Tuy nhiên trong khuôn khổ thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế đề tài mới chỉ bước đầu xây dựng được danh lục và đưa ra một số đặc điểm nhận biết về hình thái của các loài côn trùng thuộ
Trang 1Bùi Quang Tiếp
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÁC LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG (COLEOPTERA) Ở RỪNG KEO LAI, THÔNG CARIBÊ VÀ BẠCH ĐÀN DÒNG PN2, U6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẪY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà nội, 2011
Trang 2Bùi Quang Tiếp
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÁC LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG (COLEOPTERA) Ở RỪNG KEO LAI, THÔNG CARIBÊ VÀ BẠCH ĐÀN DÒNG PN2, U6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẪY
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM QUANG THU
Hà nội, 2011
Trang 3Bùi Quang Tiếp
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÁC LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG (COLEOPTERA) Ở RỪNG KEO LAI, THÔNG CARIBÊ VÀ BẠCH ĐÀN
DÒNG PN2, U6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẪY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
Hà nội 2011
Trang 4TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP
Bùi Quang Tiếp
ĐIỀU TRA THÀNH PHẦN CÁC LOÀI CÔN TRÙNG BỘ CÁNH CỨNG (COLEOPTERA) Ở RỪNG KEO LAI, THÔNG CARIBÊ VÀ BẠCH ĐÀN DÒNG PN2, U6 BẰNG PHƯƠNG PHÁP BẪY
Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Mã số: 60.62.68
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP
HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS PHẠM QUANG THU
Hà nội 2011
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình học tập và thực hiện Luận văn Thạc sĩ, tôi luôn được
sự động viên và giúp đỡ nhiệt tình của Phòng nghiên cứu Bảo vệ thực vật rừng- Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam, Phòng Quản lý bảo vệ rừng và nghiên cứu Lâm nghiệp xã hội- Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ và bạn bè đồng nghiệp
Nhân dịp này cho phép tôi bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến: Khoa đào tạo sau Đại học- trường Đại học Lâm nghiệp; Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện nghiên cứu đề tại này Đặc biệt cho tôi gửi lời cảm ơn chân thành đến giáo viên Phạm Quang Thu, người trực tiếp hướng dẫn, giúp đỡ tôi hoàn thành Luận văn tốt nghiệp
Tuy nhiên trong khuôn khổ thời gian và kinh nghiệm còn hạn chế đề tài mới chỉ bước đầu xây dựng được danh lục và đưa ra một số đặc điểm nhận biết về hình thái của các loài côn trùng thuộc Bộ cánh cứng trong phạm vi khu vực nghiên cứu Vậy chắc chắn đề tài không thể tránh được những thiếu sót nên rất mong được sự đóng góp
Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, toàn
bộ số liệu được đưa ra trong Luận văn là trung thực và một phần đã được đăng trên tạp trí Khoa học Lâm nghiệp của Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam do một số đồng nghiệp và tôi biên soạn năm 2010./
Tác giả
Bùi Quang Tiếp
Trang 6MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn i
Mục lục ii
Danh mục các bảng v
Danh mục các hình vi
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 3
1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới 3
1.1.1 Nghiên cứu về côn trùng nói chung 3
1.1.2 Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng 4
1.1.3 Những nghiên cứu về pheromone, chất dẫn dụ côn trùng và ứng dụng của nó 5
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước 9
1.2.1.Nghiên cứu về côn trùng nói chung 9
1.2.2 Nghiên cứu về côn trùng Bộ cánh cứng 10
1.2.3 Nghiên cứu về pheromone và chất dẫn dụ 11
1.2.3 Ứng dụng của bẫy pheromone và chất dẫn dụ 12
Chương 2: MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU- NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 14
2.1 Mục tiêu nghiên cứu 14
2.2 Phạm vi nghiên cứu 14
2.2.1 Phạm vi nghiên cứu 14
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu 14
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu 14
2.3 Nội dung nghiên cứu 14
Trang 72.4 Phương pháp nghiên cứu 15
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần các loài côn trùng cánh cứng thu được bằng phương pháp bẫy 15
2.4.2 Mô tả đặc hình thái và đặc điểm nhận biết các loài côn trùng cánh cứng thu được 21
2.4.3 Phương pháp đánh giá tác dụng của các loại chất dẫn dụ đến loài côn trùng cánh cứng 21
2.4.4 Phương pháp xác định động thái biến đổi về thành phần loài và mật độ quần thể côn trùng cánh cứng bẫy được theo thời gian 22
2.4.5 So sánh mức độ đa dạng của các loài côn trùng cánh cứng bẫy được ở ba loại rừng 23
Chương 3: ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ- XÃ HỘI 24
3.1 Vị trí địa lý- địa hình 24
3.2 Khí hậu thuỷ văn 24
3.3 Đất đai- thực bì 25
3.3.1 Đất đai 25
3.3.2 Thực bì 25
3.4 Một số đặc điểm vị trí tiến hành đặt bẫy 26
3.4.1 Rừng Thông caribê 26
3.4.2 Rừng keo lai 26
3.4.3 Rừng bạch đàn dòng PN2 và U6 26
3.5 Tình hình dân sinh kinh tế 26
Chương 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 27
4.1 Danh mục các loài côn trùng cánh cứng bẫy thông qua việc sử dụng ba chất dẫn dụ 27
4.2 Mô tả đặc điểm hình thái các loài côn trùng cánh cứng thu được 29
4.2.1 Họ vòi voi (Curculionidae) 29
Trang 84.2.2 Họ bọ cánh rô (Cleridae) 32
4.2.3 Họ mọt gỗ chân dài (Platypodidae) 33
4.2.4 Họ mọt dài (Bostrychidae) 34
4.2.5 Họ bọ đen (Tenebrionidae) 36
4.2.6 Họ mọt hại vỏ (Scolytidae) 36
