1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá một số mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ do dự án danida xây dựng tại vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ

105 16 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đánh giá một số mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ do dự án danida xây dựng tại vườn quốc gia xuân sơn, tỉnh phú thọ
Tác giả Nguyễn Văn Tuấn
Người hướng dẫn PGS.TS. Võ Đại Hải
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2011
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 2,8 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhận thức được vai trò và vị trí của các loài LSNG đối với phát triển kinh tế, xã hội của đất nước, Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm hỗ trợ để bảo tồn và phát triển các loài cây

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

NGUYỄN VĂN TUẤN

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ DO DỰ ÁN DANIDA XÂY DỰNG

TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN, TỈNH PHÚ THỌ

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

Hà Nội, 2011

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LÂM NGHIỆP

-

NGUYỄN VĂN TUẤN

ĐÁNH GIÁ MỘT SỐ MÔ HÌNH TRỒNG CÂY LÂM SẢN NGOÀI GỖ

DO DỰ ÁN DANIDA XÂY DỰNG TẠI VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN,

TỈNH PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Quản lý bảo vệ tài nguyên rừng

Mã số: 60.62.68

LUẬN VĂN THẠC SỸ KHOA HỌC LÂM NGHIỆP

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:

PGS.TS VÕ ĐẠI HẢI

Hà Nội, 2011

Trang 3

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Rừng mang lại nhiều giá trị, từ xưa tới nay, khi nhắc tới giá trị kinh tế của

rừng người ta thường nói “Giá trị của rừng bao gồm giá trị gỗ và lâm sản ngoài gỗ” Tuy đây là một cách hiểu chưa đầy đủ về những giá trị của rừng

nhưng có thể thấy con người đã rất coi trọng giá trị cung cấp LSNG của rừng

Ở Việt Nam, LSNG đã được khai thác, sử dụng nhiều từ thời cổ đại và nhiều loại LSNG được coi là những sản vật quý của đất nước như Linh chi, Nhân sâm, LNSG có ý nghĩa rất quan trọng đối với nhiều cộng đồng, đặc biệt là cộng đồng các dân tộc miền núi Giá trị LSNG của rừng được thể hiện như rừng cung cấp lương thực (củ Mài, củ Gạo,…), thực phẩm (Nấm, măng, rau rừng,…), cung cấp thảo dược chữa bệnh (Nhân sâm, Hà thủ ô, Linh chi,…), cung cấp nguyên vật liệu xây dựng, làm đồ gia dụng, đan lát (các loại tre nứa, song mây),

Nhận thức được vai trò và vị trí của các loài LSNG đối với phát triển kinh

tế, xã hội của đất nước, Nhà nước đã có nhiều chính sách quan tâm hỗ trợ để bảo tồn và phát triển các loài cây LSNG, trong đó Quyết định số 2366/QĐ-BNN-LN

ngày 17/8/2006 của Bộ NN&PTNT về việc phê duyệt đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ giai đoạn 2006 - 2020 là một trong những chính sách

quan trọng thể hiện sự quan tâm của Nhà nước tới vấn đề này, theo đó đến năm

2020, lâm sản ngoài gỗ trở thành một phân ngành sản xuất trong lâm nghiệp, đạt được một số chỉ tiêu: giá trị sản xuất lâm sản ngoài gỗ chiếm trên 20% trong giá trị sản xuất lâm nghiệp; giá trị xuất khẩu tăng bình quân 10-15%, đến năm 2020 đạt 700-800 triệu USD/năm (bằng 30-40% giá trị xuất khẩu gỗ); thu hút 1,5 triệu lao động nông thôn miền núi vào việc thu hái, sản xuất, kinh doanh lâm sản ngoài gỗ; thu nhập từ lâm sản ngoài gỗ chiếm 15-20% trong kinh tế hộ gia đình nông thôn miền núi

Vùng lõi VQG Xuân Sơn nằm gọn trong địa giới hành chính của xã Xuân Sơn và một phần của xã Kim Thượng, Xuân Đài, Đồng Sơn với 10 thôn bản,

Trang 4

Nhận rõ được những thách thức đó, nhằm tạo ra một nguồn sinh kế mới cho người dân các xã quanh VQG Xuân Sơn từ đó giảm áp lực vào tài nguyên rừng và đảm bảo quản lý rừng bền vững dự án DANIDA với sự tài trợ của Đại sứ quán Vương quốc Đan Mạch tại Việt Nam đã xây dựng được 5 mô hình trồng cây LSNG với các loài cây chủ yếu như: Rau Sắng, khoai Tầng, Chuối phấn,… Dự án được triển khai thực hiện từ năm 2008 trên địa bàn 2 xã vùng đệm là Minh Đài, Xuân Đài và xã Xuân Sơn thuộc vùng lõi Vườn quốc gia Xuân Sơn - huyện Tân Sơn - tỉnh Phú Thọ Sau hơn 3 năm triển khai thực hiện, kết quả bước đầu cho thấy các mô hình này đã có tác động tích cực trong việc cải thiện sinh kế và nhận thức cho cộng đồng địa phương Tuy nhiên, cho tới nay, vẫn chưa có một đánh giá, tổng kết các mô hình này làm cơ sở cho việc đề xuất mở rộng

Xuất phát từ những lý do đó, đề tài “Đánh giá một số mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ do dự án DANIDA xây dựng tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” được thực hiện là thực sự cần thiết, nhằm lựa chọn được

loài cây, kỹ thuật trồng cây LSNG có triển vọng nhất cho khu vực

Trang 5

từ khai thác gỗ (cành, lá, gốc, rễ, )

Có nhiều tài liệu viết về lâm sản ngoài gỗ, nhưng chỉ ở những phạm vi hẹp của một loài hoặc một nhóm loài nhất định Nhưng chưa có một công trình nào đưa ra được một khái niệm chính xác về lâm sản ngoài gỗ này

+ Khái niệm về Lâm sản ngoài gỗ được đề cập chính thức vào năm 1989

do W.W.F Theo khái niệm này: “Lâm sản ngoài gỗ bao hàm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ, được khai thác từ rừng tự nhiên phục vụ mục đích của con người Bao gồm các sản phẩm là động vật sống, nguyên liệu thô và củi, song mây, tre nứa, gỗ nhỏ và sợi” (The Economic value of Non-timber Forest

products in Southeast asia - W.W.F - 1989)

Hiện nay trên thế giới có nhiều định nghĩa khác nhau về LSNG nhưng thông dụng hơn cả là định nghĩa do Hội đồng Lâm nghiệp Tổ chức Nông Lương

của Liên Hiệp quốc (FAO) thông qua năm 1999: “Lâm sản ngoài gỗ (Non - timber forest products - NTFP, hoặc Non - wood forest products - NWFP) bao gồm những sản phẩm có nguồn gốc sinh vật, khác gỗ, được khai thác từ rừng, đất có rừng và từ cây gỗ ở ngoài rừng”

Như vậy, lâm sản ngoài gỗ bao gồm tất cả các vật liệu sinh học khác gỗ được khai thác từ rừng (cả rừng tự nhiên và rừng trồng) phục vụ mục đích của con người Có thể kể ra một số LSNG chính như các loài thực vật, động vật dùng làm

Trang 6

1.2.1.1 Nghiên cứu về phân loại, bảo tồn LSNG

Công trình “Nghiên cứu về tre trúc” của Munro (1868) được coi là một

trong những nghiên cứu về tre trúc đầu tiên (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) [3].Trong công tác này tác giả đã khái quát được một cách tổng quan về họ phụ tre trúc trên thế giới

Khi nghiên cứu về “Các loại tre trúc” Gamble (1896) đã đề cập tương đối chi tiết về phân bố, hình thái và một số đặc điểm sinh thái của 151 loài tre trúc (dẫn theo Đỗ Văn Bản, 2005) có ở các nước Ấn Độ, Pakistan, Miến Điện, Malaysia và Indonesia

I T Haig, M.A Hubermen và U Aung Din de F.A.D (1963) với công trình “Rừng tre nứa” đã nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của tre trúc nứa

Ấn Độ, Pakistan liên quan đến thổ nhưỡng, khí hậu và một số biện pháp xử lý lâm học, tái sinh, khai thác

S Dransfield and E.A Widjaja (1995) [21] đã tiến hành mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái, phân bố, gây trồng, sử dụng cho 75 loài tre trúc thông dụng,

có giá trị ở vùng Đông Nam Á

Nhìn chung, các nghiên cứu phân loại hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào các loài LSNG có diện tích phân bố với số lượng lớn là Tre trúc, các nghiên cứu về Song mây và một số cây thuốc, cay lấy dầu nhựa,… hầu như chưa được

đề cập đến

1.2.1.2 Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng

Zhou Fangchun (2000) [22] có đề cập đến nhân giống của một số loài tre trúc khác nhau ở Trung Quốc làm cơ sở cho việc gây trồng phát triển tre trúc

Trang 7

5

Ở Malaysia bước đầu đã nghiên cứu tạo giống mây bằng phương pháp nuôi cây mô, đã tiến hành thí nghiệm trồng song mây dưới tán các loại rừng với các mật độ khác nhau Malaysia và Indonesia đã xây dựng rừng mây giống phục vụ cho gieo trồng trên quy mô lớn (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7]

