Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực tiễn trên, đề tài: "Nghiên cứu giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng tại xã Tân Sơn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia
Trang 1-bùi thị tuyết
Nghiên cứu giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học
có sự tham gia của cộng đồng tại xã Tân Sơn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò,
huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà Tây - 2007
Trang 2-bùi thị tuyết
Nghiên cứu giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng tại xã Tân Sơn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình
Chuyên ngành lâm học Mã số: 60.62.60
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Người hướng dẫn khoa học
TS Đặng tùng hoa PGS.TS Vương Văn quỳnh
Hà Tây - 2007
Trang 3Mở đầu
"Không khí mà chúng ta thở, thức ăn mà chúng ta ăn, mỗi giọt nước màchúng ta uống đều có từ Đa dang sinh học" (Global Marine BiologicalDiversity, 1993) Đa dạng sinh học (ĐDSH) là cơ sở của sự sống, sự thịnhvượng và bền vững của loài người cũng như trái đất nói chung Do vậy, ĐDSH
và vấn đề bảo tồn ĐDSH là một nhiệm vụ chiến lược trong thời đại ngày naytrên phạm vi toàn thế giới Nó không chỉ có ý nghĩa khoa học mà còn có ýnghĩa sống còn cho phát triển của xã hội loài người trên hành tinh chúng ta
Việt Nam được xem là một trong những nước thuộc vùng Đông Nam ágiàu về ĐDSH Việt Nam do sự khác biệt về khí hậu từ vùng xích đạo tới giápcận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng của địa hình đã tạo nên sự đa dạng về thiênnhiên và cũng do đó mà Việt Nam có tính ĐDSH cao Nơi có nguồn động vậtphong phú và có thể coi là một kho tàng sinh học vô giá của nhân loại Nguồntài nguyên sinh vật chủ yếu là sự sống và tồn tại trong rừng, vì vậy nó có thểcoi là cái nôi lưu giữ tính ĐDSH của quốc gia Rừng là nơi cung cấp chochúng ta toàn bộ thức ăn, phần lớn các nguyên vật liệu di truyền cần thiết chonông nghiệp, dược liệu Rõ ràng, chúng ta không thể phủ nhận giá trị to lớncủa ĐDSH đối với cuộc sống loài người Tuy nhiên, con người đã và đang khaithác nguồn tài nguyên một cách quá mức dẫn tới suy thoái các hệ sinh thái,làm nghèo kiệt nguồn ĐDSH Theo Maurand thì rừng tự nhiên Việt Nam năm
1945 có 14,3 triệu ha với độ che phủ tương ứng 43%, nhưng đến năm 1995nước ta chỉ còn 9,3 triệu ha và độ che phủ tương ứng của rừng là 28% Theobáo cáo của WWF Việt Nam năm 2000 đã cảnh báo tốc độ suy thoái ĐDSHnước ta nhanh hơn rất nhiều so với một số quốc gia trong khu vực Đứng trướcnguy cơ suy giảm ĐDSH của quốc gia Đảng và Nhà nước ta không ngừngquan tâm mà còn chi phí rất nhiều sức lực và tiền của cho công tác bảo tồn.Bảo tồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam đã được chủ tịch Hồ Chí Minhkhởi xướng và phát động chiến dịch trồng cây này từ năm 1959 Đến nay đãnhiều văn bản pháp quy được ban hành: Pháp lệnh bảo vệ rừng (1972); Luậtbảo vệ và phát triển rừng (1991); Luật bảo vệ môi trường (1994); Kế hoạchquốc gia về môi trường và phát triển lâu bền (1991 - 2000); Kế hoạch hành
động ĐDSH ở Việt Nam (1995); Chương trình nâng cao nhận thức ĐDSH
Trang 4(2001- 2010); Dự thảo về luật ĐDSH (2007) nhằm nâng cao nhận thức chotoàn dân, toàn xã hội ĐDSH và nhiều nghị định khác.
Việt Nam đã ký nhiều công ước quốc tế: Công ước ĐDSH (1993) đánhdấu một cam kết lịch sử giữa các quốc gia trên thế giới để bảo tồn ĐDSH, sửdụng hợp lý tài nguyên sinh vật và chia sẻ công bằng lợi ích sử dụng cácnguồn gen; Công ước CITES (1994); Công ước Ramsar (1998) Đồng thời
được sự hỗ trợ của nhiều tổ chức quốc tế như UNDP, IUCN, GEF, WWF đãkhông ngừng quan tâm mà còn hỗ trợ cả về kỹ thuật lẫn tài chính cho công tácbảo tồn ĐDSH ở Việt Nam
Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được thì công tác bảo tồn vẫncòn những tồn tại Tài nguyên rừng vẫn không ngừng suy giảm trong nhữngnăm qua, nhiều vườn quốc gia và KBTTN không còn giá trị để bảo tồn Vấn
đề đặt ra làm như thế nào để công tác bảo tồn ĐDSH đạt hiệu qủa nhất mà vẫnthoả mãn nhu cầu của người dân sống ở vùng đệm Một phương thức bảo tồnhiện nay là tham gia hợp tác quản lý giữa cộng đồng địa phương với Ban quản
lý khu bảo tồn thiên nhiên, khác với phương pháp bảo tồn truyền thống,phương pháp này đặt con người ở vị trí trung tâm và công nhận con người đãtạo ảnh hưởng quan trọng đến tài nguyên Xuất phát từ yêu cầu lý luận và thực
tiễn trên, đề tài: "Nghiên cứu giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học có sự
tham gia của cộng đồng tại xã Tân Sơn thuộc khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò, huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình" được thực hiện.
Bảo tồn ĐDSH có sự tham gia là cách tiếp cận mới đã được một số nướctrên thế giới áp dụng có kết quả Các giải pháp được thực hiện trên mối quan
hệ giữa các hệ sinh thái tự nhiên và hệ xã hội
Trang 5Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu và cơ sở lý luận 1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
1.1.1 Tổng quan vấn đề nghiên cứu trên thế giới
Trong hơn ba thập kỷ vừa qua, nhiệm vụ bảo tồn ĐDSH, bảo tồn cácnguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường đã trở thành mối quan tâm đặc biệt củacộng đồng thế giới Điều đó được thể hiện trong tuyên bố của Hội nghị Môi trường
đầu tiên tại Stockhoml năm 1972 và sau đó với sự đồng tình nhất trí cao của cácnguyên thủ quốc gia tại Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hợp quốc về Môi trường
và phát triển tại Rio de Janiero vào tháng 6 năm 1992 và sự ra đời của công ước
ĐDSH năm 1993
* Công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học
Theo Thái Văn Trừng về phân loại và nghiên cứu thực vật nông, lâmnghiệp, từ trước đến nay, có những công trình nghiên cứu về thực vật Đông Dươngnhư: H Lecomte - Thực vật Đông Dương (1905-1952: 8 quyển); H.Guibier -Rừng Đông Dương (quyển những cây gỗ Đông dương 1926); P.Maurand -Lâm Nghiệp Đông Dương (1943); H.Humbert-1938-1950, Supplement a laflore générale de L’indochine, Paris [33]
Nhìn chung vẫn cần có một công trình tổng hợp đi sâu hơn về mặt sinh tháihọc, để tìm hiểu quá trình phát sinh và phát triển của các quần thể thực vật, dướitác động của những nhóm nhân tố sinh thái, nhằm làm cơ sở xây dựng bảo tồn
ĐDSH vùng
Để phát triển kinh tế con người vô tình đã huỷ hoại nguồn tài nguyên thiênnhiên vô giá của chính mình Những cố gắng khắc phục hậu quả đó, trong nhữngnăm gần đây đã xây dựng được 1.500 vườn thực vật thế giới hiện lưu giữ ít nhất35.000 loài thực vật (15% số loài thực vật hiện có) Riêng vườn Thực vật Hoànggia Anh Kew hiện có 25.000 loài ( chiếm 10% của thế giới) Một sưu tập cây ởCalifornia có tới 72 trong số 110 loài Thông được biết [23]
Bên cạnh các công trình nghiên cứu về thực vật cũng còn rất nhiều côngtrình nghiên cứu về động vật được biết đến như:
Trang 6 George Finlayson, 1928 Bước đầu đưa ra những nhận xét về mộ số loài thúgặp ở Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia.
Brousmiche, 1887 đã giới thiệu ngắn gọn về một số loài thú ở Bắc Bộ, chủyếu là các loài có giá trị kinh tế, dược liệu và khu phân bố của chúng
Vào những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 việc nghiên cứu thú ở nước ta
có nhiều tiến triển Năm 1904, De poussargues đã thống kê được 200 loàithú và loài phụ thú ở Việt Nam, Lào, Căm Pu Chia, Thái Lan Riêng ở ViệtNam phát hiện 117 loài và phụ loài
Boutan, 1906 cho xuất bản cuốn sách “Mười năm nghiên cứu động vật ĐôngDương” ông đã đưa khái quát chung về phân loại thú và một số dẫn liệu vềhình thái, đặc điểm sinh học và phân bố về địa lý của 10 loài thú đặc biệt
Dollman, Thomas, 1960 đã công bố một số kết quả nghiên cứu mô tả cácdạng thú mới gặp lần đầu tiên ở nước ta Các nghiên cứu này chủ yếu phục
vụ nghiên cứu hệ động vật
Vanpeneen, 1969 trong tài liệu “Preliminary identification for mammals ofSouth Việt Nam” Ông mô tả sơ bộ 217 loài và phụ loài thú có ở Miền NamViệt Nam và ghi nhận khái quát về phân bố chung của chúng
Nhờ các cuộc khảo sát mà các loài mới đang dần được phát hiện, địnhdanh, kể cả các loài động vật hoặc thú lớn Năm 1998 phát hiện ra loài Vượncáo mới (Propithecus tattersalli) ở Mađagaxca; một loài khỉ có tên là Cercopithecus solatus ở Gabon; một loài Hoẵng mới vùng núi phía Tây Trung
Quốc Năm 1990 phát hiện ra một loài Linh trưởng mới trên đảo nhỏ ởSuperapui, cách thành phố Sao Paulo (Braxin) 65 km Trong một số năm gần
đây Việt Nam cũng đã phát hiện ra 3 loài thú lớn đó là Sao La (Pseudoryx nghetinhensis) vào năm 1992, Mang lớn (Muntiacus vuquangensis) vào năm
1994, Mang Trường Sơn ( Muntiacus truongsonensis) [23].