4.2.7 Họ chân chạy (Carabidae) 41
4.2.8 Họ ban miêu (Meloidae) 44
4.2.9 Họ xén tóc (Cerambycidae) 45
4.2.10 Họ bọ hung (Scarabaeidae) 49
4.2.11 Họ bổ củi (Elateridae) 52
4.3 Hiệu quả của chất dẫn dụ đối với thành phần loài côn trùng cánh cứng 52
4.4 Động thái biến đổi về thành phần loài và mật độ quần thể của côn trùng cánh cứng bầy được theo thời gian 58
4.4.1 Động thái biến đổi về thành phần loài côn trùng cánh cứng thu được theo các mùa trong năm 58
4.4.2 Sự biến động về mật độ quần thể của một số loài côn trùng cánh cứng thu được theo các tháng trong năm 59
4.5 Đánh giá thành phần loài côn trùng cánh cứng ở 3 loại rừng 65
KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ KIẾN NGHỊ 68
1 Kết luận 68
2 Tồn tại 69
3 Kiến nghị 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG
4.1 Danh lục các loài côn trùng Bộ cánh cứng 27
4.2 Số lượng cá thể của các loài côn trùng cánh cứng thu được qua
Trang 10DANH MỤC CÁC HÌNH
2.2 Một số thao tác kiểm tra bẫy ở rừng Thông caribê 17
2.4 Một số địa điểm được tiến hành đặt bẫy 21
Trang 114.20 Ban miêu khoang vàng 42
58
Ghi chú: Hình ảnh các loài côn trùng trong Luận văn là do tác giả và đồng
nghiệp Vũ Văn Định chụp vào thời gian các tháng thu được mẫu trong năm
2010 và 2011
Trang 12MỞ ĐẦU
Lớp côn trùng là lớp phong phú nhất trong giới động vật Theo các nhà sinh vật học thì chúng ta đã biết hơn 1,2 triệu loài động vật trong số đó côn trùng chiếm hơn một nửa Chúng phân bố khắp mọi nơi, có vai trò quan trọng trong hệ sinh thái và là một mắt xích trong chuỗi thức ăn đồng thời cũng góp phần vào quá trình tuần hoàn chất Nước ta do có sự khác biệt lớn về khí hậu
từ vùng gần xích đạo tới giáp vùng cận nhiệt đới, cùng với sự đa dạng và phức tạp về địa hình trải dài từ Bắc vào Nam nên đã tạo sự đa dạng phong phú về các kiểu trạng thái rừng, điều này đã tạo ra sự đa dạng và phong phú không chỉ về giới thực vật mà cả giới động vật trong đó có lớp côn trùng Nói đến lớp côn trùng thì chúng ta phải đề cập ngay đến Bộ cánh cứng vì đây được coi là một trong những bộ lớn và cần phải được quan tâm nghiên cứu Theo số liệu điều tra công bố thì Bộ cánh cứng có khoảng 360.000 đến 400.000 loài, các loài này vừa là tác nhân gây hại đến sự sinh trưởng và phát triển cho các loài thực vật vừa lại là một nhân tố hữu ích trong việc cải tạo đất nâng cao năng suất cây trồng và có thể tạo ra những dòng tiến hoá mới thông qua việc thụ phấn cho các loài thực vật [23] Nên việc điều tra thành phần các loài côn trùng nói chung và côn trùng Bộ cánh cứng nói riêng có ý nghĩa hết sức quan trọng cả khoa học và ứng dụng thực tiễn
Ở nước ta mặc dù có ý nghĩa quan trọng như vậy nhưng những công trình nghiên cứu về mức độ đa dạng của côn trùng vẫn còn nhỏ lẻ, chỉ mang tính chất điều tra sơ bộ bên cạnh đó sử dụng một số phương pháp như khoanh vùng điều tra, điều tra theo tuyến hay lập ô tiêu chuẩn các phương pháp này đều mất khá nhiều thời gian và công sức
Các loài cây Thông caribe, keo lai và bạch đàn dòng PN2, U6 đều là những loài cây được di nhập vào nước ta, trong quá trình sinh trưởng phát
Trang 13triển ít nhiều chúng cũng có ảnh hưởng đến chuỗi dinh dưỡng và thu hút một
số loài động thực vật sinh sống đi theo
Trên cơ sở các bẫy và hai loại hóa chất dẫn dụ được nhập nội từ Ôxtrâylia, tác giả đã tự chế ra một loại mồi nhử nhằm để nắm bắt được thành phần loài côn trùng thuộc Bộ cánh cứng trên cây sống và gây hại ở một số loại rừng, đồng thời xây dựng phương pháp điều tra thành phần loài côn trùng cánh cứng thông qua tính xu hóa, tác giả tiến hành thực hiện đề tài:
“ Điều tra thành phần loài côn trùng Bộ cánh cứng (Coleoptera) ở rừng keo lai (Acacia hybrid), Thông caribê (Pinus caribaea) và bạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng U6, PN2 bằng phương pháp bẫy’’ tại Trung
tấm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ- Ngọc Thanh- Phúc Yên- Vĩnh Phúc với mục đích xây dựng danh lục các loài côn trùng thuộc Bộ cánh cứng ở khu vực điều tra nghiên cứu
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới
1.1.1 Nghiên cứu về côn trùng nói chung
Côn trùng học trở thành một ngành Khoa học bắt đầu từ 384-322 trước Công nguyên khi Aristoteles đã mô tả và sắp xếp thế giới động vật thành hai nhóm: không máu và có máu Sau đó đến năm 23-79 trước Công nguyên Cajus Plinius Secundus công bố các công trình và có sự phỏng đoán về sự hô hấp của côn trùng Aldrovandi vào thế kỷ XVI bắt đầu dụng thuật ngữ về côn trùng (Insecta) và có một khối lượng lớn về quan sát cách sinh sống, hình dạng của nhóm động vật này Th.Moufer dựa theo bản thảo của Conrad Gesner đã biên soạn thông tin về côn trùng thành một tài liệu và được công bố vào năm 1634 Từ những năm 1628 đến 1723 đã có những công trình nghiên cứu về giải phẫu côn trùng đáng kể nhất là của Marcello Malpighi và của Antony Leeuwenhoek Năm 1710, tài liệu “Historia Insectorum” của Ray đã được Hội hoàng gia Anh công bố Ông được coi là nhà côn trùng học đầu tiên
về hệ thông phân loại côn trùng nhưng cách mô tả và phân loại còn hạn chế, chưa chi tiết và khó hiểu Carl von Linne tiếp bước Ray xây dựng nền móng cho hệ thống phân loại hiện đại về côn trùng Ông đã phân chia chi tiết côn trùng thành các bộ, giống, loài Sau thời kỳ của Linne, số lượng các công trình nghiên cứu về côn trùng được phát triển bổ sung hoàn thiện nhưng Côn trùng học vẫn chỉ là một bộ phận của Động vật học chứ chưa trở thành một lĩnh vực riêng Từ năm 1801 đến 1897 các công trình nghiên cứu về côn trùng trong Lâm nghiệp và Nông nghiệp được xây dựng như của J.T.C Ratzeburg