Xiao Jianghua (1996) đã xác định những nhân tố ảnh hưởng đến quá trình sinh măng, sinh trường và phát triển của thân khí sinh là độ ẩm, nhiệt độ, dinh dưỡng, cấu trúc rừng, biện pháp lâm sinh, sâu bệnh Đây là những nhân tố cần phải được quan tâm khi áp dụng các biện pháp thâm canh tăng năng suất măng

và thân khí sinh (dẫn theo Nguyễn Quang Hưng, 2008) [11]

Zhou Fangchun (2000) [22] đã cho thấy nhiệt độ, lượng mưa và độ ẩm có ảnh hưởng khá rõ đến quá trình phát sinh, phát triển măng,… của nhiều loài tre trúc khác nhau, đó là những cơ sở để áp dụng các biện pháp thâm canh nhằm thúc đẩy sinh măng trái vụ ở Trung Quốc

Theo J Dransfield và N.Manokaran, 1998 việc trồng mây nếp đã phát triển trên quy mô lớn ở Trung Quốc, phổ biến là trồng theo phương thức nông lâm kết hợp, trồng xen trong các khu rừng phục hồi và rừng trồng, cây non được trồng 1 hoặc 2 cây/cụm Tại Quảng Đông, mây nếp được trồng thử nghiệm ở sườn đồi, thu hoạch vào năm thứ 7 cho năng suất khoảng 1,2 tấn/ha (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002)[7]

Những năm gần đây, một số nhà khoa học đã nghiên cứu về đặc điểm sinh thái học, kỹ thuật gây trồng, chế biến và tổng kết đánh giá kết quả trồng một số loài LSNG có giá trị ở các nước nhiệt đới như Việt Nam, Trung Quốc, Brazils,… (Peter Zuidema, 2001;… Marinus J.A Werger, 2000; FAO, 2000;…)

Nhìn chung, việc nghiên cứu về phân loại, mô tả hình thái, sinh thái, công dụng, tầm quan trọng cũng như đánh giá các mô hình gây trồng và phát triển LSNG trên thế giới đã có nhiều kết quả Các kết quả đều khẳng định việc gây trồng, phát triển, sử dụng hợp lý và bền vững thì LSNG sẽ có vai trò to lớn trong việc tạo thu

Trang 8

6

nhập cho người dân miền núi, nhiều nơi còn làm nguồn thu nhập chính, góp phần xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống, đảm bảo an ninh lương thực, ổn định xã hội đồng thời đóng góp rất lớn trong quá trình bảo vệ và phát triển rừng

1.2.1.3 Nghiên cư ́ u về thi ̣ trường LSNG

Các nghiên cứu chỉ ra rằng, mă ̣c dù LSNG có giá tri ̣ to lớn, nhưng nhiều người sản xuất LSNG la ̣i thu được hiê ̣u quả rất thấp là do sự ha ̣n chế trong viê ̣c tiếp cận thông tin thi ̣ trường một cách có tổ chức hoă ̣c thiếu những giải pháp kỹ thuâ ̣t phù hợp để nâng cao chất lượng sản phẩm theo đòi hỏi của thi ̣ trường Để

gó p phần giải quyết những vấn đề trên, vào năm 1992, chương trình rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hưỡng dẫn cho viê ̣c ta ̣o ra các hê ̣ thống thông tin thi ̣ trường LSNG ở mức đi ̣a phương và giới thiê ̣u một số kinh nghiê ̣m về kỹ thuâ ̣t nuôi trồng , canh tác và phát triển thực vâ ̣t ngoài gỗ, như phát triển

rừ ng cung cấp dược thảo ở Nepan, rừng cung cấp cây ho ̣ dầu, Tanin, cau rừa ở

vù ng Amazon – Brazil, rừng cung cấp song mây ở Malaixia (dẫn theo Vũ Văn Dũng và cộng sự, 2002) [7]

1.2.1.4 Các nghiên cứu về vai trò của LSNG

Phần lớn LSNG đã trở thành sản phẩm hàng hóa nên đã mở ra triển vọng cho việc quản lý sử dụng bền vững nguồn tài nguyên rừng Cùng với việc kinh doanh gỗ, nó đem lại nhiều lợi ích cho việc bảo vệ rừng (Wim Bergmans, 1989) Thấy rõ được vai trò của LSNG trong kinh tế và bảo vệ rừng, trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học nhằm phát hiện các sản phẩm ngoài gỗ Phần lớn các công trình nghiên cứu được thực hiện ở các nước đang phát triển trong khu vực nhiệt đới, là những nơi có tiềm năng LSNG nhất trên thế giới, nhưng lại có áp lực phá rừng mạnh mẽ nhất

Giá trị kinh tế - xã hội của LSNG thể hiện ở nhiều khía cạnh khác nhau, từ cung cấp lương thực, thực phẩm, vật liệu xây dựng, nguyên liệu thủ công mỹ nghệ, đến tạo việc làm, phát triển ngành nghề thủ công nghiệp,… Tầm quan

Trang 9

7

trọng của LSNG đối với các nước nhiệt đới đã được thừa nhận, như ở Thái Lan, trong năm 1987 đã xuất khẩu LSNG đạt giá trị 23 triệu USD và ở Indonesia cũng trong năm đó đạt tổng giá trị xuất khẩu LSNG lên tới 238 triệu USD (Tenne, 1987)

Các tổ chức quốc tế như FAO (1997) [20], UICN (1999) [12] đã đưa ra bảng giá trị của LSNG so với các giá trị khác của rừng được thể hiện ở bảng 01

Bảng 1.1 Giá trị của rừng và LSNG ở một số quốc gia trên thế giới

Quốc gia Giá trị sinh thái

(%)

Giá trị lâm sản (%) Toàn bộ Lâm sản gỗ LSNG

Nguồn: FAO (1997), UICN (1999)

Như vậy, giá trị LSNG ở nhiều quốc gia được ước tính xấp xỉ bằng so với giá trị của gỗ Do đó, nếu chỉ coi gỗ là nguồn thu nhập duy nhất từ rừng thì chúng ta đã bỏ lỡ một nguồn lợi khác tương đương với nó Dưới đây là một số nghiên cứu chứng minh điều này:

- Nghiên cứu của Mayer (1980) cho thấy, 60% tổng sản phẩm phi gỗ được tiêu thụ bởi người dân địa phương và không bao giờ được tính ra tiền mặt

- Ở Ấn Độ (1982) LSNG chiếm gần 40% giá trị lâm sản và 60% giá trị lâm sản xuất khẩu Ở Indonesia (1989) thu được 436 triệu USD từ LSNG

Trang 10

1.2.1.5 Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG

Hệ sinh thái rừng nhiệt đới là một hệ sinh thái hoàn hảo và đầy đủ với khu

hệ động vật và thực vật phong phú và đa dạng nhất hành tinh (Van Steenis, 1956) Vì vậy, việc tận dụng triệt để mọi tiềm năng của rừng nhiệt đới ẩm để kinh doanh toàn diện, lợi dụng tổng hợp, trong đó có kinh doanh và lợi dụng LSNG là hết sức cần thiết

Rừng nhiệt đới tuy chỉ chiếm 7% bề mặt trái đất nhưng trong đó chứa đựng gần 90% tổng số loài thực vật của trái đất (Mc Nell et al, 1990)

Năm 1987, Wilson đã tìm thấy quanh một gốc cây họ đậu ở Peru có tới 43 loài kiến, thuộc 26 giống, bằng toàn bộ khu hệ kiến có mặt ở nước Anh

Tại Đông Nam á, rừng nhiệt đới và đặc biệt là rừng mưa có mức độ đa dạng sinh học rất cao Tại Malaysia có ít nhất 40.000 loài thực vật, Indonesia có khoảng 20.000 loài, Thái Lan có 12.000 loài, số loài thực vật ở Đông Dương (Việt Nam, Lào, Campuchia) là 15.000 loài

Nhằm nâng cao vai trò của LSNG một số tổ chức quốc tế tiêu biểu trong hoạt động nghiên cứu LSNG như: Tổ chức nông lương thế giới (FAO), Trung tâm nghiên cứu Lâm nghiệp quốc tế (CIFOR), Trung tâm Nông lâm kết hợp quốc tế (ICRAF),… đã tập trung nghiên cứu vào nhóm các nghiên cứu sau:

Trang 11

9

- Khảo sát tình hình nhằm nắm được những hiểu biết chung về việc sử dụng LSNG và tầm quan trọng của LSNG ở các mức độ khác nhau (hộ gia đình, địa phương, quốc gia và quốc tế);

- Phát triển công nghệ để cải thiện quá trình chế biến và sử dụng LSNG;

- Nghiên cứu về canh tác LSNG;

- Nghiên cứu về kinh tế, xã hội bao gồm cả nghiên cứu về thị trường LSNG

Việc quan tâm tới công nghệ sau thu hoạch thường ít ỏi, vì vậy gây lãng phí cả về số lượng và chất lượng trong quá trình thu hái, vận chuyển và cất trữ sản phẩm LSNG (FAO, 1995) [19] Một số vấn đề nổi cộm trong sản xuất, chế biến LSNG ở các nước đang phát triển là hạn chế kỹ thuật khai thác và xử lý sau thu hoạch; thiếu các nghiên cứu về phát triển giống các loài cây cao sản; kỹ thuật chế biến kém hiệu quả; thiếu các giải pháp điều chỉnh chất lượng; khó khăn về thị trường và thiếu cán bộ được đào tạo,…

Năm 1992 Chương trình Rừng, cây và con người (FTPP) đã phát triển các bản hướng dẫn cho việc tạo ra các hệ thống thôn tin thị trường LSNG ở mức địa phương Phương pháp này đã được kiểm nghiệm ở Bangladesh và Uganda năm