Những năm gần đây được sự quan tâm của chính phủ, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn, sự tài trợ về tài chính cũng như kỹ thuật, đã có nhiềunhà khoa học, các chuyên gia về động vật thuộc các tổ chức UNDP, WWF,FFI, hợp tác với các nhà khoa học Việt Nam đã xây dựng nhiều chương trình
dự án nhằm nghiên cứu bảo tồn các loài động vật hoang dã ở các khu vực
Trang 7* Công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng
Sheppherd G (1986) cho rằng cộng đồng dân cư sống trong và gần cácKBTTN, giải pháp hữu hiệu là cho phép người dân địa phương củng cố quyềnlợi của họ theo cách hiểu của các hệ quản lý nông nghiệp hiện đại, bằng cáchtrồng cây, cho và nhận đất [30]
Gilmour D.A và Nguyễn Văn Sản, (1991) kết luận nguyên nhân dẫn
đến tính kém hiệu quả của các chương trình, dự án tài nguyên thiên nhiên(TNTN) là chưa giải quyết tốt mối quan hệ lợi ích giữa các cá nhân trong cộng
đồng, giữa lợi ích cộng đồng địa phương với lợi ích quốc gia Vì vậy, chưaphát huy được năng lực nội sinh của các cộng đồng cho quản lý tài nguyên[14]
Berkmuller và cộng sự, (1992) chỉ ra rằng không nâng cao nhận thứctrong nhóm mục tiêu về các giá trị sinh thái và giá trị vô hình của khu bảo tồnthiên nhiên (KBTTN) thì rừng sẽ tiếp tục bị xem như là một tài nguyên có thểkhai thác [40]
Theo kết quả nghiên cứu của Poffenberger, M và McGean, B (1993),tại vườn quốc gia Dong Yai nằm ở Đông Bắc và khu phòng hộ Nam Sa ở phíaBắc Thái Lan, đã chứng minh được khả năng của người dân trong việc tổ chứccác hoạt động bảo tồn, đồng thời phối hợp với Cục Lâm nghiệp Hoàng gia xâydựng hệ thống quản lý rừng nhằm đảm bảo ổn định về môi trường sinh thái,
đồng thời phục vụ lợi ích của người dân trong khu vực [51]
Sherry, E.E (1999) chứng minh liên minh giữa chính quyền và thổ dân
đã làm thay đổi chiều hướng bảo tồn tự nhiên hoang dã và tăng giá trị củavườn quốc gia Vutut [53]
Power (2000) đã khẳng định trong tương lai các khu bảo tồn cần tậptrung khuyến khích việc sử dụng ít vật tư từ bên ngoài và sản xuất nôngnghiệp bền vững Các kỹ thuật canh tác cần tập trung vào việc cải tạo chấtlượng đất, tối ưu hoá chất dinh dưỡng sẵn có, quản lý nguồn nước, phòng trừsâu bệnh hại tổng hợp và khuyến khích đa dạng hoá cộng đồng [52]
Trang 8Nick Salafky và các cộng (2000) cho rằng các hoạt động sinh kế củacộng động sẽ giúp cho bảo tồn ĐDSH chứ không phải cạnh tranh với nhau[49].
1.1.2.Tổng quan vấn đề nghiên cứu ở Việt Nam
* Công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học
ở Việt Nam thuật ngữ ĐDSH mới chỉ được đề cập đến trong nhữngnăm cuối của thập kỷ 80 Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu về ĐDSHthì đã được tiến hành từ lâu Đó là những công trình nghiên cứu về giới độngvật, thực vật cùng những giá trị của chúng
- Thực vật: Các công trình nghiên cứu về thực vật ở Việt Nam có thể kể
đến như: Phạm Hoàng Hộ, Nguyễn Văn Dưỡng, năm 1960 Cây cỏ miền NamViệt Nam; Đỗ Tất Lợi, 1964 Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam; TrầnHợp, 1967 Phân loại thực vật; Lê Khả Kế và nhóm nghiên cứu, 1969- 1976Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam; Trần Phương, 1970 Bước đầu nghiên cứurừng miền Bắc Việt Nam, tập 1-7 [33]
Theo Nguyễn Nghĩa Thìn, 2000 đã thông kê được 11.373 loài thuộc2.524 chi, 378 họ của 7 ngành, các nhà phân loài thực vật dự đoán rằng, nếu
điều tra tỷ mỉ thì thành phần thực vật Việt Nam có thể lên đến 15.000 loài[31]
Hệ thực vật của Việt Nam có mức độ đặc hữu cao Tuy rằng, hệ thực vậtkhông có các họ đặc hữu và chỉ có khoảng 3% chi đặc hữu, nhưng số loài đặchữu chiếm khoảng 33% số loài thực vật ở miền Bắc Việt Nam (Pocs Tamas,1965) và hơn 40 % tổng số loài thực vật toàn quốc Để xây dựng chiến lược và
đề xuất các giải pháp bảo tồn ĐDSH cần phải có các nghiên cứu tỷ mỉ về sựphân bố của các loài trong điều kiện lập địa cụ thể của chúng [33]
- Động vật: Các công trình nghiên cứu quan trọng về động vật và tính
đa dạng của tài nguyên động vật hoang dã Việt Nam phải kể đến:
+ Đại Nam Thông Nhất Chi của các nhà khoa học Triều Lê, TriềuNguyễn
+ Công trình nghiên cứu của Brousmiche (1887) về một số loài độngvật có giá trị kinh tế, dược liệu và phân bố của chúng ở Bắc Bộ
Trang 9+ Nghiên cứu của De Pousagues (1940) về các loài thú ở Đông Dương.+ Bước đầu phân loại thú miền Nam Việt Nam của Vanpeneen (1969).+ Từ những năm 1960 đến nay, có nhiều công trình nghiên cứu độngvật do các nhà khoa học Việt Nam thực hiện, đáng chú ý có các công trìnhnghiên cứu của Đào Văn Tiến (1964, 1983, 1985, 1989); Lê Hiền Hào (1973);
Võ Quý (1975, 1981, 1995); Đặng Huy Huỳnh (1968, 1975, 1986, 1994);Trần Kiên (1977); Phạm Trọng ảnh (1983); Trần Hồng Việt (1983); PhạmNhật (1993); Nguyễn Xuân Đặng (1994)…
Những năm gần đây, được sự quan tâm của Chính phủ, Bộ Nông nghiệp
và Phát triển Nông thôn và sự giúp đỡ về kỹ thuật cũng như tài chính của các
tổ chức nhiều đợt khảo sát trên phạm vi cả nước và đã phát nhiều thêm nhiềuloài động vật cho thế giới
* Các công trình nghiên cứu về đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng
Từ những năm 1960, Nhà nước đã ban hành rất nhiều văn bản pháp quy,chỉ thị và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng Tuy nhiên, do yêu cầu trướcmắt là ưu tiên cho phát triển kinh tế xã hội và chống đói nghèo nên trongnhững năm qua Việt Nam chưa quan tâm đầy đủ tới mối quan hệ giữa pháttriển và bảo tồn tài nguyên sinh học [38]
Năm 1980, Chính phủ đã bắt đầu có những quan tâm đặc biệt tới pháttriển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Nhiều vănbản pháp quy liên quan đến các khu bảo tồn đã được ban hành, nhiều dự án,chương trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng để nâng cao nhận thức vàcác hoạt động bảo tồn ĐDSH ở Việt Nam Tuy nhiên, sự hiểu biệt về bảo tồnthiên nhiên nói chung và khu bảo tồn thiên nhiên nói riêng còn nhiều bất cập,nhất là đối với các cộng đồng sinh sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa [38]
Để ngăn chặn việc khai thác, sử dụng trái phép TNTN ngày càng giatăng do yêu cầu ở trong nước và xuất khẩu, tạo ra sự liên kết và hỗ trợ Quốc
tế, Chính phủ Việt Nam cũng đã tham gia vào 4 trong 5 công ước Quốc tế liênquan đến công tác bảo tồn ĐDSH, quản lý khu bảo tồn và quản lý các loài
động thực vật hoang dã
Trang 10Nguyễn Bá Thụ (1997) nhận định: Công tác công tác bảo vệ cácKBTTN phụ thuộc rất nhiều vào việc giải quyết những vấn đề tồn tại trên vùng
đệm gồm nâng cao đời sống và trình độ hiểu biết về bảo tồn, sử dụng hợp lý
và bền vững tài nguyên rừng cho người dân địa phương [32]
Hoàng Xuân Tý và Lê Trọng Cúc (1998) đã khặng định tầm quan trọngcủa kiến thức bản địa của cộng đồng địa phương trong quản lý TNTN [37]
Vương Văn Quỳnh và cộng sự (1998) cho thấy thiếu sự tham gia củacác cộng đồng địa phương đã không giải quyết hợp lý được mối quan hệ về lợiích quốc gia và lợi ích cộng đồng dân cư [29]
Võ Quý (1999), chỉ ra rằng bảo vệ rừng thì điều cần thiết phải cộng tác
và nâng cao chất lượng của nhân dân địa phương [28]
Hà Đình Nhật (2001) khẳng định khoán bảo vệ rừng là biện pháp hữuhiệu nhất đối với cộng động dân cư vùng đệm tại vườn quốc gia Yokdon Mọingười dân đều được giao nhiệm vụ quản lý bảo vệ rừng và được hưởng quyềnlợi mà Nhà nước trả tuy không lớn nhưng cũng đã góp phần cải thiện cuộcsống của người dân [24]
Lê Quý An (2001) khẳng định quản lý và phát triển vùng đệm trên cơ
sở cộng đồng là phát huy lợi thế của cộng đồng, hạn chế tác động tiêu cựctrong các hoạt động bảo tồn Cộng động có thể phát huy những mặt hay củaphong tục, tập quán trong mối liên hệ giữa các thành viên trong cộng đồng,trong mối quan hệ giữa con người và thiên nhiên, để xây dựng nề nếp củacuộc sống lành mạnh về môi trường, góp sức cho bảo tồn Hương ước của thônbản là một ví dụ [1]