và H.Nordlinge Cũng trong giai đoạn này các công trình nghiên cứu về côn
Trang 15trung phát triển mạnh mẽ ở các nước phát triển như: Đức, Mỹ, Canada, Pháp sau đó lan rộng sang các nước trên toàn thế giới
Ngày nay công trình nghiên cứu về côn trùng đã có những bước tiến vượt bậc, có trên 135 tạp trí chuyên khảo về côn trùng với các đội ngũ đông đảo các nhà khoa học chuyên sâu [1]
1.1.2 Nghiên cứu về côn trùng cánh cứng
Bộ cánh cứng (Coleoptera) là một trong những bộ có các loài côn trùng gây hại nguy hiểm cho ngành Nông lâm nghiệp, các loài gây hại không chỉ cho loài cây lá rộng, là kim mà cả các loại cây công nghiệp Trong số những loài côn trùng đó nổi lên hai loài xén tóc và mọt, đây là hai loài cánh cứng gây hại nhiều nhất Tác giả J.L Gressitt, J.A Rondon& S.von Breuning (1970) đã mô tả khá rõ và đầy đủ về đặc điểm sinh học và đặc điểm hình thái của một giống thuộc họ xén tóc (Cerambycidae) ở khu vực Lào, Trung Quốc
và một phần Việt Nam [20] Theo các nhà khoa học trên thế giới đã xác định rất nhiều loài mọt hại vỏ cây sống làm ảnh hưởng đến sự phát triển của cây, thâm trí còn làm chết cây và gây ra thành dịch trong đó có 06 loài chủ yếu
như: Ips calligraphus Germar, Ips grandicollis Eichhoff, Ips avulsus Eichhoff, Dendroctonus frontalis Zimmerman, Dendroctonus terebrans Olivier và Dendroctonus pondesae Hopkins (Albert E.M, 2005; Clyde S.G,
1999; Hiratsuka Y và cộng sự, 2004; Jame R.M và cộng sự, 2000; Jeffrey M.E và Albert E.M, 2006; Micheal D.C và Robert C.W, 1983) Sự gây hại và
trở thành dịch của loài Mọt Dendroctonus pondesae Hopkins đối với thông ở
Vườn quốc gia Banff thuộc bang Alberta năm 1940-1944 và miền Tây Nam bang Alberta Canada vào năm 1977-1985 thì phần lớn các loài Mọt này tấn công chủ yếu vào những cây bị tổn thương cơ giới hoặc những cây sinh
trưởng và phát triển kém Gần đây loài Mọt Tomicus piniperda đang trở thành
mối nguy hiểm cho loài thông ở các nước Châu Âu Cho nên các loài mọt gỗ
Trang 16nói chung, xén tóc và một số loài côn trùng nguy hại khác ngày càng được quan tâm nghiên cứu bởi những tác hại do chúng gây ra
1.1.3 Những nghiên cứu về pheromone, chất dẫn dụ côn trùng và ứng dụng của nó
1.1.3.1 Nghiên cứu về pheromone
Đầu thế kỷ XX, các nhà côn trùng học đã tiến hành các thí nghiệm nghiên cứu trên một số đối tượng côn trùng nhằm đưa ra cơ sở khoa học để giải thích cho hiện tượng vận động của côn trùng dưới ảnh hưởng của các yếu
tố hoá học Barrows (1907) đã mô tả tập tích của ruồi Dropsophila
melanogaster Mg dưới tác động của chất hấp dẫn Những nghiên cứu của
Kellog (1907) về phản ứng của ngài đực Bombyx mori L đối với mùi thơm
hấp dẫn của con cái Đến năm 1909 Freiling đã tiến hành nghiên cứu phản
ứng trên hai con đực ở hai giống Danais và Euploea (Lepidoptera) với mùi
thơm hấp dẫn từ con cái Một thời gian sau đó việc nghiên cứu này lại bị gián đoạn cho mãi đến năm 1932 khi Bethe tìm hiểu về đặc tính sinh hoá học của các chất thơm gây ra hiện tượng hấp dẫn và xua đuổi ở một số côn trùng cánh cứng và đã gọi các chất này với tên ektohormon, tiếp sau đó là các công trình nghiên cứu của Kaltofen (1951), Hass (1952), Kalmus (1955), Kohler (1955)
tiến hành trên ong mật Apis mellifera và hàng loạt những nghiên cứu của
Sengun (1954), Schwinek (1955), Ander (1959)…về tác động lôi cuốn của
con cái đối với con đực ngài Bombyx mori L Trong số những công trình
nghiên cứu thời bấy giờ phải kể đến công trình của Kullenberg, năm 1953 ông
đã tiến hành các thí nghiệm về tác dụng sinh học của của các chất thơm của con cái đối với con đực của 8 loài của họ Sphecidae, 21 loài của họ Apidae và các họ Chrysididae, Mutillidae, Vespidae và Ichneumonidae mỗi họ nghiên cứu đại diện một loài Ông đã so sánh các chất thơm này với tác dụng kích thích của hormon và nhận thấy giữa chúng có những điểm chung là đều có
Trang 17hoạt tính sinh học cao, đều gây ảnh hưởng đối với các tập tính của con vật và ông đã gọi chất thơm này là parahormon Sau hàng loạt các tên gọi được đưa
ra cho loại chất thơm kể trên được đông đảo các nhà khoa học thống nhất gọi một cái tên là pheronmone Pheromone theo định nghĩa của Peter Karlson và Martin Lüscher công bố vào năm 1959 là một chất được tiết ra môi trường bên ngoài từ một cá thể và được nhận biết ở một cá thể thứ hai cùng loài Sau nhiều công trình nghiên cứu các nhà khoa học đã chứng minh rằng pheromone có thể được tiết ra từ các tuyến khác nhau của cơ thể động vật chứ không phải chỉ được tiết ra ở một tuyến nhất định như trước đây người ta nghĩ vậy Ở một số loài côn trùng, ngoài các pheromone được tiết ra từ các tế bào biểu bì của lớp phôi ngoài còn có các pheromone được tiết ra từ các tế bào tuyến biểu bì ở phần nếp gấp gian đốt cơ thể Theo tính chất tác động, pheromone được chia làm nhiều loại khác nhau như: pheromone tập hợp
(aggregation pheromones) chỉ tạo ra bởi một giới trong cùng một chủng loài
và chúng có tác dụng hấp dẫn đến cả hai giới Pheromone báo động (alarm pheromones) một vài loài khi bị tấn công bởi động vật ăn thịt, một vài loài tiết
ra những hợp chất bay hơi để các thành viên khác bay đi (như ở con rệp vừng) hoặc tụ lại (như ở ong) Ngoài ra pheromone cũng tồn tại trong cây cỏ Một số loại cây tỏa ra pheromone khi chúng bị trầy xước khiến những cây khác tăng hàm lượng tannin (có vị đắng) trong cây khiến cho cây trở nên kém ngon
