1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá tính đa dạng sinh học nguồn tài nguyên cây thuốc của vườn quốc gia ba vì hà tây làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững

90 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 90
Dung lượng 745,23 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nguồn tài nguyên thực vật rất phong phú và đa dạng về giá trị sử dụng.Với 12.000 loài thực vật thì trong đó hơn 2.300 loài đã được sử dụng làm... Từ nhận thức và yêu cầu thực tiễn đó, ch

Trang 3

Lời mở đầu

Nước ta có nguồn tài nguyên rất phong phú là rừng và đất rừng, chiếm3/4 diện tích của cả nước Nguồn tài nguyên này hiện nay có khoảng11.785.000 ha với độ che phủ tương ứng 35,8 %, trong đó có gần 10 triệu harừng tự nhiên là nơi có tính đa dạng sinh học cao [18]

Việt Nam được xem như một điểm nóng về đa dạng sinh học, được xếp

là một trong 16 nước có tính đa dạng sinh học cao nhất thế giới Chúng ta cókhoảng 10% trong tổng số tất cả các loài sinh vật được biết đến trên thế giới

Sự giàu có đa dạng sinh học của Việt Nam được thể hiện với khám phá gần

đây nhất về một số loài thú lớn chưa từng được biết đến trước đây như Sao la

(Pseudoryx nghetinhensis), Mang lớn (Megamuntiacus vuquangensis), Mang

trường sơn (Caninmunticacus truongsonensis), Mang Pù hoạt (Muntiacus puhoatensis) đã được các nhà khoa học miêu tả Những bức ảnh về Tê giác

Việt Nam được chụp gần đây ở Vườn quốc gia Cát Tiên minh chứng sự tồn tạicủa quần thể quí hiếm này

Nguồn tài nguyên rừng của nước ta có tính đa dạng sinh học rất lớn.Hiện nay có khoảng 12.000 loài thực vật có mạch và 7.000 loài động vật đã

được ghi nhận ở Việt Nam Tính đến năm 1995 đã thống kê được 275 loài thú,

828 loài chim, 180 loài bò sát, 80 loài ếch nhái, 547 loài cá nước ngọt, 2.033loài cá biển và khoảng 12.000 loài côn trùng Mức độ đặc hữu của hệ động vậtrất cao có 78 loài phụ thú, hơn 100 loài và loài phụ chim, 7 loài linh trưởng và

11 loài chim là đặc hữu hẹp của Việt Nam Rừng Việt Nam còn có nhiều độngvật quý hiếm như Voi, Tê giác, Bò rừng, Trâu rừng, Hổ, Báo, Voọc mũi hếch,Voọc quần đùi trắng, Sếu cổ trụi, Trĩ [18]

Nguồn tài nguyên thực vật rất phong phú và đa dạng về giá trị sử dụng.Với 12.000 loài thực vật thì trong đó hơn 2.300 loài đã được sử dụng làm

Trang 4

lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, lấy gỗ, lấy tinh dầu, và làm vật liệuxây dựng.

Tính đặc hữu của thực vật Việt Nam rất cao, có ít nhất 20% số loài đặchữu Tuy không có họ nào đặc hữu nhưng có tới 1% số chi thực vật đặc hữu[54] Có rất nhiều loài thực vật có giá trị quý hiếm và kinh tế cao có ở nước tanhư: Gõ đỏ (Afzelia xylocarpa), Gụ mật (Sindora siamensis), Hoàng liên chân

(Coptis chinensis), Ba kích (Morinda officinalis), Hoàng đàn (Cupressus tubelosa), Cẩm lai (Dalbergia bariaensis) [18]

Tính đa dạng sinh học của nước ta đang ngày càng bị mai một Nhữngnăm gần đây diện tích rừng bị suy giảm làm mất đi môi truờng sống của nhiềuloài động thực vật Nhiều loài bị suy giảm cả về mặt số lượng và chất lượng.Một số loài đã và đang ở ngưỡng cửa sự tuyệt chủng mà nguyên nhân chủ yếu

là do săn bắn quá mức, do sinh cảnh bị tàn phá mà nguyên nhân sâu xa là do

áp lực dân số tăng lên nhanh chóng và sự phát triển nền công nghiệp ngàycàng tăng

Nguồn tài nguyên cây thuốc của nước ta nói riêng và thế giới nói chungcũng đang đứng trước nguy cơ suy giảm đó

Theo báo cáo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), ngày nay có cókhoảng 80% dân số ở các nước đang phát triển với dân số khoảng 3,5 đến 4 tỉngười trên thế giới có nhu cầu chăm sóc sức khoẻ ban đầu phụ thuộc vào nền

Y học cổ truyền Phần lớn trong số đó phụ thuộc vào nguồn dược liệu hoặccác chất chiết suất từ dược liệu Trên thế giới có khoảng 35.000 – 70.000 loàicây cỏ được sử dụng vào mục đích chữa bệnh [85], [95]

Nước ta với hệ thực vật đa dạng phong phú mà thiên nhiên đã ban tặng,nguồn tài nguyên cây thuốc chiếm một tỷ lệ không nhỏ Chúng ta có khoảng3.800 loài thực vật có thể sử dụng làm thuốc [7] Nguồn tài nguyên này đã và

Trang 5

đang đóng góp phần quan trọng trong công tác chăm sóc và bảo vệ sức khỏecủa nhân dân.

Việt Nam không chỉ là nước có điều kiện tự nhiên mà cả nền văn hóacũng rất đa dạng, tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc có từ lâu đời Từ xa xưa

ông cha ta đã biết sử dụng cây cỏ để làm thuốc Trong thực tế do sự phát triểncủa nền kinh tế, do nhu cầu cuộc sống và việc nhập khẩu tràn lan các tân dượctây y tri thức sử dụng cây cỏ làm thuốc đang ngày càng bị mai một

Theo thống kê cho thấy có 138 loài thực vật làm thuốc, thuộc 60 họ,thuộc 3 ngành thực vật bậc cao đã được xác định thuộc diện đang bị đe dọatuyệt chủng ở các cấp độ khác nhau (dựa trên bộ tiêu chuẩn phân hạng cũ củaIUCN) Trong đó có 23 loài thuộc diện nguy cấp (E), 21 loài sắp bị nguy cấp(V), 53 loài thuộc diện hiếm (R), 36 loài thuộc diện bị đe dọa (T) và 5 loàichưa biết đầy đủ (K) Có 102 loài được qui định trong Sách đỏ Việt Nam(SĐVN) [6], 60 loài đã được bảo tồn bằng hình thức exsitu tại các VTV, vườncây thuốc trong nước [7]

Như vậy nguồn tài nguyên cây thuốc của chúng ta đang bị đe dọa, nhiềuloài đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng Trên thực tế chúng ta đã cónhững biện pháp bảo vệ, nhưng những thông tin về tính đa dạng của nguồn tàinguyên này còn thiếu hoặc chưa chính xác Các quá trình xẩy ra ở cộng đồngliên quan đến bảo tồn, phát triển và sử dụng cây thuốc một cách bền vữngchưa được quan tâm đầy đủ

Vườn quốc gia Ba Vì là một trong những Vườn thuộc Bộ Nông nghiệp

và PTNT quản lý Vườn được thành lập theo quyết định số 17/HĐBT của Chủtịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) phê duyệt luận chứngkinh tế kỹ thuật thành lập Vườn cấm quốc gia Ba Vì ngày 16.01.1991 vàQuyết định số 407/HĐBT ngày 18.12.1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng

về việc chuyển đổi tên Rừng cấm quốc gia Ba Vì thành Vườn quốc gia Ba Vìvới tổng diện tích quy hoạch cũ là 6.786 ha [31], [50] Vườn có vị trí địa lý

Trang 6

nằm ở phía Tây thủ đô Hà Nội, cách trung tâm thành phố 45 km theo đườngchim bay, 60 km theo đường Láng – Hòa lạc và tỉnh lộ 87 Vườn có tọa độ địa

lý Từ 20055’ đến 21007’ độ Vĩ Bắc, 105018’ đến 105030’ độ Kinh Đông Diệntích Vườn nằm trên địa bàn các huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây (phần diện tích cũ)

và các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình (phần diện tích mới mở rộng).Theo qui hoạch mới mở rộng là 10.742,4 ha với chức năng chính của Vườn là:Bảo tồn nguyên vẹn hệ sinh thái hiện còn; Trồng mới, phục hồi các nguồngen động thực vật rừng quý hiếm, các đặc sản rừng và các di tích văn hoá lịch

sử và cảnh quan của rừng; Tổ chức nghiên cứu thực nghiệm, nghiên cứu khoahọc cơ bản, giáo dục hướng nghiệp và tham quan du lịch [66]

Nguồn tài nguyên cây thuốc ở Vườn rất đa dạng và phong phú ở đây

có rất nhiều loài cây thuốc quí hiếm đã được ghi trong sách đỏ Việt Nam,

được pháp luật bảo vệ như Hoa tiên (Asarum grabrum Merr.), Bát giác liên

(Podophyllum tonkinense Gagnep.), Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch.)