Khu bảo tồn Hang Kia - Pà có từ khi thành lập đến nay, chưa có mộtcông trình nào nghiên cứu những giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia củacộng đồng tại xã Tân Sơn thuộc KBTTN Hang Kia - Pà Cò Đó là điểm xuấtphát mà luận văn này quan tâm giải quyết
Trang 111.2 Cơ sở lý luận
1.2.1 Quan điểm lý thuyết
Đề tài nghiên cứu thực hiện dựa trên quan điểm "Hệ thống" và "Sinh
thái nhân văn" để giải thích mối quan hệ giữa con người và các nguồn tài
đó là mối quan hệ giữa tự nhiên và xã hội Rừng là nguồn tài nguyên thiênnhiên có giá trị to lớn đối với nền kinh tế quốc dân, an ninh chính trị, quốcphòng và đảm bảo cân bằng môi trường sinh thái Rừng là bộ phận của sinhquyển và đã từ lâu nó đã được xem như lá phổi xanh nhân loại Tuy nhiên, cónhiều lý do, trong đó có tác động trực tiếp và gián tiếp của con nguời làm mấttài nguyên rừng đe doạ nghiêm trọng đến tính ĐDSH đồng thời dẫn đến suythoái môi trường Một thực trạng hiện nay ở Việt Nam là các cộng đồng cưdân sống ở trong và gần rừng có cuộc sống dựa vào rừng lại là những xãnghèo, dự báo số xã đặc biệt khó khăn sẽ tăng lên Con người đã và đang khaithác quá mức các nguồn TNTN dẫn tới suy thoái các hệ sinh thái làm nghèokiệt Đa dạng sinh học, thậm chí huỷ diệt nguồn tài nguyên quý giá để đáp ứngcho nhu cầu cuộc sống hàng ngày và đi ngược với xu thế phát triển của loàingười Vì vậy, việc khai thác và sử dụng nguồn TNTN có ảnh hưởng trực tiếp
đến đời sống của người dân cũng như tới bảo tồn Đa dạng sinh học
Nhằm ngăn chặn tình trạng trên, trong việc thực hiện các biện pháp bảo
vệ môi trường, bảo vệ thiên nhiên, không có con đường nào khác hiệu quả hơnbằng nâng cao nhận thức cho cộng đồng dân tộc miền núi, cho toàn xã hội
Trang 12Mọi người cần nhận thức đúng đắn về mối quan hệ gắn bó giữa các yếu tố vănhoá xã hội với TNTN, làm nền tảng góp phần vào việc sử dụng bền vững
ĐDSH Khi thế giới tự nhiên đạt được sự phồn thịnh thì cuộc sống của conngười cũng được phồn thịnh và bền vững (Richard Primack, 1995)
1.2.2 Các khái niệm
Trong đề tài đã đề cập đến các khái niệm đa dạng sinh học, cộng đồng,
sự tham gia của cộng đồng và kiến thức bản địa
* Đa dạng sinh học: là sự phồn thịnh của sự sống trên trái đất, là hàng
triệu loài thực vật, động vật và vi sinh vật, là những gen chứa đựng trong cácloài và là những hệ sinh thái vô cùng phức tạp cùng tồn tại trong môi trường(WWF, 1989)
ĐDSH được diễn giải một cách thuận tiện theo ba cấp: Đa dạng hệ sinhthái; đa dạng loài; đa dạng tri truyền
* Cộng đồng: Cộng đồng là những nhóm người có những đặc điểm về
thái độ, cách ứng xử, tập quán sinh hoạt và ước muốn tương đối giống nhau,
kể cả những tổ chức xã hội do cộng đồng lập ra cùng sống trong bối cảnh tựnhiên, kinh tế và xã hội
ở nhiều dân tộc thiểu số, già làng, trưởng bản là những người giầu kinhnghiệm, nắm vững phong tục tập quán của cộng đồng mình, đồng thời cũng làtrung tâm của các cuộc hoà giải, những tranh chấp xung đột, được cộng đồngtồn sùng nên hoàn toàn có thể đại diện cho cộng đồng
Sự tham gia của cộng đồng: là việc một cộng đồng được tham gia tư
vấn ý kiến, tỏ thái độ và mối quan tâm của họ về một kế hoạch phát triển, haymột quy hoạch, kế hoạch trong bảo tồn ĐDSH Đó là cơ hội để người dân cóthể bày tỏ ý kiến của mình và bằng cách đó họ có thể ảnh hưởng đến sự raquyết định
* Kiến thức bản địa: là hệ thống kiến thức của các dân tộc bản địa,
hoặc của một cộng đồng tại khu vực cụ thể nào đó Nó tồn tại và phát triểntrong những hoàn cảnh nhất định với sự đóng góp của mọi thành viên trongcộng đồng (người già, trẻ, đàn ông, phụ nữ) ở một vùng địa lý xác định(Louise G, 1998)
Trang 13Chương 2: Mục tiêu - Nội dung - Phương pháp nghiên cứu 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
2.1.1 Mục tiêu chung
Đề tài góp phần xây dựng cơ sở lý luận cho việc bảo tồn tài nguyên đadạng sinh học ở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
- Phân tích đặc điểm ĐDSH ở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia -Pà Cò
- Đánh giá tình hình quản lý ĐDSH ở khu bảo tồn thiên nhiên HangKia- Pà Cò
- Đánh giá ảnh hưởng và vai trò cộng đồng địa phương trongcông tác bảo tồn ĐDSH
- Đề xuất những giải pháp bảo tồn có sự tham gia của cộng đồng trongviệc quản lý có hiệu quả tài nguyên ĐDSH tại khu bảo tồn thiên nhiên HangKia - Pà Cò
2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu của đề tài
- Sự tham gia của người dân và các hộ gia đình tại xã Tân Sơn thuộc
KBTTN Hang Kia - Pà Cò
- ĐDSH của khu bảo tồn sự phụ thuộc và vai trò của cộng đồng địa
phương đối với ĐDSH của khu BTTN Hang Kia - Pà Cò
Trang 142.3 Nội dung nghiên cứu
Để đạt được các mục tiêu nghiên cứu đã đề ra, đề tài tiến hành nghiêncứu theo các nội dung sau đây:
2.3.1 Nghiên cứu đặc điểm đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia- Pà Cò
- Đa dạng khu hệ thực vật khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia- Pà Cò
- Đa dạng khu hệ động vật khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia- Pà Cò
2.3.2 Quản lý tài nguyên đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò
- Lịch sử quản lý tài nguyên ĐDSH ở KBTTN Hang Kia- Pà Cò
- Hoạt động quản lý tài nguyên ĐDSH khu bảo tồn thiên nhiên HangKia - Pà Cò
2.3.3 ảnh hưởng của cộng đồng địa phương đến đa dạng sinh học
- Các hoạt động sản xuất nông nghiệp
- Tình hình khai thác lâm sản
- Hoạt động săn bắn và buôn bán động vật hoang dã
2.3.4 Vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn đa dạng sinh học
2.3.5 Đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH có sự tham gia của cộng đồng
Trang 15+ ĐDSH là một bộ phận của hệ thống tự nhiên, bởi vì sự tồn tại và pháttriển của nó phụ thuộc những quy luật tự nhiên, chịu ảnh hưởng của nhiều yếu
tố khác trong hệ thống tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu Do quan
hệ chặt chẽ với yếu tố tự nhiên mà có thể bảo tồn ĐDSH bằng các tác độngcủa yếu tố tự nhiên
+ ĐDSH cũng là một bộ phận của hệ thống kinh tế vì sự tồn tại và pháttriển của nó gắn liền với các hoạt động kinh tế của con người như trồng rừng,xúc tiến tái sinh khai thác lâm sản, làm nương rẫy, săn bắn chim thú Đếnlượt mình, các hoạt động này lại phụ thuộc vào mức kinh tế, cơ cấu ngànhnghề, nhu cầu thị trường, khả năng đầu tư, Ngoài ra, ĐDSH cũng tác mạnh
mẽ tới các yếu tố kinh tế thông qua cung cấp nguyên liệu, năng lượng vàthông tin cho hoạt động kinh tế của con người ĐDSH quan hệ chặt chẽ vớicác yếu tố trong hệ thống kinh tế nên có thể bảo tồn ĐDSH bằng việc tác độngvào các yếu tố kinh tế Đây là lý do vì sao, tác giả việc nghiên cứu của ảnhhưởng cộng đồng đến bảo tồn ĐDSH và xây dựng giải pháp kinh tế nhằm điềuhoà mối quan hệ giữa bảo tồn ĐDSH và phát triển kinh tế
+ ĐDSH là một thực thể xã hội, sự tồn tại và phát triển của tài nguyên
ĐDSH phụ thuộc nhiều vào hoạt động của cộng đồng Hoạt động của cộng
đồng theo hướng bảo vệ và phát triển ĐDSH hay làm suy giảm ĐDSH luôn bịchi phối bởi nhiều yếu tố xã hội như nhận thức về giá trị ĐDSH, ý thức vớiluật pháp Nhà nước, kiến thức về ĐDSH, những phong tục tập quán liên quan
đến bảo tồn ĐDSH Bảo tồn ĐDSH phụ thuộc vào thể chế và chính sách của
hệ thống tổ chức Nhà nước như Luật bảo vệ và phát triển, Luật đất đai, Dựthảo Luật ĐDSH (2007) Bảo tồn ĐDSH phụ thuộc vào sự hiện diện của các tổchức và những quy định của cộng đồng, hỗ trợ Nhà nước trong việc tuyêntruyền vận động người dân, động viên và giám sát họ thức hiện những chánhsách của Nhà nước Tổ chức và luật lệ cộng đồng sẽ gắn kết những hộ gia đình
đơn lẻ thành lực lượng mạnh mẽ đủ sức thực hiện những chương trình bảo tồn
ĐDSH vì quyền lợi của mỗi gia đình và cộng đồng Bảo tồn ĐDSH có quan hệchặt chẽ với các yếu tố xã hội nên có thể tác động bằng các yếu tố xã hội Vìvậy, trong đề tài phân tích ảnh hưởng của những yếu tố xã hội ảnh hưởng đến
Trang 16bảo tồn ĐDSH và đưa đề xuất những giải pháp tác động vào mối quan hệ xãhội để lôi cuốn cộng đồng tham gia.