miệng đối với động vật ăn cỏ; pheromone đánh dấu lãnh địa (territorial
pheromones), những loại pheromone này được phóng thích vào trong môi trường để đánh dấu biên giới giữa những vùng lãnh thổ của động vật Pheromone đánh dấu lãnh địa chỉ dùng cho con cái (epideictic pheromones), côn trùng cái dùng những loại pheromone này được nhận dùng để đánh dấu lãnh địa của chúng và nhận biết được bởi những con khác Ông Fabre, nhà côn trùng học người Pháp, trong nửa cuối thế kỷ XIX và đầu thế kỷ XX đã
Trang 18phát hiện ra những con cái đẻ trứng trên trái cây cùng với những hợp chất huyền bí quanh tổ của chúng để gửi tín hiệu đến những con cái khác cùng loài
để chúng khác phải làm tổ ở nơi nào đó khác Pheromone dẫn dụ (releaser pheromones) đây là những hợp chất hấp dẫn cực mạnh mà một vài loài dùng
để hấp dẫn bạn tình trong khoảng cách hai dặm hoặc xa hơn Loại pheromone này được đáp trả nhanh chóng nhưng rất mau suy giảm Trái lại những pheromone theo mùa (primer pheromone) có tác dụng chậm hơn nhưng lại lâu
hơn rất nhiều; pheromone báo hiệu mùa (primer pheromones) đây là loại
pheromone gây ra sự thay đổi của những giai đoạn phát triển của động vật
Pheromone dẫn đường (trail pheromones) loại này rất phổ biến trong hoạt động xã hội của côn trùng; pheromne sinh dục (sex pheromones) ở động vật,
pheromone sinh dục thể hiện con cái đã đến lúc sẵn sàng cho việc sinh sản Những con đực cũng tiết ra pheromone để truyền tải thông tin về chủng loài
và loại gien Nhiều loại côn trùng có thể tiết ra pheromone sinh dục có sức hấp dẫn bạn tình Các loài thuộc bộ Lepidoptera có thể phát hiện ra con cái ở cách xa đến 10 km Ở loài lưỡng tính, pheromone được dùng để dẫn dụ con khác giới đến để thụ tinh Các loại pheromones khác chưa được phân loại pheromone một cách chủ quan dựa trên trên ảnh hưởng của chúng đến hành vi của động vật Pheromone có thêm nhiều chức năng phụ như loại pheromone hướng dẫn về tổ ở loài ong, pheromone của ong chúa, pheromone làm cho khuây khỏa Pheromone yếu tố truyền tin bằng hóa học được xem như là dạng
cổ sơ nhất trong các nguyên tắc cơ bản của thông tin và tồn tại đặc biệt phong phú trong lớp côn trùng Người ta đã tìm thấy pheromone ở 350 loài côn trùng thuộc 12 bộ khác nhau (Hinhiclo) và theo phỏng đoán của Hall (1965) trong tương lai người ta có thể tìm thấy tác dụng pheromone ở tất cả các bộ của côn trùng Còn theo Wright (1960) cho biết đã có trên 400 chất có tác dụng hấp dẫn đối với côn trùng tuy nhiên không phải tất cả cá chất đó đều là
Trang 19pheromone Ngoài ra pheromone còn được tìm thấy ở nhiều loài động vật khác như giáp xác, nhện, cá, rắn, Sơn Dương, chuột…Mặc dù động vật có xương sống có sử dụng pheromone đễ trao đổi tín hiệu nhưng côn trùng mới
là kẻ sử dụng pheromone một cách thiện nghệ nhất Như pheromone của bọ Nhật bản và bọ gypsy có thể dùng để điều khiển nhiều hành vi khác nhau như theo dõi, kiểm soát số lượng qua việc kết đôi và đẻ trứng, tiết ra chất Bombykol để hấp dẫn bạn tình Tốc độ và khối lượng các công trình nghiên cứu về pheromone ở côn trùng cũng như ở các nhóm động vật khác ngày càng được quan tâm nhiều hơn chỉ tính riêng nhóm nghiên cứu của giáo sư Kuwahara ở trường Đại học tổng hợp Kyoto Nhật Bản trong vòng 31 năm (1967-1998) đã có 250 công trình liên quan đến Pheromone được công bố Như vậy có thể nói pheromone đã trở thành chủ đề hấp dẫn cho các nhà nghiên cứu trên thế giới, nó đã trở thành dòng suy nghĩ mới trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học
1.1.3.2 Ứng dụng của pheromone
Sau những quá trình nghiên cứu về pheromone con người đã tìm ra được bản chất của loại hợp chất này và bắt đầu sản xuất các dạng pheromone nhân tạo khác nhau để ứng dụng vào công tác phòng trừ sâu hại của một số tác giả: Burkholder (1979), Levinson (1979), Hodges (1984) và một tác giả khác Cũng đã có một số phương pháp phòng trừ các loài sâu hại như: sử dụng các loại bẫy đèn, bẫy hố, mồi nhử và cả sử dụng thuốc trừ sâu đã diễn ra khá phổ biến trước đây, tuy nhiên hiệu quả phòng trừ của chúng chưa cao mà còn ảnh hưởng đến các sinh vật khác và môi trường xung quanh Trong những năm gần đây con người đã nghiên cứu chi tiết hơn về pheromone của một số loài sâu hại thì việc phát triển ứng dụng các loại bẫy đơn giản với mồi nhử pheromone nhân tạo để hấp dẫn các loài này đã giúp chúng ta xây dựng được nhiều loại chất dẫn liệu sinh học quan trọng trong việc phòng trừ có hiệu quả,
Trang 20hạn chế tối thiểu việc sử dụng thuốc trừ sâu, ngăn ngừa kịp thời sự xâm nhiễm
và nguy cơ gây hại của các loài sâu hại Burkholder (1974) đã rất lạc quan phát biểu rằng pheromon là một phương tiện đầy quyền lực góp phần rất hiệu quả trong việc chế ngự côn trùng gây hại đồng thời cũng dự báo là pheromon
sẽ sớm được áp dụng rộng rãi ở các nước nghèo với giá thành hạ và sẽ mở ra một tương lai sáng lạn cho việc phát hiện và giám sát những loài côn trùng gây hại quan trọng [14] Đến năm 1984 thì Hodges đã đưa ra quan điểm cần
sử dụng pheromone và các chất hấp dẫn để tập trung khi xử lý phương pháp gây bệnh hoặc xử lý thuốc trừ sâu Điều này đã được chứng minh tính hiệu quả trong việc sử dụng bẫy pheromone gồm cả mồi pheromone hấp dẫn ngài hại kho với diclofos trong kho bột mì ở Châu Âu Trên thế giới nhiều nước