1993 và cho thấy tính hiệu quả thiết thực của nó trong việc nắm bắt thông tin về thị trường cây LSNG ở mức địa phương từ đó có kế hoạch lựa chọn, điều chỉnh loài cây LSNG gây trồng, khai thác và sử dụng cho phù hợp [17]

1.2.2 Ở Việt Nam

1.2.2.1 Nghiên cứu về phân loại, bảo tồn LSNG

Nhận thức được tầm quan trọng của LSNG, ngay từ những năm đầu thế

kỷ XX, Lecomte - một nhà nghiên cứu của Pháp đã đề cập, xác định được nhiều loài LSNG có giá trị trong cuốn “Thực vật chí đại cương Đông Dương” trong đó

có ở Việt Nam

Trang 12

10

Đỗ Tất Lợi (1977) [14] trong “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” - tái bản lần 3 có sửa đổi bổ sung đã mô tả nhiều loài cây LSNG làm thuốc, trong

đó có nhiều bài thuốc hay từ những loài LSNG này

Vũ Văn Dũng và cộng sự (2002) [7], các tác giả đã đưa ra định nghĩa, phân loại LSNG, giới thiệu về một số nhóm LSNG có giá trị ở Việt Nam, tổ chức và quản lý LSNG, những thuận lợi, khó khăn trong quá trình phát triển LSNG,…

Theo Lê Viết Lâm và cộng sự (2005) ở Việt Nam có thể có đến 200 loài tre trúc, bước đầu xác định có 22 chi với 122 loài đã được giảm định tên, trong

đó có rất nhiều loài có giá trị sử dụng và kinh tế cao cần được nghiên cứu phát triển Tác giả đã giới thiệu 40 loài tre trúc thông dụng về phân bổ, đặc điểm hình thái, sinh thái và công dụng để làm cơ sở tham khảo cho nghiên cứu và sản xuất

Nguyễn Hoàng Nghĩa (2006) [15] cũng đã mô tả đặc điểm hình thái, sinh thái phân bổ và công dụng của 194 loài tre ở Việt Nam và 3 giống: Bát độ, Điềm trúc và Tạp giao có xuất xứ từ Trung Quốc

Năm 2006, Bộ NN&PTNT đã phê duyệt đề án “Bảo tồn và phát triển LSNG trong giai đoạn 2006 – 2020” [1] Năm 2007, Bộ NN&PTNT tiếp tục phê duyệt Kế hoạch hành động bảo tồn và phát triển LSNG ở Việt Nam [2]

Triệu Văn Hùng cùng các tác giả khác (2007) [9], đã mô tả hình thái, phân

bố, công dụng, kỹ thuật gây trồng, thu hoạch, chế biến và bảo quản của 299 loài LSNG Trong đó phân ra thành 6 nhóm: Nhóm cây có sợi (35 loài tre nứa, 2 loài mây và 8 loài khác); Nhóm cây làm thực phẩm (40 loài cây ăn được, 12 loài nấm); Nhóm cây thuốc (76 loài); Nhóm cây cho dầu nhựa (60 loài); Nhóm Tanin, thuốc nhuộm (19 loài); Nhóm cây bóng mát (23 loài cây hoa, 13 loài cây cảnh, 11 loài cây cảnh và cây bóng mát thân gỗ)

1.2.2.2 Nghiên cứu về chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng

Nhân giống Hồi bằng phương pháp giâm hom với thuốc kích thích ra rễ là IBA (1%), hom lấy từ cây 2 tuổi có tỷ lệ ra rễ khá cao đạt từ 66 - 69%; Phương

Trang 13

11 pháp ghép nêm và ghép áp cho hồi cũng có tỷ lệ sống khá cao, sau 3 tháng đạt hơn 79%, sau 5 tháng còn gần 74% và sau 14 tháng có thể xuất vườn còn gần 46% Tỷ lệ sống của cây ghép hầu như không phụ thuộc vào tuổi cây mẹ cho cành ghép mà phục thuộc rất rõ rệt vào từng dòng cây mẹ cho cành ghép (Nguyễn Huy Sơn, Nguyễn Tuấn Hưng – 2003)

Xử lý bằng IBA (1%) trong thời kỳ đầu hè để giâm hom Quế đạt tỷ lệ ra

rễ cao và sử dụng phương pháp ghép nêm ngọn Quế cho tỷ lệ sống cao nhất so với ghép mắt và ghép cành (70 - 77%) (Phạm Văn Tuấn, 2005)

Khi nghiên cứu chọn tạo giống Quế có năng suất tinh dầu cao Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chọn được 122 cây trội theo các chỉ tiêu sinh trưởng, 79 cây theo sinh trưởng và hàm lượng tinh dầu, 45 cây theo cả sinh trưởng, hàm lượng và chất lượng tinh dầu ở Yên Bái, Quảng Nam và Quảng Ngãi Về nhân giống, đề tài cũng đã chỉ ra được tuổi cây lấy hom, giá thể và loại hom có ảnh hưởng đến tỷ lệ ra rễ của hom, tốt nhất là lấy hom cành hay hom chồi vượt ở cây dưới 7 năm tuổi, giâm hom trong giá thể cát vào đầu vụ hè là tốt nhất Đối với ghép, đề tài cũng đưa ra 3 phương pháp nhưng đạt hiệu quả cao nhất vẫn là ghép nêm ngọn, cành ghép tốt nhất là lấy ở cây dưới 7 năm tuổi và nên ghép vào vụ thu Các tác giả đã dùng cây ghép để xây dựng vườn giống kết hợp khảo nghiệm hậu thế đối với loài cây này

Nguyễn Ngọc Bình (1964) đã chỉ ra rằng Luồng sinh trưởng tốt nơi đất chua pH(KC1): 4,2 – 5,0 Cũng theo Nguyễn Ngọc Bình (2001) khi nghiên cứu đặc biệt đất trồng rừng Tre Luồng và ảnh hưởng của các phương thức trồng rừng tre Luồng đến đất cho rằng trồng Luồng theo phương thức hỗn giao, thích hợp nhất là hỗn giao với cây họ đậu như Keo để tránh cho đất bị suy thoái [5], [6]

Ngô Quang Đê (1994) cũng đã giới thiệu kỹ thuật gây trồng tre trúc cho 3 loài: Luồng, Mạy sang và Vầu đắng gồm các khâu ươm giống, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc, khai thác và sử dụng

Trang 14

12

Triệu Văn Hùng, Nguyễn Xuân Quát, Hoàng Chương (2002) [10] đã giới thiệu điều kiện gây trồng, nguồn giống, kỹ thuật trồng, chăm sóc, khai thác và chế biến cho một số loài cây lâm sản ngoài gỗ có giá trị

Nguyễn Tử Kim, Lê Thu Hiền, Lưu Quốc Thành (2004) đã trồng Song mật

và Mây nếp dưới tán một số trạng thái rừng phục hồi ở Phú Thọ và Hoà Bình kết quả cho thấy: Mây nếp sau 42 tháng tuổi ở Cầu Hai (Phú Thọ), với phương pháp

xử lý thực bì theo lỗ trống, trồng theo cụm (250 cụm/ha), mỗi cụm 3 hố, 1 cây/hố

đã cho sinh trưởng về chiều cao và tỷ lệ đẻ nhánh cao nhất (h = 136cm, 65,3% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh) Cũng với phương pháp xử lý như ở Cầu Hai (Phú Thọ), Mây nếp sau 30 tháng tuổi tại Hoà Bình đã cho sinh trường về chiều cao và tỷ lệ

đẻ nhánh cao nhất (h = 201cm, 68,1% số cây đẻ từ 1 – 3 nhánh)

Đỗ Văn Bản và các cộng sự (2005) [3], [4] đã tuyển chọn 3 loài tre nhập

nội trồng để lấy măng: Điềm trúc (Dendrocalamus latiflorus), Lục trúc (Bambusa oldhamii) và Tạp giao với 13,5 ha mô hình thực nghiệm tại Phú Thọ

và Thanh Hoá Đề tài đã đưa ra được một số biện pháp thâm canh cho mô hình trồng thuần loài: Mật độ trồng, phân bón, điều chỉnh cây mẹ, đồng thời đã xây dựng hướng dẫn kỹ thuật trồng thâm canh, kỹ thuật khai thác măng và một số biện pháp sơ chế bảo quản măng

Trong một công trình nghiên cứu khác Đỗ Văn Bản (2005) [4] cũng đã thống kê được hiện nay nước ta có 4 loài tre nhập nội lấy măng đang được gây trồng gồm Điềm trúc, Lục trúc, Tạp giao và Mạnh tông Đề tài đã thống kê được diện tích trồng Điềm trúc tính đến năm 2003 là 2.700 ha Ngoài ra, đề tài còn cung cấp những thông tin về đặc tính sinh thái, hình thái, kỹ thuật gây trồng, chăm sóc và kinh nghiệm gây trồng của nhân dân

Nguyễn Huy Sơn, Phạm Văn Tuấn (2006) đã chỉ ra mật độ trồng rừng ảnh hưởng rất rõ đến sinh trưởng của Quế, các tác giả cũng đưa ra mật độ từ 300 cây/ha đến 5000 cây/ha là mật độ thích hợp cho Quế 18 tháng tuổi