+ Bảo tồn ĐDSH là hoạt động vừa mang tính kỹ thuật, kinh tế và xã hội.Nên những giải pháp bảo tồn ĐDSH bao gồm những giải pháp khoa học côngnghệ và giải pháp kinh tế, những giải pháp này sẽ liên quan đến nông lâmnghiệp, thuỷ lợi, giao thông, địa chính, môi trường, văn hoá, giáo dục, quốcphòng Chúng được xây dựng dựa trên cơ sở những kiến thức lâm học, dântộc học, xã hội học, kinh tế thể chế
- Bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học có sự tham gia của cộng đồng
Một trong những biện pháp quan trọng bảo vệ tính ĐDSH là tính xã hộihoá, là nhiệm vụ của toàn dân, của cộng đồng dân cư lân cận các khu bảo tồnthiên nhiên Nếu không có sự hỗ trợ và tham gia của người dân sống trongvùng đệm thì công tác bảo vệ các khu rừng không thể đạt kết quả Do đó, việcgiáo dục nhận thức cũng như tạo điều kiện thuận lợi và nâng cao cuộc sốngcủa cộng đồng dân cư vùng đệm có thể là yếu tố then chốt để đảm bảo thànhcông bảo tồn các khu rừng đặc dụng Vùng đệm hiện nay không thuộc quyềnquản lý của BQL các khu rừng đặc dụng, nhưng BQL có trách nhiệm phối hợpvới Chính quyền địa phương của vùng đệm để nâng cao đời sống của nhân dân
và lôi cuốn họ tham gia vào công tác bảo vệ các khu rừng Đây chính là lý dovì sao trong đề tài coi phương pháp nghiên cứu có sự tham gia của cộng đồng
là một trong những phương pháp chủ đạo của đề tài
2.4.2 Phương pháp kế thừa tư liệu
Thu thập các tài liệu có liên quan đến khu vực nghiên cứu bao gồm:
- Luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu BTTN Hang Kia- Pà Cò huyện MaiChâu - tỉnh Hoà Bình do Viện điều tra quy hoạch Hà Nội thực hiện tháng 9năm 1993
- Báo cáo: Khảo sát khu hệ thú Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà
Cò huyện Mai Châu tỉnh Hoà Bình, 2003
- Báo cáo đề mục điều tra một số nhóm động vật hoang dã chính thuộc
hệ sinh thái núi đá vôi trong đó có khu bảo tồn Hang Kia - Pà Cò, 2000
Trang 17- Báo cáo điều tra đánh giá hiện trạng tài nguyên sinh vật bổ sung vàhoàn thiện cơ sở dữ liệu, đề xuất, kiến nghị về việc quy hoạch và biện phápquản lý hữu hiệu hệ thống Khu bảo tồn thiên nhiên đất liền ở nước ta giai
đoạn I khu vực núi đá vôi Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ
- Báo cáo: Tình hình kết quả thực hiện nhiệm vụ phát triển Kinh tế - Xãhội - An ninh - Quốc phòng xã Tân Sơn năm 20001, 2002, 2003, 2004, 2005,2006
- Văn bản chính sách về bảo tồn ĐDSH như: các văn bản pháp quy, quy
được sử dụng để điều chỉnh và hoàn thiện các giải pháp nhằm tăng cường sựtham gia của người dân vào công tác bảo tồn ĐDSH
2.4.4 Phương pháp thu thập số liệu
Đề tài áp dụng phương pháp điều tra xã hội học để nghiên cứu sự thamgia của cộng đồng vào các hoạt động bảo tồn
* Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia
Sử dụng phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)với bộ công cụ chính là bảng câu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc để phỏng vấncác đối tượng sau:
Trang 18- Phỏng vấn thông tin viên:
Đối tượng phỏng vấn là cán bộ kiểm lâm (5 người), trưởng thôn (1người, thợ săn (10 người), thợ rừng (10 người), nhằm tìm hiểu tình hình bảo
vệ, khai thác và sử dụng tài nguyên rừng ở khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia
-Pà Cò
- Phỏng vấn sâu:
Đối tượng phỏng vấn là 30 hộ gia đình cả nam giới và nữ giới nhằm tìmhiểu về kinh tế, xã hội, khai thác lâm sản, tình hình săn bắt động vật rừng, đốtnương làm rãy, nhận thức và vai trò của cộng đồng trong công tác bảo tồn đadạng sinh học
- Thảo luận nhóm:
Tác giả tiến hành thảo luận 3 nhóm, trong đó có 1 nhóm cán bộ kiểmlâm và 2 nhóm người dân trong thôn, mỗi nhóm gồm 3 (nam và nữ) giới cóhiểu biết sâu sắc về thôn để cùng tham gia xây dựng sơ đồ lược sử thôn bảnliên quan đến việc khai thác và sử dụng tài nguyên rừng Đồng thời, cùngnhau thảo luận đưa ra những khó khăn, thuận lợi và giải pháp để tăng cường
sự tham gia của cộng đồng vào các hoạt động bảo tồn ĐDSH tại Khu bảo tồnHang Kia - Pà Cò
* Phương pháp điều tra thực địa
- Điều tra tính đa dạng sinh học:
+ Quan sát bổ sung thực vật trên thực địa theo các tuyến và ô tiêu chuẩn
ở các dạng sinh cảnh, các trạng thái rừng khác nhau
+ Điều tra động vật bổ sung: Quan sát đại diện trên một số tuyến bổsung được lập trên các dạng sinh cảnh trong các trạng thái rừng khác nhau,nhằm xác định loài qua các dấu vết hoạt động của chúng trong tự nhiên và ghitheo mẫu biểu
- Điều tra thu nhập kinh tế, canh tác nương rãy, khai thác và sử dụng
động thực vật kết hợp với quan sát trực tiếp khi điều tra thực địa động thực vậtrừng
Trang 192.4.5 Xử lý số liệu
- Tổng hợp tính ĐDSH của KBTTN Hang Kia - Pà Cò và giá trị của chúng
- Tổng hợp thu nhập kinh tế của các hộ gia đình
- Xác định những ảnh hưởng và vai trò chính của cộng đồng đối với
ĐDSH
- Xác định những thuận lợi, khó khăn đối với công tác bảo tồn ĐDSH
- Lựa chọn những giải pháp ưu tiên nhằm góp phần quản lý có hiệu quả
ĐDSH ở KBTTN Hang Kia - Pà Cò
Kết quả điều tra phỏng vấn được xử lý theo phương pháp thông kê đểtổng hợp, phân tích, so sánh các thông tin đã thu thập được với sự hỗ trợ củaphần mềm Excel 7.0
Quá trình xử lý, phân tích và tổng hợp thông tin của đề tài nghiên cứu
được mô phỏng theo sở đồ ở hình 2-1:
Hình 2-1: Sơ đồ xử lý số liệu
Quản lý tài nguyên
ĐDSH
Điều kiện tự nhiên,
của cộng đồng liênquan đến tính ĐDSH
Phân tíchTổng hợp
Đề xuất giải pháp bảo tồn ĐDSH có
sự tham gia của cộng đồng