đã sử dụng bẫy pheromone trong việc giám sát quần thể sâu hại, các pheromone nhân tạo đã được sản xuất ở nhiều nước như Rumani, Bulgarie, Đức, Mĩ… Tại một số nước công nghiệp phát triển người ta đã xem các loại bẫy pheromone côn trùng như một loại hàng hóa bình thường khác Trong gần
50 năm trở lại đây với tốc độ phát triển nhanh chóng của các ngành khoa học
kỹ thuật người ta đã thấy được những ảnh hưởng to lớn của lớp côn trùng đối với cuộc sống và nhận thấy sự phong phú đa dạng trong đời sống của chúng
vì vậy côn trùng học đã trở thành một ngành khoa hoc chính xác thu hút sự quan tâm, đam mê của nhiều người Đặc biệt lĩnh vực nghiên cứu pheromone côn trùng là một trong những vấn đề mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn sâu sắc Các kết quả nghiên cứu về pheromone đã mở ra triển vọng mới cho công tác phòng trừ sâu hại góp phần làm phong phú thêm biện pháp kỹ thuật sinh học phòng trừ sâu hại Hơn nữa những nghiên cứu về tác dụng của pheromone cũng làm phong phú nội dung và những hiểu biết của ngành nghiên cứu sinh học
1.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
1.2.1.Nghiên cứu về côn trùng nói chung
Trang 21Nghiên cứu về côn trùng đầu tiên ở Việt Nam được biết đến là công trình của đoàn nghiên cứu tổng hợp của Pháp mang tên Mission Pavie, đoàn
đã tiến hành khảo sát ở cả khu vực Đông Dương từ năm 1879 đến 1895 đã xác định được 08 bộ, 85 họ và 1040 loài côn trùng Nhưng phần lớn mẫu lại được thu thập ở Lào, Campuchia Các mẫu côn trùng thu được đều lưu trữ ở các Viện bảo tàng ở Paris, London, Geneve và Stockholm Đến những năm đầu của thế kỷ XX có công trình nghiên cứu về Bộ cánh vẩy (Lepidoptera) của J.de Joannis mang tên “Lepidopteres du Tonkin” và được xuất bản ở Paris năm 1930 Tác giả đã thống kê được ở Việt Nam có 1798 loài thuộc 746 giống và 45 họ Điều tra trên các loài cây Lâm nghiệp có các công trình nghiên cứu của Bourret (1902), Vieil (1912) và Phạm Tự Thiện (1922) nhưng chủ yếu là trên cây Bồ đề và Sồi Bùi Công Hiển (1995) cũng để cập được đến một số loài mọt hại kho [2] Trần Công Loanh, Nguyễn Thế Nhã (1997)
đã mô tả đặc điểm hình thái và sinh học của một số bộ phổ biến ở Việt Nam [4] Phạm Quang Thu và cộng sự (2006) đã xác định được nguyên nhân cây Đước chết là do sâu đục thân thuộc họ Cossidae bộ cánh vẩy Lepidoptera gây
ra Lê Văn Bình, Đặng Thanh Tân và Phạm Quang Thu (2006) đã xác định
được hai loài bọ xít là Bọ xít đùi gai to (Notobitus meleagris) và Bọ xít đùi gai nhỏ (Notobitus sp.) hại măng Luồng ở Thanh Hoá Và còn rất nhiều các
công trình khác đã được công bố trên tạp trí trong lĩnh vực nghiên cứu Lâm nghiệp và của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thông
1.2.2 Nghiên cứu về côn trùng Bộ cánh cứng
Có các công trình nghiên cứu về thành phần các loài côn trùng ở Việt nam của các tác giả người nước ngoài: L.Fairmaire (1893), Boucoment và I Giller (1921), Boucoment (1923-1924), S.H Chen (1934), M.F Paulian (1931-1934 và 1945) Còn ở trong nước phải nói đến một số tác giả như: Lê Văn Nông (1985) đã đưa ra một sô loài côn trùng chính hại tre gỗ ở miền Bắc
Trang 22Việt Nam [6] Lê Văn Nông (1991) đã mô tả và đề cập đến một số loài mọt hại gỗ và vỏ gỗ ở Việt Nam [7] Lê Văn Lâm (1994) đã mô tả, xác định được
sự phân bố và đưa ra biện pháp phòng trừ một số loài xén tóc nguy hại ở 44 loài gỗ khô khác nhau Lê Văn Nông (1999) cũng đã mô tả được đặc điểm hình thái và đặc điểm sinh học của 58 giống thuộc 8 họ và phân họ mọt và xén tóc [9] Phạm Quang Thu (2006) đã tìm ra được nguyên nhân gây bệnh
héo Thông ba lá (Pinus kesiya) là do gián tiếp một loài xén tóc gây ra [10]
Nguyễn Thuý Nga và Phạm Quang Thu (2007), đã xác định được các loài mọt
Ips calligraphus Germar, giống Ips và Dendroctonus chính là véc tơ gây
truyền bệnh nấm xanh Ophiostoma gây bệnh làm chết Thông mã vĩ [5].Phạm Quang Thu và Ngô Văn Cầm (2008) cũng đã mô tả được hình thái loài xén tóc đục thân bạch đàn ở Gia Lai Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), đã mô
tả đặc điểm hình thái, đặc điểm sinh học tập tính của loài xén tóc Trirachys
và Lê Văn Bình (2010) đã mô tả được đặc điểm của Xén tóc đen vân ánh bạc
đục thân Xoan ta (Melia azedazach) là loài (Aeolesthes holosericea) thuộc giống Aeolesthes Phạm Quang Thu và cộng sự (2010), bằng việc sử dụng
phương pháp bẫy pheromone thu được và mô tả 12 loài côn trùng thuộc 7 họ khác nhau trong bộ cánh cứng ở khu vực Đại Lải –Vĩnh Phúc [13]
Nhìn chung các công trình nghiên cứu về côn trùng nói chung và côn trùng thuộc Bộ cánh cứng nói riêng cho đến nay còn ít chỉ mang tính chất điều tra cơ bản , nhỏ lẻ, tập trung nhiều về cây nông nghiệp, cây công nghiệp, còn nghiên cứu côn trùng trên công Lâm nghiệp vẫn chưa được quan tâm nhiều và các nhà nghiên cứu của Việt Nam về lĩnh vực còn hạn chế
1.2.3 Nghiên cứu về pheromone và chất dẫn dụ
Ở nước ta việc nghiên cứu pheromone bắt đầu từ những năm đầu thập
niên 70 của thế kỷ trước trên đối tượng là mọt (Trogoderma granarium
Trang 23Everts) và bọ cánh cứng (Blaps mucronata Latr) [1] Cũng trong khoảng thời
gian này cũng có một số cán bộ của viện Hóa công nghiệp đã nghiên cứu thử
nghiệm chất Methyleugenol làm chất hấp dẫn ruồi hại cam (Dacus dosalis)
tuy nhiên chất này không phải là một pheromone Nước ta có rất ít công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, kết quả nghiên cứu của một số tác giả mới chỉ dừng lại ở việc chứng minh sự tồn tại và sự tác động của pheromone trong đời sống động vật chứ chưa có nhiều nghiên cứu chúng về mặt lý luận khoa học