Mặc dù Vườn đã có nhiều biện pháp quản lý và bảo vệ rừng nói chung,song các áp lực đối với nguồn tài nguyên cây thuốc vẫn rất mạnh mẽ Việckhai thác cây thuốc là một nghề truyền thống của người Dao, người Mường,người Kinh ở địa phương để làm thuốc và bán để mưu sinh Hiện tượng chặtphá, đốt nương làm rẫy gây cháy rừng đã làm cho tính đa dạng nguồn tàinguyên cây thuốc ở đây bị suy giảm Cho đến nay đã có một số công trìnhnghiên cứu cây thuốc ở VQGBV nhưng trên thực tế chưa có một thu thập hệthống và đánh giá đầy đủ về đa dạng sinh học nguồn tài nguyên cây thuốc ở

đây Đặc biệt là về sự đa dạng thành phần loài, các bộ phận sử dụng, các bệnhchữa trị cũng như sự phân bố của chúng

Từ nhận thức và yêu cầu thực tiễn đó, chúng tôi đã tiến hành nghiên

cứu đề tài: “Đánh giá tính đa dạng sinh học nguồn tài nguyên cây thuốc Vườn Quốc gia Ba Vì làm cơ sở cho công tác bảo tồn và sử dụng bền vững”.

Trang 7

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu cây thuốc

1.1 Lịch sử nghiên cứu và sử dụng cây thuốc trên thế giới.

Việc sử dụng các loài thực vật làm thuốc là quá trình đúc rút kinhnghiệm trải qua nhiều thế hệ xa xưa để lại Ngay từ khi con người xuất hiện họ

đã phải đấu tranh và chống chọi với các lực lượng thiên nhiên Trong cuộc đấutranh sinh tồn đó con người đã sử dụng thực vật để phục vụ cho cuộc sống củamình như làm thức ăn, làm chỗ ở Để chống chọi với bệnh tật, con người đãphải mò mẫm và trải nghiệm những tính năng chữa bệnh của thực vật rồi dầndần đúc rút thành kinh nghiệm Vấn đề dân tộc thực vật học hình thành từ đó.Trong quá quá trình hình thành xã hội loài người, mỗi quốc gia đều có nhữngdân tộc đại diện rất khác nhau, do đó mỗi nước cũng hình thành những nền Yhọc cổ truyền riêng của mình

Các nghiên cứu khảo cổ cho thấy người Neanderthal cổ ở Iraq từ 60.000năm trước đã biết sử dụng một số cây cỏ mà ngày nay người ta đã sử dụngtrong Y học cổ truyền như Cỏ thi, Cúc bạc Người bản xứ Mêhicô từ nhiềunghìn năm về trước đã biết sử dụng các loài Xương rồng Mêhicô mà theo khoahọc ngày nay cho biết là có chứa các chất gây ảo giác và kháng khuẩn [91]

Các tài liệu cổ xưa nhất về sử dụng cây thuốc đã được người Ai Cập cổ

đại ghi chép trong thời gian khoảng 3.600 năm trước đây với 800 bài thuốc vàtrên 700 cây thuốc trong đó có cây Lô hội, Kỳ nham, Gai dầu Người TrungQuốc cổ đại ghi chép trong bộ Thần nông bản thảo 365 vị và loài cây thuốc(khoảng 5.000 năm trước đây) [77]

Nền y học cổ truyền của Trung Quốc và ấn Độ đều ghi nhận lịch sử sửdụng các cây cỏ làm thuốc có cách đây 3000 – 5000 năm [70, 74] Vào đầuthế kỷ thứ II ở Trung Quốc, người ta đã biết dùng các lá của các cây Chè(Thea sinnensis L.) đặc để rửa các vết thương và tắm ghẻ [32] Thần Nông là

người đã sưu tầm và ghi chép nên 365 vị thuốc đông Y trong cuốn sách “Mục

Trang 8

lục thuốc thảo mộc” từ hàng ngàn năm trước đây Từ thời cổ xưa các chiếnbinh La Mã đã dùng cây Lô hội (Aloe barbadensis Mill.) để rửa các vết

thương cho chóng lành sẹo [32] mà ngày nay đã được các nhà khoa học trong

và ngoài nước chứng minh [22, 47, 48] Kinh nghiệm của người cổ Hy Lạp và

La Mã dùng vỏ quả óc chó (Juglans regia L.) dùng để chữa loét vết thương

lâu ngày [32, 59] ở các nước Nga, Đức, Trung Quốc người ta đã dùng câyMã đề (Plantago major L.) sắc nước hoặc giã lá tươi đắp chữa trị vết thương

[32] ở Cu Ba người ta dùng bột papain lấy từ mủ cây Đu đủ (Carica papaya

L.) để kích thích tổ chức các hạt ở vết thương phát triển [32] Người Haiti hay

ở Đôminic thường dùng cây cỏ Lào (Eupatorium odoratum L.) để làm thuốc

chữa các vết thương bị nhiễm khuẩn hay cầm máu, áp xe, vết loét lâu ngàykhông liền sẹo [32, 73, 88, 97] Từ lâu đời người dân Pê Ru người dân đãdùng hạt cây Sen cạn (Tropaeolum majus L.) để điều trị bệnh phổi và đường

tiết liệu [45, 46, 47]

Nhân dân ấn Độ từ lâu đã dùng lá của cây Ba ché (Desmodium triangulare (Retz.) Merr.) để chữa kiết lỵ và tiêu chảy [39] Nhân dân

Phillipin dùng vỏ cây Bồ cu vẽ (Breynia fruticosa (L.) Hook.f) để làm thuốc

cầm máu, chữa lở loét chóng lành Người dân Malaysia dùng cây Húng chanh(Coleus amboinicus Lour.) dùng cho phụ nữ sau sinh nở, cây Hương nhu tía

(Ocimum sanctum L.) chữa bệnh sốt rét và bệnh ngoài da rất tốt [22] Người

dân Bun Ga Ri thì dùng cây Hoa hồng là biểu trưng của đất nước để chữanhiều chứng bệnh Đông Y Trung Quốc dùng cây Ngải cứu (Artemisia vulgaris L.) trị thổ huyết, trực tràng xuất huyết và các bệnh phụ nữ rất có hiệu

Trang 9

Cải soong (Nasturtium officinale R Br.) giải nhiệt, chữa lở mồm chảy máu

chân răng

Đời nhà Hán năm 168 trước công nguyên tại Trung Quốc trong cuốnsách “Thủ hậu bị cấp phương” tác giả đã kê 52 đơn thuốc chữa bệnh từ cácloài cây cỏ Vào giữa thế kỷ XVI đời Lý, Lý Thời Trân đã thống kê được

12000 vị thuốc trong tập “Bản thảo cương mục” được nhà xuất bản Y học tríchdẫn năm 1963 [61] Trong chương trình biểu diễn điều tra cơ bản nguồn tàinguyên thiên nhiên ở khu vực Đông Nam á, Perry đã nghiên cứu hơn 1000 tàiliệu khoa học về thực vật và dược liệu đã được công bố và đã được các nhàkhoa học kiểm chứng và tổng hợp thành cuốn sách về cây thuốc vùng Đông

và Đông Nam á “Medicinal Plants of East and Sontheast Asia” 1985 [86]

Theo thống kê của tổ chức Y học thế giới (WHO) thì đến năm 1985 đã

có gần 20.000 loài thực vật (Trong tổng số 250.000 loài đã biết) được sử dụnglàm thuốc hoặc cung cấp các hoạt chất để chế biến thuốc [74] ở ấn độ cókhoảng 6.000 loài [70, 74], Trung Quốc có khoảng 5.000 loài [75], vùng nhiệt

đới Châu Mỹ có hơn 1.900 loài [74] Cũng theo WHO thì mức độ sử dụngthuốc Y học cổ truyền ngày càng cao, ở Trung Quốc tiêu thụ hàng năm hếtkhoảng 700.000 tấn dược liệu [75] Sản phẩm Y học dân tộc đạt giá trị hơn1,7 tỷ USD vào năm 1986 [51] Nhật Bản năm 1979 nhập 21.000 tấn, đến năm

1980 tăng lên 22.640 tấn dược liệu tuơng đương 50 triệu USD [70, 74] Điềunày chứng tỏ đối với các nước công nghiệp phát triển thì việc sử dụng câythuốc phục vụ cho nền Y học cũng phát triển mạnh

Ngày nay, ước lượng có khoảng 35.000 – 70.000 loài trong số hơn250.000 loài thực vật bậc cao được sử dụng vào mục đích chữa bệnh [93], [95] Trung Quốc ước tính có trên 10.000 loài [89], ấn độ có khoảng 7.500 –8.000 loài [72], [83], Indonesia có khoảng 7.500 loài, Malaysia có khoảng2.000 loài [65], Nê pan có hơn 700 loài [84], Srilanka có khoảng 550 -700 loài

Trang 10

[82], Hàn quốc có khoảng 1.000 loài thực vật có thể được sử dụng trong y họctruyền thống [81] Châu Mỹ la tinh nơi có hơn 1/3 tổng số loài thực vật trênthế giới cũng có truyền thống sử dụng cây cỏ làm thuốc Người dân bản địaSchule đã phát hiện gần 2.000 loài cây thuốc đang được sử dụng ở vùngAmazon thuộc Colombia [79] Các quốc gia Châu Phi có số loài cây thuốc íthơn như Somalia có khoảng 200 loài [84], Botswana có khoảng 314 loài [77].

