có biện pháp lâm sinh thích hợp (phát luỗng,
vệ sinh, trồng dặm) thì quá trình sẽ nhanh hơn
Đinh Hữu Khánh (2005) đã nghiên cứu khoanh nuôi thảm cỏ (trạng thái IC) cho thấy sau 2 – 5 năm áp dụng giải pháp khoanh nuôi đã tăng độ che phủ của thảm thực vật cây bụi Tổ thành thực vật cũng thay đổi theo chiều hướng cây gỗ chiếm ưu thế, sinh trưởng của cây tái sinh cũng tăng lên đáng kể
Tái sinh tự nhiên: một vài nhà khoa học ủng hộ việc sử dụng tái sinh tự nhiên, hỗ trợ hoặc không trái với quan điểm chung của các nhà hoạch định chính sách, đó là rừng phải được trồng và phát triển một cách triệt để trong điều kiện có thể Sự thực là có một khả năng to lớn về tái sinh tự nhiên ở một
số vùng, như vùng Sông Đà (Hoà Bình), điều này đảm bảo cung cấp gỗ có chất lượng tốt hơn (mặc dù các loài cây khác nhau) So sánh phạm vi giới hạn những cây mọc nhanh sử dụng trong trồng rừng cho thấy các loài cây bản địa đòi hỏi giá trị đầu tư cao hơn so với những cây ngoại lai đã được thuần hóa, do vậy biện
Trang 17pháp tái sinh tự nhiên là phương án được lựa chọn đầu tiên cho công tác phục hồi phát triển rừng
Phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng các giải pháp nông lâm kết hợp
Ở Việt Nam, tập quán canh tác nông lâm kết hợp đã có từ lâu đời, như các hệ thống canh tác nương rẫy truyền thống của đồng bào các dân tộc ít người, hệ sinh thái vườn nhà ở nhiều vùng địa lý sinh thái trên cả nước Xét ở khía cạnh mô hình và kỹ thuật thì nông lâm kết hợp ở Việt Nam đã phát triển
không ngừng [1].
Từ những năm 1960, hệ sinh thái Vườn-Ao-Chuồng (VAC) được nông dân các tỉnh miền Bắc phát triển mạnh mẽ và lan rộng khắp cả nước với nhiều cải tiến khác nhau để thích hợp cho từng vùng sinh thái cụ thể Sau đó là hệ thống Rừng-Vườn-Ao-Chuồng (RVAC) và vườn đồi được phát triển mạnh
mẽ ở các khu vực dân cư miền núi Các hệ thống rừng ngập mặn-nuôi trồng thuỷ sản cũng được phát triển mạnh mẽ ở vùng duyên hải các tỉnh miền Trung
và miền Nam Các dự án ODA cũng giới thiệu các mô hình canh tác trên đất dốc theo đường đồng mức (SALT) ở một số khu vực miền núi Theo đó, cho đến nay các mô hình nông lâm kết hợp bao gồm: các mô hình NLKH vùng đồi núi, các mô hình NLKH vùng ven biển
Trước đây, sự kết hợp NLN đã đóng góp cho nền kinh tế tự cung tự cấp Thực tế hiện nay ở nhiều vùng núi hẻo lánh ở nước ta, NLKH đang tạo ra những sản phẩm lương thực tại chỗ nhằm duy trì cuộc sống của đồng bào địa phương; Một số nơi, sản phẩm NLKH đã trở thành hàng hoá Đây là tiềm năng và cơ hội cho sự thoát nghèo của người dân Do vậy, các cấp ban ngành liên quan cần tạo điều kiện thuận lợi để nông nghiệp, nông thôn miền núi có
cơ hội phát triển và hội nhập
Trong những năm gần đây, tình hình phát triển Lâm nghiệp ở các tỉnh miền núi phía Bắc nước ta có nhiều chuyển biến tích cực Tuy nhiên, nhìn tổng thể thì quá trình phát triển vẫn còn tương đối chậm, diện tích đất trống đồi núi
Trang 18trọc, đất không được sử dụng có hiệu quả và hợp lý vẫn không ngừng đã gia tăng Trong những năm qua, các nhà khoa học cũng như các nhà quản lý có những công trình nghiên cứu và đưa ra các chính sách để phục hồi phát triển và đưa những diện tích đất trống đồi núi trọc vào sản xuất nhằm phát triển kinh tế
cũng như giải quyết vấn đề nông thôn miền núi [20]
Từ những năm 1980 đã có nhiều công trình nghiên cứu về xây dựng mô hình nông lâm kết hợp để phủ xanh đất trống đồi núi trọc
Theo Phan Xuân Đợt (1994), sử dụng đất trống đồi núi trọc theo phương thức nông lâm kết hợp nhằm phát huy hiệu quả tiềm năng lao động và tài nguyên rừng phục vụ các nhiệm vụ kinh tế xã hội, bảo vệ môi trường
Lâm Công Định (1982, 1984) đã có một số công bố trong đó trình bày
cơ sở khoa học và cơ cấu sản xuất nông lâm kết hợp, những phương pháp trong nông lâm kết hợp và giới thiệu một số mô hình nông lâm kết hợp có thể thực hiện được ở nông thôn miền núi để phủ xanh đất trống đồi trọc
Những nghiên cứu về cơ cấu cây trồng trong hệ canh tác nông lâm kết hợp đã được nhiều tác giả nghiên cứu và thử nghiệm như: Đàm Tạ Quang (1984) – nghiên cứu về cơ cấu cây trồng theo phương thức nông lâm kết hợp
ở Thanh Hoá; Phan Thanh Hội (1986) – Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp
ở bản Tẩu, Cao Bằng; Nguyễn Ngọc Bình (1990) – Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp trên một số địa bàn đất trống đồi núi trọc; Trần Đình Đại và cộng