và thực tiễn Từ năm 1980 trở lại đây việc nghiên cứu pheromone ở nước ta
có nhiều chuyển biến hơn, cũng có một phần nhỏ nói về pheromone côn trùng Với điều kiện Khoa học kỹ thuật hiện nay của nước ta thì việc nghiên cứu đầy đủ quy luật tác động cũng như vai trò của pheromone đối với đời sống động vật nói chung, trong đời sống côn trùng không còn là vấn đề quá khó khăn nữa nên chúng ta có thể tin trong tương lai không xa những nghiên cứu về pheromone của các nhà khoa học nước ta sẽ mang lai nhiều thành công mở ra nhiều triển vọng mới cho ngành côn trùng học ứng dụng
1.2.3 Ứng dụng của bẫy pheromone và chất dẫn dụ
Từ những năm 1980 trở lại đây Cục Bảo Vệ Thực Vật và Viện Bảo Vệ Thực Vật thuộc Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn đã tiến hành sử dụng một số loại bẫy chất pheromone nhập khẩu từ nước ngoài đối với côn trùng gây hại ngoài đồng ruộng và trong kho Có khoảng hơn 20 lọai bẫy chất pheromone được nước ta nhập khẩu về phòng trừ côn trùng gây hại trong kho Như các loại thương phẩm: TDA, HAD, Stegobinon, Truncall 1, Truncall 2;…[3] Từ năm 2001 đến nay Viện Bảo Vệ Thực Vật đang hợp tác với các chuyên gia Trung Quốc nghiên cứu áp dụng pheromone vào phòng trừ côn trùng gây hại ngoài đồng ruộng Đến năm 2009 GS.TS Nguyễn Công Hào, viện Công nghệ hóa học TP.HCM vừa chế tạo thành công một sản phẩm bẫy côn trùng bằng mồi nhử pheromone, với khả năng diệt côn trùng cao bằng
Trang 2490% so với mẫu tương tự ngoại nhập mà giá thành chỉ bằng 1/3 Ngoài ra bẫy pheromone có tính chuyên biệt với từng đối tượng cụ thể nên khi sử dụng không có ảnh hưởng đến các loài khác và nếu dư thừa cũng không gây ảnh hưởng gì đến sinh vật khác và môi trường Riêng đối với côn trùng ngoài khả năng sử dụng pheromone làm tăng sản lượng côn trùng có lợi thì chủ yếu hiện nay người ta tập trung sử dụng chúng như một giải pháp mới để phòng trừ sâu hại Việc sử dụng pheromone đã được chứng minh là không gây độc với người, vật nuôi cây trồng nên nhiều tác giả đã gọi chúng là thế hệ thứ ba của thuốc hóa học phòng trừ sâu hại Trong các biện pháp sinh học những biện pháp đang được quan tâm áp dụng và phát triển hiện nay có sử dụng đến phương pháp bẫy pheromone Như vậy với việc chế tạo thành công bẫy pheromone có tính năng cao, giá thành hạ đã mở ra hướng mới cho công tác phòng trừ côn trùng gây hại ở nước ta Việc thay thế các loại thuốc bảo vệ thực vật bằng các loại bẫy pheromone có thể thực hiện được trong một tương lai không xa
Trang 25Chương 2 MỤC TIÊU, PHẠM VI NGHIÊN CỨU- NỘI DUNG
VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Xác định thành phần các loài côn trùng Bộ cánh cứng ở rừng keo lai
(Acacia hybrid), Thông caribê (Pinus caribaea) và bạch đàn (Eucalyptus
2.2.2 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các loài côn trùng thuộc Bộ cánh cứng ở rừng
keo lai (Acacia hybrid), Thông caribê (Pinus caribaea) và bạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng PN6, dòng U2
Ba loại chất dẫn dụ để bẫy côn trùng cánh cứng
2.2.3 Địa điểm nghiên cứu
Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ- Ngọc Thanh- Phúc Yên- Vĩnh Phúc
2.3 Nội dung nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài cần một số nội dung sau:
- Điều tra thành phần loài côn trùng Bộ cánh cứng bằng phương pháp bẫy
Trang 26- Mô tả đặc hình thái và đặc điểm nhận biết loài côn trùng cánh cứng thu được
- Đánh giá hiệu quả của các loại chất dẫn dụ đến loài côn trùng cánh cứng
- Động thái biến đổi về thành phần loài và mật độ quần thể của các loài bẫy được theo các mùa trong năm
- So sánh mức độ đa dạng của các loài côn trùng cánh cứng bẫy được ở rừng trồng keo lai (Acacia hybrid), Thông caribê (Pinus caribaea) và bạch đàn (Eucalyptus urophylla) dòng PN6, dòng U2
2.4 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành thực hiện một số nội dung trong đề tài có các phương pháp sau:
2.4.1 Phương pháp điều tra thành phần các loài côn trùng cánh cứng thu được bằng phương pháp bẫy
2.4.1.1 Mô tả bẫy và cách đặt bẫy
a Cấu tạo bẫy
Bẫy gồm các phần các bộ phận sau (hình 2.1):
- Phần nón trên (C) được giữ trên phần thân bẫy
- Phần thân (D) được treo bởi dây treo (B)
- Phần nón dưới (F) có các lỗ hổng phía dưới và được gắn với khay đựng dung dịch (H) bởi các chốt giữ (G)
- Mồi nhử được đặt cố định ở lỗ hổng ở giữa thân (E)
Trang 27(3) Dung dịch lưu giữ
(4) Bìa cứng (ghi số hiệu của bẫy)
(5) GPS (ghi vị trí đặt bẫy)
(6) Xô có nắp (pha trộn dung dịch)
(7) Cốc đong (đong lượng dung dịch)
(8) Dây thép (treo và cố định bẫy)
(9) Găng tay (trộn dung dịch và treo mồi nhử)
(10) Rây (đổ mẫu và dung dịch)
(11) Xô (đổ dung dịch)
(12) Bình phun nước (rửa khay đựng dung dịch)
(13) Vải sạch (lau chùi bẫy)
(14) Vải lọc (đổ mẫu)
(15) Túi ni lông hoặc lọ nhựa có nắp (lưu giữ mẫu)
(16) Bìa cứng (ghi nhãn mác)
(17) Bút chì (ghi nhãn mác)
(18) Dung dịch dùng để cất giữ côn trùng bẫy được trong khay khỏi bị
hư hòng (khoảng 10 ngày tiến hành thay 1 lần) Thành phần trong dung dịch bao gồm: Ethanol, nước tẩy không mùi, glycerol và nước Với tỷ lệ 400ml ethanol+ 20 ml nước tẩy không mùi+ 100 ml glycerol+ 1480 ml nước có thể chia cho ba bẫy [15]
Lựa chọn địa điểm có những cành thấp hoặc có thể dùng dây nối 2 cây với nhau (A) để treo bẫy và đảm bảo khay đựng dung dịch cao cách mặt đất khoảng 1m đến 1.5 m Sau khi tiến hành đặt bẫy phải kiểm tra lại day treo đảm bảo không có kiến, đầu khoá giữa khay đựng dung dịch với các điểm nối của phần nón dưới đểm đảm bảo độ chắc chắn (hình 2.2)
Trang 28Hình 2.1: Cấu tạo và cách treo đặt bẫy
Hình 2.2: Một số thao tác kiểm tra bẫy ở rừng Thông caribê
Trang 29c Cách thu mẫu và vệ sinh bẫy
Tháo khay đựng dung dịch Dung dịch lưu giữ được đổ qua vải lọc và rây đảm bảo rằng không có mẫu côn trùng nào bị bỏ sót.Sử dụng bình phun nước để rửa sạch khay đựng dung dịch Vải lọc được gấp lại và cho vào túi ni long Cho vào túi ni lông nhãn bao gồm các thông tin: địa điểm, ngày, người thu, số hiệu bẫy (chỉ được dùng bút chì) Không được dùng lại dung dịch lưu giữ mẫu, bắt buộc phải thay mới Đặt khay lại đúng vị trí và đổ dung dịch mới vào Lau chùi sạch bẫy bằng vải hoặc chổi lông Kiểm tra mồi nhử và thay thế nếu mồi nhử bị hỏng hoặc khô Mồi nhử được thay thế 10 ngày 1 lần, cũng là vào thời gian thu mẫu (lưu giữ mồi nhử trong tủ đá và luôn được duy trì trong điều kiện lạnh trong quá trình di chuyển Phải sử dụng găng tay khi treo mồi nhử và cố định mồi nhử tại lỗ hổng ở giữa bẫy (hình 2.3)
Hình 2.3: Một số thao tác thu mẫu và vệ sinh bẫy
Trang 31d Cách lưu giữ mẫu
Mẫu côn trùng thu được được cất giữ trong tủ đá tránh bị mất màu và bị hư hỏng Nếu cần làm mẫu thì sau khi mang ra từ tủ đá cần phải giám định tên, ghi ngày tháng năm thu mẫu côn trùng vào phiếu Sau đó mẫu phải được cắm bằng kim Đối với côn trùng cánh cứng như Bọ rùa, Bọ hung…thì kim cắm có
vị trí nằm phía ở phía đỉnh dưới của tám giác đều mà đáy của nó là chiều rộng của gốc cánh sát với phần ngực Còn đối với côn trùng như mọt thì cần phải
có keo dính rồi dính vào miếng bìa nhỏ hình tam giác Cả hai loại trên sau khi làm xong công đoạn trên đều được để vào lò sấy ở mức nhiệt độ khác nhau tuỳ theo mục đích sử dụng (thường 30oC)
2.4.1.2 Địa điểm đặt bẫy
Địa điểm đăth bẫy mà đề tài thực hiện ở ba loại rừng cần phải đảm bảo một số tiêu chí (hình 2.4):
- Lựa chọn địa điểm đặt bên trong hoặc gần với khu rừng mình muốn thu mẫu
- Vị trí đặt bẫy phải là nơi có nhiều côn trùng bay qua như: nơi có lối đi hẹp hoặc những khoảng trống trong rừng và phải dễ dàng tiếp cận được với nơi đặt bẫy, nhưng lưu ý tránh khu vực đông người để giảm thiểu ảnh hưởng đến bẫy
- Khoảng cách tối thiểu giữa các bẫy là 200m
- Nơi đặt bẫy phải dễ quan sát được và có bóng dâm nhằm giảm sự bay hơi của dung dịch lưu giữ mẫu và mồi nhử
- Bẫy phải được giữ cố định bằng cách buộc với những cây bên cạnh tránh tác động của gió
Mỗi bẫy cần được gắn số hiệu rõ ràng cùng các thông tin về địa điểm đặt bẫy
Trang 32Hình 2.4: Một số địa điểm được tiến hành đặt bẫy
2.4.2 Mô tả đặc hình thái và đặc điểm nhận biết các loài côn trùng cánh cứng thu được
Dùng kính hiển vi soi nổi, kính lúp để quan sát đặc điểm hình thái: kích thước, màu sắc, hình dạng, râu đầu….của côn trùng cánh cứng bẫy được
Giám định mẫu và phân loại thành phần các loài dựa vào khóa tra phân loại và một số tài liệu có liên quan như: Côn trùng hại gỗ và biện pháp phòng trừ của tác giả Lê Văn Nông, Pacific insects monograph 24 của tác giả J.L Gressitt, J.A Rondon &S Von Breuning và một số website được ghi ở phần tài liệu tham khảo
2.4.3 Phương pháp đánh giá tác dụng của các loại chất dẫn dụ đến loài côn trùng cánh cứng
Đề tài sử dụng ba loại chất dẫn dụ: cồn + nhựa thông (tự chế); apinhi, 9E15-1 (nhập từ Ôxtrâylia) để tiến hành nghiên cứu
Trang 33Kết quả của mỗi loại chất dẫn dụ ở từng loại rừng được thống
kê vào mẫu bảng 2.1
Bảng 2.1: Kết quả thu mẫu côn trùng bộ cánh cứng ở ba loại rừng
2.4.4 Phương pháp xác định động thái biến đổi về thành phần loài và mật
độ quần thể côn trùng cánh cứng bẫy được theo thời gian
Thông qua số liệu và thông tin thu thập về các loài côn trùng cánh cứng thu được ở các đợt bẫy trong các mùa sẽ được tổng hợp phân tích xử lý được thể hiện ở bảng 2.2
Bảng 2.2: Số loài côn trùng cánh cứng thu được ở mỗi loại rừng
Cồn + nhựa thông (số loài thu được)
9E 15-1 (số loài thu được)
Trang 342.4.5 So sánh mức độ đa dạng của các loài côn trùng cánh cứng bẫy được
ở ba loại rừng
Qua số liệu côn trùng cánh cứng thu thập ở mỗi loại rừng được phân tích, đánh giá về mức độ phong phú về thành phần loài và số lượng cá thể trong mỗi loài côn trùng cánh cứng thu được và thống kê trong mẫu bảng 2.3
Bảng 2.3: Mức độ đa dạng của các loài côn trùng ở từng loại rừng
9E 15-1 Apinhi
Cồn+
nhựa thông
9E 15-1 Apinhi
Cồn+
nhựa thông
9E 15-1
1
Trang 35
Chương 3 ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN- KINH TẾ- XÃ HỘI 3.1 Vị trí địa lý- địa hình
Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc Bộ nằm ở vị trí 21º20'- 21º25' vĩ độ Bắc, 105º45'- 105º50' kinh độ Đông thuộc địa bàn xã Ngọc Thanh - Thị xã Phúc Yên - Tỉnh Vĩnh Phúc Trung tâm hiện đang quản
lý 906,8ha đất lâm nghiệp phục vụ cho nghiên cứu Khoa học Lâm nghiệp
- Phía Bắc giới hạn bởi đỉnh Tam Tương cao 368m có đường biên giới với Thôn Đồng Tâm, Đồng Câu, Đồng Trầm là hệ thống dông núi Tam Tương - Đỉnh Cột Cờ
- Phía Tây và Tây Nam giáp với hồ Đại Lải
- Phía Đông và Đông nam tiếp giáp với thôn Thanh Cao được phân chia theo ranh giới theo con đường ôtô đi Đèo Bụt
- Phía Nam ranh giới được xác định là hồ nước cuối thôn Thanh Cao theo con suối qua đập tràn xuống hồ Đại Lại
- Toàn bộ đất đai của Trung tâm thuộc vùng đồi núi thấp độ cao so với mặt nước biển phổ biến từ 25 đến 30m, có một số đỉnh cao hơn 300m đỉnh cao nhất là đỉnh Tam Tương cao 386m phần lớn có độ dốc 20, phù hợp với việc canh tác bằng cơ giới Địa hình bị chia cắt mạnh tạo thành các thung lũng hẹp và ngắn chảy xuống hồ Đại Lải