Các hoạt động mưu cầu cuộc sống của con người ngày nay đã và đanggây sức ép lên sự sinh tồn của các loài cây thuốc trên thế giới Nhiều loàithuốc quý hiếm bị khai thác bừa bãi nên đang đứng trước nguy cơ bị tuyệtchủng hoặc đã bị tuyệt chủng Theo Raven (1987) và Ole Harmann (1988)trong vòng hơn một trăm năm trở lại đây, có khoảng 1.000 loài thực vật đã bịtuyệt chủng, khoảng 60.000 loài bị gặp rủi ro hoặc sự tồn tại bị đe dọa vào thế

kỷ sau Trong số những thực vật bị đe dọa có một tỷ lệ không nhỏ của thực vật

có khả năng làm thuốc, hoặc khả năng này con người chưa phát hiện mà đã bịtuyệt chủng Loài Tylophora indica (Burm.f.) Merr dùng để chữa bệnh hen,

loài Zanonia indica L dùng để tẩy xổ trước kia có khá nhiều ỏ Bănglađét nay

đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng (Theo Islam A.S 1991) [76] Loài Ba gạc(Rauvolfia serpentina (L.) Benth Ex Kurz) bị khai thác mạnh ở các nước ấn

Độ, Srilanka, Bănglađét hiện nay đã trở nên cạn kiệt

Theo WB, tri thức truyền thống về Y học ở Châu Phi, Châu á, Châu

Mỹ la tinh rất dễ bị đe dọa Tri thức này đang bị mất với tốc độ nhanh hơn các

di sản trí tuệ bản địa khác [80] Trên thế giới ước tính có khoảng 1.000 loàicây thuốc đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng Trong số đó có khoảng 120loài ở ấn Độ [80], 77 loài ở Trung Quốc, 75 loài ở Maroco [79], 61 loài ở TháiLan [87], 35 loài ở Bănglađét [78]

Trước tình hình suy thoái các nguồn gen động thực vật nói chung, trênthế giới đã quan tâm đến vấn đề ngăn chặn sự tuyệt chủng, bảo vệ các nguồn

Trang 11

gen quí hiếm từ rất sớm Công ước CITES (Ngày 03 tháng 03 năm 1973 tạiWashington) với mục tiêu về Buôn bán Quốc tế các loài động thực vật hoangdã nguy cấp Đây chính là công cụ hỗ trợ các quốc gia ngăn chặn buôn bánQuốc tế bất hợp pháp không bền vững động thực vật hoang dã, nâng cao nhậnthức về bảo tồn loài.

Tại Hội nghị Quốc tế về bảo tồn quỹ gen cây thuốc họp từ ngày 21 – 27tháng 03 năm 1983 tại Chiềng Mai – Thái Lan, hàng loạt các công trìnhnghiên cứu về tính đa dạng và việc bảo tồn cây thuốc đã được đặt ra [51]

Công ước ĐDSH của hội nghị thượng đỉnh về Môi trường tại Rio deJaniero năm 1992 có các mục tiêu về bảo tồn ĐDSH, sử dụng các thành phầncủa ĐDSH, chia xẻ công bằng lợi ích thu được từ việc sử dụng nguồn gen.Công ước nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc bảo tồn trong các điều kiện

tự nhiên với các hoạt động hỗ trợ cho bảo tồn các khu tự nhiên, giải quyết cácnhu cầu xác định và giám sát các thành phần ĐDSH quan trọng Công ước làchìa khóa quan trọng để ngăn chặn sự tuyệt chủng của các loài động thực vậthoang dã nói chung và thực vật làm thuốc nói riêng trong thế kỷ 21

1.2 Tình hình nghiên cứu và sử dụng cây thuốc ở Việt Nam

Nền Y học cổ truyền Việt Nam đã có từ lâu đời Qua quá trình xâydựng và phát triển của đất nước, các kinh nghiệm dân gian quí báu đã được

đúc kết và ghi chép trong những cuốn sách lưu truyền trong nhân dân

Từ thời Hùng Vương (2900 năm trước CN) qua các văn tự Hán Nômcòn sót lại (Đại Việt sử ký ngoại ký, Lĩnh nam chích quái liệt truyện, Long

uy bí thư ), qua các truyền thuyết, Tổ tiên ta đã biết dùng cây cỏ làm gia vịtrong ẩm thực và chữa bệnh [23, 24, 25, 26] Theo Long úy chép lại vào đầuthế kỷ thứ II trước Công nguyên, có hàng trăm vị thuốc từ đất Giao Chỉ đượcngười Trung Quốc đưa về giới thiệu và sử dụng như ý dĩ (Coix lachryma -

jobi L.), Hoắc hương (Pogostemon cablin (Blanco) Benth.) [26]

Trang 12

Vào thời nhà Lý (1010 – 1224) nhà sư Nguyễn Minh Không tứcNguyễn Chí Thành đã dùng nhiều cây cỏ chữa bệnh cho nhân dân và cho nhàVua, đã được phong “Quốc Sư”.

Vào đời nhà Trần (1225 – 1399), Phạm Ngũ Lão thừa lệnh Hưng ĐạoVương – Trần Quốc Tuấn thu thập và trông một vườn thuốc lớn để chữa bệnhcho quân sỹ, trên núi “Sơn Dược” hiện vẫn còn di tích để lại tại một qủa đồithuộc xã Hưng Đạo huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương Chu Tiên biên soạn cuốnsách “Bản thảo cương mục toàn yếu” là cuốn sách thuốc đầu tiên được xuấtbản tại nước ta năm 1429 [26]

Hai danh y nổi tiếng cùng thời đó là Phạm Công Bân (thế kỷ XIII) vàthầy thuốc nổi tiếng đó là Tuệ Tĩnh Tên thực của ông là Nguyễn Bá Tĩnh (thế

kỷ XIV) đã biên soạn bộ “Nam dược thần hiệu” gồm 11 quyển với 496 vịthuốc nam, trong đó có 241 vị thuốc có nguồn gốc thực vật và 3.932 phươngthuốc đơn giản để chữa trị 184 chứng bệnh của 10 khoa lâm sàng Ông cònviết cuốn “Hồng nghĩa giác tư y thư” gồm hai bài Hán nôm phú tóm tắt côngdụng của 130 loài cây thuốc Ông đã khẳng định vai trò của thuốc nam trong

đời sống Trong “Nam dược thần hiệu” có ghi rõ Tô mộc (Caesalpinia sapan

L.) vị mặn, tính bình trừ huyết xấu, trị đau bụng, thương phong sưng lở [60],Thanh hao (Artemisia apiacea Hance ex Walp.) chữa sốt, lỵ [28, 38] Sử quân

tử (Quisqualis indica L.) có vị ngọt, tính ôn, không độc vào hai kinh tỳ và vị

chữa 5 chứng bệnh cam trẻ em, tiểu tiện, sát khuẩn, tả lỵ, mạnh tỳ vị [42].Danh y Tuệ Tĩnh được coi là một bậc kỳ tài trong lịch sử Y học nước ta, đượccoi là “ Vị Thánh thuốc nam” Trong các bộ sách quý của Ông lưu truyền cho

đời sau (do bị quân Minh thu gần hết) chỉ còn lại các tập “Nam dược thầnhiệu”, “Tuệ tĩnh y thư”, “Thập tam phương gia giảm”, “Thương hàn tam thậpthất trùng pháp”

Đến thời Lê Dụ Tông có Danh y Hải Thượng Lãn Ông tên thực Lê HữuTrác (1721-1792) Ông là người am hiểu nhiều về y học, sinh lý học Trong 10

Trang 13

năm tìm tòi nghiên cứu Ông viết bộ “Lãn Ông tâm lĩnh” hay “Y tôn tâm lĩnh”gồm 66 quyển đề cập tới nhiều vấn đề y dược như “Y huấn cách ngôn”, “Y lýthân nhân”, “Lý ngôn phụ chính”, “Y nghiệp thần chương” xuất bản năm

1772 Ngoài sự kế thừa “Nam dược thần hiệu” của Tuệ Tĩnh, Ông còn bổ sung

329 vị thuốc mới Trong quyển “ Lĩnh nam bản thảo” Ông đã tổng hợp được

2854 bài thuốc chữa bệnh bằng kinh nghiệm dân gian Ông mở trường đào tạo

Y sinh, truyền bá tư tưởng và hiểu biết của mình về y học Lãn Ông đượcmệnh danh là ông tổ sáng lập ra nghề thuốc Việt Nam Cùng thời còn có haitrạng nguyên là Nguyễn Nho và Ngô Văn Tĩnh đã biên soạn bộ “Vạn phươngtập nghiêm” gồm 8 quyển xuất bản năm 1763 [23]