sự (1990) - Xây dựng mô hình nông lâm kết hợp tại Sơn La; Trần Đình Lý (1996, 2000, 2003) – Nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế sinh thái trên vùng đồi tại các tỉnh Nghệ An, Quảng Trị, Quảng Bình
Theo hướng xây dựng mô hình kinh tế môi trường, Nguyễn Hải Tuất và cộng sự (1993) đã nghiên cứu xây dựng mô hình kinh tế môi trường bền vững
ở vùng thượng nguồn sông Trà Khúc Lê Trần Chấn (1994) xây dựng mô hình nông lâm kết hợp 3 tầng: tầng vượt tán là cây công nghiệp, tầng ưu thế sinh thái là Cam Bù và tầng dưới tán cây chịu bóng đa tác dụng
Trang 19Phan Anh (2004) đã xây dựng mô hình Vườn – Ao - Chuồng (VAC),
mô hình Vườn – Ao - Chuồng - Rừng (VACR) nhằm nhanh chóng phủ xanh đất trống đồi trọc ở Bản dân tộc Vân Kiều – Phú Lộc, xã Xuân Lộc, huyện Phú Phú Lộc tỉnh Thừa Thiên Huế Trên cơ sở kết quả đạt được tác giả đề xuất giải pháp phát triển vườn cây lâu năm theo hướng vườn đồi, vườn rừng, phát triển lâm nghiệp theo hướng nông nghiệp để làm vườn đồi, vườn rừng Các mô hình tương tự như hệ thống canh tác vườn - ao - chuồng (VAC) hoặc luân canh rừng, rẫy và bãi chăn thả là những mô hình kỹ thuật nông - lâm - súc kết hợp đơn giản nhưng rất hiệu quả cũng đã được thực hiện ở nhiều địa phương
VAC là mô hình lập vườn để trồng cây, đào ao để thả cá và làm chuồng để chăn nuôi Đây là hệ thống theo chu trình khép kín, các bộ phận bổ sung và hỗ trợ nhau Quy mô không lớn, nhưng lợi ích thì nhiều, phù hợp với mọi nhà, mọi nơi Luân canh rừng - rẫy - bãi chăn thả cũng là một mô hình kết hợp đơn giản Song ngoài việc lựa chọn kỹ các loài cây trồng và vật nuôi phù hợp còn
bố trí thời gian quay vòng sao cho đất dốc có điều kiện phục hồi và phải áp dụng biện pháp chăn dắt, có hàng rào cây xanh bảo vệ,
1.3 Những nghiên cứu phủ xanh đất trống đồi trọc tại tỉnh Hoà Bình
Tại Hoà Bình, công tác phủ xanh đất trống đồi núi trọc chủ yếu được thực hiện qua các chương trình do Nhà nước đầu tư: Dự án trồng rừng PAM,
Dự án trồng rừng 327, Dự án trồng mới 5 triệu ha rừng, dự án hỗ trợ phát triển rừng sản xuất giai đoạn 2007 - 2015, Dự án LNXH Sông Đà, Dự án trồng rừng theo cơ chế phát triển sạch ở huyện Cao Phong, Dự án phát triển vùng nguyên liệu cà phê tại một số xã vùng cao của huyện Lạc Sơn… Và mới đây nhất có 2 huyện Cao Phong và Đà Bắc đang triển khai dự án D&G trồng rừng nguyên liệu Keo tai tượng
Nhìn chung những nghiên cứu về phủ xanh đất trống đồi núi trọc còn rất hạn chế
Trang 201.4 Một số nhận xét chung
Từ những phân tích trên, chúng tôi có một số nhận xét như sau:
Trên thế giới những nghiên cứu phủ xanh đât trống đồi trọc chủ yếu là xây dựng mô hình nông lâm kết hợp theo hướng đa loài, nhiều tầng, nhiều sản phẩm, cải tiến các hệ canh tác nông lâm nghiệp bằng việc sử dụng các loài cây đa chức năng (trong đó chủ yếu là cây họ đậu) để tăng năng suất cây trồng và bảo vệ đất
Ở trong nước, phủ xanh đất trống đồi núi trọc là nhiệm vụ cấp thiết Điều đó được thể hiện qua các chương trình đầu tư cho trồng rừng của Nhà nước, các chương trình nghiên cứu từ cấp Nhà nước đến cấp Bộ, cấp cơ sở đã
và đang thực hiện tại các trung tâm, viện nghiên cứu khoa học
Có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến nội dung phủ xanh đất trống đồi núi trọc đã được công bố Phần lớn các công trình là những bài báo được đăng trên các tạp chí khoa học, tuyển tập các công trình nghiên cứu, kỷ yếu của các Hội thảo, báo cáo của các đề tài nghiên cứu khoa học nhưng chưa
có chuyên khảo nào về lĩnh vực này
Các nghiên cứu đã tập trung theo 3 hướng giải pháp: phủ xanh đất trống đồi trọc bằng trồng rừng, phủ xanh đất trống trọc bằng khoanh nuôi tái sinh tự nhiên, phủ xanh đất trống đồi núi trọc bằng các giải pháp NLKH Mặc
dù đã đạt được những thành tựu đáng kể trong công cuộc phủ xanh đất trống đồi trọc nhưng cho đến nay vẫn còn tồn tại một số vấn đề thời sự cần được giải quyết như sau:
- Trước hết, đó là việc định lượng, đưa ra tiêu chí xác định và đánh giá một cách chính xác về diện tích và tiềm năng đất trống đồi trọc Đây là vấn đề khó khăn nhất đối với công tác quy hoạch và thực hiện các giải pháp phủ xanh đất trống đồi trọc hiện nay ở nước ta Như trên đã trình bày, Bộ NN&PTNT đã xếp tất cả các trạng thái thực bì từ IA đến IB, IC, núi đá không