Trang 15

Kỹ thuật trồng Trám trắng của Phạm Đình Tam (1998),…

1.2.2.3 Nghiên cư ́ u về thi ̣ trường LSNG

Dương Tín Đức (2009) trong công trình nghiên cứu “Nghiên cứu các giải pháp phát triển trồng rừng sản xuất tại Công ty Lâm nghiệp Nam Nung, tỉnh Đăk Nông” đã chỉ ra rằng thị trường nhựa mủ cao su của Công ty hiện nay là

chưa rộng, chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao vì Công ty mới chỉ dừng lại ở việc bán nhựa mủ thô cho các nhà máy chế biến ở trong tỉnh và khu vực Tp Hồ Chí Minh Qua đó, tác giả đề xuất Công ty cần đẩy mạnh việc xây dựng nhà máy chế biến nhựa mủ Cao su để từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh [8]

Phạm Văn Phong trong đề tài nghiên cứu “Đánh giá thực trạng gây trồng

và phát triển lâm sản ngoài gỗ tại vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” kết

quả nghiên cứu cho thấy, tại vườn Quốc gia Xuân Sơn các loài LSNG như Măng bát độ, Vầu đắng do người dân gây trồng mới chỉ được bán tại địa phương với lượng tiêu thụ không lớn, một số ít được bán cho khách du lịch, riêng đối với thị trường nhựa mủ Sơn ta thì tư thương tới tận nhà để thu mua và sau đó bán cho thị trường tiêu thụ trong nước và bán sang Trung Quốc Kết quả nghiên cứu cũng chỉ

ra rằng, để đẩy mạnh việc gây trồng và phát triển cây LSNG tại khu vực thì công tác đẩy mạnh phát triển thị trường ra các tỉnh khác là hết sức cần thiết [16]

Trang 16

14

Nguyễn Thị Loan khi nghiên cứu về kiến thức bản địa trong gây trồng và phát triển cây LSNG tại VQG Tam Đảo đã cho thấy, tại vùng đệm VQG Tam Đảo, có 3 kênh thị trường tiêu thụ LSNG phổ biến là:

+ Người dân vùng đệm khai thác bán trực tiếp cho người sản xuất và chế biến

+ Người dân vùng đệm khai thác bán cho người thu mua trung gian sau

đó mới tới tay người sản xuất và chế biến

+ Người dân vùng đệm khai thác bán cho người trung gian, đại lý thu mua

và cuối cùng là người sản xuất và chế biến

Qua kết quả nghiên cứu tác giả cho rằng, việc không thông qua sơ chế, chế biến mà bán trực tiếp cây LSNG thô làm giảm nhiều giá trị thu được của người dân Sự trải qua quá nhiều khâu trung gian dẫn tới giá cả LSNG người dân bán thường bị ép giá với giá bán ngoài thị trường Do vậy, cần đẩy mạnh các khâu chế biến và đưa trực tiếp sản phẩm tới tay nhà sản xuất và người tiêu dùng

sẽ mang lại hiệu quả cao [13]

1.2.2.4 Các nghiên cứu về vai trò của LSNG

Phan Văn Thắng và cộng sự (2000) khi nghiên cứu đánh giá vai trò của LSNG ở tỉnh Cao Bằng và Bắc Kạn cho rằng LSNG ở đây có vai trò rất quan trọng, chúng là nguồn thu nhập quan trọng của nhiều hộ gia đình, chiếm trung bình 20 – 30% tổng thu nhập kinh tế của hộ/năm Đặc biệt một số nơi, người dân sống chủ yếu dựa vào LSNG như ở Nguyên Bình – Cao Bằng thu nhập chủ yếu

từ cây trúc sào

Christian Rake và cộng sự (1993) khi nghiên cứu về LSNG tại ba tỉnh Hoà Bình, Sơn La và Lai Châu đã cho rằng LSNG có vai trò rất quan trọng trong đời sống người dân ở 3 tỉnh này Trong đó, tre nứa, sa nhân, trẩu và song mây là những loài có tiềm năng phát triển Tuy nhiên, hiện nay người dân chủ yếu là khai thác tự nhiên nên nguồn tài nguyên này ngày càng cạn kiệt

Trang 17

và hái rau rừng để ăn

1.2.2.5 Các nghiên cứu về tiềm năng và giải pháp nâng cao vai trò của LSNG

Theo kết quả nghiên cứu của Viện dược liệu thì đã phát hiện được 1863 loài cây dùng để làm thuốc ở Việt Nam thuộc 1033 chi, 236 họ và 101 Bộ, 17 lớp, 11 ngành thực vật Theo Võ Văn Chi, con số này lên tới 3000 loài Chúng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong công việc chăm sóc sức khỏe nhân dân

Nghiên cứu của Christian Rate và cộng sự năm 1993 đã đề cập tới tiềm năng của LSNG tại Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu Các tác giả đã thống kê diện tích rừng Tre nứa ở 3 tỉnh là 26.000 ha Bình quân một năm khai thác khoảng 13

tỷ cây, trong đó 90% được bán cho nhà máy giấy Bãi Bằng, đồng bằng sông Hồng và xuất khẩu [18]

Năm 1978 Trung tâm nghiên cứu đặc sản rừng được thành lập (thực chất

là nghiên cứu về LSNG) với nhiệm vụ nghiên cứu phát triển LSNG, phương pháp chế biến, gây trồng lâm sản có giá trị

Phạm Văn Điển trong công trình nghiên cứu “Một số giải pháp kinh tế xã hội phát triển thực vật cho LSNG tại vùng hồ thủy điện Hòa Bình” đã đưa ra một

Trang 18

16

số giải pháp chính bao gồm: Quy hoạch sử dụng đất, phát triển rừng và LSNG; hoàn thiện chính sách giao đất lâm nghiệp; hỗ trợ gạo cho người dân vùng hồ; thu hút và xác định trách nhiệm của nhà máy thủy điện Hòa Bình trong việc xây dựng và tái tạo vốn rừng; thay đổi phương pháp khuyến lâm,…

1.3 Nhận xét, đánh giá chung

Điểm qua các công trình nghiên cứu ở cả trên thế giới và ở Việt Nam đều

có thể nhận thấy, giá trị LSNG từ rừng rất được quan tâm nghiên cứu Các công trình nghiên cứu đi sâu vào nhiều lĩnh vực, từ việc phân loại LSNG, chọn giống, nhân giống và kỹ thuật gây trồng nhiều loài LSNG, thị trường tiêu thụ, xác định tiềm năng, vai trò của LSNG đối với cộng đồng đặc biệt là cộng đồng dân cư sống gần rừng Các kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để xác định được giá trị và là căn cứ để phát triển các loài cây LSNG Mặc dù ở Việt Nam, các nghiên cứu được thực hiện khá muộn so với thế giới, tuy nhiên các nghiên cứu cũng đã đạt được những thành tựu đáng kể

Ở Việt Nam, tiềm năng cây LSNG là rất lớn, đa dạng cả về chủng loại, số lượng lẫn phân bố Tuy nhiên, do chỉ chú ý tới khâu khai thác tự nhiên nên tới nay hầu hết rừng tự nhiên của nước ta chỉ còn rất ít cây LSNG có giá trị, người dân sinh sống gần rừng bắt đầu khai thác và xâm lấn trái phép tài nguyên LSNG

ở các khu rừng quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên để phục vụ cho sử dụng tại chỗ

và sử dụng làm hàng hóa buôn bán gây tác động nghiêm trọng tới công tác bảo tồn và phát triển rừng đặc biệt là hiện nay, nhu cầu của thị trường trong và ngoài nước đối với nhiều loại LSNG quý, hiếm như Linh chi, Hà thủ ô, là rất lớn Như vậy, để có thể giảm áp lực vào tài nguyên rừng tự nhiên của nước ta, đồng thời tạo sinh kế, phát triển kinh tế địa phương thì việc tìm kiếm loài cây, biện pháp kỹ thuật để xây dựng các mô hình LSNG có giá trị là hết sức cần thiết đặc biệt đối với cộng đồng dân cư sống quanh vùng đệm của các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên

Trang 19

số hộ nghèo cao nhất trong huyện Tân Sơn) Mặc dù vườn quốc gia đã có nhiều chỉ thị ngăn cấm, thực hiện công tác tuyên truyền, vận động người dân nhưng vì

để đảm bảo cuộc sống người dân cũng không còn cách nào khác là vẫn buộc phải xâm lấn tài nguyên rừng, đi sâu vào vùng lõi của VQG để khai thác LSNG gây ra sự bất ổn và khó khăn rất lớn cho công tác bảo tồn và phát triển rừng Như vậy, để giảm tác động của cộng đồng vào rừng thì không còn phương thức nào khác là cần phải tìm kiếm ra nguồn sinh kế thay thế cho cộng đồng, đảm bảo

việc làm và cuộc sống cho họ Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn đó, đề tài “Nghiên cứu xây dựng một số mô hình trồng cây lâm sản ngoài gỗ tại Vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ” được đặt ra là hết sức có ý nghĩa đối với cả công tác

bảo vệ phát triển rừng của VQG và phát triển kinh tế địa phương

Trang 20

18

Chương 2:

MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU, NỘI DUNG VÀ

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Mục tiêu nghiên cứu

- Đánh giá được một số mô hình trồng cây LSNG do dự án DANIDA xây dựng tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

- Đề xuất được loài cây, mô hình và kỹ thuật trồng cây LSNG có triển vọng tại VQG Xuân Sơn

2.2 Đối tượng nghiên cứu

5 mô hình trồng cây LSNG do dự án DANIDA xây dựng tại VQG Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.3 Giới hạn nghiên cứu

2.3.1 Về địa bàn nghiên cứu: Địa bàn nghiên cứu và đánh giá các mô hình

trồng cây LSNG được giới hạn trong 3 xã Minh Đài, Xuân Đài và Xuân Sơn thuộc vườn Quốc gia Xuân Sơn, tỉnh Phú Thọ

2.3.2 Về nội dung nghiên cứu

- Các mô hình trồng cây LSNG được giới hạn trong 5 mô hình sau: + Mô hình trồng: Chuối phấn + Khoai tầng + Rau sắng + Trám trắng ghép

+ Mô hình trồng mới Sơn ta trên đất trống

+ Mô hình Trồng Sơn trên đồi chè

+ Mô hình cải tạo chè Shan

+ Mô hình cải tạo và nâng cấp mô hình: Chè Shan + Trúc Quân Tử + Vầu đắng

2.4 Nội dung nghiên cứu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, đề tài đặt ra những nội dung nghiên cứu như sau:

Trang 21

19

- Đánh giá tiềm năng và thực trạng gây trồng và phát triển cây lâm sản ngoài gỗ tại vườn quốc gia Xuân Sơn

- Khái quát chung về dự án DANIDA và các mô hình trồng cây LSNG

do dự án DANIDA đã xây dựng tại VQG Xuân Sơn

- Đánh giá kết quả xây dựng các mô hình trồng cây LSNG do dự án DANIDA xây dựng tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn

- Đề xuất loài cây, kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG có triển vọng tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn

2.5 Phương pháp nghiên cứu

2.5.1 Quan điểm và cách tiếp cận vấn đề nghiên cứu

a Quan điểm nghiên cứu

- Nghiên cứu phát triển LSNG trong vùng Vườn quốc gia Xuân Sơn cần

được đặt trong mối quan hệ chặt chẽ với đời sống thường ngày của người dân địa phương như các hoạt động khai thác, sử dụng, gây trồng và phát triển,

- Chú trọng nghiên cứu, tổng kết các biện pháp kỹ thuật đã có, các giống mới, chuyển giao công nghệ, kết hợp với nghiên cứu nhu cầu thị trường, khả năng tiếp nhận của người dân (chú trọng cả yếu tố kinh tế và kỹ thuật)

- LSNG cần được coi là một giải pháp quan trọng và có hiệu quả cao trong việc cải thiện sinh kế người dân địa phương, hướng tới công tác quản lý

rừng bền vững của VQG Xuân Sơn

- Phát triển kỹ thuật có sự tham gia (PTD): Lấy người dân làm trung

tâm

b Cách tiếp cận của đề tài

- Nghiên cứu phát triển LSNG nhằm góp phần cải thiện đời sống của

người dân sống trong và ngoài VQG Xuân Sơn cần có cách tiếp cận tổng hợp

- Cách tiếp cận có sự tham gia của các đối tượng khác nhau: người dân,

cán bộ thôn, xã, huyện, vườn quốc gia,

Trang 22

20

- Do thời gian nghiên cứu ngắn nên cách tiếp cận chủ yếu sẽ là kế thừa

tối đa các số liệu và thông tin đã có

Các bước giải quyết vấn đề của đề tài được cụ thể hóa qua sơ đồ sau:

Hình 2.1 Sơ đồ các bước nghiên cứu của đề tài

2.5.2 Phương pháp nghiên cứu

2.5.2.1 Phương pháp kế thừa số liệu, tài liệu

Từ các tài liệu đã có của Vườn quốc gia, UBND các xã, các mô hình đã triển khai để thu thập các thông tin, số liệu có liên quan

Thu thập các thôn tin, số

liệu, tài liệu, báo cáo

khoa học có liên quan

Khảo sát toàn bộ khu vực nghiên cứu, lựa chọn địa điểm điều tra

Vườn quốc gia Xuân Sơn,

án xây dựng tại VQG Xuân Sơn

Đánh giá kết quả xây dựng

mô hình trồng cây LSNG do

dự án DANIDA xây dựng tại VQG Xuân Sơn

Phân tích, xử lý số liệu

Đề xuất giải pháp

Trang 23

21 Các tài liệu thu thập gồm:

- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khu vực nghiên cứu, trong đó chú trọng đến các số liệu về kinh tế - xã hội như dân số, lao động, thu nhập, tình hình sản xuất nông lâm nghiệp, cơ sở hạ tầng,

- Đặc điểm tài nguyên rừng VQG Xuân Sơn, đặc biệt là các tài liệu điều tra về tài nguyên rừng, tài liệu về các loài LSNG trên địa bàn; phân bố, diện tích các loại rừng, công tác tổ chức quản lý bảo vệ rừng, tình hình giao khoán bảo vệ rừng,

- Định hướng quản lý rừng của VQG Xuân Sơn ở khu vực các xã vùng

dự án gồm: Xuân Sơn, Xuân Đài và Minh Đài

- Các thôn tin, tài liệu, số liệu, báo cáo có liên quan tới việc triển khai

Dự án DANIDA tại VQG Xuân Sơn

- Các chương trình, dự án có liên quan đến LSNG và cải thiện sinh kế người dân đã thực hiện tại 3 xã Xuân Sơn, Xuân Đài và Minh Đài

Ngoài ra, còn thu thập các tài liệu nghiên cứu đã có về lâm sản ngoài gỗ: loài cây, phân bố, biện pháp kỹ thuật gây trồng, giá trị sử dụng, thị trường, tiềm năng phát triển, thu thập các thông tin, kết quả nghiên cứu khác về thị trường LSNG, kỹ thuật và kết quả gây trồng một số loài LSNG có giá trị ở những khu vực khác có điều kiện tương tự

2.5.2.2 Các phương pháp nghiên cứu cụ thể

2.5.2.2.1 Phương pháp đánh giá tiềm năng, thực trạng gây trồng và phát triển cây LSNG tại VQG Xuân Sơn

- Tiềm năng phát triển cây LSNG được đề tài đánh giá bao gồm:

+ Tiềm năng về đất đai phát triển cây LSNG

+ Tiềm năng về lao động

+ Kinh nghiệm thu hái và gây trồng cây LSNG của cộng đồng

+ Loài cây trồng, nguồn giống, kỹ thuật

Trang 24

22 + Thị trường tiêu thụ

- Thực trạng phát triển cây LSNG được đề tài đánh giá bao gồm:

+ Diện tích gây trồng

+ Số mô hình, loài cây, biện pháp kỹ thuật áp dụng

+ Tình hình khai thác, sử dụng, chế biến

+ Tình hình tiêu thụ các mặt hàng LSNG,

Phương pháp chủ đạo được đề tài sử dụng là sử dụng bộ công cụ PRA

để tiến hành điều tra phỏng vấn các đối tượng có liên quan §iều tra phỏng vấn các đối tượng sau:

+ Cán bộ huyện Tân Sơn: 1 Phó chủ tịch, 2 cán bộ khuyến nông khuyến lâm + Cán bộ của VQG Xuân Sơn: Giám đốc, 2 cán bộ kỹ thuật (1 phó phòng kỹ thuật và 1 nhân viên kỹ thuật nắm rõ nhất tình hình phát triển cây LSNG trên địa bàn)

+ Cán bộ xã vùng dự án: Chủ tịch hoặc phó chủ tịch, cán bộ khuyến lâm - khuyến nông, cán bộ hội phụ nữ Mỗi xã 4 người/xã

+ 6 Thầy lang có sử dụng, buôn bán các loại cây LSNG trên địa bàn (mỗi xã 2 người)

+ Các tiểu thương, đại lý thu mua cây LSNG trên địa bàn 3 xã (Mỗi xã

5 người)

+ Người dân trên địa bàn 3 xã vùng dự án mỗi xã phỏng vấn 10 hộ Đối tượng được phỏng vấn phải đảm bảo:

Đại diện cho các thành phần dân tộc khác nhau

Đại diện cho các mô hình trồng cây LSNG, quy mô diện tích gây trồng, mức độ đầu tư thâm canh là khác nhau

Đại diện cho mức thu nhập: Khá, trung bình, nghèo

2.5.2.2.2 Phương pháp nghiên cứu về khái quát dự án DANIDA và các

mô hình trồng cây LSNG do dự án xây dựng

Trang 25

+ Đánh giá tình hình sinh trưởng, chất lượng rừng

+ Năng suất, sản lượng mô hình, hiệu quả kinh tế (chi phí, thu nhập)

- Đánh giá triển vọng các mô hình

2.5.2.2.4 Đề xuất loài cây, kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG có triển vọng tại Vườn Quốc Gia Xuân Sơn

Từ các kết quả nghiên cứu, đánh giá về các mô hình lâm sản ngoài gỗ

đã được xây dựng, đề tài đề xuất một số loài cây và kỹ thuật trồng các loài cây như sau: Mô hình trồng, loài cây trồng, thời vụ trồng, tiêu chuẩn cây con,

kỹ thuật đào hố, bón phân, chăm sóc, khai thác thu hái,

2.5.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

- Sử dụng phương pháp phân tích SWOT (điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức) để phân tích và đánh giá tiềm năng và phát triển LSNG trên địa bàn các xã trong vùng Vườn quốc gia Xuân Sơn

- Các số liệu thu thập về sinh trưởng, tỷ lệ sống của các mô hình đưa ra

đánh giá được xử lý bằng các hàm thống kê toán học trên phầm mềm excel 5.0

Trang 26

- Phía Đông giáp xã Long Cốc, Vĩnh Tiến huyện Tân Sơn

- Phía Tây giáp huyện Phù Yên tỉnh Sơn La và huyện Đà Bắc tỉnh Hoà Bình

- Phía Bắc giáp xã Đồng Sơn, Lai Đồng, Tân Phú và Tân Sơn huyện Tân Sơn

- Phía Nam giáp xã Kim Thượng huyện Tân Sơn và một phần huyện

Vùng đệm của Vườn quốc gia Xuân Sơn bao gồm các xã: Kiệt Sơn, Lai Đồng, Minh Đài và một phần các xã: Đồng Sơn, Tân Sơn, Kim Thượng, Xuân Đài, đều cùng huyện

Trang 27

25

3.1.2 Địa hình

Địa hình chia cắt mạnh bởi các dãy núi đá vôi cao độ dốc trung bình 30

- 350, điểm cao nhất là đỉnh núi Voi 1.386 m so với mực nước biển, nhiều sông suối nhỏ xen kẽ, có nhiều hang động núi đá vôi đẹp và nguyên sơ rất phù hợp để phát triển du lịch

Giữa các núi đá vôi cao là dãy đồi đất thấp, đất đai màu mỡ, có thể phát triển cây lâm nghiệp, cây công nghiệp, phía dưới là các thung lũng hình thành nên những thửa ruộng bằng phẳng, bậc thang màu mỡ Tuy nhiên, địa hình Karster của vùng núi đá vôi đã gây nên những khó khăn cho trồng trọt cây nông nghiệp ngắn ngày, đặc biệt vào mùa khô hạn

Vùng đồi núi thấp toả rộng từ hữu ngạn sông Hồng sang đến tả ngạn sông Đà bao gồm 2 huyện Thanh Sơn và Tân Sơn tỉnh Phú Thọ Sông Bứa và các chi lưu của nó toả nhiều nhánh ra gần như khắp vùng Nhìn toàn cảnh các dãy đồi núi chỉ cao chừng 600 - 700 m, hình dáng khá mềm mại vì chúng được cấu tạo bởi các loại đá phiến biến chất quen thuộc Cao nhất là đỉnh núi Voi 1386 m, tiếp đến là núi Ten 1.244 m, núi Cẩn 1.144 m

Các thung lũng trong vùng mở rộng và uốn lượn khá phức tạp Sự chia cắt theo chiều sâu cũng khá lớn, các sườn núi khá dốc, bình quân 200

Nhìn chung, địa hình trong khu vực có những kiểu chính như sau:

* Kiểu núi trung bình (N2): Hình thành trên đá phiến biến chất có độ

cao từ 700 - 1368 m Kiểu này phân bố chủ yếu ở phía Tây và Tây Nam Vườn quố c gia bao gồm phần lớn hệ đá vôi Xuân Sơn và các dãy núi đất xen kẽ Tác dụng xâm thực mạnh, độ dốc lớn trung bình 300, mức độ chia cắt phức tạp và là đầu nguồn của hệ sông suối của sông Bứa Kiểu đi ̣a hình này chiếm tỷ lệ 10,4% diện tích

* Kiểu địa hình núi thấp (N3): Được hình thành trên các đá trầm tích

lục nguyên uốn nếp, tác dụng xâm thực bóc mòn, thuộc địa hình này là các

Trang 28

26

núi có độ cao từ 300 - 700 m phân bố chủ yếu từ Nam, Tây Nam đến phía Bắc khu vực Núi ở đây có hình dạng mềm mại, đỉnh tròn, sườn thoải, độ dốc trung bình chỉ 200, có những thung lũng mở rộng hơn ở vùng núi phía Tây Bắc

* Kiểu đồi (Đ): Có độ cao < 300m, phân bố chủ yếu về phía Đông khu

vực Có hình dạng đồi lượn sóng mềm mại được cấu tạo từ các loại đá trầm tích và biến chất hạt mịn, hiện nay đã được trồng chè Xanh, chè Shan

* Thung lũng và bồn địa (T): Đó là những vùng trũng kiến tạo giữa núi

phân bố chủ yếu ở các xã vùng đệm, trong đó có Xuân đài Đây là các thung lũng sông suối mở rộng, địa hình bằng phẳng, độ dốc rất thoải, trong đó có trầm tích phù sa rất thuận lợi cho canh tác nông nghiệp

- Mùa nóng, do ảnh hưởng của gió mùa Đông Nam, nên thời tiết luôn nóng

ẩm, mưa nhiều Nhiệt độ trung bình trên 250C, nóng nhất là vào tháng 6 và 7 (280C) Nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 40,70C vào tháng 6

b) Chế độ mưa ẩm:

- Lượng mưa đạt mức trung bình từ 1.660 mm ở Thanh Sơn đến 1.826mm

ở Minh Đài Tập trung gần 90% vào mùa mưa (từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm), hai tháng có lượng mưa cao nhất là tháng 8 và tháng 9 hàng năm

- Mùa khô hạn từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau Lượng mưa chỉ còn chiếm dưới 10% tổng lượng mưa trong năm, nhưng hạn hán ít xảy ra vì có mưa phùn (mỗi năm có trên 20 ngày) làm hạn chế sự khô hạn trong mùa khô

Trang 29

3.1.4 Thủy văn

Hệ thống Sông Bứa với các chi lưu của nó toả rộng ra khắp các vùng Với lượng mưa khá dồi dào, trung bình năm từ 1500 - 2000 mm, lượng mưa cực đại có thể tới 2.453 mm nhưng có năm ít mưa chỉ đo được 1.414 mm tạo

ra tiềm năng to lớn cho phát triển nghề nuôi trồng thủy sản và chăn nuôi thủy cầm (Vịt Suối)

Trong vùng này khá giàu nước, mô đun dòng chảy gần 40l/s/km2 Dòng chảy cực tiểu khoảng 6 - 7 l/s/cm2 Lưu vực Sông Bứa khá rộng Địa hình lưu vực lại thuận lợi cho việc xây dựng các hồ thuỷ lợi để phục vụ sản xuất nông nghiệp Sông Bứa có hai chi lưu lớn là sông Vèo bắt nguồn từ các vùng núi cao phía Đông huyện Phù Yên tỉnh Sơn La và Sông Giày bắt nguồn từ các dãy núi cao trung bình ở ranh giới giữa Phú Thọ và Hoà Bình Hai sông này hợp nhau tại làng Kệ Sơn, rồi đổ vào sông Hồng Tổng chiều dài của sông

120 km, chiều rộng trung bình 200m có khả năng vận chuyển lâm sản từ thượng nguồng về Sông Hồng thuận lợi

3.1.5 Địa chất và thổ nhưỡng

a) Địa chất

Theo tài liệu địa chất miền Bắc Việt Nam cho biết: khu vực Vườn quốc gia có các quá trình phát triển địa chất phức tạp, các nhà địa chất gọi đây là

Trang 30

b) Thổ Nhưỡng

Được hình thành trong một nền địa chất phức tạp (có nhiều kiểu địa hình và nhiều loại đá mẹ tạo đất khác nhau) cùng với sự phân hoá khí hậu, thuỷ văn đa dạng và phong phú, nên có nhiều loại đất được tạo thành trong khu vực này:

- Đất feralit có mùn trên núi trung bình (FH): Được hình thành trong điều

kiện mát ẩm, độ dốc lớn, không có nước đọng, không có kết von và tầng mùn dầy, tỷ lệ mùn cao (8 - 10%) Phân bố từ 700 - 1.386 m, tập trung ở phía tây của khu vực, giáp với huyện Đà Bắc (tỉnh Hoà Bình), Phù Yên (tỉnh Sơn La)

- Đất feralit đỏ vàng phát triển ở vùng đồi núi thấp (F): Là loại đất có

quá trình Feralit mạnh và điển hình, màu sắc phụ thuộc vào từng loại đá mẹ

và độ ẩm của đất Phân bố dưới 700 m thành phần cơ giới nặng, tầng đất dầy,

ít đá lẫn, đất khá mầu mỡ, thích hợp cho các loài cây rừng phát triển

- Đất Rangin (hay đất hình thành trong vùng núi đá vôi) - R: Đá vôi là

loại đá cứng, khó phong hoá, địa hình lại dốc đứng nên khi phong hoá đến đâu lại bị rửa trôi đến đó, đất chỉ hình thành trong các hang hốc hoặc chân núi đá

Trang 31

29

- Đất dốc tụ và phù sa sông suối trong các bồn địa và thung lũng (DL):

Là loại đất phì nhiêu, tầng dầy, màu nâu, thành phần cơ giới chủ yếu là limon (L) Hàng năm thường được bồi thêm một lớp phù sa mới khá màu mỡ

3.2 Điều kiện kinh tế - xã hội

3.2.1 Dân số, dân tộc và lao động

Tổng hợp từ nguồn số liệu thống kê về kinh tế - xã hội của các xã, tổng

số hộ của 3 xã nghiên cứu là 2.779 hộ, 12.164 nhân khẩu Xuân Sơn có số hộ

và nhân khẩu ít nhất (228 hộ và 1.115 khẩu) Theo chuẩn nghèo VN 2006 -

2010 (Bộ LĐTBXH - QĐ 170/2005/TTg), ở nông thôn có mức thu nhập bình quân dưới 200.000 đồng/người/tháng thì hộ nghèo của các xã chiếm tỷ lệ 48,76% Xuân Sơn là xã có tỷ lệ nghèo cao nhất (54,82%)

Thành phần dân tộc tương đối đa dạng là người Tày, Dao, Mường và người Kinh, trong đó người Tày chiếm tỷ lệ ít nhất, sống tập trung ở xã Minh Đài Người Mường chiếm tỷ lệ cao nhất (62,28%) có ở tất cả các xã nghiên

cứ u, tiếp sau là người Kinh (21,93%) và người Dao (11,14%) Các dân tộc thiểu số sống ở đây từ rất lâu đời và gắn bó với rừng Người kinh đến sau và

phần lớn trong số họ là công nhân của các nông - lâm trường

Một số chỉ tiêu kinh tế - xã hội cơ bản của các xã cho thấy, bình quân nhân khẩu trong mỗi hộ dao động từ 4 - 5 người/hộ và số lao động bình quân

2 lao động/hộ là nguồn nhân lực quan trọng để phát triển kinh tế - xã hội của địa phương Mặc dù quy mô lực lượng lao động của mỗi hô ̣ không quá chênh lệch nhưng mức thu nhập bình quân đầu người rất khác nhau, cao nhất là Minh Đài (4,5 triệu đồng/người), tiếp theo là Xuân Đài (2,4 triệu đồng/người)

và thấp nhất là Xuân Sơn (1,88 triệu đồng/người) là do quy mô nhân khẩu, cơ

cấu sử dụng đất và cơ cấu nguồn thu nhập của các hô ̣

Trang 32

30

3.2.2 Cơ sở hạ tầng và thị trường

3 xã nghiên cứu đều nằm trên trục đường giao thông khá thuận tiện Tuy nhiên, Xuân Sơn là xã khó khăn hơn, khoảng cách từ Xuân Sơn đến thị trường trung tâm cụm xã Xuân Đài và Minh Đài là 12 km và có hệ thống đường liên thôn chưa phát triển, đường đất, mới làm, dốc và khó khăn đi lại khi trời mưa

Thị trường ở Xuân Đài và Minh Đài sôi động hơn Xuân Sơn là nơi thu gom gỗ rừng trồng cho công nghiệp chế biến gỗ, lâm sản ngoài gỗ, các sản phẩm nông sản và chăn nuôi cho các thị trường lớn hơn như: Thị trấn Thanh Sơn, thành phố Việt Trì và Hà nội

Hệ thống dịch vụ cho sản xuất, chăn nuôi và trồng trọt khá phát triển ở Xuân Đài và Minh Đài, đã hình thành kênh tiêu thụ gỗ nguyên liệu và chè Trong khi đó, hệ thống thị trường của Xuân Sơn kém phát triển, không có kênh tiêu thụ và hệ thống thu gom hàng hóa nông - lâm sản Mặt khác, người dân ở Xuân Sơn thường bị ép giá khi bán hàng hóa nông, lâm sản ở chợ Xuân Đài và Minh Đài

3.2.3 Y tế, giáo dục

Kết quả công tác này trong những năm qua cho thấy, các xã đã có sự quan tâm tới công tác chăm sóc sức khỏe cộng đồng: Xuân Sơn tuyên truyền các hô ̣ không sinh con thứ 3, phòng chống bệnh truyền nhiễm, giảm tỷ lệ trẻ suy dinh dưỡng xuống 10%, giảm tỷ lệ sinh đẻ xuống 0,6% Tiếp tục phát triển theo hướng ổn định bền vững nâng tỷ lệ học sinh lên lớp và xét tốt nghiệp đạt 100% Nhà ở cho giáo viên đã được xây dựng, sửa chữa và mua sắm đầy đủ Xuân Đài nâng cao chất lượng và số lượt người khám bệnh 7.888 đạt 117% kế hoạch Số bệnh nhân điều trị tại trạm là 169 người, điều trị ngoại chú 2.600 người, số bệnh nhân chuyển tuyến trên là 1004 người

Trang 33

31

3.2.4 Tình hình quản lý - sử dụng tài nguyên rừng

Kết quả điều tra khảo sát thu nhập và cơ cấu thu nhập của các hoạt động lâm nghiệp cho thấy, tất cả các sản phẩm khai thác và thu hái lâm sản đều được định giá tại thời điểm hiện tại để tính vào tổng thu nhập hàng năm của các xã Xuân Sơn có tổng thu nhập là 728.344.100 đồng; Xuân Đài là 3.463.470.00 đồng; và Minh Đài chỉ tính cho 2 thôn vùng đệm (Tân Lập và Tân Thư) là 572.649.010 đồng Xét trong cơ cấu thu nhập của các ngành kinh

tế của mỗi xã, thu nhập từ lâm nghiệp chiếm từ 11 - 22% tổng thu nhập Đặc biệt, xã Xuân Sơn có tỷ lệ thu nhập từ lâm nghiệp cao nhất 22% Điều này cho thấy sự phụ thuộc vào rừng là rất lớn của đồng bào dân tộc sống trong vùng này

Sử dụng gỗ củi cho đun nấu, sưởi ấm mùa đông và sản xuất (chế biến chè ở xã Minh Đài) là nhu cầu không thể thiếu và khối lượng tiêu dùng lớn nhất, chiếm từ 40 - 67,69% trong tổng thu nhập từ lâm nghiệp Bình quân khối lượng tiêu dùng 6,406 tấn/hộ/năm và được khai thác từ rừng tự nhiên và rừng trồng Bên cạnh đó, nhu cầu về gỗ cho sửa chữa và làm nhà mới hàng năm cũng rất lớn, khoảng từ 46 - 165 triệu đồng/năm, tương ứng 40 - 100 m3

gỗ/năm

Lâm sản ngoài gỗ được người dân khai thác sử dụng ở tất cả các xã và chiếm tỷ trọng tương đối lớn (từ 11 %- 26%) trong tổng số các nguồn thu từ rừng Đặc biệt, Xuân Sơn có nhiều loại lâm đặc sản được khai thác và sử

dụng như: Mật ong, Sa nhân, Rau Sắng v.v

Trang 34

32

Chương 4:

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 4.1 Đánh giá thực trạng và tiềm năng phát triển cây LSNG tại VQG Xuân Sơn

4.1.1 Điều tra, đánh giá thực trạng các mô hình phát triển LSNG đã có tại khu vực nghiên cứu

a Loài cây LSNG:

Theo các kết quả về điều tra phân bố số loài thực vật cung cấp LSNG

và phân loại chúng theo mục đích sử dụng tại VQG Xuân Sơn được thể hiện tại bảng 4.1 và bảng 4.2

Bảng 4.1 Cây LSNG ở VQG Xuân Sơn phân theo dạng sống

+ Nhóm thực vật thân gỗ cung cấp LSNG có 34 loài, bao gồm: nhóm loài cho quả (Trám, Sấu, Bứa, Giổi xanh, ), cho nhựa (Nhội, Sơn ta, ), cho tinh dầu (Mần tang), cho lá (Chân chim, Lá dong, Rau sắng, Chè shan, Cọ, ), cung cấp măng (Bát độ, Nứa, Vầu, Giang, )

+ Nhóm cây bụi thảm tươi và thực vật ngoại tầng cho LSNG khá đa dạng, có tới 63 loài đã được phát hiện, một số loài có giá trị kinh tế cao là Sa

Trang 35

+ Nhóm thực vật phụ sinh có 2 loài là Phong lan và các cây tầm gửi

Bảng 4.2: Phân loại LSNG tại khu vực VQG Xuân Sơn theo mục đích sử

Qua bảng 4.2 trên ta thấy:

+ Trong tổng số 113 loài thực vật cung cấp lâm sản ngoài gỗ ở khu vực VQG Xuân Sơn thì có tới 72 loài cung cấp dược liệu, nước uống (chiếm 69,9%), trong đó có một số loài được dùng phổ biến làm nước uống hàng ngày của người dân như cây Báng, Lục trọc, Gió rôm, cây Vắt (dân tộc Mường), cây Tầm gửi trên cây mua rừng, cây Tầm gửi trên cây Khế, nhiều loài cây trở thành vị thuốc quan trọng, cổ truyền được người dân sử dụng hàng ngày và đem bán ở chợ như Gió rôm, Khúc khắc đỏ, Khúc khắc vàng,…

Trang 36

+ Các loài cây cung cấp lương thực, thực phẩm có 12 loài (chiếm 11,7%), đây là những LSNG hết sức thân thuộc trong đời sống hàng ngày của người dân địa phương Cùng với các loại sản phẩm nông nghiệp khác như rau, gạo, chúng cung cấp nguồn lương thực, thực phẩm quan trọng cho người dân Một số loại thường gặp như Rau sắng, Củ mài, Bò khai, Khoai tầng, các loại măng Bát độ, măng Vầu, trong đó đặc biệt là rau Sắng không những là loài rau ăn ngon, được nhiều người ưa thích mà còn là LSNG có giá trị kinh tế rất cao, là đặc sản của địa phương Bên cạnh đó, khoai tầng cũng là LSNG có giá trị kinh tế và được ưa chuộng gây trồng trong vườn hộ

+ Các loài cây LSNG cung cấp nguyên liệu, thủ công mỹ nghệ, vật liệu xây dựng có 13 loài chiếm 11,5%, đây là những LSNG không thể thiếu trong việc xây dựng nhà cửa của người dân với một số loại được dùng phổ biến như

lá cọ, vầu, bương, mai, hiện nay nguồn cung cấp các loại LSNG này chủ yếu vẫn là từ rừng, một số gia đình cũng đã gây trồng trong vườn hộ nhưng quy mô và số lượng không lớn

Kết quả so sánh về cơ cấu sử dụng các sản phẩm LSNG tại khu vực nghiên cứu được thể hiện thông qua biểu đồ 4.1

Trang 37

35

Đa tác dụng 14,2%

Lương thực, thực phẩm 10,6%

Nguyên liệu, thủ công mỹ nghệ, VLXD 11,5%

Dược liệu, nước uống 63,7%

Hình 4.1 Biểu đồ cơ cấu sử dụng các sản phẩm LSNG trên địa bàn

Mặc dù nguồn tài nguyên LSNG tại địa phương vô cùng đa dạng và phong phú, song không phải tất cả trong số này đều được người dân phát hiện

và sử dụng thường xuyên Chỉ có một số loại LSNG hay được người dân sử dụng trong cuộc sống hàng ngày hoặc đem ra chợ bán như: Chuối phấn, rau sắng, Vầu ngọt, Vầu đắng, Chè Shan, Sơn ta, Giổi xanh,…

b Các mô hình trồng cây LSNG:

Hiện nay tại địa phương, được sự hỗ trợ của nhiều chương trình, dự án, người dân cũng đã xây dựng được khá nhiều mô hình trồng LSNG chủ yếu là trong vườn hộ Kết quả điều tra cho thấy có những mô hình LSNG sau:

+ Mô hình trồng măng Bát độ thuần loài

+ Mô hình trồng Luồng

+ Mô hình trồng Bương

+ Mô hình trồng Vầu thuần loài (Vầu đắng, Vầu ngọt)

+ Mô hình trồng chè Shan + Vầu đắng + Trúc quân tử

+ Mô hình trồng Giổi trong vườn hộ

+ Mô hình trồng Sa nhân trong vườn hộ

+ Mô hình trồng Rau sắng thuần loài

+ Mô hình trồng chè (chè Shan, chè Ô Long) thuần loài

+ Mô hình trồng chuối phấn ở hàng rào, ven đường, trong vườn hộ

Trang 38

36

+ Mô hình trồng khoai tầng thuần loài, khoai tầng xen với ngô

+ Mô hình trồng chuối cô đơn (VQG)

+ Mô hình trồng Trẩu (VQG)

+ Mô hình trồng Quế (cây phân tán)

+ Mô hình trồng Sơn ta thuần loài

+ Mô hình trồng Sơn ta xen với Chè

Mặc dù số lượng mô hình là khá phong phú, tuy nhiên hiệu quả thực tế mang lại cho đời sống người dân địa phương lại không đạt được như mong muốn bởi nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó sự thiếu đầu tư thâm canh, chăm sóc dẫn tới năng suất mô hình thấp, thị trường tiêu thụ không ổn định dẫn tới sau khi dự án kết thúc thì người dân cũng chuyển đổi dần sang trồng loài cây khác hoặc không đầu tư chăm sóc

c Diện tích gây trồng, địa điểm:

Do nhận thức về vai trò và giá trị của LSNG trong phát triển kinh tế của người dân địa phương cũng như hiểu biết về kỹ thuật và khả năng đầu tư còn nhiều hạn chế nên có rất ít các hộ gia đình gây trồng LSNG Hầu hết các loại LSNG đều được thu hái từ rừng tự nhiên của VQG Xuân Sơn Các mô hình LSNG tại địa phương chủ yếu là do các chương trình, dự án tài trợ:

- Xã Xuân Sơn năm 2006 được dự án WB đầu tư trồng khoai tầng 37,3

ha trong đó có 8 ha trồng nông lâm kết hợp; 21,3 ha chè Shan; 8 ha Trám Tỉnh Phú Thọ cũng đã đầu tư trồng 8 ha măng Bát độ năm 1996 và năm 2002 đầu tư trồng 8 ha măng Bát độ bằng nguồn giống lấy từ Ba Vì - Hà Tây

- Xã Xuân Đài có chương trình trồng Chuối phấn do trung tâm khuyến nông huyện hỗ trợ; năm 1990 có chương trình 120 cho trồng Quế, vốn 135 giai đoạn 1 cho trồng Luồng, Tre Bát độ thông qua hội cựu chiến binh và hội nông dân nhưng chia nhỏ đến từng hộ gia đình nên sản phẩm thu hoạch của mỗi hộ ít, chỉ đủ ăn, không có để bán; chương trình 661 cho trồng chè Shan

Trang 39

37

mật độ 1.600 cây/ha nhưng hiệu quả không cao vì sau khi hết dự án dân cũng không đầu tư chăm sóc tiếp, hiện tại có dự án chè chất lượng cao của huyện

“Dự án chè chất lượng cao Kim Thượng” trồng năm 2007 được 5 ha

- Xã Minh Đài cũng đã được dự án khuyến nông huyện cho trồng Tre măng tre bát độ, Luồng nhưng với số lượng ít, mỗi hộ chỉ được phát cây giống để trồng vài khóm nên hiệu quả chưa cao, qua đây người dân cũng đã được hướng dẫn tập huấn kỹ thuật trồng và chăm sóc tre Bát độ; hiện nay diện tích đất đai của xã chủ yếu đã được trồng chè và trồng rừng kinh tế do các hộ gia đình thực hiện với quy mô từ vài sào đến vài ha; chè được trồng ở hầu hết các diện tích đất đồi, đất rừng trong xã Mặt khác trên địa bàn lại có nhà máy chè Thanh Niên chế biến chè nên nguồn thu từ cây chè ở đây là khá lớn, chiếm khoảng 60% kinh tế hộ gia đình; một số hộ gia đình trồng Sơn ta và bước đầu cho giá trị kinh tế cao hơn rất nhiều so với trồng chè, hiện nay một

số hộ cũng bắt đầu trồng Sơn với quy mô nhỏ 1 - 2 ha (chuẩn bị đất, cây con) tuy cho hiệu quả kinh tế cao nhưng do chưa được phổ biến, tuyên truyền và nguồn thông tin đến với người dân chậm nên đến nay rất ít các hộ gia đình trong xã biết đến mô hình này Đây là mô hình có hiệu quả kinh tế rất cần được nhân rộng trên địa bàn với phương châm phải gắn liền với kỹ thuật trồng, giống có năng suất cao

Các mô hình LSNG xây dựng tại địa phương có một số đặc điểm chính như sau:

+ Nguồn vốn đầu tư chủ yếu là từ các chương trình, dự án Có ít hộ dân

tự bỏ vốn ra gây trồng LSNG (ngoại trừ cây Chè)

+ Mới chủ yếu tập trung vào 1 số loài cây như Tre măng Bát độ, Luồng, Giổi, Chè, Nhìn chung loài cây LSNG trồng chưa đa dạng

+ Diện tích gây trồng còn rất nhỏ (ngoại trừ Chè), mặt khác lại rất phân tán (mỗi hộ chỉ trồng vài khóm măng Bát độ, 1 vài cây Trám, Sấu trong

Trang 40

38

vườn, nên sản phẩm thu được không trở thành hàng hóa mà chủ yếu phục

vụ cho cuộc sống hàng ngày của người dân địa phương Vì vậy, LSNG chưa trở thành một nhân tố để tăng thu nhập hộ gia đình

+ Ở các xã Xuân Đài và Xuân Sơn diện tích gây trồng chủ yếu là trong vườn hộ, nương vườn; xã Minh Đài do diện tích đất vườn hộ rất ít nên chủ yếu được trồng trên đất đồi, đất rừng đã được giao

d Các biện pháp kỹ thuật đã áp dụng

Kết quả điều tra, khảo sát cho thấy ngoại trừ cây Chè là loài cây được trồng phổ biến ở xã Minh Đài thì hiểu biết của người dân địa phương về kỹ thuật gây trồng một số loài cây LSNG sẵn có tại địa phương còn rất hạn chế

Do đặc điểm điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội khác nhau nên hiểu biết về kỹ thuật của người dân ở xã Xuân Sơn cũng khác nhiều so với xã Xuân Đài và Minh Đài Ở xã Xuân Sơn nhận thức kỹ thuật của người dân còn rất sơ khai, hầu như chỉ biết khai thác LSNG từ rừng; một số hộ gia đình đã lấy hạt giống rau Sắng về gieo ươm nhưng chưa có kỹ thuật nên tỷ lệ nảy mầm và tỷ lệ sống thấp; hộ gia đình trồng khoai tầng, trồng Chè không chăm sóc, vun xới, bón phân nên năng suất và chất lượng rất thấp Ở 2 xã Xuân Đài và Minh Đài nhận thức của người dân có khá hơn, đã bắt đầu đi vào chiều sâu và thâm canh nhưng hiểu biết kỹ thuật vẫn còn nhiều hạn chế, nhiều diện tích chè còi cọc, kém phát triển thậm chí nhiều cây bị chết, năng suất thấp do không được quan tâm chăm sóc, thậm chí chè Shan là loại chè có giá trị kinh tế cao nhưng cũng chưa được người dân quan tâm, dự án trồng Chè Shan ở xã Minh Đài sau khi kết thúc người dân cũng không tiếp tục chăm sóc Chè, mặc dù cũng

đã có những đợt tập huấn kỹ thuật cho người dân về trồng chè, trồng tre măng Bát độ nhưng hầu hết các hộ gia đình đều không làm theo đúng hướng dẫn, thân cây còn để lại nhiều và không chăm sóc nên cho rất ít măng; xã Minh Đài cũng đã thử gây trồng rau Sắng nhưng do không nắm được đặc tính sinh

Ngày đăng: 20/05/2021, 22:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w