Trang 202.4.6 Thuận lợi và khó khăn trong quá trình nghiên cứu
* Thuận lợi
- Xã Tân Sơn là nơi có nhiều chương trình dự án được triển khai nên dễdàng trong việc thu thập thập thông tin và xác định các vấn đề cần thiết liênquan đến luận văn tốt nghiệp
- Đề tài được thực hiện cùng với một nhóm cán bộ dự án ở các chuyênngành khác nhau nên có điều kiện tốt để chia sẻ thông tin và học hỏi lẫn nhau
- Được sự giúp đỡ nhiệt tình của các tổ chức chính quyền địa phương vàngười dân trong quá trình thu thập số liệu
* Khó khăn
- Về thời gian: Người dân đi làm nương từ sáng đến tối nên việc phỏng
vấn, thảo luận nhóm gặp nhiều khó khăn Vì vậy, công việc này thường đượctiến hành vào buổi chiều tối đã làm hạn chế quá trình thu thập thông tin
- Về ngôn ngữ: Tầng lớp những người cao tuổi có rất nhiều kinh
nghiệm và sự hiểu biết sâu sắc về tài nguyên rừng, nhưng trong quá trình tiếpxúc, tác giả gặp khó khăn về vấn đề giao tiếp do bất đồng ngôn ngữ
Trang 21Chương 3: đặc điểm tự nhiên - kinh tế - xã hội
khu vực nghiên cứu 3.1 Giới thiệu khái quát về Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kìa - Pà Cò
Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò được thành lập để bảo vệmột vùng rừng nhiệt đới trên núi đá vôi còn lại trên thượng nguồn sông Mã vàsông Đà Trước khi xây dựng hồ thuỷ điện sông Đà thì đây là khu vực rừnghiểm trở, khó khai thác nên vẫn giữ được độ phong phú về tài nguyên động vàthực vật rừng
Hình 3-1: Vị trí khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò
Nguồn: BirdLife Indochina (2007)
Ngày 9/8/1986 Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là thủ tướng Chínhphủ) đã có quyết định 194/CT công nhận hệ thống rừng đặc dụng Việt Namtrong đó có KBTTN Hang Kia - Pà Cò với diện tích dự kiến là 1.000 ha Ngày
Trang 2215/11/1990, Văn phòng Hội đồng Bộ trưởng (này là Văn phòng Chính phủ) đã
có thông báo về việc bảo vệ khu rừng ven Quốc lộ 6
Chính phủ đã giao trách nhiệm cho Bộ Lâm Nghiệp (nay là BộNN&PTNT) và UBND các tỉnh có liên quan KBTTN xây dựng luận chứng kinh
tế kỹ thuật cho KBTTN Hang Kia - Pà Cò Tháng 9 năm 1993, Chi cục Kiểm lâmtỉnh Hoà Bình phối hợp với Viện Điều tra quy hoạch rừng hoàn thành luận chứngkinh tế kỹ thuật KBTTN Hang Kia- Pà Cò và đã được Bộ Lâm Nghiệp thẩm định.Ban quản lý KBTTN Hang Kia - Pà Cò được thành lập vào ngày 23/05/2000 theoQuyết định số 453/QĐ-UB của UBND tỉnh Hoà Bình
Theo bản đồ quy hoạch của Ban quản lý (BQL) thì 3 xã Tân Sơn, Bao
La, Pà Cò đều nằm trong vùng lõi của KBTTN Hang Kia - Pà Cò Trong đó,xã Tân Sơn có vị trí đi lại thuận lợi hơn so với xã Bao La và xã Pà Cò Tân Sơncũng là xã mới được thành lập năm 1999, tách ra từ một phần của xã Bao La
Đường quốc lộ 6 (Hà Nội - Sơn La) đi qua xã tạo cho việc thông thương hànghoá và đi lại của nhân dân dễ dàng
Hình 3-2: Khu bảo tồn thiên nhiên Hàng Kia - Pà Cò
Nguồn: Ban quản lý khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò (2007)
Trang 233.2 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
KBTTN Hang Kia- Pà Cò có toạ độ địa lý: 20041' đến 20046' vĩ độ Bắc
và 104051' đến 1050 01' kinh độ Đông, thuộc địa phận các xã Tân Sơn, HangKia, Bao La, Cun Phèo và Piềng Vế của huyện Mai Châu, tỉnh Hoà Bình.KBTTN có diện tích là 7.091 ha, so với sinh cảnh rừng trên núi đá vôi, nằm ởphía Tây tỉnh Hoà Bình, tiếp giáp với Thanh Hoá và Sơn La Ngoài ra, còn có8.135 ha diện tích vùng đệm đưa tổng diện tích tự nhiên toàn khu vực lên15.226 ha
* Địa chất và thổ nhưỡng
- Địa chất: Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò thuộc vùng núicao của huyện Mai Châu Phần lớn diện tích là núi đá Địa hình chia cắt hiểmtrở, núi và thung lũng có nhiều hang động Độ dốc trung bình từ 280 đến 320
Độ cao tuyệt đối từ 900- 1500 m, trung bình 1200 m
Khu vực có 2 dạng trầm tích:
+ Trầm tích hoá học: Đá vôi có kiến trúc hạt mịn, cấu tạo khối, thànhphần khoáng vật có canxi, vẩy nhỏ, xirixít sản phẩm phong hoá hình thànhnên loại đất giàu dinh dưỡng
+ Trầm tích cơ học: Có nhiều phiến sét với cấu trúc hạt mịn Cấu tạonhiều lớp, thành phần khoáng vật có nhiều Caoninit, Mommôriôlít, Hematít
Đá sa thạch có thành phần khoáng vật Plenspatlimotit, thạch anh
- Thổ nhưỡng: Trong quá trình điều tra lập địa đã phát hiện ra 5 nhóm
đất chính được thể hiện trong bảng 3-1 sau:
Trang 24Bảng 3-1: Đặc điểm các loại đất ở Khu bảo tồn thiên nhiên Hang Kia - Pà Cò
1 Đất Fearalit + Mùn
Đất giàu dinh dưỡng, tỷ lệ mùn 3- 5%
%
3 Đất dốc tụ chân núi
đá sét *
2.907 ha (Vùng bảo tồn: 1.628 ha; vùng
đệm: 1.279ha)
<100, mỏng
Hầu hết các xã đều có
Tầng mặt bị xói mòn, màu đỏ vàng, đá lẫn cao 10- 30%, tỷ
đệm: 5460,2 ha)
<100, mỏng
Hầu hết các xã đều có
Đất thị trung bình nặng, đất khó canh tác, tầng đất mỏng, kết von, đá lẫn cao 10- 30%,
1-Tổng 5 nhóm đất chính
9.428,6 ha (Vùng bảo tồn là 2.048.5 ha; vùng
đệm: 7356,5 ha)
Nguồn: Luận chứng kinh tế kỹ thuật Khu bảo tồn Hang Kia - Pà Cò (1993)
Trong 7.091 ha của vùng bảo tồn có hơn 2000 ha thuộc loại đất dốc tụchân núi (mục 2 và 3) trong thực tế diện tích này đã biến thành đất thổ cư và
- Lượng mưa bình quân khoảng từ 1850 - 2000 mm tập trung về mùanóng Một số hiện tượng thời tiết bất thường như: Từ tháng 8 đến tháng 4 nămsau thường có mây và sương mù dày đặc, thường xuyên ẩm ướt Hệ thống suối
Trang 25khu rừng đặc dụng hầu như ngắn và dốc, chủ yếu là suối ngầm chảy qua lòngnúi đá Mùa khô rất khan hiếm nước chủ yếu là nước mỏ.
Do điều kiện địa hình vùng núi thường xuyên ẩm ướt về mùa nóng quátrình thay đổi thời tiết, khí hậu thúc đẩy quá trình phong hoá đất mạnh, thựcvật sinh sống phong phú và phát triển
3.3 Điều kiện kinh tế xã hội
3.3.1 Đặc điểm dân cư
* Cơ cấu dân tộc: Với xã Tân Sơn có 4 dân tộc anh em cùng cư trú:
Thái, Mường, Dao và Kinh, trong đó người Thái và người Dao 80%, ngườiMường và người Kinh chiếm 20% dân số cả xã
* Di dân: Xã Tân Sơn người dân nhập cư từ nơi khác đến sớm nhất từ
những năm 60, người Dao đến Tân Sơn sinh sống những năm 90 Họ di cư docon đường 6 xây dựng (cách lòng hồ 14 km) Toàn xã chỉ có 4 hộ di cư xâydựng lòng hồ
Nhìn chung, dân số đang cư trú trên địa bàn xã đều là dân ngụ cư, quátrình di cư nhập cư khác nhau cũng là nguyên nhân dẫn tới sự phân tầng mứcsống giữa các nhóm dân tộc
* Gia tăng dân số: Điều đáng lo ngại nhất là sức ép gia tăng dân số lên
KBTTN Hang Kia - Pà Cò Chỉ trong vòng hơn 10 năm (1993 - 2006) tổng số
hộ ở xã tăng lên rất nhanh, từ 157 hộ năm 1993 lên đến 228 hộ năm 2006,tăng thêm 71 hộ và số khẩu tăng lên 136 với số lao động dôi thừa là hơn 300người Hiện nay vẫn tiếp tục gia tăng gây sức ép lớn lên nguồn tài nguyên củaKBTTN Bảng dưới đây đã chỉ ra mức tăng dân số ở các xã trong gia đoạn
Trang 26Bảng 3-3: Diện tích đất đai ở xã
Loại đất Diện tích (ha)
* Tình hình sử dụng đất đai
- Việc sử dụng đất phần nhiều là tước đoạt độ màu mỡ của đất thể hiện quacác hoạt động sau:
+ Làm nương rẫy
+ Đất nông nghiệp một vụ ít dùng phân bón
+ Các loài cây ăn quả không được chọn lọc nên ít có giá trị thị trường.+ Khai thác tài nguyên rừng ít đầu tư trở lại
- Trình độ canh tác thấp thể hiện qua các mặt
+ Công cụ thô sơ, chủ yếu sử dụng sức kéo trâu bò và sức người
+ Ruộng nước và đất sản xuất bền vững ít
+ Các công trình phục vụ sản xuất thiếu
Hènh 3-3: Cơ cấu sử dụng đất đai tại xó Tõn Sơn
Đất nụng nghiệp
Đất lõm nghiệp
Đất ở Đất chuyờn dựng
Đất nuụi trồng thuỷ sản
Đất chưa sử dụng
* Tình hình kinh tế: so với toàn huyện, kinh tế xã Tân Sơn đều thuộc
Trang 27- Phân tầng mức sống: ở xã Tân Sơn có sự phân tầng rõ rệt về mức
sống giữa các nhóm dân tộc, giữa các nhóm định cư trước và nhóm định cưsau Xã Tân Sơn người Thái, người Dao kinh tế khá hơn người Mường Mộttrong những nguyên nhân dẫn đến sự phân tầng mức sống là do sự khác biệttiếp cận nguồn lực tự nhiên về đất Đặc tính của dân di cư đến từ nhiều thời
điểm khác nhau nên sở hữu và phân bổ đất nông, lâm nghiệp không đồng đềugiữa các nhóm dân tộc trên cùng một lãnh thổ Những hộ người Dao, ngườiThái di cư đến sớm (trước năm 60) có diện tích lúa nước Những hộ di cư đếnsau năm 1990 (người Mường) không có lúa nước, họ canh tác chủ yếu trên đấtrừng đặc dụng - nơi nghiêm cấm mọi hành vi xâm phạm Nhóm người Kinh
đến xã năm 2000 không có ruộng nên sống bằng nghề dịch vụ
- Trình độ quản lý kinh tế hộ: việc quản lý kinh tế hộ ở đây còn thấp
và không đều, thể hiện ở số hộ nghèo còn ở mức quá cao từ 36% ở Tân Sơn
Số hộ có tiền tiết kiệm 27%, tỷ lệ thiếu ăn chiếm đến 27% Bảng dưới đâythống kê số liệu chi tiêu hàng tháng của các hộ ở thôn Pò Liêm - Tân Sơn chothấy mức sống thấp và việc quản lý kinh tế hộ còn nhiều bất cập
Bảng 3-5: Cơ cấu chi tiêu của hộ gia đình (đơn vị: triệu VNĐ)
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phỏng vấn hộ gia đình (2007)
- Cấu trúc gia đình: gia đình hạt nhân và gia đình mở rộng là hai mô
hình phổ biến ở thôn Số người trung bình trong gia đình là 4,8; số lao độngtrung bình là 2,6 Có hộ gia đình lên tới 11 người chung sống (gia đình 3 thếhệ) Cơ cấu gia đình mở rộng cho phép phối hợp và phân công lao động trong
Trang 28gia đình hợp lý, sử dụng tối ưu các nguồn lực trong gia đình như đất đai, sứckéo và gia súc
Bảng 3-6: Cấu trúc gia đình và lao động
phỏng vấn ít nhất Nhiều nhất Trung bình
Số người hiện sống chung trong
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phỏng vấn hộ gia đình (2007)
- Cơ cấu ngành nghề: nghề nghiệp chủ yếu của người dân ở xã là trồng
trọt, chăn nuôi, khai thác lâm sản Nghề mới xuất hiện trong 5 năm trở lại đây(từ năm 2000) là may thêu, buôn bán dịch vụ, xuất khẩu lao động đi Malaixia,làm thuê trong ngoài huyện Tân Sơn có khoảng 10 hộ gia đình làm dịch vụ ănuống, rửa xe ô tô, giải khát, karaoke những hộ này sinh sống hai bên quốc lộ 6
có đời sống khá giả và góp phần giải quyết việc làm cho một số lao động của
hộ gia đình cư trú lân cận Những nghề cũ này không Còn hoặc giảm dần mức
đóng góp trong tổng thu nhập của người dân ở xã là khai thác lâm sản (xẻ gỗ,lấy các sản phẩm phụ từ rừng như phong lan, mật ong, củi, song mây…) doLuật Bảo vệ rừng ngày càng xiết chặt hơn
Giá trị nguồn thu từ nghề phụ Tân Sơn có vai trò quan trọng Nguồn thu
từ lương và bảo hiểm xã hội chiếm tỷ trọng cao ở Tân Sơn
Trang 29Nhìn chung 91% các hộ trong xã đều coi nghề nông là nghề nghiệpchính, cơ cấu nghề nghiệp của xã Tân Sơn là nông- công - thương
- Năng lực cung cấp dịch vụ
+ Dịch vụ tín dụng: Thống kê gia đình cho thấy có tới 75% hộ gia đình hiện
có giao dịch với Ngân hàng Hiện tại, trên địa bàn xã Tân Sơn có 3 kênh tíndụng chính thức có thể cho người dân vay vốn: Ngân hàng nông nghiệp, ngânhàng chính sách; tín dụng nhỏ của Hội phụ nữ; vốn chương trình 120, giảiquyết việc làm ở Tân Sơn Các kênh không chính thức như vay họ hàng, hoặcvay tư nhân nặng lãi chưa thấy xuất hiện ở xã khảo sát Số dư nợ hiện nay củacác kênh cho vay vốn chính thức ở xã như sau: Ngân hàng chính sách là 1.234triệu đồng; Chương trình 120 là 55 triệu đồng
Chương trình 120 dành cho các đối tượng là gia đình chính sách, gia
đình có con đang đi học đại học, cao đẳng, trung cấp Lãi suất của chươngtrình 120 là 0,65%/tháng Chương trình giới hạn mức vay đối với sinh viên.Nếu học 3 năm (cao đẳng trở lên) được vay nhiều nhất 9 triệu, 2 năm 6 triệu, 1năm 1 triệu Thực tế có rất nhiều hộ đề nghị vay vốn 120 nhưng do số vốn cóhạn, nên khi muốn vay hội phụ nữ phải xét duyệt đối tượng ưu tiên
Hầu hết các hộ gia đình trong xã đều vay vốn ngân hàng
Trên 70% hộ gia đình sử dụng vốn vay vào mục đích sản xuất nhưngchưa có hộ gia đình nào vay để kinh doanh hoặc chế biến nông sản
Hiện tại, năng lực tư vấn của các kênh tín dụng về tiếp cận thị trườngcho các nông hộ dường như khá mờ nhạt
Vay vốn và lấn sâu vào vòng nợ nần ảnh hưởng tới đầu tư của hộ gia
đình Các hộ gia đình cũng phàn nàn rằng, thời hạn vay của ngân hàngnông nghiệp ngắn (1năm), khoản đầu tư chưa kịp sinh lời nông dân phải
lo hoàn vốn
+Dịch vụ cung cấp đầu vào các vật tư nông nghiệp:
Dịch vụ cung cấp vật tư đầu vào trồng trọt thường chậm và chất lượngchưa tốt
Trang 30Người dân chưa có nhiều cơ hội lựa chọn giống vật nuôi đảm bảo Đốivới vật tư đầu vào cho chăn nuôi gia súc, gia cầm người dân cũng không cónhiều cơ hội lựa chọn.
Mạng lưới khuyến nông địa phương chưa đủ năng lực tư vấn chuyênmôn cũng như định hướng sản xuất theo thị trường cho nông dân Người dânchưa thật sự hài lòng về dịch vụ thú y của địa phương
- Tiếp cận thông tin và dịch vụ
+ Loại thông tin được tiếp cận: hình dưới đây cho biết mức độ tiếp nhận
thông tin từng lĩnh vực trong sản xuất nông nghệp của hộ gia đình trong mẫukhảo sát
Loại thụng tin tiếp nhận liờn quan đến
sản xuất NLN
68 70 72 74 76 78 80 82
1
Trồng lỳa Chăn nuụi gia sỳc Chăn nuụi gia cầm Tiờu thụ sản phẩm Trồng cõy lõm nghiệp Trồng cõy ăn quả
Hình 3-4: Loại thông tin tiếp nhận liên quan đến sản xuất nông lâm nghiệp
Nông dân chủ yếu tiếp nhận các thông tin về mùa vụ, về kỹ thuật sảnxuất Người dân được biết thông tin liên quan đến lịch mùa vụ, về kỹ thuậttrồng lúa và nhiều hơn cả (80%) ít nhất là thông tin về kỹ thuật trồng cây ănquả, cây lâm nghiệp (dưới 74%) Cách thức chăn nuôi gia súc và gia cầmngang bằng nhau, 76% số người tham gia trả lời có thỉnh thoảng cập nhậtthông tin liên quan tới thị trường như: Giá cả các loại nông sản, nơi tiêu thụsản phẩm…
Người dân chưa thấy bức xúc trong nắm bắt nhu cầu thị trường và tìmkiếm thông tin tiêu thụ nông sản lương thực
Trang 31+ Nguồn cung cấp thông tin
Nguồn cung cấp thông tin: Có 2 nguồn cập nhật thông tin cho ngườidân là họp thôn và truyền miệng Trong đó họp thôn cung cấp các thôngtin liên quan đến lịch mùa vụ, khoa học kỹ thuật sản xuất Thông tin về
đầu ra của sản phẩm chủ yếu qua bà con, hàng xóm, nói lại, đây là hìnhthức dân giã và phổ biến ở các vùng nông thôn
0 50 100 150 200 250 300 350 400
Bà con
Họp thụn
T ivi Đài HPN Đi
chợ
HND Loa
T T
Nguồn thụng tin
Hình 3-5: Nguồn cung cấp thông tin đến sản xuất lâm nghiệp
Trưởng thôn là nguồn tin chủ yếu cho nông dân Cũng theo kết quảkhảo sát thì vai trò của ông trưởng thôn trong việc cung cấp thông tinliên quan đến khuyến nông cho bà con rất lớn Thông thường thông tin
từ Trưởng thôn được đánh giá đáng tin cậy hơn cả
3.3.3 Văn hoá và tổ chức cộng đồng
* Các hình thức tổ chức của cộng đồng
- Chính quyền xã: Ban lãnh đạo chính quyền xã Tân Sơn là một tập thể đoàn
kết và có uy tín với nhân dân Trong những năm qua, ban lãnh đạo đã cùng vớicác tổ chức xã hội ở xã khắc phục những khó khăn của địa phương tổ chứcthực hiện các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế văn hoá xã hội tại cơ
sở Theo đánh giá của Ban quản lý KBT thì đội ngũ lãnh đạo xã Tân Sơnnhanh nhẹn, nhiều cán bộ được xem là có năng lực như các vị trí chủ tịchUBND, Bí thư Đảng uỷ xã
Tất cả xã đều biên chế đủ 19 chức danh cán bộ, UBND xã Tân Sơn cómột người đang học Đại học, 80% cán bộ UBND xã trình độ hết cấp III (bổ
Trang 32túc), số còn lại hết cấp II và cấp I Tuy nhiên, so với các xã vùng thấp củahuyện thì cán bộ ở đây Còn nhiều hạn chế về năng lực quản lý và trình độchuyên môn.
Khiếm khuyết trong đội ngũ lãnh đạo các xã là thiếu cán bộ kỹ thuậtnhư: khuyến nông viên, khuyến lâm, thú y viên
Nhiều người dân cư trú ở thôn đã hơn 20 năm nhưng không biết khuyếnnông viên là ai, vai trò của họ làm gì?
- Các tổ chức đoàn thể cấp xã: Dựa vào các tiêu chí như: kỹ năng quản lý,
khả năng vận động quần chúng, năng lực ứng phó với tình huống, trình độ vàkinh nghiệm công tác,… Nhóm cán bộ này đã đưa ra ý kiến về thứ hạng nănglực làm việc của các tổ chức chính quyền, đoàn thể như sau:
Bảng 3- 8: Năng lực của các tổ chức đoàn thể cấp xã (1= tốt nhất; 5 =yếu nhất)
Nguồn: Tổng hợp từ kết quả phỏng vấn hộ gia đình (2007)
Bảng 3-8 cho thấy Hội phụ nữ ở Tân Sơn được đánh giá cao trong côngtác vận động, tuyên truyền, khả năng ứng phó tình huống tốt, quản lý tốt, cónhiều hội viên tham gia
- Ban lãnh đạo thôn: Mạng lưới quản lý cộng đồng gần dân nhất, hay theo
cách nói của cán bộ huyện là cánh tay nối dài của xã đến dân chính là trưởngthôn Trưởng thôn là đại diện của người dân, và là tai mắt của chính quyền xã.Mọi kế hoạch hoạt động muốn triển khai và thực hiện được đều phải “qua”mạng lưới này Đây là một đặc trưng nổi bật ở các thôn xã vùng cao phía Bắc.Càng ở những vùng địa thế càng cao, càng xa ‘trung tâm” xã thì vai trò củacác trưởng thông càng lớn
- Các tổ chức dòng họ: Trong xã hội truyền thống dòng họ được ghi nhận như
một thiết chế có vai trò trong quyết định liên quan đến gia đình và cộng đồng
Trang 33Lịch sử của cộng đồng người Thái và Dao ở Tân Sơn, như đã nói là nhữngngười di cư từ nơi khác đến vì thế dòng họ đối với họ là một phần quan trọng.
Đoàn kết trong dòng họ để ứng phó với cuộc sống mới Hoàn cảnh này gópphần đẩy cao vai trò của ông Trưởng họ Tuy nhiên, trong bối cảnh thị trườngvai trò dòng họ đang dần biến đổi, giảm bớt can thiệp trong các quyết định lớncủa hay thành viên trong họ Chúng tôi không có thời gian điều tra hết cácthôn nên chỉ xin bình luận về các thôn khảo sát
Người Dao ở Tân Sơn có dòng họ đặc trưng dân tộc Dao như Họ Đặng,
Lý, Triệu, Bàn, Trong đó, họ Lý chiếm đa số, tiếp theo là họ Triệu, Bàn và Đặng
Người Thái ở Tân Sơn chia ra tới 12 chi họ: Họ Hà văn (có 3 nhánh),
Lỗ, Vì, họ Ngần (có 3 nhánh), Hà Công, Họ Khà, họ Bùi, họ Lò Trong số đó,
họ Bùi vốn gốc là dân tộc Mường sống ở vùng người thái lâu đời bị Thái hoá
Với người Thái ở Tân Sơn, thường trong cùng dòng họ có quan hệ anh
em, nên họ hàng cũng là nơi người ta nhờ cậy đầu tiên khi thiếu thốn Chẳnghạn như vay nợ, thóc gạo lúc giáp lạt
Quan hệ dòng họ của người Dao chặt chẽ hơn cả Cứ 3 năm một lần,các dòng họ của người Dao lại tổ chức họp một lần Trưởng họ là người giữbát hương cho cả dòng họ và là người thực hiện các lễ cúng cho dòng họ.Trong một năm, người Dao có tới 6 lần lễ, ông Trưởng họ là người giúp cácgia đình giao tiếp với thế giới hư ảo cầu xin những điều tốt lành cho mùamàng, cho con cháu và xin thứ bỏ cho những điều con cháu làm không tốt Có
lẽ vì thế ông có “quyền lực” hơn trong cuộc sống ngày thường
Ngày nay, với xu hướng gia tăng gia đình hạt nhân, tính độc lập, quyền
tự quyết định của người chủ hộ là nổi bật, vai trò của Trưởng họ giảm dầntrong các quyết định mang tính gia đình ví dụ như hôn nhân, đặt tên chocon… Họ thường chung sống hoà bình và đoàn kết
* Biến đổi văn hoá
Ngày nay, dưới nhiều tác động khác nhau, văn hoá của các tộc người
đang có nhiều biến đổi Với cảm nhận trong quá trình nghiên cứu ở địa bàn,chúng tôi trình bày sơ lược về xu hướng biến đổi văn hoá với hy vọng như mộtlời ghi chú với các chương trình can thiệp sinh kế đã và sẽ thực hiện
Trang 34Một số biến đổi về văn hoá của dân tộc Thái, Dao và nguyên nhân biến
đổi có thể quan sát thấy thay đổi rõ rệt cả về văn hoá vật thể và phi vật thể củacộng động các dân tộc ở xã Biến đổi văn hoá ảnh hưởng đến lối sống vàphương thức sản xuất của tộc người
- Thay đổi về nghi lễ, và một số tập tục: Một số phong tục tập quán vốn
nguyên gốc của người Thái hay người Dao hiện nay đã không Còn tồn tại vàthay bằng những tập tục khác theo hướng hiện đại hơn, đơn giản hơn Chẳnghạn trong tết nhảy của người Dao, thầy cúng không bắt buộc phải mặc trangphục của thầy cúng mà mặc âu phục bình thường Lễ vật cúng linh hoạt, trướcdùng trong tết nhảy (người Dao) nay có thể thay thế bằng lợn hoặc gà Rượucần có thể thay thế bằng rượu gạo tự nấu lấy hoặc mua ngoài quán
- Thay đổi trang phục: Người Thái và người Dao ở Tân Sơn là một minh chứng
hùng hồn cho nhận định “trang phục không phải là một chỉ số cho biết người đóthuộc đân tộc nào” Phụ nữ Thái và phụ nữ Dao hiện mặc các trang phục củangười Kinh, họ thường mua quần áo may sẵn bán ở chợ Thậm chí trong đám cưới,các cô dâu người Dao Tân Sơn cũng thuê mặc váy áo đầm, chú rể mặc com lê
- Thay đổi trong tư duy, lối sống: Nếu như trước đây hình thức sản xuất tự sản,
tự tiêu nay chuyển dần sang trao đổi, buôn bán Thái hay Dao ngày nay ưa dùngcác sản phẩm mang tính công nghiệp trong sinh hoạt ví dụ như thay bằng dùngdụng cụ đan lát truyền thống (mâm, rá, hông xôi bằng mây tre, hoặc gỗ)chuyển sang dùng đồ nhựa mâm nhựa, ghế nhựa…) tiện dụng Bữa ăn giảm dần
về số lượng và giảm dần tính tự túc Họ không chỉ dùng rau quả tự trồng màmua thêm hoa quả (cam, quýt) ngoài chợ về dùng Các đồ điện tử (ti vi, đài, đầuvideo) không phải hiếm trong các gia đình Đám cưới của người Thái thanhniên thích mở và nhảy theo các bản nhạc Róck của nước ngoài Điều này cũng
có nghĩa chất lượng cuộc sống đã thay đổi, lối sống cũng thay đổi theo
- Thay đổi về vai trò cá nhân của những người có ảnh hưởng trong cộng
đồng: Trước đây già làng là người có quyền lực và uy tín đối với cả dân làng,
trưởng họ có vai trò quan trọng đối với dòng họ, gia đình, ông ta có quyềnquyết định hôn nhân hoặc đặt tên cho con cháu Như hiện nay “quyền lực” đó
đã giảm thay vào đó Trưởng thôn, trưởng bản có uy tín hơn Trưởng thôn làngười đại diện cho làng bản, và cũng chính ông ta là người có uy tín trong
Trang 35cộng đồng của mình Theo xu hướng gia đình hạt nhân hoá nên chủ hộ cũng làngười đứng ra tổ chức, quyết định hầu hết các công việc gia đình: Ví dụ đặttên cho con trước đây mời trưởng họ nay cha mẹ tự đặt lấy.