3.2 Khí hậu thuỷ văn
Khí hậu khu vực nghiên cứu chịu ảnh hưởng chung của toàn bộ khu vực Trung tâm Theo số liệu quan trắc của trạm khí tượng của Trung tâm cho thấy:
- Lượng mưa bình quân hàng năm là 1450mm với 151 ngày mưa
- Lượng bốc hơi nước là 927mm và độ ẩm tương đối không khí là 80%
- Nhiệt độ không khí bình quân là 230C
Trang 36- Nhiệt độ tối cao bình quân không quá 33.5 C nhưng tối cao tuyệt đối lên tới 37,4 C
Điều đáng chú ý là từ tháng 5 đến tháng 10 nhiệt độ không khí bình quân từ 25C đến 30 C đồng thời cũng là những tháng có lượng mưa cao (từ
188 đến 500mm) Đây là thời vụ thích hợp để trồng cây, những tháng còn lại
có nhiệt độ thấp từ 16,2 C (tháng 1) đến 24 C (tháng 4) và lượng mưa cũng thấp từ 24,3 mm (tháng 3) đến 123 mm (tháng 11), mưa tập trung theo mùa
Như vậy thời vụ trồng cây thích hợp nhất là khoảng từ tháng 5 đến tháng 10 vì đây là thời gian có mưa tập trung độ ẩm đất cao, cây trồng có tỷ lệ sống cao, còn các tháng khác trong năm thì khô hạn hơn nên không thích hợp cho việc trồng cây
3.3 Đất đai- thực bì
3.3.1 Đất đai
Đất đai ở đây chủ yếu là đất Feralit đỏ vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét, tầng đất mỏng đến trung bình (20- 50cm), rất ít nơi có độ dày trên 1m Thành phần cơ giới thịt nhẹ, tỷ lệ kết von từ 50 đến 70%, tầng dưới bị đá ong hoá nên rất cứng Các kết điều tra phân tích cho thấy nhìn chung đất có tầng phong hoá dày trung bình, nhưng do bị xói mòn và laterit hoá mạnh nên thường có kết von cứng chiếm 50-70% bề mặt phẫu diện và hàm lượng sét không lớn khoảng 30% độ chua pH khoảng 3,9- 4,0
3.3.2 Thực bì
Thực bì gồm nhiều loại cây nhưng chủ yếu là cây bụi và cây gỗ nhỡ như Thẩu tấu, Thành ngạnh, Sim, Tế guột… chiều cao trung bình từ 0,5 đến 2,5m nhiều tầng tán, xâm lấn và cạnh tranh mạnh với cây trồng nhất là khi giai đoạn cây trồng ở độ tuổi 1 và 2
Trang 373.4 Một số đặc điểm vị trí tiến hành đặt bẫy
3.4.1 Rừng Thông caribê
Đây là một khu rừng giống Quốc gia có diện tích 30ha được trồng năm 1986- 1987 trên nền đất Feralit đỏ vàng hoặc vàng đỏ phát triển trên phiến thạch sét với mật độ 350 cây/ha Thực bì thưa thớt chủ yếu là Tế guột và Thành ngạnh
3.4.2 Rừng keo lai
Rừng keo lai có diện tích gần 10ha, được trồng năm 1997 trên nền đất Feralit đỏ với mật độ 2000 cây/ha Thực bì là một số các loài Sim, Mua, Thành ngạnh, Tế guột
3.4.3 Rừng bạch đàn dòng PN2 và U6
Rừng bạch đàn có diện tích 15ha, được trồng năm 1997 trên nền đất Feralit đỏ vàng vơi mật trồng 2000 cây/ha Thực bì ít phát triển chủ yếu loài Thành ngạnh, Sim, Mua
3.5 Tình hình dân sinh kinh tế
Đại bộ phận dân cư ở đây là người dân tộc Sán Dìu, chỉ một bộ phận nhỏ
là người dân tộc kinh Thu nhập bình quân của người dân ở đây tương đối thấp, trung bình khoảng 500.000đồng/người/tháng Họ sống chủ yếu dựa vào nghề canh tác nông nghiệp, chăn thả gia súc kết hợp với việc đốn củi trong rừng
Trang 38Chương 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 4.1 Danh mục các loài côn trùng cánh cứng bẫy thông qua việc sử dụng
ba chất dẫn dụ
Kết quả điều tra ở Trung tâm Khoa học sản xuất Lâm nghiệp Đông Bắc
Bộ- Ngọc Thanh- Phúc Yên- Vĩnh Phúc ở ba loại rừng keo lai (Acacia hybrid), Thông caribê (Pinus caribaea) và bạch đàn (Eucalyptus urophylla)
dòng PN2, U6 bằng phương pháp bẫy với việc sử dụng ba loại chất dẫn dụ đã thu được 3502 mẫu côn trùng cánh cứng Sau đó tác giả tiến hành giám định
và phân loại các mẫu này thu được kết quả thể hiện ở bảng 4.1
Bảng 4.1: Danh lục các loài côn trùng Bộ cánh cứng
Trang 3910 M9 Dryocoetes villosus Mọt gai
Trang 4030 Md Platypus sp Mọt gỗ chân dài
Kết quả ở bảng trên cho thấy:
- Các mẫu côn trùng thu được bằng việc sử dụng ba loại chất dẫn dụ được sắp xếp và giám định là của 30 loài côn trùng cánh cứng ở 10 họ khác nhau
- Đại đa số các loài côn trùng cánh cứng thu được đã xác định được đến giống, trong đó có 06 loài xác định được tên khoa học và chỉ 01 loài mới chỉ xác đinh được họ
- Trong số các loài thu được, xác định được 21 loài của 18 giống có khả năng gây hại gỗ, vỏ gỗ và làm nguy hại đến sinh trưởng phát triển của cây
như: giống Sinoxylon ở họ mọt dài (Bostrychidae) Giống Platypus ở họ mọt chân dài (Platypodidae) Các giống Paraphrus, Pachylocerus, Cephalallus,
Pogonocherus thuộc họ xén tóc (Cerambycidae) Các giống Xylosandrus, Coccotrypes, Amasa, Dryocoetes ở họ họ mọt hại vỏ (Scolytidea) Các giống Xylotrupes, Anomala, Aphodios, Oxycetonia ở họ bọ hung (Scarabaeidae); các
giống Shirahoshizo, Dyscerus, Lissorhoptrus ở họ vòi voi (Curcurionidae) và giống Melanotus họ bổ củi (Melanotus))
- Các giống có chức năng cải tạo đất làm tăng độ mùn của đất và ăn thịt
một số loài động vật nhỏ như: các giống Parena, Panagaeus, Amara ở họ
chân chạy Loài Ban miêu khoang vàng (Mylabris cichorii) có chứa chất
cantharidin là chất rất cần thiết trong y học dùng điều trị bệnh gan, bệnh ung thư thực quản, ung thư da Giống Stigmatium ở họ cánh rô (Cleridae) là các
săn mồi ăn thịt động vật như các loài ấu trùng của một số loài mọt, bọ hung
xén tóc
4.2 Mô tả đặc điểm hình thái các loài côn trùng cánh cứng thu được
4.2.1 Họ vòi voi (Curculionidae)
Họ Vòi voi khá dễ nhận biết với cái vòi và vị trí nằm của râu đầu khá đặc trưng, đây là một họ có sự đa dạng về hình thức và kích thước Trong họ