Trang 21cây, bãi cát, bãi bồi vào đất trống trọc Nghĩa là chỉ căn cứ vào hiện trạng thảm thực vật, còn đất đai - một số điều kiện quyết định sự sinh trưởng và phát triển của thực vật lại chưa được quan tâm Điều đó đã gây ra khó khăn cho các địa phương khi thực hiện giao đất giao rừng và thực hiện phủ xanh
- Cho đến nay, Bộ NN&PTNT đã ban hành 2 quy phạm: Quy phạm các giải pháp lâm sinh áp dụng cho rừng sản xuất và rừng đặc dụng (QPN 14 - 92)
và Quy phạm phục hồi rừng bằng khoanh nuôi xúc tiến tái sinh (QPN 21 - 98) Nhưng việc thực hiện các quy phạm này còn rất nhiều bất cập Trong đó chủ yếu là quy trình thực hiện như thế nào cho đúng và phù hợp với mỗi vùng, mỗi địa phương
- Những nghiên cứu đã thực hiện chủ yếu tập trung vào khâu kỹ thuật
Ví dụ: đối với các mô hình nông lâm kết hợp là tuyển chọn loài cây, thiết kế xây dựng mô hình, kỹ thuật trồng và chăm sóc cây Đối với các mô hình khoanh nuôi là các biện pháp lâm sinh (phát tỉa, trồng dặm) nhằm nâng cao năng suất và chất lượng rừng Trong khi những nghiên cứu về yêu cầu xã hội, quy trình thực hiện, quyền lợi nghĩa vụ của người dân, đầu tư về khoa học kỹ thuật, về vốn còn chưa được quan tâm thích đáng Những thiếu sót này là những nguyên nhân làm cho các mô hình ít đi vào cuộc sống và thường thất bại sau khi hết kỳ hạn của chương trình, dự án
- Các giải pháp phủ xanh cho từng đối tượng chưa rõ ràng, dẫn đến hiệu quả không cao Thực tế cho thấy có những vùng đất trống đồi trọc nếu phủ xanh bằng giải pháp nông lâm kết hợp, làm kinh tế trang trại thì sẽ cho hiệu quả cao hơn rất nhiều so với khoanh nuôi phục hồi rừng Nhưng cũng có những khu vực nếu phủ xanh bằng giải pháp làm kinh tế trang trại, vườn rừng hay nông lâm kết hợp thì sẽ thu được lợi nhuận rất cao, nhưng vì tính cấp thiết thì cần phải phủ xanh bằng phục hồi rừng Đây cũng là vấn đề tồn tại cần được giải quyết
Trang 22Tất cả những nội dung trên đã được đề cập đến trong báo cáo năm 2005 của Bộ NN&PTNT trình Chính phủ về việc thực hiện chương trình trồng mới
5 triệu ha rừng giai đoạn 1998 – 2004
- Huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình là một huyện miền núi thuộc vùng miền núi phía Tây Bắc nước ta Tuy nhiên, những nghiên cứu về phủ xanh đất trống đồi trọc còn rất ít, đặc biệt là những nghiên cứu về giải pháp và quy trình thực hiện nhiệm vụ phủ xanh đất trống đồi trọc tại địa phương
- Phần lớn diện tích đất trống đồi trọc của huyện đều phân bố ở những
xã vùng sâu, vùng xa, địa hình dốc Điều này có ảnh hưởng đến khả năng phòng hộ và bảo vệ nguồn nước cũng như phòng tránh thiên tai không chỉ cho các xã trong huyện mà còn đối với toàn tỉnh cũng như các địa phương lân cận
- Huyện Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình là cái nôi nền văn minh đất Mường Các dân tộc sống trong vùng đều có tinh thần lao động cần cù nhưng đến nay cuộc sống của những người dân vẫn còn khó khăn, tỷ lệ hộ nghèo cao trong khi tiềm năng đất đai vẫn còn khá lớn Vì vậy, nghiên cứu tìm ra giải pháp đúng để phủ xanh đất trống đồi trọc là một biện pháp tích cực góp phần cải thiện và nâng cao hiệu quả sử dụng đất, nâng cao đời sống cho người dân
Trang 23Chương 2 MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG, PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu khoa học
Nghiên cứu hiện trạng, xác định nguyên nhân, đánh giá tiềm năng và khả năng phủ xanh đất trống đồi núi trọc; thống kê và đánh giá hiệu quả của các mô hình làm cơ sở khoa học cho việc đề xuất giải pháp phủ xanh đất trống đồi trọc ở huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình
2.1.2 Mục tiêu thực tiễn
Nghiên cứu tìm ra giải pháp phủ xanh hợp lý để chống xói mòn rửa trôi, bảo vệ đất, bảo vệ môi trường, đồng thời mang lại hiệu quả kinh tế cao
góp phần cải thiện và nâng cao đời sống cho người dân địa phương
2.2 Đối tượng nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: đất trống đồi núi trọc hiện có trên địa bàn huyện
- Địa điểm nghiên cứu: huyện Lạc Sơn, tỉnh Hoà Bình
2.3 Nội dung
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đề ra, luận văn tập trung vào các nội dung nghiên cứu sau:
- Đánh giá hiện trạng thảm thực vật
- Phân loại đất trống trọc và đánh giá tiềm năng đất trống đồi trọc
- Đánh giá thực trạng của công tác phủ xanh đất trống đồi trọc
+ Tình hình giao đất giao rừng
Trang 24+ Đánh giá về đầu tư cho phủ xanh đất trống trọc (chủ trương chính sách, vốn, khoa học công nghệ )
+ Các hoạt động phủ xanh đất trống trọc khi được giao quyền sử dụng đất
- Đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình phủ xanh đất trống trọc
+ Điều tra phân loại các mô hình phủ xanh
+ Hiệu quả của các mô hình phủ xanh
- Đề xuất giải pháp phủ xanh đất trống đồi trọc
2.4 Phương pháp nghiên cứu
2.4.1 Phương pháp điều tra thu thập số liệu
Điều tra ngoài thực địa được thực hiện theo phương pháp điều tra tuyến
và ô tiêu chuẩn theo phương pháp ngẫu nhiên
Tuyến điều tra được thiết lập vuông góc hoặc song song với đường đồng mức Đã thực hiện 5 vùng nghiên cứu như sau:
- Vùng 1: đi qua các xã Miền Đồi, Tuân Đạo, Tân Lập, Mỹ Thành, Nhân Nghĩa, Quý Hoà và Văn Nghĩa
- Vùng 2: đi qua các xã Phú Lương, Phúc Tuy, Văn Sơn, Chí Đạo, Chí Thiện và Thượng Cốc
- Vùng 3: đi qua các xã Yên Nghiệp, Tân Mỹ, Vũ Lâm, Bình Chân, Bình Cảng và Ân Nghĩa
- Vùng 4: đi qua các xã Ngọc Lâu, Tự Do, Ngọc Sơn
- Vùng 5: đi qua vùng trung tâm huyện gồm các xã Liên Vũ, Vụ Bản, Hương Nhượng, Yên Phú, Định Cư, Bình Hẻm và Xuất Hoá
cứu là thảm cỏ, cây bụi và kích thước 1600m2 (40x40m) cho đối tượng nghiên cứu là rừng thứ sinh và rừng già (rừng trưởng thành) Ô tiêu chuẩn
Trang 25được bố trí dọc theo tuyến điều tra, mỗi tuyến điều tra bố trí 6 ô tiêu chuẩn
tra như sau:
- Trạng thái thảm cỏ, thảm cây bụi: 30 OTC
- Trạng thái rừng thứ sinh: 15OTC
Thu thập số liệu (chiều cao, đường kính cây, độ tàn che) trên ô tiêu chuẩn được thực hiện theo các phương pháp điều tra đang được áp dụng hiện nay
Đánh giá hiệu quả của các mô hình phủ xanh, dọc theo các tuyến điều tra tiến hành thống kê, thu thập số liệu của các mô hình phủ xanh Các mô hình đã nghiên cứu gồm:
- Mô hình nông lâm kết hợp
- Mô hình vườn rừng
- Mô hình khoanh nuôi phục hồi rừng
Số liệu thu thập trong mô hình gồm: tên mô hình, địa điểm, diện tích, thời gian xây dựng mô hình; những đặc trưng chính của mô hình như chủng loại cây trồng, phương thức trồng trọt, mức đầu tư, thu nhập; các sản phẩm của mô hình, tình hình tiêu thụ sản phẩm theo phương pháp phỏng vấn kết hợp kế thừa số liệu
Áp dụng phương pháp điều tra có sự tham gia của người dân (PRA) để thu thập số liệu về kinh tế xã hội, đánh giá hiệu quả kinh tế sinh thái của các
mô hình phủ xanh Cụ thể đã làm việc với Ban lãnh đạo của Hạt Kiểm lâm, Ban quản lý rừng phòng hộ huyện để thu thập số liệu về rừng và đất rừng, các thông tin về việc thực hiện dự án 661, số liệu giao đất giao rừng, các biện pháp kỹ thuật áp dụng trong khoanh nuôi phục hồi rừng Thực hiện phỏng vấn
và làm việc với lãnh đạo các cấp xã, thôn, cán bộ chuyên môn về lâm nghiệp, khuyến nông, khuyến lâm để tìm hiểu tình hình chăm sóc bảo vệ rừng, mức
Trang 26đầu tư và thu thu nhập từ mô hình phủ xanh đất trống đồi trọc của người dân địa phương
Kế thừa các số liệu đã có về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương, số liệu thống kê về rừng và đất rừng, các tài liệu có liên quan về hệ thực vật, các tài liệu về qui hoạch sử dụng đất (bản đồ hiện trạng sử dụng đất của huyện), các báo cáo khoa học và báo cáo tổng kết của các dự án có liên quan đến vấn đề phủ xanh đất trống đồi trọc đã và đang thực hiện tại vùng nghiên cứu
2.4.2 Phương pháp xử lý số liệu
* Phân loại thảm thực vật theo khung phân loại của Thái Văn Trừng
(2000) [23] và UNESCO (1973) [33] Sử dụng các tài liệu Danh lục thực vật
Việt Nam, tên cây rừng Việt Nam (2000) và cây cỏ Việt Nam để chỉnh lý tên
* Phân loại và đánh giá tiềm năng đất trống đồi trọc theo phương pháp của Trần Đình Lý (2003) Theo phương pháp này, đất trống đồi núi trọc ở nước ta có thể phân chia thành 3 nhóm:
+ Nhóm loại I: gồm những diện tích do rừng bị khai thác kiệt hoặc do
bị đốt, chặt phá rừng để trồng cây nông nghiệp sau 2 – 3 vụ (đôi khi hơn ) rồi
bỏ hoá
+ Nhóm loại II: là các loại đất trống đồi trọc được hình thành do rừng
bị chặt, đốt để lấy đất trồng cây nông nghiệp ngắn ngày lặp đi lặp lại nhưng không có biện pháp bảo vệ để giữ gìn độ phì của đất, làm cho đất bị xói mòn rửa trôi thoái hoá mạnh
+ Nhóm loại III: gồm các bãi cát ven biển và nội đồng, các loại núi trọc trơ sỏi đá mà lớp đất mặt còn rất mỏng hoặc đất phát sinh chưa hoàn chỉnh
Trang 27* Hiệu quả kinh tế của các mô hình: tính toán bằng phần mềm Excel thông dụng trên máy tính với các chỉ tiêu và 2 phương pháp tính sau:
- Phương pháp tĩnh:
Coi các yếu tố chi phí và kết quả là độc lập tương đối, không chịu tác động của nhân tố thời gian, mục tiêu đầu tư và biến động của giá trị đồng tiền Công thức tính như sau:
Trong đó: P: là tổng lợi nhuận trong 1 năm
TN: là tổng thu thập trong 1 năm
CP: là tổng chi phí sản xuất kinh doanh trong 1 năm
- Phương pháp động:
Coi các yếu tố về chi phí và thu nhập trong mối quan hệ động với mục tiêu đầu tư, thời gian và giá trị đồng tiền Các chỉ tiêu kinh tế được tập hợp và tính toán bằng các hàm: NPV, BCR, BPV, CPV, IRR, trong phần mềm xử lý số liệu Excel 7.0
Các tiêu chuẩn:
+ Giá trị hiện tại thuần NPV (Net Present Value): NPV là hiệu số giữa giá
trị thu nhập và chi phí thực hiện các hoạt động sản xuất trong các mô hình khi
đã tính chiết khấu để quy về thời điểm hiện tại
n 0
t t
t t
)i1(
CB
(3) Trong đó:
NPV: Là giá trị hiện tại thu nhập ròng (đồng)
Trang 28Bt: Là giá trị thu nhập ở 1 năm t (đồng)
Ct: Là giá trị chi phí ở năm t (đồng)
i: Là tỷ lệ chiết khấu hay lãi suất (%)
t: Là thời gian thực hiện các hoạt động sản xuất (năm)
NPV dùng để đánh giá hiệu quả kinh tế của các mô hình kinh tế hay các phương thức canh tác NPV càng lớn thì hiệu quả càng cao
- Tỷ lệ thu nhập so với chi phí BCR (Benefit to Cost Ration): Là hệ số sinh lãi thực tế, phản ánh chất lượng đầu tư và cho biết mức thu nhập trên một đơn vị chi phí sản xuất
BCR =
CPVBPV
)i1(C
)i1(B
n 1
i t
t
n 1
Trong đó: BCR là tỷ suất thu nhập và chi phí (đồng/đồng)
BPV là giá trị hiện tại của thu nhập (đồng) CPV là giá trị hiện tại của chi phí (đồng) Nếu mô hình nào hoặc phương thức canh tác nào có BCR > 1 thì có hiệu quả kinh tế BCR càng lớn thì hiệu quả kinh tế càng cao Ngược lại BCR < 1 thì kinh doanh không có hiệu quả
- Tỷ lệ thu hồi nội bộ IRR (Internal Rate of Return): IRR là chỉ tiêu đánh giá
khả năng thu hồi vốn đầu tư có kể đến yếu tố thời gian thông qua tính chiết khấu IRR chính là tỷ lệ chiết khấu khi tỷ lệ này làm cho NPV = 0, tức là khi:
n 0
t t
t t
)i1(
CB
= 0 thì i = IRR (5) IRR càng lớn thì hoạt động sản xuất càng hiệu quả
* Đề xuất giải pháp phủ xanh đất trống trọc: Trên cơ sở số liệu điều tra thực địa, các bài học kinh nghiệm từ mô hình thực tế, kết hợp tham khảo tài liệu, các chủ trương chính sách, các văn bản pháp lý hiện hành, các quy trình
Trang 29hiện có đang áp dụng trong ngành nông lâm nghiệp hiện nay để đề xuất giải pháp về kỹ thuật, chế độ chính sách và vốn cho phủ xanh đất trống đồi trọc
Trang 30Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN, KINH TẾ - XÃ HỘI KHU VỰC
NGHIÊN CỨU 3.1 Điều kiện tự nhiên
3.1.1 Vị trí địa lý
Huyện Lạc Sơn nằm ở phía nam của tỉnh Hòa Bình, tổng diện tích tự
Kim Bôi và Cao Phong, phía Đông giáp huyện Yên Thủy, phía Tây giáp huyện Tân Lạc, phía Nam giáp huyện Thạch Thành (Thanh Hoá)
3.1.2 Khí hậu, thuỷ văn
- Nhiệt độ trung bình 230C, mùa hè ngày nóng lên tới 36 0C - 40 0C,
- Độ ẩm không khí trung bình 84%,, cao nhất 100%, thấp nhất 24%
- Số giờ nắng trung bình mùa hè 6 – 7 giờ, mùa đông 3 – 4 giờ/ngày
Trang 31- Gió thịnh hành theo 2 hướng Đông Nam và Đông Bắc Mùa hè có gió Đông Nam là chủ yếu; gió Lào xuất hiện không thường xuyên, thổi thành từng đợt, mỗi đợt từ 3 – 5 ngày, một năm có 5 – 7 đợt, gây ảnh hưởng đến sức khỏe con người, cây trồng và gia súc Mùa đông có gió Bắc và Đông Bắc xuất hiện thành từng đợt, mỗi đợt 3 – 5 ngày, gây rét đậm; sương muối thường xuất hiện vào tháng 12 và tháng 1 năm sau gây ảnh hưởng tới cây trồng vật nuôi
3.1.2.2 Thủy văn
Sông Bưởi là sông lớn nhất của huyện Lạc Sơn Đây là thượng lưu của sông Con và là chi lưu của sông Mã Sông Bưởi được hình thành từ 3 nhánh chính:
- Nhánh suối Cái bắt nguồn từ huyện Tân Lạc, dài gần 50 km
- Nhánh suối Bìn, bắt nguồn từ huyện Tân Lạc dài gần 40 km
- Suối Yên Điềm do hai nhánh nhỏ tạo nên (Cộng Hòa – Yên Điềm) dài
Địa hình của huyện dốc theo 2 hướng: Tây Bắc – Đông Nam và Bắc – Nam, chia thành 2 vùng lớn:
- Vùng cao: gồm các xã Tự Do, Ngọc Lâu, Ngọc Sơn, Miền Đồi
- Vùng thấp: gồm 24 xã và thị trấn Vụ Bản, các xã và thị trấn nằm ven các sông suối lớn: sông Bưởi, suối Cái, suối Bìn, suối Yên Điềm
Trang 32- Nhóm đất Feralit màu nâu sẫm, tầng đất dày ≥ 80 cm phát triển trên
đá vôi và biến chất, phân bố chủ yếu ở vùng đồi núi có độ cao từ 600 m trở lên
- Nhóm đất Feralit biến đổi do trồng lúa nước
3.2 Tình hình kinh tế, xã hội
Lạc Sơn có 29 đơn vị hành chính, gồm 28 xã và 01 thị trấn trong đó có
04 xã vùng cao, 02 xã vùng sâu vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn thuộc diện
xã vùng 135
3.2.1 Dân số, dân tộc, lao động
Dân số 135.246 người (theo số liệu thống kê năm 2007) chiếm 18,4% dân số của toàn tỉnh với 90.37 % dân tộc Mường, 9,49 % dân tộc Kinh, còn lại là dân tộc khác Mật độ dân số trung bình 223,5 người / km2, là huyện đông dân thứ 2 sau thành phố Hoà Bình
Nhân dân các dân tộc huyện Lạc Sơn có truyền thống cần cù lao động, lực lượng lao động rất dồi dào Số lượng người trong độ tuổi đang trực tiếp lao động sản xuất gần 80.000 người, trong đó số người có trình độ chuyên môn kỹ thuật, được đào tạo nghề cũng dần được tăng lên Tuy nhiên phần lớn
là lao động phổ thông, lao động chưa qua đào tạo nên chưa đáp ứng so với yêu cầu, cán bộ quản lý lao động và lao động kỹ thuật còn thiếu trầm trọng
- Cơ cấu kinh tế chủ yếu là Nông - lâm nghiệp chiếm 60,2%, Công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp 14,4 %, thương nghiệp dịch vụ 25,4 %
Trang 33- Nông nghiệp với giá trị sản xuất tăng bình quân 5% / năm; sản lượng lúa đạt 43.000 tấn đạt bình quân đầu người 317,94 kg/người/năm; sản lượng ngô đạt 15.000 tấn; sản lượng sắn đạt 402.500 tấn; sản lượng mía 450 tấn
3.2.2 Cơ sở hạ tầng, đường giao thông
Toàn huyện có 11 tuyến đường liên xã, tổng chiều dài 151 km, đến nay
đã và đang được đầu tư 28km rải nhựa, số còn lại chưa có vốn để đầu tư vì vậy ở những xóm vùng sâu vùng xa, vùng cao đi lại vẫn còn khó khăn, đặc biệt là vào mùa mưa
3.2.3.Giáo dục
Là huyện miền núi nên Lạc Sơn cũng được nhận nhiều đầu tư và hưởng các chính sách phát triển giáo dục Công tác giáo dực thường xuyên được chăm lo, chất lượng giáo dục đã được quan tâm đầu tư có chiều sâu, hệ thống giáo dục được nâng lên Năm 2007-2008 toàn huyện có 86 trường học thuộc các bậc học, tổng số học sinh 33.224 em, bình quân cứ 4 người dân có 01 người đi học Cơ sở vật chất trường lớp, trang thiết bị đồ dùng dạy học đã được trang bị cơ bản, phần lớn các nhà trường được đầu tư xây dựng theo chương trình kiên cố hoá trường lớp Tuy nhiên, cơ sở vật chất trường lớp còn khó khăn, các phòng chức năng, nơi làm việc cho giáo viên còn thiếu thốn, nhiều trường cơ sở vật chất xuống cấp chưa được đầu tư xây dựng
3.3 Nhận xét và đánh giá chung
3.3.1 Thuận lợi
- Lạc Sơn có vị trí địa lý khá thuận lợi cho phát triển sản xuất hàng hoá
- Lực lượng lao động khá dồi dào, người dân có truyền thống sản xuất nông lâm nghiệp và quan tâm, gắn bó với rừng
- Có tiềm năng lớn về lâm nghiệp, chất lượng đất tốt, khí hậu và thổ nhưỡng của huyện Lạc Sơn thích hợp cho sự phát triển của nhiều loại cây trồng
Trang 34- Diện tích ĐTĐNT lớn vẫn còn tiềm năng sản xuất lớn, là một thách thức vừa là lợi thế để phát triển rừng sản xuất
tự nhiên hiện có khó bảo tồn nguyên vẹn
- Do điều kiện địa hình đồi núi chia cắt, độ dốc lớn, đất đai dễ bị thoái hóa bạc màu nếu không có biện pháp bảo vệ trong quá trình sản xuất
- Là vùng miền núi chủ yếu có dân tộc Mường sinh sống Cơ cấu kinh
tế chủ yếu là nông – lâm nghiệp, yếu tố thị trường còn chưa phát triển do cơ
sở hạ tầng còn thiếu thốn, đường giao thông đi lại còn nhiều khó khăn đặc biệt ở các xã vùng cao; chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển sản xuất và đời sống xã hội
- Vốn phục vụ phát triển kinh tế còn thiều thốn, tập quán canh tác manh mún và lạc hậu nên sản xuất còn nhỏ lẻ mang tính tự cung tự cấp
Nhìn chung, nền kinh tế của huyện Lạc Sơn còn chậm phát triển, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện nhưng vẫn còn nhiều khó khăn
Trang 35Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Hiện trạng thảm thực vật
4.1.1 Hệ thực vật
Nghiên cứu tính đa dạng của hệ thực vật là hết sức cần thiết, đặc biệt với các nội dung nghiên cứu về phủ xanh đất trống đồi núi trọc Tuy nhiên, do điều kiện thời gian, hơn nữa mới gần đây, năm 2007 tỉnh Hòa Bình đã cho thực hiện dự án điều tra thực vật Khu Bảo tồn thiên nhiên Ngọc Sơn – Ngổ Luông Kết quả đã đưa ra một danh lục khá chi tiết với 667 loài thực vật có mạch Trên cơ sở kế thừa danh lục thực vật đã có, chúng tôi bổ sung và cập nhật những thông tin cần thiết nhằm phục vụ cho việc đánh giá tiềm năng đất trống đồi trọc và xây dựng giải pháp phủ xanh hợp lý
Sau khi cập nhật những thông tin thu thập được, tổng hợp số liệu, kết quả cho thấy hệ thực vật vùng nghiên cứu khá đa dạng và phong phú, với 667 loài thực vật có mạch thuộc 373 chi của 140 họ, trong đó:
- Ngành Khuyết lá thông có 1 họ, 1 chi, 1 loài
- Ngành Thông đất có 2 họ, 3 chi, 9 loài
- Ngành Dương xỉ có 17 họ, 24 chi, 54 loài
- Ngành Hạt trần có 3 họ, 3 chi, 3 loài
+ Lớp 2 lá mầm có 98 họ, 289 chi, 502 loài
+ Lớp 1 lá mầm có 19 họ, 53 chi, 98 loài
Trang 36Trong hệ thực vật họ có nhiều chi nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
có 23 chi, họ Cà phê (Rubiaceae)- 13 chi, họ Hòa thảo (Poaceae) - 13 chi, họ
Re (Lauraceae)- 10 chi, họ Dâu tằm (Moraceae)- 6 chi, họ Cau (Areaceae)- 7 chi, họ Lan (Orchidaceae)- 7 chi, họ Trôm (Sterculiaceae)- 6 chi, họ Tếch (Verbenaceae) - 6 chi, họ Cam (Rutaceae)- 6 chi, họ Trinh nữ (Mimosaceae)-
4 chi, họ Vang (Caesalpiniaceae) - 6 chi
Có những họ chỉ có 1 chi như họ Bách bộ (Stemonaceae), họ Râu hùm (Taccaceae), họ Trầm (Thymelaceae), họ Cơm vàng (Proteaceae), họ Mã đề (Plantaginaceae), họ Dứa dại (Pandanceae), họ Tô hạp (Altingiaceae)
Những họ có nhiều loài nhất là họ Thầu dầu (Euphorbiaceae) có 38 loài, họ Dâu tằm (Moraceae) có 27 loài, họ Re (Lauraceae)- 25 loài, họ Cà phê (Rubiaceae)- 22 loài, họ Cau (Areaceae)- 11 loài, họ Lan (Orchidaceae)-
14 loài
Hệ thực vật ở huyện Lạc Sơn tỉnh Hoà Bình khá nghèo về các loài cây hạt trần Ở đây mới chỉ thống kê được 3 loài thuộc 3 chi, 3 họ Trong đó có họ Tuế (Cycadaceae), họ Dây gắm (Gnetaceae), họ Kim giao (Podocarpaceae) Đối với họ Lan (Orchidaceae) mới thống kê được 14 loài
Lạc Sơn nằm trong vùng Tây bắc, một trong vùng 9 vùng địa lý sinh học có tính đa dạng cao về thực vật, đặc biệt là quần xã thực vật trên núi đá vôi Trong số 667 loài thực vật đã được ghi nhận có nhiều loài thực vật quý hiếm và đặc hữu, có 28 loài được ghi trong Sách đỏ Việt Nam năm 2007, 7 loài ghi trong Nghị định 32/2006, 10 loài ghi trong danh mục đỏ của IUCN
2008 và 14 loài thực vật đặc hữu của Việt Nam Đặc biệt, ở đây hiện còn
nhiều quần thể Nghiến (Excentrodendron tonkinense), một kiểu thảm thực vật
đặc trưng trên núi đá vôi ở Việt Nam Các quần thể Nghiến khá lớn và tập trung trong khu vực Khu bảo tồn Ngọc Sơn - Ngổ Luông Cây Mun
Trang 37(Diospyros mun) một loại thực vật được liệt vào loài cực kỳ nguy cấp bởi
IUCN cũng được tìm thấy ở KBT
Đa số các loài đều có sự phân bố rộng và có thể gặp tại nhiều vùng trong khu vực nghiên cứu cũng như ở các vùng trong cả nước Đó là các loài thuộc các họ Thầu dầu (Euphorbiaceae), họ Dâu tằm (Moraceae), họ Cà phê (Rubiaceae) Nhưng cũng có những loài chỉ thấy trong phạm vi hẹp với số
lượng ít cần được bảo vệ như Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai lý (Garcinia fagraeoides)
Về hiện trạng, kết quả điều tra cho thấy:
- Các loài ưu thế trong các trạng thái rừng nguyên sinh khi bị khai thác
thì khả năng tái sinh tự nhiên là rất kém như Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Sâng (Pometia pinnata)
- Trong hệ thực vật có nhiều thành phần là cây gỗ tiên phong ưa sáng
có khả năng tái sinh tự nhiên tốt như: Hu đay (Trema angustifolia), Ba soi (Macranga denticulata), Bồ đề (Styrax tonkinensis), Hu nâu (Mallotus paniculatus), Dẻ gai (Castanopsis sp.), Chẹo (Engelhardtia roburghiana, E spicata), Vối thuốc (Schima wallichii), Ràng ràng (Ormosia sp.), Re (phoebe sp.), Ngát (Gironiera subaequalis), Thành ngạnh (Cratoxylon polyanthum), Hoắc quang (Wendlandia paniculata), Sơn rừng (Rhus rhetsoides)…
- Các loài cây bụi, cây cỏ chịu hạn đang có xu hướng lan tràn và chiếm
ưu thế trên các vùng đất trống trọc làm cản trở quá trình tái sinh và phục hồi
tự nhiên của thảm thực vật rừng
Trang 384.1.2 Thảm thực vật
Theo hệ thống phân loại thảm thực vật của Thái Văn Trừng (2000), thảm thực vật Lạc Sơn – Hòa Bình được phân chia thành 2 đai độ cao với các kiểu rừng như sau:
4.1.2.1 Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới
Kiểu này phân bố trên núi đất ở độ cao dưới 700m Đây là kiểu rừng rất
đa dạng, phong phú và giàu có cả về thành phần và trữ lượng Tuy nhiên, cho đến nay rừng đã bị phá hủy hoàn toàn, thay thế vào đó là các trạng thứ sinh nhân tác đang phục hồi ở các mức độ khác nhau từ thảm cỏ, cây bụi đến rừng thứ sinh (xem mục 4.1.2.4)
4.1.2.2 Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi ở độ cao dưới 700m
Kiểu này phân bố ở xã Ngổ Luông và Ngọc Sơn trên độ cao 500 - 700
m Rừng ít bị tác động nên những tính chất nguyên sinh vẫn còn được lưu giữ Rừng có cấu trúc gồm 5 tầng, trong đó có 3 tầng cây gỗ
Tầng A1 (tầng vượt tán): gồm những cây gỗ cao 30 – 35m, có khi đến 50m có tán không đồng đều tạo thành tầng nhô với độ tàn che 0,3-0,4 Trong
40-tầng này thường gặp các loài Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Sâng (Pometia pinnata), Cà lồ (Caryodaphonopsis tonkinensis), Sung rừng (Ficus sp.), Chò nhai (Anogeissus acuminata)
Tầng A2 (tầng tán rừng): gồm những cây gỗ lá rộng cao 20 – 25 m có
tán khép kín tạo thành tầng tán rừng Thành phần loài khá đa dạng, ngoài các
loài ở tầng trên (tầng A1), thường gặp Mọ (Deutzianthus tonkinensis), Xoan nhừ (Choerospondias axillaris), Lòng mang (Pterospermum heterophyllum,
P truncatolobatum), Kháo (Beilschmiedia sp.), Nhãn rừng (Dimocarpus
Trang 39fumatus), Cui rừng (Heritiera macrophylla), Sảng nhung (Sterculia lanceolata), Nhội (Bischofia javanica), Thị rừng (Diospyros sp.), Vạng trứng (Endospermum chinense), Vàng anh (Saraca dives) Đặc biệt ở tầng này có xuất hiện Kim giao (Nageia fleuryi), một loài cây hạt trần thường mọc trên
các sườn núi và đỉnh núi đá vôi ở miền Bắc Việt Nam
Tầng A3 (tầng dưới tán): cao 8 - 15 m gồm những loài chịu bóng và cây con của các loài gỗ lớn tầng trên Những loài thường gặp là: Vàng anh
(Saraca dives), Ruối (Streblus spp.), Thị rừng (Diospyros sp.), Trâm trắng (Syzygium wightianum), Nanh chuột (Cryptocarya lenticellata), Đỏm (Bridelia balansae) Ôrô (Tacxotrophis macrophylla), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), các loài thuộc họ Na (Annonaceae), họ Dẻ (Fagaceae), họ Re
(Lauraceae), họ Đậu (Fabaceae), họ Chè (Theaceae), họ Thầu dầu (Euphorbiaceae)
Tầng cây bụi cây bụi cao 3-4 m gồm chủ yếu các loài Trọng đũa
(Ardiasia quinquegona), Xẻn gai (Zanthoxylum aviceniae), Dóng xanh (Justicia vetricosa), Nóng (Saurauia napaulensis), Đu đủ rừng (Trevesia sphaerocarpa), Mua (Medinilla assamica, Medinilla bauchei), Ô rô (Streblus ilicifolia), Xương cá (Canthium diccocum), Lấu (Psychotria balansae, Psychotria montanai), Móc câu đằng (Uncaria macrophylla), Bố dại (Corchorus aestuans), Gai (Boehmeria nivea), Han tím (Dendrocnide stimulans), Han trâu (Dendrocide urentissima ), Bọ mắn (Pouzolzia zeylanica), Dứa dại (Pandanus sp.), Trôm (Sterculia sp.)
Tầng thảm tươi: thảm tươi có độ dày rậm Cop1 - Cop2, gồm chủ yếu các loài thuộc họ Ráy (Araceae), họ Gừng (Zigiberaceae), họ Cói (Cyperaceae) và các loài dương xỉ
Trang 40Thực vật ngoại tầng: Các loài biểu sinh và bán biểu sinh gồm có: Lân
tơ uyn (Rhaphidophora decursiva), Ráy leo đá vôi (Rhaphidophora Tonkinensis), Chân rết (Pothos spp.); một số loài phong lan như Phi điệp (Dendrobium nobile), Quế lan hương (Aerides odorata), Hoàng lan (Cymbidium iridioides); dương xỉ gồm có Tổ điểu (Asplendium spp.), Tóc
thần (Adiantum spp.), Tắc kè đá (Drynaria bonii) Dây leo khá khá phát
triển, các loài thường gặp gồm: Dây gắm (Gnetum latifolium), Lãnh công (Fissistigma sp.), Dây dất (Fissistigma latifolium), Dây giom (Melodilus annamensis), Dây cáp (Capparis tonkinensis), Sống rắn (Acacia pennata), Trắc leo (Dalbergia stipulacea), Dây mật (Derris marginata), Dây cóc (Derris tonkinensis ), Móc mèo (Mucuna pruiriens), Trôm leo (Byttneria aspera ), các loài thuộc chi Bauhinia, Caesalpinia, Duối leo (Trophis scandens)…
4.1.2.3 Rừng kín thường xanh trên núi đá vôi ở độ cao trên 700m
Kiểu này hiện còn ở những vùng sâu, vùng xa khó tiếp cận để khai thác
ở xã Ngọc Sơn và xã Tự Do Rừng có cấu trúc gồm 4 tầng, trong đó có 2 tầng cây gỗ, tầng cây bụi và tầng thảm tươi Đôi khi có một số cây có tán vươn cao vượt lên tạo nên tầng nhô nhưng không phổ biến Nhìn chung, trên độ cao này cấu trúc rừng gồm có các tầng như sau:
Tầng 1 (tầng tán rừng): gồm những cây gỗ lớn có chiều cao 20-30 m, đường kính 40-50cm có tán liên tục tạo thành tầng tán rừng với độ tàn che
0,7-0,9 Thành phần loài ưu thế gồm: Nghiến (Excentrodendron tonkinense), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Sâng (Pometia pinnata), Cà lồ (Caryodaphonopsis tonkinensis), Kháo (Beilschmiedia sp.), Nhãn rừng (Dimocarpus fumatus),