Nguyên nhân của sự biến đối văn hoá: có 3 nhân tố cơ bản làm biến
đổi văn hoá của các nhóm dân tộc nói trên, đó là:
+ Tác động của các chính sách nông lâm nghiệp, chương trình pháttriển, xoá đói giảm nghèo
+ Giao thông thuận lợi nối liền các bản với trung tâm văn hoá huyện xã,
đẩy nhanh quá trình thông thương hàng hoá là một trong những nguyên nhânlàm thay đổi nhanh chóng phong tục tập quán, lối sống của người dân Việcmua bán, trao đổi hàng hoá có thể diễn ra hàng ngày, giúp người dân chuyển
từ tự cấp sang trao đổi buôn bán.+ Quá trình xâm nhập mạnh mẽ văn hoá củacác dân tộc Các bản người Thái, người Dao ở hai xã chung sống khá gần vớingười Kinh Do vậy các trao đổi ngôn ngữ, kinh tế, văn hoá diễn ra hàng ngàycũng là một tác nhân quan trọng làm biến đổi dần tư duy, phong tục tập quánngười H’mông, Thái, Dao Và không chỉ văn hoá người Kinh tác động tới họ
mà theo quy luật số đông áp đảo
3.3.4 Các chương trình dự án
Các chương trình, dự án triển khai trên địa bàn xã: trong vòng 4
năm qua, trên địa bàn xã có triển khai khá nhiều chương trình giảm nghèo,phát triển được thực thi Tân Sơn có 8 chương trình/dự án Đây là nhữngchương trình đã và đang thực hiện tại xã từ 2003 đến nay:
Bảng 3-9: Thống kê các chương trình, dự án đã và đang thực hiện tại xã
Trang 36Ngoài các chương trình kể trên còn phải kể đến các chương trình của BộNN&PTNT phát động trên toàn quốc cũng đã và đang thực hiện ở xã qua cáchội đoàn thể như: Chương trình vận động nhân dân thực hiện 3 chuồng 4 hố, 3giảm 3 tăng trong nông nghiệp Chương trình của Trung Ương của Hội phụ nữgồm 6 chương trình mục tiêu; chương trình mục tiêu quốc gia về y tế; chươngtrình 139 Các kênh tín dụng cho vay khá phổ biến của Ngân hàng chính sáchhoạt động khá phổ biến trên địa bàn xã.
Về cơ bản, các chương trình dự án đã có tác động tích cực đến đời sốngxã hội Nếu xác định nguyên nhân căn bản làm thay đổi cục diện kinh tế(giảm nghèo đói, tăng thu nhập, tài sản cho hộ gia đình), thay đổi cơ sở hạtầng, nâng cao năng lực thể của xã
Trang 37Chương 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận
4.1 Đa dạng sinh học của khu bảo tồn thiên nhiên
4.1.1 Đặc điểm đa dạng khu hệ thực vật khu bảo tồn thiên nhiên
- Dạng đỉnh có: Thông Pà Cò (Thông Ba lá), Thông tre lá ngắn,
- Dạng sườn có: Mạ nang, Sam đỏ, Nghiến, Táu và Lát hoa còn mọc rải rác
- Dạng chân: Có trữ lượng cây gỗ cao nhất nhưng ít gặp những cây quýhiếm, chủ yếu là: Chò chỉ, Thị, Nhãn, Sâng
+ Kiểu phụ thường xanh thung lũng: Diện tích khoảng 150 ha phân
bố ở độ cao 800 - 1000m Do đất tốt, ít dốc, thực vật sinh trưởng tốt và có trữlượng cao Kết câu 2 tầng: Tầng trên thường gặp là Chò chỉ, Thị rừng, Máuchó, Dâu da xoan; Tâng dưới bao gồm cây ưu bóng: Sâng, Trâm, Ôrô Phầnlớn rừng gỗ đã bị khai thác làm nương rẫy những nơi đất trống hoặc sau nươngrẫy có thảm tươi phát triển mạnh gồm cỏ lào, cỏ tranh, cỏ 3 cạnh Diễn thế saulớp thảm tươi có các loài cây ưu sáng mọc nhanh như Hu đay, Bo soi, Ba bét,Mần tang
+ Kiểu rừng kín thường xanh cao nguyên: Diện tích khoảng 200 ha,
phân bố rải rác ở độ cao 800 - 1000m, đất rừng tốt, thực vật sinh trưởng vàphát triển tốt, trữ lượng rừng cao Rừng kết cấu 2 tầng: Tầng trên gồm: Chòchỉ, Sâng, Trâm, Ruối rừng, khả năng tái sinh tốt
+ Kiểu rừng thường xanh núi đá: Diện tích khoảng 200 ha, tiếp giáp
với núi đá gần khu dân cư, rừng bị tác động nhiều, song đã có thời gian phục
Trang 38hồi Khu vực gần dân cư không còn loài quý hiếm và gỗ tốt Tầng trên còn sótlại một số cây cong queo sâu bệnh Tầng dưới chủ yếu là Giẻ, Ngát, Ràngràng và một số loài cây ưu sáng mọc nhanh Khu vực tiếp giáp với núi đá do
địa hình dốc, khó khăn, tầng trên còn sót lại một số loài cây như Chò chỉ, Táu,Thị Tầng dưới cây ưu bóng như Sâng, Trâm, Ôrô khả năng tái sinh và phụchồi rừng tốt cần được bảo vệ rừng và phát triển
* Hệ thực vật
Theo luận chứng Kinh tế Kỹ thuật (1993) và các kết quả điều tra bổsung của Viện sinh thái và tài nguyên sinh vật (năm 2001), kết hợp với kết quảnghiên cứu điều tra thực địa kiểm tra bổ sung của bản thân đã thống kê được
329 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 256 chi và 99 họ của 5 ngành thực vật
bậc cao gồm: Ngành quyết lá thông (Psildophyta), Ngành thông đất (Lycopodiophyta), Ngành Mộc tặc (Equisetophyta), Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta), Ngành hạt trần (Pinophyta), Ngành hạt kín (Magnoliophyta) gồm: Lớp hai lá mầm ( Magnoliopsida), Lớp một lá mầm
(Liliopsida) được thể hiện ở bảng sau:
Trang 39Những họ có nhiều loài Cỏ (24), Ba mảnh vỏ (19), Cúc (19), Dâu tằm(11), Lau (11), Vang (9), Gai (8)
Từ thành phần thực vật trên cho thấy khu hệ thực vật khu bảo tồn thiênnhiên Hang Kia - Pà Cò, là sự giao lưu giữa các yếu tố thực vật khác nhau.Trong đó, khu hệ bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung Hoa (Xoan, Dâu tằm, Đậu)
có số lượng trội hơn
Tiếp đó là khu hệ ấn Độ, Myanma (Gạo) Khu hệ di cư Indonexia (Dầu) coi như không đáng kể Tuy nhiên có những chi dung lượngTaxon ít nhưng khối lượng có thể lớn như: Trai, Nghiến, Thị giữ vài trò quantrọng trong tổ thành cây đứng
Malaixia-Trong khu bảo tồn có 30 loài cây quý hiếm được ghi trong Sách ĐỏViệt Nam cần được bảo vệ và phát triển Đặc biệt, ngành thông đất có 6 họ, 9chi và 11 loài thì đã có 6 loài thuộc dạng quý hiếm đã được ghi trong Sách ĐỏViệt Nam như:
1 Thông Pà Cò (Pinus kwangtungenis)
2 Thông tre lá ngắn (Podocarpus pilgeri)
3 Sam đỏ (Taxus chinensis )
4 Tuế núi đá (Cycas balansae)
5 Mạ nang (Platanus kerrii)
Trang 40Bảng 4-2: Thành phần phân loại học thú, chim, bò sát, ếch nhái và côn
trùng ở khu bảo tồn thiên nhiên
Nguồn: Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật (2001)
Theo kết quả bảng 4-2 đã thống kê được 479 loài và loài phụ, 136 họ,
35 bộ gồm: 47 loài thú thuộc 21 họ của 8 bộ; 144 loài và phân loài chim thuộc
45 họ của 14 bộ; 43 loài bò sát thuộc 14 họ của 2 bộ; 26 loài ếch nhái thuộc 6
họ của 2 bộ; 219 loài côn trùng thuộc 50 họ của 9 bộ
Về thú: 47 loài thuộc 21 họ và 8 bộ Trong đó số 8 bộ thì bộ ăn thịt có
số loài cao nhất: 19 loài (chiếm 40,42% số loài thú trong khu bảo tồn) Tiếp
đến là bộ Gặm nhấm có 11 loài (chiếm 31,91%), bộ Linh trưởng có 5 loài(10,63%), bộ Móng guốc ngón chẵn có 3 loài (6,38%), bộ ăn sâu bọ có 2 loài(4,25%) Các bộ còn lại là Bộ Nhiều răng, bộ Dơi, bộ Tê tê mỗi bộ chỉ có mộtloài Đặc biệt có 9 loài thú đã bị tiêu diệt và hầu như đã mất hẳn: Khỉ đuôi lợn(Macaca nemestrina), Khỉ mốc (Macaca assamensis), Voọc xám (Presbitisphayrei), Gấu chó (Helarctos malayanus), Cầy gấm (Priolodon pardicolor),Báo gấm (Neofelis nebulosa), Hổ (Panthera tigris), Nai (Cervus unicolor) và
Bò tót (Bos gaurus)
Về chim: 144 loài thuộc 45 họ của 14 bộ, chiếm ưu thế là bộ Sẻ với 87
loài thú; tiếp đến bộ Cu cu 10 loài; bộ Cắt 9 loài; bộ Gỗ kiến 8 loài; bộ Gà, bộ
Cú và bộ Sả 6 loài; bộ Bồ câu 5 loài; còn lại chỉ có từ 1-2 loài