Nguyễn Quang Tuân thời Tây Sơn – Nguyễn Huệ có tập “Nam dược”,

“Nam dược danh truyền”, “La Khê phương dược” của Nguyễn Quang Tuấnghi chép 500 vị thuốc nam trong dân gian dùng chữa bệnh [25], “Nam dượctập nghiệm quốc âm” của Nguyễn Quang Lượng về các bài thuốc nam đơngiản thường dùng [26], “Ngư tiều vấn đáp y thuật” của Nguyễn Đình Chiểu[24] “Nam Thiên Đức Bảo toàn thư” của Lê Đức Huệ gồm 511 vị thuốc nam

và bệnh học [24, 26] Năm 1858 Trần Nguyên Phương kể tên và mô tả côngdụng của trên 100 loài cây thuốc trong cuốn “Nam bang thảo mộc” [26]

Các nhà dược học nổi tiếng của Pháp như Crevost., Pêtêlốt, đã xuất bản

bộ “Catalougue des produits de l’indochine” (1928 – 1935), trong đó tập V(Produits medicinaux, 1928) đã mô tả 368 cây thuốc và vị thuốc là các loàithực vật có hoa [98] Năm 1952 Pêtêlốt bổ xung và xây dựng thành bộ “Lesplantes m’edicinales du Cambodge, du Laos et du Vietnam” gồm 4 tập đãthống kê 1482 vị thuốc thảo mộc trên ba nước Đông dương [99]

Năm 1937, Vũ Như Lâm đã đề cập tới dược tính, công dụng, cách bàochế, sự kiêng kỵ của một số vị thuốc Bắc, thuốc Nam [26]

Khi Việt Nam độc lập, Chính phủ đã quan tâm rất nhiều đến công tác

điều tra nghiên cứu nguồn cây thuốc ở Việt Nam, phục vụ cho vấn đề sức

Trang 14

khỏe toàn dân Ngày 27 tháng 02 năm 1955 chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi thưcho hội nghị ngành Y tế, Người đã đề ra đường lối xây dựng nền Y học ViệtNam khoa học, dân tộc và đại chúng, dựa trên sự kết hợp giữa Y học cổ truyềncủa dân tộc với Y học hiện đại GS – TS Đỗ Tất Lợi người dày công nghiêncứu trong nhiều năm đã xuất bản nhiều tài liệu trong việc sử dụng của đồngbào dân tộc về vấn đề cây con dùng làm thuốc Năm 1957, ông đã biên soạn

bộ “Dược liệu học và các vị thuốc Việt Nam” gồm 3 tập Năm 1961 tái bản inthành 2 tập, trong đó tác giả đã mô tả và nêu công dụng của hơn 100 câythuốc nam [51] Năm 1963 Phó Đức Thành và một số tác giả cho xuất bản

“450 cây thuốc có trong bảng dược thảo Trung Quốc” [53]

Từ năm 1962 – 1965 Đỗ Tất Lợi lại cho xuất bản bộ “ Những cây thuốc

và vị thuốc Việt Nam” gồm 6 tập Đến năm 1969 tái bản thành 2 tập, trong đógiới thiệu trên 500 vị thuốc có nguồn gốc thảo mộc, động vật, khoáng vật Cáccông trình của ông được tái bản nhiều lần vào các năm 1970, 1977, 1981,

1986, 1995, 1999, 2001, 2003 Ông đã mô tả tỉ mỉ tên khoa học, phân bố,công dụng, thành phần hóa học, chia tất cả các cây thuốc đó theo các nhómbệnh khác nhau [39], [40], [41]

Năm 1966, Dược sỹ Vũ Văn Chuyên cho ra đời cuốn “Tóm tắt đặc

điểm các họ cây thuốc”, in lần thứ 2 năm 1976 [21] Năm 1979, Vũ Văn Kínhcho xuất bản cuốn Sổ tay y học gồm “500 bài thuốc gia truyền” và tái bản lầnthứ ba vào năm 1997 [37] Năm 1980, Đỗ Huy Bích và Bùi Xuân Chương đãgiới thiệu 519 loài cây thuốc, trong đó có 150 loài mới phát hiện trong “Sổ taycây thuốc Việt Nam” [5] Tập thể các nhà khoa học Viện dược liệu đã xuấtbản cuốn “ Dược liệu Việt Nam” tập I, II tổng kết các công trình nghiên cứu

về cây thuốc trong những năm qua [10] Viện Dược liệu cùng cùng với hệthống trạm nghiên cứu trên toàn quốc, đến năm 1985 đã thống kê nước ta có1.863 loài và dưới loài, phân bố trong 1.033 chi, 236 họ, 101 bộ, 17 lớp, 11ngành được xếp theo hệ thống của nhà thực vật học Takhtajan [4, 5, 22, 68]

Trang 15

Võ Văn Chi là người có nhiều tâm huyết với thực vật học làm thuốc [13], [14],[16], [17] Năm 1976, trong luận văn PTS của mình, Ông đã thống kê có1.360 loài cây thuốc trong 192 họ trong ngành hạt kín Miền Bắc Đến năm

1991, trong một báo cáo tham gia hội thảo về cây thuốc Việt Nam có 2.280loài cây thuốc bậc cao có mạch thuộc 254 họ trong 8 ngành

Năm 1973, Phan Kế Lộc đã công bố “Danh mục những loài thực vậtchứa tanin ở Miền Bắc Việt Nam” [43]

Lê Trần Đức với nhiều công trình nghiên cứu Y dược học Dân tộc, năm

1985 – 1988 đã xuất bản 4 tập về “ Trồng và thu hái cây thuốc”

Năm 1978, 1992, 1998, Trần Công Khánh và cộng sự đã xuất bản cáccuốn “ Những cây thuốc bổ thường dùng”, “Cây độc ở Việt Nam”, và “Nghiêncứu bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn tài nguyên cây thuốc Việt Nam” [33],[34], [35]

Năm 1980, Đỗ Huy Bích, Bùi Xuân Chương và một số người khác đãcho ra cuốn “Sổ tay cây thuốc Việt Nam” [5] và năm 1993 với “Tài nguyêncây thuốc Việt Nam” cho biết hàng năm có khoảng 300 loài cây thuốc đượckhai thác và sử dụng ở các mức độ khác nhau trong toàn quốc [4]

Năm 1994, Lê Nguyên Khanh và Trần Thiện Quyền đã xuất bản

“Những bài thuốc kinh nghiệm bí truyền của các ông lang bà mế miền núi”[36]

Năm 1995, Trần Đình Lý và cộng sự cho xuất bản cuốn “1900 loài cây

có ích” [44] cho biết trong số các loài thực vật bậc cao có mạch đã biết có 76loài cho nhựa thơm, 160 loài có tinh dầu, 260 loài cho dầu béo, 600 loài chứatanin, 50 loài cây gỗ có giá trị cao, 40 loài tre nứa, 40 loài song mây

Năm 1995, Vương Thừa Ân cho ra đời cuốn “Thuốc quý quanh ta” năm

1995 [1]

Trang 16

Năm 1994, trong công trình nghiên cứu cây thuốc Lâm Sơn – LươngSơn – Hà Sơn Bình, Nguyễn Nghĩa Thìn đã giới thiệu 112 loài thuộc 50 họ[92] Năm 1990 – 1995 trong hội thảo Quốc tế lần thứ 2 về Dân tộc sinh họctại Côn Minh – Trung Quốc, tác giả cũng đã giới thiệu lịch sử nghiên cứu vềvấn đề Dân tộc dược học, giới thiệu 2.300 loài thuộc 1.136 chi, 234 họ thuộc 6ngành thực vật bậc cao có mạch Việt Nam được sử dụng làm thuốc và giớithiệu hơn 1.000 bài thuốc được thu thập ở Việt Nam cũng như một số loài

được sử dụng

Ngoài ra còn có rất nhiều bài báo đăng trong các tạp chí Trung ương và

địa phương đều giới thiệu về cây được sử dụng làm thuốc rất phong phú Theo

Đỗ Huy Bích, Nguyễn Tập, Lê Tùng Châu hàng năm nước ta đã khai thác

và sử dụng tới 300 loài cây thuốc ở các mức độ khác nhau [4] Theo công bốcủa Trần Ngọc Ninh (1994) và Lê Trần Đức (1995), các nhà khoa học ViệtNam bước đầu đã thiết lập được hợp chất Taxol từ các loài Thông đỏ (Taxusspp.) có tác dụng chống ung thư

Năm 1996, Võ Văn Chi cho ra đời quyển “Từ điển cây thuốc ViệtNam” đã mô tả kỹ 3200 cây thuốc Việt Nam [14] Đây là một công trình có ýnghĩa khoa học và thực tiễn rất lớn phục vụ cho ngành dược và các nhà thựcvật học

Đề cập tới cây thuốc đồng bào dân tộc không thể không kể đến tập

“Thực vật học dân tộc Cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông Nghệ An”của Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh, Ngô Trực Nhã (năm 1999) đã

đánh giá tính đa dạng sinh học nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu hệ, vấn đề

sử dụng cây thuốc, và đặc biệt là đã đánh giá mức độ và tính hiệu quả của cáccây thuốc mà dân tộc Thái đã sử dụng [55]

Như vậy kinh nghiệm dùng các loài cây cỏ làm thuốc của đồng bào ta làrất phong phú và đa dạng Đây là một quá trình lâu dài đúc rút kinh nghiệm từthế hệ này sang thế hệ khác của cả dân tộc Để phát huy truyền thống tốt đẹp

Trang 17

đó, cũng như góp phần bảo vệ đa dạng sinh học, bảo tồn nguồn gen, giữ gìnnhững tri thức quý báu của ông cha ta, chúng ta có nhiệm vụ phải kiểm kê, bổxung và hệ thống hóa các loài cây thuốc, mã hóa các tri thức sử dụng mộtcách khoa học giúp cho việc lựa chọn nghiên cứu và phát triển nguồn tàinguyên này một cách tốt đẹp.

1.3 Tình hình nghiên cứu cây thuốc ở khu vực Vườn Quốc gia Ba Vì

Năm 1971, Vũ Văn Chuyên trong các đợt nghiên cứu thực địa đã lậpdanh mục 150 loài cây thuốc ở khu vực VQGBV [20]

Năm 1993, Lê Trần Chấn và cộng sự đã công bố số lượng cây thuốc của

hệ thực vật Ba Vì là 280 loài [11], [12]

Theo kết quả điều tra năm 1990 về tình hình cây thuốc từ độ cao 400mtrở lên của Học viện Quân y đã phát hiện có 169 loài cây thuốc được có khảnăng chữa 28 nhóm bệnh khác nhau [63], [64]

Năm 1992, Trường Đại học Dược Hà Nội phối hợp với hiệp hội AREA(Australia) và Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên môi trường Trường Đại họcTổng hợp (CRES) kết quả điều tra cho thấy VQGBV có 250 loài cây đượcdùng làm thuốc chữa 33 loại bệnh và chứng bệnh khác nhau trong đó có nhiềuloài thuốc quý như: Hoa tiên (Asarum glabrum), Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata), Bát giác liên (Podophyllum tonkinense), Râu hùm (Tacca chantrieri), Hoàng đằng (Fibraurea tinctoria), Củ dòm (Stephania dielsiana)

Năm 1998 và 1999, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự đã thực hiện đề tài

“Điều tra thành phần cây thuốc và bài thuốc của đồng bào Dao ở huyện Ba Vìtỉnh Hà Tây” đã xác định 274 loài, thuộc 214 chi, 83 họ được người Dao ởhuyện Ba Vì sử dụng để chữa 15 nhóm bệnh về xương, tiêu hóa, thận, ngoài

da, phụ nữ, trẻ em, hô hấp, gan, thần kinh, bổ, tai mũi họng, phù, đau đầu cảmsốt, u lành, chó và rắn cắn Tác giả đã phân loại các loài cây thuốc thành 4

Trang 18

dạng sống là cây cỏ (35,77%), gỗ (30,65%), cây leo (16,79%), cây bụi(16,79%) Phân tích các bộ phận được sử dụng theo thứ tự là: lá (46,8), thân(45,5%), rễ (25,2%), vỏ (8%), toàn cây (7,3%) hoa (1,1%) Môi trường sốngcủa chúng đã được chỉ ra có 4 nhóm là: từ rừng (46,4%), từ vườn (44,5%), từ

đồi (20,8%), và các loài mọc khắp nơi (1,8%) Để định hướng cho công tácbảo tồn có 7 loài đã được thống kê là Bát giác liên (Podophyllum tonkinense),

Hoa tiên (Asarum glabrum), Râu hùm (Tacca chantrieri), Ba gạc (Rauvolfia verticillata), Bình vôi, Ngũ gia bì (Schefflera octophylla) và Sa nhân

(Amomum villosum) [56], [57], [58].

Năm 2003, Trần Văn ơn trong luận án tiến sỹ dược học “Góp phầnnghiên cứu bảo tồn cây thuốc ở Vườn Quốc gia Ba Vì” đã điều tra được 503loài cây được người Dao sử dụng làm thuốc thuộc 321 chi, 118 họ của 5 ngànhthực vật và 8 dạng sống khác nhau Trong đó có 56 loài và phân loài chưa

được ghi chép trong các sách về cây thuốc đã được bổ sung vào danh sách câythuốc ở Việt Nam Có 131 bệnh và chứng bệnh khác nhau được chữa trị bằngcây thuốc nam thuộc 29 nhóm bệnh khác nhau Tác giả cũng đề cập tới tìnhtrạng khai thác và sử dụng cây thuốc của người Dao, và có 30 loài cây thuốc

được người Dao sử dụng được xếp hạng ưu tiên bảo tồn, trong đó có 2 loài caonhất là Hoa tiên (Asarum grabrum Merr.) và Rù rì bãi (Homonoia riparia

Lour.) Trong số đó có 18 loài thuốc ưu tiên bảo tồn đã được nhân giống bằnghom thành công [49]

Nghiên cứu đầy đủ về tính đa dạng cây thuốc của cả khu hệ Vườn quốcgia Ba Vì (bao gồm 3 đồng bào dân tộc Kinh, Mường, Dao) còn thiếu

Trang 19

Chương 2: Mục tiêu, đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Điều tra những loài thực vật làm thuốc ở khu vực VQGBV và các bàithuốc được người dân địa phương sử dụng

- Đánh giá tính đa dạng các loài cây làm thuốc ở VQGBV về các mặt:Thành phần, dạng sống, các bộ phận sử dụng, phân bố và các nhóm bệnh chữatrị

2.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu: Các loài thực vật có thể dùng làm thuốc chữa trịcho người và động vật

- Phạm vi nghiên cứu: Thực vật bậc cao có mạch trong phạm vi Vườnquốc gia Ba Vì và vùng đệm (Phần diện tích cũ chưa mở rộng)

2.3 Nội dung nghiên cứu

2.3.1 Thu thập và hệ thống các thông tin nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì của các tác giả từ trước đến nay.

Thông tin được thu thập trong các công trình khoa học đã công bố nhưluận án, luận văn, đề tài, tạp chí có liên quan đến nguồn tài nguyên câythuốc ở khu vực VQGBV

2.3.2 Điều tra phỏng vấn kinh nghiệm nhân dân sống trong Vườn quốc gia Ba Vì

Đối tượng được phỏng vấn là người dân địa phương trên các thành phầndân tộc Kinh, Mường, Dao ở các xã Tản Lĩnh, Ba Trại, Ba Vì, Minh Quang,Khánh thượng, Vân Hòa, Yên Bài (người dân, các ông lang, bà mế)

Trang 20

2.3.3 Công tác điều tra và thu thập mẫu trên thực địa ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì.

Trên cơ sở các thông tin phỏng vấn và các tài liệu thu thập, tiến hành

điều tra thực địa để thu mẫu và sự phân bố của chúng để bổ xung cho các tưliệu đã có

2.3.4 Xác định tên khoa học và xây dựng danh lục thực vật làm thuốc ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì

- Giám định tên khoa học của tất cả các loài cây thuốc điều tra được trênthực địa, qua phỏng vấn người dân, qua tra cứu

- Sắp xếp các loài cây làm thuốc theo hệ thống Brummitt (1992) để xâydựng danh lục

2.3.5 Phân tích, đánh giá tính đa dạng sinh học nguồn tài nguyên cây thuốc ở khu vực

- Đa dạng về phân loại: Ngành, lớp, họ, chi, loài

- Đa dạng về dạng sống: Gỗ, bụi, thảo, dây leo, phụ sinh

- Đa dạng về môi trường sống: Núi (nơi có rừng); đồi hoang; vườn nhà;sông suối, ruộng bãi

- Các bộ phận sử dụng: Thân , lá, hoa, quả, vỏ, rễ củ

- Đa dạng về các cách sử dụng khác nhau: Khô sắc, tươi sắc, đun ống,ngâm rượu, giã, tắm

- Các bệnh chữa trị, nhiều nhóm bệnh chữa trị khác nhau: Nhóm thuốc

bổ, thuốc phụ nữ, thuốc độc, thuốc xương, thuốc khớp

2.4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các mục tiêu và nội dung mà đề tài đã đề ra, chúng tôi sửdụng các phương pháp nghiên cứu sau đây:

Trang 21

2.4.1 Phương pháp kế thừa.

Kế thừa các nguồn tài liệu, các kết quả đã có trước đây của các côngtrình khoa học trước đây trên nguyên tắc có chọn lọc và phê phán

2.4.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn nhân dân.

- Dựa theo phiếu điều tra theo xã, thôn bản, các hộ dân có nghề truyềnthống làm thuốc

- Điều tra phỏng vấn trong những hộ người dân Kinh, Mường, Dao ở địaphương về những kinh nghiệm sử dụng cây làm thuốc (có thể là được lưutruyền hoặc đang thực tế sử dụng) như thành phần loài cây, dạng sống, bộphận sử dụng, cách sử dụng, bệnh chữa trị

2.4.3 Phương pháp chuyên gia.

Trên cơ sở kinh nghiệm của các chuyên gia xác định tên khoa học vàphân bố loài cây (có hay không trong khu vực), cũng có thể xác định dạng cây

và môi trường sống của chúng

2.4.4 Phương pháp thu mẫu và xử lý mẫu vật.

- Thu hái mẫu: Thu hái một cách đầy đủ và đại diện cho các loài theodanh lục đã phỏng vấn

- Xử lý và bảo quản mẫu: Mẫu vật thu được trên thực địa được xử lý theophương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn năm 1997 [54]

2.4.5 Phương pháp xác định tên khoa học và danh lục.

Tên khoa học được xác định và xây dựng theo phương pháp của NguyễnNghĩa Thìn năm 1997 [54]

2.4.6 Phương pháp đánh giá tính đa dạng nguồn tài nguyên cây thuốc.

Các chỉ tiêu được đánh giá dựa trên phương pháp đánh giá của NguyễnNghĩa Thìn, Ngô Trực Nhã, Nguyễn Thị Hạnh năm 1999, bao gồm:

Trang 23

Chương 3: Điều kiện tự nhiên, xã hội khu vực nghiên cứu

3.1 Lịch sử hình thành Vườn quốc gia Ba Vì

Vườn quốc gia Ba Vì được thành lập trên cơ sở hợp nhất 8 đơn vị quản

lý rừng và đất rừng thuộc khu vực núi Ba Vì đó là: Lâm trường quốc doanh BaVì, Xí nghiệp Canh ki na, Khu vực K9, Trung tâm Giáo dục hướng nghiệp lâmnghiệp Ba Vì, Núi Mơ - Hoóc Cua và một phần đất thuộc xã Ba Vì, Xí nghiệptrồng rừng thanh niên Yên Bài, Trạm nghiên cứu lâm sinh và rừng cấm Ba Vìcùng các xã vùng đệm Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh, Ba Vì, Minh Quang,Khánh Thượng [50] Các quyết định có liên quan là:

- Quyết định số 17/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng bộ trưởng (nay là Thủtướng Chính phủ ) ngày 16 tháng 01 năm 1991 về việc phê duyệt luận chứngkinh tế kỹ thuật thành lập Vườn cấm quốc gia Ba Vì [50]

- Quyết định số 407/HĐBT của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ngày 18tháng 12 năm 1991 về việc chuyển đổi tên Rừng cấm quốc gia Ba Vì thànhVườn quốc gia Ba Vì [31]

Trong quá trình hình thành và phát triển từ năm 1991 – 2001, một số

Năm 2003, VQGBV được quy hoạch mở rộng sang tỉnh Hòa Bình trên

địa phận của hai huyện Lương Sơn và Kỳ Sơn, trên cơ sở của Quyết định số

Trang 24

510/QĐ-TTg ngày 12 tháng 05 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ về việcphê duyệt quy hoạch mở rộng VQGBV thuộc khu vực huyện Kỳ Sơn vàLương Sơn tỉnh Hòa Bình và Quyết định số 921/QĐ-UB ngày 20 tháng 06năm 2003 của UBND tỉnh Hòa Bình về việc Giao đất Lâm nghiệp choVQGBV.

Hiện nay VQGBV bao gồm các đơn vị trực thuộc là: (1) Văn phòng, (2)Hạt kiểm lâm, (3) Trung tâm Dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường,(4) Trung tâm khoa học kỹ thuật Nghĩa Đô

VQGBV là đơn vị sự nghiệp khoa học có thu, trực thuộc Bộ Nôngnghiệp & PTNT quản lý, chức năng nhiệm vụ chính của Vườn hiện nay là:

1 Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng, các nguồn gen động thực vậtrừng quý hiếm, các đặc sản rừng, các di tích văn hóa lịch sử, cảnh quan thiênnhiên trong diện tích được quản lý

2 Phát triển rừng trên cơ sở trồng rừng mới, phục hồi rừng và thực hiệncác dự án nông lâm nghiệp để phát triển vùng đệm, ổn định và nâng cao đờisống nhân dân nơi gần rừng

3 Thực hiện công tác nghiên cứu thực nghiệm khoa học với mục đíchphục vụ, bảo tồn thiên nhiên và môi sinh

4 Tổ chức các hoạt động dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật, giáo dục hướngnghiệp lâm nghiệp

5 Tổ chức tham quan nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

3.2 Điều kiện tự nhiên của Vườn quốc gia Ba Vì

3.2.1 Vị trí địa lý

Vườn quốc gia Ba Vì nằm cách thủ đô Hà Nội 45 km theo đường chimbay và 60km theo đường quốc lộ 32, tỉnh lộ 87 Diện tích Vườn nằm trên địa

Trang 25

bàn các huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây (phần diện tích cũ) và các huyện Lương Sơn,

Kỳ Sơn tỉnh Hoà Bình (phần diện tích mới mở rộng) [66]

Vườn quốc gia Ba Vì nằm trong tọa độ địa lý:

Phía Tây là các xã Minh Quang, Khánh Thượng của tỉnh Hà Tây và xãPhú Minh của tỉnh Hoà Bình

Phạm vi của đề tài tiến hành nghiên cứu ở phần diện tích quy hoạch cũthuộc huyện Ba Vì - Hà Tây (xã Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh, Ba Vì, MinhQuang, Ba Trại, Khánh Thượng)

3.2.2 Địa hình

Hình 3.1 Núi Ba Vì nhìn tổng thể

Trang 26

Ba Vì là một vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùngbán sơn địa, vùng này có thể coi như vùng núi dải nổi lên giữa vùng đồngbằng, chỉ cách hợp lưu của sông Đà và sông Hồng 30 km về phía Nam.

Những đỉnh núi cao nhất là đỉnh Vua (1.270 m), đỉnh Tản Viên(1.227m), và đỉnh Ngọc Hoa (1.131m), đỉnh Viên Nam (1.028 m) Ngoài racòn có các đỉnh như đỉnh Hang Hùm (776 m), đỉnh Gia Dễ (714 m)

Đỉnh Viên Nam thuộc phần diện tích mới mở rộng không thuộc phạm

vi nghiên cứu của đề tài

Khối núi Ba Vì gồm 2 dải dông chính:

- Dải dông theo hướng Đông - Tây từ suối ổi đến Cầu Lặt qua đỉnh TảnViên và đỉnh Hang Hùm dài 9 km

- Dải dông theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ Yên Sơn qua đỉnh TảnViên đến núi Quýt dài 11 km và chạy tiếp sang núi Viên Nam về dốc Kẽm

Nhìn chung Ba Vì là một vùng núi khá dốc, sườn phía Tây đổ xuốngsông Đà, dốc hơn so với sườn Tây Bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình củakhu vực là 250, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400 m trở lên, độ dốctrung bình là 350 và có vách đá lộ Việc đi lại trong Vườn không thuận lợi[66]

Trang 27

phát triển trên đá phiến thạch sét, sa thạch; Đất Feralit mầu vàng đỏ phát triểntrên đá phiến thạch sét, sa thạch, phiến thạch mica và các loại đá trầm tích;

Ba Vì có hai mùa rõ rệt đó là mùa nóng ẩm (khoảng từ giữa tháng 3 cho

đến giữa tháng 11), mùa lạnh khô (khoảng từ giữa tháng 11 cho đến giữatháng 3 năm sau) Tại độ cao 400 m trở lên ở đây hầu như không có mùa khô

Căn cứ vào cấp phân loại chế độ ẩm nhiệt (Thái Văn Trừng) Ba Vì đượcxếp vào loại hơi ẩm đến ẩm

c Chế độ mưa:

Trang 28

Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, phân bố không đều giữa các khuvực Vùng núi cao và sườn phía đông mưa rất nhiều 2.587,6 mm/năm Vùngxung quanh chân núi có lượng mưa vừa phải 1.731,4 mm/năm Sườn đôngmưa nhiều hơn sườn tây Số ngày mưa tại chân núi Ba Vì tương đối nhiều từ

130 - 150 ngày/năm Tại coste 400 m, số ngày mưa khá lớn từ 169 - 201ngày/năm bình quân là 189 ngày/năm

Lượng mưa phân phối theo mùa trong năm, diễn ra không đều Hàngnăm đều diễn ra sự luân phiên của một mùa mưa lớn và một thời kỳ ít mưa.Trong mùa mưa lượng mưa hàng tháng lớn hơn 1.000 mm Mùa mưa kéo dài 6tháng từ tháng 5 cho đến tháng 10 tại chân núi và 8 tháng từ tháng 3 cho đếntháng 10 từ coste 400 m trở lên Lượng mưa này chiếm hơn 90% tại chân núi

và 89% tại coste 400 m lượng mưa của cả năm Mưa lớn từ 300-400 mm/thángtập trung trong các tháng 6, 7, 8 ở chân núi và các tháng 6, 7, 8, 9 tại coste

400 m Thời kỳ ít mưa kéo dài từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau ởchân núi và từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau tại coste 400 m

d Khả năng bốc hơi:

Khả năng bốc thoát hơi ở Ba Vì vào khoảng từ 861,9 mm/năm đến759,5 mm/năm Khả năng bốc thoát hơi ít biến động trong không gian Khảnăng bốc thoát hơi tăng lên vào mùa nóng 80 mm/tháng và giảm xuống vàomùa lạnh 57 mm/tháng

3.2.5 Chế độ thủy văn:

Vùng núi Ba Vì có Sông Đà chảy dọc theo phía sườn tây Mực nướcsông năm cao nhất nhỏ hơn 20 m và năm thấp nhất là 7,7 m (1971) so với mựcnước biển Ngoài sông Đà khu vực núi Ba Vì không có sông và suối lớn, hầuhết các suối đều nhỏ và dốc Mùa mưa lượng nước lớn chảy xiết làm xô đất đálấp nhiều thửa ruộng ven chân núi, phá vỡ nhiều phai đập các trạm thuỷ điệnnhỏ Mùa khô nước rất ít lòng suối thường khô cạn

Trang 29

Trong vùng có 8 hồ nhân tạo như Đồng Mô, Ngải Sơn, hồ Hoóc Cua, hồSuối Hai, hồ Xuân Khanh, Đá Chuông, Minh Quang, Chẹ và hồ Phú Minh.

3.2.6 Các yếu tố khác cần lưu ý:

a Độ ẩm không khí

Độ ẩm không khí tăng dần theo độ cao Đặc biệt trên độ cao 1.000 m độ

ẩm không khí hầu như ẩm ướt quanh năm (92,0%) cao nhất vào đầu mùa hè(tháng 3, 4, 5) Đây là điều kiện thuận lợi cho thực vật phát triển tốt

c Sương muối

Vào mùa đông, nhiệt độ không khí vùng Ba Vì có thể xuống đến 00C,Nhiệt độ rất thấp và độ ẩm lớn tạo ra sương muối làm cho sức sống của thựcvật giảm, cây cối có thể bị chết

Tình hình sương muối ở vùng Ba Vì được đánh giá là nhẹ so với vùngnúi và trung du Bắc Bộ

3.3 Tài nguyên rừng

3.3.1 Hiện trạng các loại đất đai và tài nguyên rừng

Tổng diện tích đất lâm nghiệp Vườn quản lý là 10.742,4 ha, trong đó:

- Diện tích có rừng: 7.865,6 ha, chiếm 73,22% tổng diện tích của Vườn

- Diện tích rừng tự nhiên là 4.835,2 ha chiếm 61,47% diện tích có rừng

Trang 30

- Diện tích rừng trồng các loại là 3.030,4 ha chiếm 38,53% diện tích córừng.

- Diện tích đất không có rừng là 2.876,8 ha chiếm 26,78% diện tích củaVườn

Như vậy, Vườn quốc gia Ba Vì có tỷ lệ rừng còn tương đối lớn, trong đódiện tích rừng tự nhiên chiếm 61,47% diện tích đất có rừng, ở đây có khoảnggần 2140 ha rừng nguyên sinh ít bị tác động [66]

Phạm vi đề tài chỉ nghiên cứu trên phần diện tích cũ chưa mở rộng là6.786 ha

3.3.2 Thảm thực vật rừng

Thảm thực vật ở khu vực Vườn quốc gia Ba Vì gồm có 3 kiểu chính:

- Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm á nhiệt đới núi thấp

- Kiểu rừng kín thường xanh hỗn hợp cây lá rộng, cây lá kim á nhiệt đớinúi thấp

- Kiểu rừng kín lá rộng thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp Kiểu nàygồm có: Rừng tre nứa, rừng phục hồi, rừng trồng

Núi Ba Vì có các đai khí hậu nhiệt đới, cận nhiệt đới ở độ cao từ 100 1.296m nên có hệ thực vật rừng khá phong phú, vừa có các loài thực vật nhiệt

-đới vừa có các loài thực vật á nhiệt -đới [66]

3.3.3 Hệ thực vật rừng

a Thành phần các loài cây:

Theo tài liệu từ “Thực vật chí Đông Dương” của nhà thực vật Lecomtengười Pháp (1886 - 1891) và sau năm 1954 Theo danh mục của nhiều nhàthực vật trong và nước ngoài đã thu thập mẫu, nghiên cứu hệ thực vật khu vực

Ba Vì cùng với kết quả bước đầu điều tra hệ thực vật khu mở rộng của trường

Trang 31

Đại học Lâm nghiệp, thì ở đây có khoảng 900 loài thực vật thân gỗ thuộc 472chi, 199 họ.

Thành phần của hệ thực vật: Qua điều tra nghiên cứu ở đai cao (800 m)trở lên VQGBV đã phát hiện và giám định được tên cho 483 loài thuộc 323chi, 136 họ thực vật bậc cao có mạch Trong đó cây quí hiếm có 15 loài: Báchxanh, Thông tre, Phỉ ba mũi, Sam bông Cây mang tên Ba Vì có 7 loài: Cà lồ

Ba Vì, Mua Ba Vì, Bời lời, Xương cá [66]

3.3.4 Hệ động vật

Năm 1962, Viện Điều tra quy hoạch rừng đã thống kê có 44 loài thú,

115 loài chim, 11 loài bò sát, 8 loài lưỡng cư trong đó có 24 loài quý hiếm

Năm 1993, điều tra của Viện Sinh thái và tài nguyên sinh vật cho thấy ở

đây có 35 loài thú, 113 loài chim, 49 loài bò sát, 27 loài lưỡng cư và 87 loàicôn trùng

Năm 2002, điều tra cả trên phần đất thuộc diện tích mở rộng Vườn(thuộc tỉnh Hoà Bình) của Trường Đại học Lâm nghiệp đã thống kê ở Vườn có

44 loài thú, 115 loài chim, 49 loài bò sát, 27 loài lưỡng cư trong đó có 24 loàiquý hiếm như: Gà Lôi trắng, Báo gấm, Cu li lớn, Gấu ngựa, Sơn dương, Dù dìphương đông [66]

3.4 Điều kiện kinh tế - xã hội

VQGBV nằm trên địa bàn 16 xã, thuộc 3 huyện của 2 tỉnh Hà Tây vàHoà Bình (các xã Tản Lĩnh, Ba Trại, Yên Bài, Vân Hoà, Minh Quang, KhánhThượng thuộc huyện Ba Vì - Hà Tây; các xã Dân Hoà, Phúc Tiến, Phú Minhthuộc huyện Kỳ Sơn; các xã Yên Bình, Yên Quang, Tiến Xuân, Đông Xuân,Yên Trung và Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn tỉnh Hoà Bình) [65]

Tổng diện tích tự nhiên 16 xã khoảng 35.000 ha Trong đó có 17.018 hộvới dân số 77.600 người, 32.980 lao động Các dân tộc chủ yếu là: Dân tộc

Trang 32

Kinh 33%, dân tộc Mường 66% và dân tộc Dao và dân tộc khác 1% Tốc độtăng dân số trung bình là 2,4%/năm (*).

Cộng đồng người Dao có dân số gần 2.000 người, phân bố ở 3 thôn làHợp Nhất, Sổ, và Yên Sơn của xã Ba Vì Người Dao trong khu vực có truyềnthống thu hái và bán thuốc từ lâu đời Với hơn 90% số hộ có khả năng dùngcây thuốc để chữa bệnh và để bán Khoảng 40% dân số trong xã sống bằngnghề làm thuốc với nguồn dược liệu chính được thu hái từ VQGBV

Cộng đồng người Mường có dân số khoảng 25.600 người, các xã thuộcvùng đệm đều có (phần diện tích cũ) Người Mường đã sinh sống ở khu vựcnày từ lâu đời Tuy nhiên những hộ có khả năng dùng cây thuốc chữa bệnhkhông nhiều, chủ yếu dùng trong gia đình và chữa bệnh cho người quen.Những gia đình sống chuyên bằng nghề làm thuốc không nhiều bằng ngườiDao

Nhìn chung, kinh tế trong vùng chưa phát triển, đời sống còn nhiều khókhăn, nghề nông là chính Trình độ dân trí ở khu vực còn thấp Diện tích đấtnông nghiệp bình quân 500 m2/người Lương thực bình quân đạt 130 kg quythóc/người/năm Tập quán canh tác lạc hậu, tình trạng làm nương rẫy để sinhsống vẫn còn Cuộc sống người dân địa phương có ảnh hưởng lớn đến công tácquản lý bảo vệ ở VQGBV nói chung và nguồn tài nguyên cây thuốc nói riêng

(*Nguồn: Theo phiếu điều tra các xã vùng đệm năm 2004)

Trang 33

Chương 4: Kết quả nghiên cứu và bàn luận

4.1 Thống kế các loài cây làm thuốc ở khu vực VQGBV

Sau khi thu thập và kế thừa số liệu có chọn lọc từ những công trình khoahọc đã có trước đây, chúng tôi tiến hành điều tra những kinh nghiệm và hiểubiết của các ông lang bà mế thuộc 7 xã miền núi Vườn quốc gia Ba Vì - HàTây (phần diện tích cũ chưa mở rộng gồm xã Vân Hòa, Yên Bài, Tản Lĩnh, BaTrại, Ba Vì, Minh Quang, Khánh Thượng) Công tác thu mẫu tiến hành thumẫu tiêu bản trên thực địa theo phương pháp của Nguyễn Nghĩa Thìn năm

1997 Các mẫu thực vật làm thuốc được xử lý, giám định tên khoa học và tổnghợp Mẫu thu hái được đối chiếu với mẫu lưu trữ tại bảo tàng VQGBV, bảotàng Đại học quốc gia Hà Nội (HNU) Đối chiếu với các tài liệu tra cứu củaNguyễn Tiến Bân [3], Phạm Hoàng Hộ [29], [30] và Danh lục các loài thựcvật Việt Nam của Trung tâm Nghiên cứu tài nguyên và môi trường – ViệnSinh thái và tài nguyên sinh vật tập I, II, III [62] để xác định tên khoa học củaloài một cách chính xác

Bảng danh mục các loài thực vật làm thuốc được sắp xếp theo từng chi,từng họ trong các nghành, dựa theo phương pháp của Brummit (1992) [71].Thứ tự các loài trong từng chi, các chi trong từng họ, các họ trong từngnghành được xắp sếp theo thứ tự A, B, C

Mỗi loài cây được thể hiện ở các chỉ tiêu trong các cột:

Bảng danh lục được ghi ở Phụ lục 01

Trang 34

Từ kết quả điều tra (Phụ lục 01) cho ta thấy có 668 loài thuộc 441 chi,

158 họ ở 5 ngành thực vật bậc cao có khả năng làm thuốc ở khu vực Vườnquốc gia Ba Vì

Những loài thực vật bậc cao có mạch được sử dụng làm thuốc ở khu vựcVQGBV được xếp trong 5 ngành thực vật đó là:

Sự đa dạng của hệ thực vật làm thuốc ở đây trước hết được thể hiện qua

số lượng các họ, chi, và loài Để đánh giá chỉ tiêu này, ta so sánh với hệ thựcvật làm thuốc của cả nước Việt Nam

Bảng 4.1 So sánh hệ cây thuốc của VQGBV với hệ cây thuốc Việt Nam

Chỉ tiêu so sánh VQG Ba Vì Việt Nam* Tỉ lệ so sánh (%)Diện tích (km2) 6.786 329.600.000 0,0021

Trang 35

(* Nguồn: Kết quả điều tra được ở Việt Nam giai đoạn 2001 – 2005,Viện dược liệu, Nhà xuất bản KHKT)

Theo bảng 3.4 cho chúng ta thấy, diện tích của khu vực VQGBV so vớicả nước chỉ đạt 0,0021%, nhưng số họ thực vật làm thuốc có tới 158 họ chiếm51,47%, số chi có 441 chi chiếm 28,05% và có 668 loài chiếm 17,36% số loàitrong tổng số họ, chi, loài trong cả nước

Chúng ta thấy rằng tuy với diện tích rất nhỏ nhưng tỉ lệ so sánh (%) cáctaxon trong hệ cây thuốc ở VQGBV so với cả nước là khá cao (chiếm tỉ lệ22,12% so với cả nước) Điều đó nói lên sự đa dạng về số lượng các taxontrong hệ thực vật làm thuốc ở đây là rất cao

Như vậy ở VQGBV là rất đa dạng về mặt số lượng các taxon thực vậtlàm thuốc

Tính đa dạng của thành phần loài không chỉ thể hiện ở số lượng cáctaxon của hệ mà còn thể hiện ở sự phân bố của các taxon trong các ngành

Để xem xét chỉ tiêu này chúng ta xem xét Bảng 4.2 và Biểu đồ 4.1.Phân tích Bảng 4.2 và Biểu đồ 4.1 cho ta thấy phần lớn các taxon tậptrung trong ngành Hạt kín (Angiospermae) với 140 họ, 421 chi và 644 loài Sốloài của ngành hạt kín chiếm nhiều nhất tới 96,40% tổng số loài thực vật làmthuốc ở khu vực Ngành Dương xỉ (Polypodiophyta) xếp thứ 2 với số lượng là

11 họ, 12 chi, 14 loài chiếm 2,10% tổng số loài trong toàn hệ Các ngànhThông đất (Lycopodiophyta), Hạt trần (Gymnospermae) chiếm tỉ lệ rất ít trongtổng số loài của toàn hệ là 0,30% và 1,05% Đặc biệt ngành Cỏ tháp bút(Equisetophyta) chỉ có 1 họ và 1 loài chiếm tỉ lệ thấp nhất 0,15%

Trang 36

Bảng 4.2 Thống kê số lượng họ, chi, loài trong các ngành ở VQGBV

Biểu đồ 4.1 Tỷ lệ số lượng loài của các ngành so với hệ

Như vậy, tất cả các ngành thực vật nói trên đều chiếm một vai trò nhất

định trong hệ thực vật cây thuốc ở khu hệ Tuy nhiên các ngành chiếm giữcác vai trò khác nhau và không đồng đều Ngành Thông đất

Trang 37

(Lycopodiophyta), Cỏ tháp bút (Equisetophyta), Dương xỉ (Polypodiophyta),Hạt trần (Gymnospermae) chiếm tỉ lệ rất nhỏ, tổng cộng chỉ có 3,60%, trongkhi đó riêng ngành hạt Hạt kín (Angiospermae) chiếm tỉ lệ rất lớn tới 96,40%tổng số loài thực vật làm thuốc của khu vực Ngành Hạt kín có số lượng loàilớn gấp hơn 25 lần so với tổng số các ngành còn lại trong khu hệ cây thuốc BaVì.

Với sự phân bố rất không đều về số họ, chi, loài thể hiện trong cácngành thực vật, điều đó thể hiện tính đa dạng trong việc phân bố các taxon bậcthấp của hệ

Để thấy rõ hơn vai trò của các taxon thực vật có trong các ngành chúng

ta so sánh tỉ lệ của các taxon trong các ngành với toàn hệ

Bảng 4.3 Đánh giá vị trí taxon của từng ngành so với toàn hệ

Trang 38

0 100

Biểu đồ 4.2 Số lượng các taxon thực vật làm thuốc ở VQGBV

Nhìn vào Bảng 4.3 và Biểu đồ 4.2 ta thấy rõ hơn vị trí các taxon họ, chi,loài trong các ngành thực vật làm thuốc ở khu vực VQGBV Vị trí đứng đầuthuộc về số lượng các họ, chi, loài của ngành thực vật Hạt kín chiếm 88,61%tổng số họ, 96,83% tổng số chi và 96,26% tổng số loài của cả hệ NgànhDương xỉ xếp thứ 2 chiếm 6,96% tổng số họ, 2,95% tổng số chi và 2,25% tổng

số loài Ngành Cỏ tháp bút có tỷ lệ thấp nhất chiếm chỉ có 0,63% tổng số họ,0,23% tổng số chi và 0,15% tổng số loài của cả hệ Sự phân bố không đều số

họ, chi và loài trong các ngành thực vật đã thể hiện rõ tính đa dạng trong việcphân bố các taxon bậc thấp của khu hệ

Để thấy rõ hơn sự đa dạng của các taxon thực vật trong ngành, chúngtôi chọn ngành Hạt kín (Angiospermae) – là ngành có số lượng taxon thực vậtnhiều nhất của khu hệ để khảo sát

Trong ngành này chúng ta khảo sát cả hai lớp hai lá mầm(Dicotyledoneae) và một lá mầm (Monocotyledoneae)

Trang 39

Bảng 4.4 Số lượng họ, chi, loài ở 2 lớp trong ngành hạt kín

SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%) SL Tỉ lệ (%)Angiospermae 140 100,00 421 100,00 644 100,00Dicolyledoneae 112 80,00 357 84,80 551 85,56

Bảng 4.4 cho chúng ta thấy lớp 2 lá mầm chiếm phần lớn số lượng lớn

số lượng các họ, chi, loài của ngành hạt kín

Phần lớn số lượng cây thuốc tập trung trong các họ thuộc lớp 2 lá mầm:

Có 112 họ chiếm 80,00%, 357 chi chiếm 84,80% và 551 loài chiếm 85,56%tổng số họ, chi, loài thuộc ngành hạt kín thực vật làm thuốc ở khu vựcVQGBV Chúng ta thấy có một số loài thuốc quí như: Xạ đen (Ehretia asperula Zoll & Mor.), Huyết đằng (Sargentodoxa cuneata (Oliv.) Rehd &

Wils.),Củ dòm (Stephania dielsiana Y C Wu)

Lớp một lá mầm chỉ có 28 họ chiếm 20,00%, 64 chi chiếm 15,20%, 93loài chiếm 14,44% tổng số họ, chi, loài thuộc ngành hạt kín thực vật làmthuốc ở khu vực Ba Vì Tuy số lượng họ, chi, loài có ít hơn nhưng thực vậtthuộc lớp một lá mầm lại tập trung rất nhiều loài thực vật làm thuốc có giá trị,

được người dân coi là thuốc quí: Thạch xương bồ (Acorus gramineus Soland.),

Hoàng tinh hoa trắng (Disporopsis longifolia Craib), Giải thùy vàng – Kim

tuyến (Anoectochilus lanceolatus Lindl.), Thổ phục linh (Smilax glabra Wall.

ex Roxb.), Râu hùm (Tacca chantrieri Andre), Bảy lá một hoa (Paris chinensis Franch.)

4.2.2 Sự đa dạng ở bậc họ

Trang 40

Các ngành thực vật làm thuốc ở khu hệ có số lượng các taxon rất đadạng và phong phú Để thấy rõ hơn tính đa dạng của khu hệ, chúng ta tìm hiểu

sự phân bố số lượng loài cây thuốc ở trong các họ

Bảng 4.5 Sự phân bố số lượng các loài cây thuốc trong các họ

5 - 9 loài

4 loài

3 loài

2 loài

1 loài

họ có 1 loài có tới 58 họ nhưng chỉ chiếm 8,68% tổng số loài Các họ cónhiều loài phần lớn nằm trong lớp hai lá mầm Trong tổng số 19 họ có số

Ngày đăng: 20/05/2021, 22:16

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm