Trong thời gian gần đây với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thiết bị quan trắc đã cung cấp tương đối đồng bộ những tư liệu về bề mặt trái đấtthông qua ảnh vệ tinh nhân tạo và máy
Trang 1Để hoàn thành luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các thầy giáo hướng dẫn khoa học ở Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội Trước tiên tôi xin cảm ơn TS Nguyễn TrungThành, người hướng dẫn khoa học chính của tôi, tiếp theo tôi xin cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn người đưa ra hướng phát triển của luận văn
Trong quá trình xử lý số liệu và viết luận văn tôi được sự giúp đỡ nhiệttình và nhiều ý kiến quý báu của TS Nguyễn Huy Dũng, Trung tâm Tàinguyên Môi trường Lâm nghiệp thuộc Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, KS
Võ Văn Hồng, Chuyên viên viễn thám của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng vàmột số người khác thuộc phòng bản đồ của Trung tâm Tài nguyên Sinh vật,tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ của Khu Bảo tồnThiên nhiên Pù Huống, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An và cán bộ Dự án bảo vệrừng và lưu vực sông tỉnh Nghệ An,
Nhân dịp này tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, các Thầy,Cô giáo và các cán bộ Khoa Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp
đỡ tôi hoàn thành các thủ tục trong quá trình làm luận văn, xin chân thànhcảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như chuyênngành mà tôi còn khuyến thiếu
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 25 tháng 7 năm 2006
Cao Minh Hưng
Trang 2Để hoàn thành luận văn thạc sỹ, tôi đã nhận được sự giúp đỡ nhiệt tìnhcủa các thầy giáo hướng dẫn khoa học ở Trường Đại học Khoa học Tự nhiên,
Đại học Quốc gia Hà Nội Trước tiên tôi xin cảm ơn TS Nguyễn TrungThành, người hướng dẫn khoa học chính của tôi, tiếp theo tôi xin cảm ơn GS.TSKH Nguyễn Nghĩa Thìn người đưa ra hướng phát triển của luận văn
Trong quá trình xử lý số liệu và viết luận văn tôi được sự giúp đỡ nhiệttình và nhiều ý kiến quý báu của TS Nguyễn Huy Dũng, Trung tâm Tàinguyên Môi trường Lâm nghiệp thuộc Viện Điều tra Quy hoạch Rừng, KS
Võ Văn Hồng, Chuyên viên viễn thám của Viện Điều tra Quy hoạch Rừng vàmột số người khác thuộc phòng bản đồ của Trung tâm Tài nguyên Sinh vật,tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo và cán bộ của Khu Bảo tồnThiên nhiên Pù Huống, Chi cục Kiểm lâm Nghệ An và cán bộ Dự án bảo vệrừng và lưu vực sông tỉnh Nghệ An,
Nhân dịp này tôi cũng bày tỏ lòng biết ơn tới Ban Giám hiệu, các Thầy,Cô giáo và các cán bộ Khoa Sau đại học, Trường Đại học Lâm nghiệp đã giúp
đỡ tôi hoàn thành các thủ tục trong quá trình làm luận văn, xin chân thànhcảm ơn các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ tôi về chuyên môn cũng như chuyênngành mà tôi còn khuyến thiếu
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn tới tất cả sự giúp đỡ quý báu đó.Xin chân thành cảm ơn!
Vinh, ngày 25 tháng 7 năm 2006
Cao Minh Hưng
Trang 3Phần mở đầu
Thảm thực vật từ lâu đã là đối tượng nghiên cứu của nhiều môn khoa họctrong lĩnh vực Địa lý học và Thực vật học Nhiều công trình nghiên cứu thảmthực vật trên thế giới và ở Việt Nam qua những giai đoạn khác nhau, theo cáctrường phái nghiên cứu khác nhau, đã góp phần thúc đẩy sự tiến bộ cả về lý luậnhọc thuyết cũng như nghiên cứu ứng dụng của môn khoa học này Tuy nhiên
đứng trước sự tác động mạnh mẻ của con người thảm thực vật đang bị thay đổinhanh chóng đòi hỏi những nghiên cứu, phân tích, đánh giá kịp thời mang tínhcập nhật để bổ sung thêm những tư liệu khoa học mới cũng như đề xuất hợp lýcác hướng sử dụng tài nguyên quy hoạch lãnh thổ
Trong thời gian gần đây với những tiến bộ khoa học kỹ thuật và các thiết
bị quan trắc đã cung cấp tương đối đồng bộ những tư liệu về bề mặt trái đấtthông qua ảnh vệ tinh nhân tạo và máy bay ở tầm khác khau đã thúc đẩy các nhàkhoa học có nhiều hướng nghiên cứu thảm thực vật
Cuộc sống của nhân loại liên quan mật thiết đến nguồn tài nguyên mà trái
đất cung cấp (thực vật, động vật, đất, nước, v.v) Nhưng với tình trạng khai thácquá mức của mình, loài người bước vào thế kỷ 21 phải đối mặt với những tháchthức hết sức gay go, suy giảm đến mức nghèo kiệt và làm suy giảm các loài thựcvật, động vật, v.v Đó là nguồn tài nguyên quí giá nhất, nó là cơ sở của sự sốngcòn, sự thịnh vượng và phát triển bền vững của loài người và sự bền vững thiênnhiên trên trái đất Trong thời gian dài con người đã khai thác nguồn tài nguyênquá mức dẫn đến suy thoái làm mất cân bằng sinh thái và điều đó dẫn đến thảmhoạ mà loài người đang phải gánh chịu như lũ lụt, hạn hán, cháy rừng, v.v
Đánh giá hiện trạng thảm thực vật tại Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huốngtìm ra nguyên nhân suy thoái và đề xuất các biện pháp bảo vệ có ý nghĩa hết sứcquan trọng vì có nhiều nguyên nhân Nhiều diện tích rừng đang bị mất dần vànguyên nhân chủ yếu dẫn đến mất rừng là việc mở rộng diện tích canh tác nông
Trang 4nghiệp, phát triển cơ sở hạ tầng, khai thác gỗ thương phẩm, khai thác quá mức
gỗ củi và các lâm sản khác và sự phụ thuộc quá mức vào các hình thức canh tác
du canh khai phá thiên nhiên của một nhóm dân tộc thiểu số Tất cả các mối đedoạ trên đều do tăng dân số, phát triển kinh tế làm tăng nhu cầu các sản phẩmrừng
Bất kỳ một thảm thực vật và hệ thực vật nào đều có vốn tài nguyên bền vữngkhông thể thay thế Nó được chắt lọc và tồn tại trong tổng hợp của nhiều yếu tố:
Tự nhiên, lịch sử, địa chất, thuỷ văn và xã hội Nhưng lại rất khó định lượngbằng những con số cụ thể vì thế nó rất khó nhận ra và cũng khó làm cho mọingười thấy được Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống với diện tích 50.274 ha đất
tự nhiên, trải dài tới 43 km theo hướng Tây Bắc- Đông Nam và rộng 20-23kmtheo hướng Đông Bắc - Tây Nam Đất có rừng chiếm đến 90%, nằm ở độ cao từ
200 - 1600m là phần thượng lưu nơi sinh thuỷ, giữ nước cho nhiều sông suối:Nậm Quang, Nậm Gươm, Huổi Bo, Huổi Khi, Huổi Nây ở phía Bắc và Nậm Lớp,Nậm Chao, Nậm Ngàn, Nậm Chon, Huổi Kít, Huổi Uôn ở phía Nam Khu bảotồn cũng là khu phòng hộ đầu nguồn sông Cả và sông Hiếu Khu vực núi cao của
Pù Huống là bức tranh làm giảm luồng gió lạnh (gió mùa Đông Bắc) và ngăn giókhô nóng từ phía Tây Nam Những đặc trưng tự nhiên vốn có này đã đem đếncho vùng nhiều lợi thế về môi trường: là nguồn sinh thuỷ, nơi duy trì khí hậu,ngăn chặn những tác động tiêu cực: gió bão, lũ lụt, cung cấp nước cho vùng thấp,duy trì mọi hoạt động của cư dân và canh tác nông nghiệp
Đa dạng sinh vật nói chung và đa dạng thực vật nói riêng đang được rấtnhiều nhà khoa học sinh học quan tâm đến trong những năm gần đây Chính vìvậy việc sử dụng hợp lý và bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ rừng,bảo vệ các nguồn gen phong phú và đa dạng đã trở thành một vấn đề cấp thiếttrong công cuộc phát triển kinh tế của đất nước Để có thể xác định nguồn gencây có ích một cách chính xác thì công việc xây dựng danh lục các loài chínhxác Trên cơ sở bản danh mục chúng ta phải tiến hành đánh giá tính đa dạng về
Trang 5nguồn gen cây có ích và mức độ nguy cấp của chúng để định hướng cho việc ưutiên bảo tồn ở đây có những loài cây gỗ quí hiếm được ghi vào Sách đỏ có gặptại khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống có giá trị đặc biệt cần được quan tâm bảo
vệ là: Kim giao, Sa mộc dầu, Pơ mu, Sến mật, Giổi thơm Hiện tại ở đây vẫn còn
gặp nhiều cây gỗ lớn có đường kính từ 80-100cm mà điều này không có được ởnhiều vườn Quốc gia cũng như khu bảo tồn khác trên cả nước Vốn tài nguyêncây gỗ với trữ lượng khá, cộng với sự hiện diện của các loài cây gỗ có giá trị, quíhiếm trên là ưu thế đáng được quan tâm của Khu BTTN Pù Huống Những ưu thếnày cũng chứa đựng nhiều nguy cơ tiềm ẩn về nạn khai thác gỗ trái phép Vấn đềngăn chặn, bảo vệ giữ cho được hiện trạng và đặc biệt là những loài gỗ quí hiếmnói trên là công việc rất khó khăn, nhưng những loài gỗ quí hiếm hiện có tại đâymất đi là những tổn thất lớn, khó có khả năng phục hồi lại Kho tàng thực vậtthiên nhiên phong phú về thành phần loài, nhiều loài quí hiếm, chứa đựng nhiềuloài cây gỗ có giá trị là nơi bảo tồn vốn gen thực vật vô cùng quí giá Nhiều vấn
đề về bảo tồn và khai thác sử dụng để đạt hiệu quả cao hiện tại chưa rõ ràngnhưng nếu được bảo tồn thì trong tương lai khi điều kiện khoa học xã hội chophép nó sẽ đem lại hiệu quả kinh tế cao phục vụ sự phát triển kinh tế trong tươnglai Đây cũng là nơi đang còn nhiều bí ẩn của tự nhiên về thành phần khu hệ thựcvật, động vật nó sẽ là địa bàn tốt cho các nghiên cứu khoa học Đương nhiên mộtdiện tích lớn đất đai có độ cao từ 200-1600m chia cắt nhiều, nhiều khe, thunglũng, có cả địa hình núi đất, núi đá vôi và nhiều sông suối thác ghềnh với nhiềukiểu thảm thực vật và sự phong phú của các nhóm thực vật, đặc biệt là thảm và
hệ thực vật á nhiệt đới đã đem lại tính hấp dẫn về cảnh quan thiên nhiên đối với
du khác du lịch đặc biệt là du lịch sinh thái cảnh quan rất lý thú và hấp dẫn
Nhận thức vai trò, tầm quan trọng và ý nghĩa khoa học rõ rệt, do đó chúngtôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá hiện trạng thảm thực vật của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Fù Huống, phát hiện nguyên nhân suy thoái và đề ra phương pháp bảo tồn”.
Trang 6Mục tiêu của đề tài:
- Nghiên cứu hiện trạng thảm thực vật ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Fù Huống
- Phát hiện nguyên nhân suy thoái
- Đề xuất một số giải pháp bảo tồn các loài thực vật ở Khu Bảo tồn Thiênnhiên Fù Huống
Chương 1 Tổng quan những vấn đề nghiên cứu
1.1 Lịch sử nghiên cứu
Từ lâu, đối tượng nghiên cứu của khoa học về thảm thực vật đã được xác
định là tổ hợp các cá thể của các loài thực vật khác nhau, có cấu trúc ngoại mạo,chức năng sinh thái và qui luật phân bố địa lý phân biệt được với nhau, loàingười không biết gìn giữ nguồn tài nguyên quý giá mà lại đang khai thác quámức và phá huỷ nó với danh nghĩa là để phát triển Chính vì vậy thảm thực vậttrên trái đất đang bị suy thoái nghiêm trọng, sự suy thoái này đang diễn ra hàngngày, hàng giờ Trong những năm vừa qua sự mất mát về các loài, sự suy thoáicác hệ sinh thái tự nhiên, nhất là rừng nhiệt đới đã diễn ra một cách nhanh chóngchưa từng thấy mà nguyên nhân chính là do tác động của con người Đến nay cóhơn 40% rừng nhiệt đới nguyên thuỷ bị huỷ diệt, trung bình hàng năm có khoảng6-7 triệu ha đất trồng trọc bị mất khả năng sản xuất do nạn xói mòn
Sự tồn tại của xã hội loài người và đứng trước sự suy giảm với tốc độ càngnhanh, nhiều tổ chức Quốc tế đã ra đời để hướng dẫn và đánh giá, bảo tồn vàphát triển về thực vật ra đời Bởi vì loài người muốn tồn tại lâu dài trên hành tinhnày thì phải có một dạng phát triển mới Nhu cầu cơ bản của sự sống còn củachúng ta phụ thuộc vào tài nguyên của trái đất, nếu những tài nguyên đó bị giảmsút thì cuộc của chúng ta và con cháu chúng ta sẽ bị đe doạ Chúng ta đã quá lạmdụng vào tài nguyên của trái đất mà không nghĩ đến tương lai Ngày nay chúng
ta đang đứng trước những hiểm hoạ Để tránh hiểm hoạ đó chúng ta phải tôn
Trang 7trọng trái đất đặc biệt là "lá phổi xanh" của chúng ta và cuộc sống một cách bềnvững.
Miền núi là khu vực bao gồm nhiều loại hình đất dốc khác nhau vùng đồi,núi cao và các cao nguyên chiếm 24,4 triệu ha chiếm (74%) tổng diện tích cảnước Miền núi cũng là ngôi nhà chung của khoảng 24 triệu đồng bào các dântộc thiểu số (Lê Thị Cúc và cộng sự, 1990) Rừng là nguồn tài nguyên quý giá và
có vai trò quan trọng trong bảo vệ môi trường, phát triển nông nghiệp miền núi
và an ninh quốc phòng
Trong những năm gần đây độ che phủ của rừng tăng lên rõ rệt Đặc biệt làtại các khu rừng được bảo vệ nghiêm ngặt Nhìn chung độ che phủ rừng có tănglên nhưng chất lượng rừng lại giảm sút Canh tác nương rẫy và áp lực kinh tế vàgia tăng dân số là nguyên nhân gây ra sức ép đối với tài nguyên thiên nhiên Làmcho nó trở nên ngày càng nghèo kiệt
Để giải quyết vấn đề trên từ năm 1988 Nhà nước đã giao cho địa phươngmột số chính sách về phát triển nông lâm ngư như: chính sách giao đất giaorừng, quyền sử dụng đất được giao cho người dân trong một thời gian nhất định.Mục đích chính của dự án nhằm bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo đảm để pháttriển kinh tế nâng cao đời sống đồng bào vùng cao Tuy nhiên hiệu quả củamong muốn vẫn chưa đạt được Chất lượng rừng vẫn bị suy giảm, môi trườngsinh thái vẫn chưa được cải thiện, đời sống của người dân gặp nhiều khó khăn,mâu thuẫn vẫn nảy sinh trong cộng đồng
Thời gian gần đây, trên thế giới cũng như ở nước ta đã có những nghiêncứu đưa ảnh viễn thám vào để đánh giá thảm thực vật rừng và sử dụng đất cũngnhư một số nghiên cứu khác vào vùng núi Với mong muốn áp dụng phươngpháp mới có hiệu quả trong đánh giá thảm thực vật và quản lý tài nguyên, đồngthời để hiểu rõ hơn về vấn đề quản lý tài nguyên thiên nhiên đặc biệt là tàinguyên rừng
Trang 81.1.1.Trên thế giới
Châu âu, theo Schmitthusen (1959) có hai hệ thống phân loại thảm thựcvật chủ yếu: đó là hệ thống phân loại quần xã thực vật của (Braun –Blanquet,1928) phần lớn được thực hiện bởi các nhà thực vật học theo trường phái củaPháp và hệ thống phân loại các quần thể thực vật chủ yếu được thực hiện bởi cácnhà địa thực vật Đức
Việc phân loại rừng nhằm phục vụ các mục đích kinh doanh đền rất đadạng với nhiều trường phái và phương pháp phân loại khác nhau: trường pháiLiên Xô (cũ), trường phái Pháp, Hà Lan, Mỹ, Canada, v.v Nói chung, tuỳ theomục đích nghiên cứu, mỗi trường phái lựa chọn yếu tố chủ đạo và đưa ra nguyêntắc phân loại khác nhau Vấn đề này đã được Phùng Ngọc Lan (1986) tổng kết
đầy đủ trong giáo trình lâm học
Nga là một nước có lịch sử lâu dài về vấn đề phân loại rừng theo điều kiện
tự nhiên Tuy nhiên, phải đến đầu thế kỷ 20, Morodop mới là người đầu tiên đặtnền móng chắc chắn cho vấn đề phân loại rừng phục vụ kinh doanh Theo ông,kiểu rừng là tập hợp các lâm phần có thể khác nhau về những đặc trưng thứ yếunhưng lại tương tự nhau về lập địa, đặc biệt là nhân tố thổ nhưỡng Ông đã tiếnhành phân loại rừng theo 5 yếu tố hình thành rừng
- Đặc tính sinh thái học của loài cây cao
- Hoàn cảnh địa lý (khí hậu, thổ nhưỡng, địa chất, v.v.)
- Quan hệ giữa các thực vật tạo nên quần lạc và quan hệ giữa chúng với
động vật
- Nhân tố lịch sử địa chất
- Tác động của con người
Kế thừa học thuyết của Morodop và dựa trên quan điểm coi rừng là mộtsinh địa quần lạc, Sucasop đã xây dựng nên trường phái phân loại kiểu rừng màtheo ông nó phải dựa vào những đặc điểm tổng hợp để phân loại Theo đó, khitiến hành phân loại rừng, yếu tố đầu tiên cần phải chú ý là địa hình, sau đó là
Trang 9thực bì và thổ nhưỡng (ở đây địa hình tuy không phải là thành phần của quần lạcsinh địa nhưng nó là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến điều kiện hoàn cảnh, thôngqua đó có ảnh hưởng đến các thành phần khác của sinh địa quần lạc) Sucasopchủ trương dùng đơn vị phân loại cơ bản của quần lạc thực vật là quần hợp đểxác định ranh giới giữa các quần lạc sinh địa, vì nó có khả năng phản ánh điềukiện khí hậu thổ nhưỡng của các quần lạc sinh địa đó.
Cũng xuất phát từ quan điểm coi rừng là thể thống nhất giữa sinh vật rừng
và hoàn cảnh, Pogrenhiac cho rằng hoàn cảnh là cái có trước, chủ đạo và tương
đối ổn định Theo ông, nhiệm vụ của việc phân loại kiểu rừng là phải đánh giá
được đầy đủ khả năng của nguồn tài nguyên sinh thái học Vì vậy, tốt nhất nêndựa vào điều kiện lập địa để phân loại kiểu rừng, và ông đã đưa ra hệ thống phânloại gồm ba cấp như sau:
1 Kiểu lập địa
2 Kiểu rừng
3 Kiểu lâm phần
Kiểu lập địa: Là cấp phân loại lớn nhất bao gồm mọi khu đất có điều kiện
thổ nhưỡng giống nhau kể cả khu đất có rừng và không có rừng Trong điều kiệnthổ nhưỡng thì độ phì và độ ẩm được chú trọng hơn cả
Kiểu rừng: Là tổng hợp những khu đất có điều kiện thổ nhưỡng và khí hậu
giống nhau Như vậy, kiểu rừng là kiểu lập địa trong một điều kiện khí hậu nhất
định, bất kể khu đất có rừng hay không rừng Bởi vì điều kiện thổ nhưỡng và khíhậu giống nhau sẽ dẫn đến khả năng xuất hiện thực bì rừng nguyên sinh tươngtự
Kiểu lâm phần: Đều thuộc cùng một kiểu rừng, nhưng do tác động của các
nhân tố bên ngoài khác nhau như cháy rừng, khai thác, v.v, có thể xuất hiện cácquần lạc thực vật thứ sinh với cấu trúc khác nhau Kiểu lâm phần bao gồm nhữngkhoảng rừng giống nhau cả về điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu, quần lạc thực vật
ở Thuỵ Điển có hai trường phái: Đó là trường phái sinh học (phân loạirừng dựa theo hai nhân tố là độ ẩm và độ phì của đất) và trường phái quần xã
Trang 10thực vật (dựa vào đặc trưng chủ yếu là tổ thành thực vật và coi quần hợp là đơn vịcơ bản).
ởPhần Lan, Caiande chủ trương phân loại rừng dựa vào thực vật thảm tươi
Ông cho rằng trong lâm phần thuần thục, tổ thành thảm tươi không chỉ phụ thuộcvào hoàn cảnh sinh thái môi trường mà còn mà còn phụ thuộc vào cả tổ thànhloài cây gỗ của lâm phần Theo ông thảm tươi là chỉ tiêu tốt nhất về tính đồngnhất sinh học của môi trường kể cả tính đồng nhất về hiệu quả của thực vật rừng
Điều này đã không hoàn toàn đúng, vì thực tế thảm tươi có khả năng chỉ thịnhưng không có khả năng chỉ thị cho tất cả các điều kiện lập địa, ngoài ra cácyếu tố bên ngoài như lửa rừng, khai thác, v.v, cũng ảnh hưởng đến thảm tươi.Tuy nhiên, học thuyết cũng có giá trị ở Phần Lan trong điều kiện thảm thực vật
đơn giản, tương đối đồng nhất và các loại đất đều mỏng
ở Mỹ, phân loại rừng theo học thuyết cực đỉnh (climax) Climax là mộtquần xã thực vật ổn định trong quá trình phát triển lâu dài trên những vùng lãnhthổ rộng lớn với đất đai đã được hình thành từ lâu Khí hậu là nhân tố để xác
định climax Ngoài khái niệm climax, các nhà lâm phần Mỹ còn đưa ra kháiniệm tiền đỉnh cực (á đỉnh cực), đơn đỉnh cực (monoclimax), đa đỉnh cực(polyclimax)
Champion (1936) đã phân biệt bốn đai thảm thực vật lớn theo nhiệt đới:nhiệt đới, á nhiệt đới, ôn đới và núi cao Cách phân loại này hiện nay vẫn được
sử dụng phổ biến
Bear (1944) đã đưa ra một hệ thống ba cấp là: quần hợp, quần hệ và loạtquần hệ Còn Forber (1958) đưa ra đề án hệ thống phân loại chung cho thảmthực vật rừng nhiệt đới dựa trên hình thái ngoại mạo cấu trúc quần thể là: lớpquần hệ, quần hệ và phân quần hệ
Gần đây UNESCO (1973) đã công bố một khung phân loại thảm thực vậtthế giới dựa trên nguyên tác ngoại mạo cấu trúc có thể được thể hiện trên bản đồ1:2.000.000 Hệ thống đó được sắp xếp như sau:
Trang 11đích quân sự, lâm nghiệp, thăm dò tài nguyên mặt đất v.v, sau đó là các nướcnhư Nhật Bản, ấn Độ v.v, có những vệ tinh nhân tạo chuyên hoặc không chuyên
về phân tích môi trường trái đất như các vệ tinh LANDSAT (Mỹ), SPOT (Pháp),INSAT (ấn Độ), v.v, thì viễn thám thực sự đã trở thành một kỹ thuật với nhiềuphương pháp để nghiên cứu khoa học trái đất Trong viễn thám, hình ảnh là dạngtư liệu hết sức quan trọng Một trong những kỹ thuật viễn thám là tạo nên hình
ảnh để mắt người có thể nhìn thấy được
Nhiều nhà Địa thực vật trên thế giới đã vận dụng phương pháp này đểnâng cao hiệu quả nghiên cứu, cả về lý thuyết lẫn ứng dụng Kiichler (1967),thành lập bản đồ thảm thực vật, với quy trình sử dụng phương pháp viễn thámcủa ông vận dụng cho cả ảnh máy bay và ảnh vệ tinh đã trở thành phương phápphổ cập đối với các nước đang phát triển Phương pháp Kiichler rất phù hợp vàkhông gây trở ngại nào cho giải đoán bằng mắt trong các điều kiện kỹ thuật xử
lý ảnh còn hạn chế ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam Blasco vàcộng sự, (1983) đã thành lập bản đồ thảm thực vật nhiệt đới đảo Xumatra, cơ bảndựa rên phương pháp phân tích mắt ảnh vệ tinh LANDSAT Phương pháp củaBlasco và cộng sự sử dụng thực tế không sai khác mấy so với phương phápKiichler tuy về mặt chi tiết của từng công đoạn có những chi tiết khác nhau
Mueller - Dombois, (1984) phân loại và thành lập bản đồ các quần xã thựcvật, nhấn mạnh ở vùng nhiệt đới Châu Phi thông qua trắc đạc bằng viễn thám, tưliệu chính được sử dụng là ảnh LANDSAT Đặc biệt trong những năm gần đây,nhiều nước đang phát triển thuộc vùng nhiệt đới như ấn Độ, Thái Lan, Malaixia,
Trang 12Inđônêxia đang tiếp cận và sử dụng phương pháp này ngày càng rộng rãi và cóhiệu quả trong lĩnh vực nghiên cứu thảm thực vật và tài nguyên rừng.
Chaturvedi và Khanna, (1982) đưa ra phương pháp các yếu tố giải đoán
ảnh vệ tinh LANDSAT và INSAT để thành lập bản đồ tài nguyên rừng ở ấn Độnhững kết quả này được ứng dụng khá rộng rãi đối với ngành lâm nghiệp ấn Độtrong lĩnh vực điều tra tài nguyên và qui hoạch rừng
Roy (1979); Roy và Saxena, (1986) sử dụng phương pháp giải đoán bằngmắt và xử lý số ảnh vệ tinh LANDSAT-TM và INSAT để thành lập bản đồ thảmthực vật vườn quốc gia KANHA-ấn Độ tỷ lệ 1/100.000
1.1 2 ở Việt Nam
Trước năm 1960, các công trình nghiên cứu về thảm thực vật chủ yếu đượcthực hiện bởi các tác giả nước ngoài như: Chevelier, (1918); Mauran, (1943);Dương Hàm Nghi (1956) Từ những năm 1960, Loschau đã đưa ra một khu phânloại theo trạng thái ở Quảng Ninh Bảng phân loại này được phân chia thành 4trạng thái như sau:
Rừng loại I: gồm những đất đai hoang trọc, trảng cỏ và cây bụi
Rừng loại II: gồm những rừng non mới mọc
Rừng loại III: gồm tất cả các rừng đã bị khai thác trở nên nghèo kiệt, tuycòn có thể khai thác lấy gỗ trụ mỏ
Loại rừng IV: gồm những rừng nguyên sinh chưa bị khai thác
Đây là hệ thống phân loại rừng đã được áp dụng rộng rãi ở nước ta trong
điều tra rừng tái sinh cũng như điều tra tài nguyên rừng theo trạng thái Viện
Điều tra Quy hoạch Rừng đã áp dụng hệ thống này để phân loại trạng thái rừngphục vụ công tác quy hoạch, thiết kế kinh doanh rừng
Trần Ngũ Phương (1970) xây dựng bản phân loại rừng miền Bắc nước ta,trong đó đã chú ý đến việc nghiên cứu quy luật diễn thế thứ sinh, diễn thế độ phì,
Trang 13các tính chất vật lý, hoá học và dinh dưỡng đất qua các giai đoạn phát triển củarừng Bảng phân loại gồm các đai rừng và kiểu rừng sau:
A Đai rừng nhiệt đới mưa mùa
1 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh ngập mặn
2 Kiểu rừng nhiệt đới mưa mùa lá rộng thường xanh
3 Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rộng thường xanh
4 Kiểu rừng nhiệt đới ẩm lá rụng thung lũng
5 Kiểu rừng nhiệt đới lá rộng thường xanh núi đá vôi
B Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa
6 Kiểu rừng á nhiệt đới lá rộng thường xanh
7 Kiểu rừng á nhiệt đới lá kim trên núi đá vôi
C Đai rừng á nhiệt đới mưa mùa núi cao
Thái Văn Trừng (1978, 1999) dựa trên quan điểm sinh thái phát sinh đã xâydựng bảng phân loại rừng Việt Nam Tác giả đã sắp xếp các kiểu thảm thực vậthiện có ở Việt Nam vào một khung pháp lý, có trật tự trước sau giữa các nhân tốsinh thái, đồng thời theo trật tự giảm dần từ kiểu tốt nhất đến kiểu kém nhất Đây
là một công trình tổng quát, đáp ứng được quy hoạch sinh thái Tuy nhiên, theotác giả thì bảng phân loại này thuộc loại đặc biệt, mang tính chất địa phương củamột vùng hay một nước Bảng phân loại được chia làm 2 nhóm: đai thấp gồm cáckiểu thảm thực vật có độ cao dưới 1000m ở miền Nam và dưới 700m ở miềmBắc; đai cao gồm các kiểu thảm thực vật ở độ cao trên 1000m ở miền Nam vàtrên 700m ở miền Bắc
I Nhóm thảm thực vật ở độ cao dưới 1000m ở miền Nam, và dưới 700m ởmiền Bắc có các kiểu thảm sau:
1 Các kiểu rừng rú kín
- Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín nửa rụng lá ẩm nhiệt đới
- Kiểu rừng kín rụng lá, hơi ẩm nhiệt đới
Trang 14- Kiểu rừng kín lá cứng, hơi khô nhiệt đới
2 Các kiểu rừng thưa
- Kiểu rừng thưa cây lá rộng hơi khô nhiệt đới (phân bố ở các tỉnh ĐắcLắc, Thuận Hải, Buôn Ma Thuột, Sơn La, Nghệ An, Hà Tĩnh, Hà Tây, HoàBình)
- Kiểu rừng thưa lá kim hơi khô á nhiệt đới núi thấp (phân bố ở Sơn La
và Đà Lạt)
- Kiểu rừng cây lá kim nhiệt đới núi thấp
Các kiểu rừng thưa trên chiếm một diện tích rộng ở miền Nam, có đặc điểmchính là tầng cây gỗ thưa cây Các loài cây chủ yếu là: Dầu, Bàng, Cẩm liên,Chiêu chiêu, Sơn, Thàu táu, Me rừng, v.v
3 Các kiểu rừng trảng, truông
- Kiểu trảng cây to, cây bụi cỏ cao, khô nhiệt đới
- Kiểu truông bụi gai, hạn nhiệt đới
II Nhóm thảm thực vật vùng núi ở độ cao trên 1000m ở miền Nam và trên700m ở miền Bắc có các kiểu sau:
2 Các kiểu quần hệ khô lạnh vùng cao
- Kiểu quần hệ khô vùng cao: đó là rú cao bụi nhỏ, trảng cỏ cao, cỏ thấp
Trang 15- Kiểu quần hệ lạnh vùng cao (thường gặp ở đỉnh núi cao như Fanxipan, Tàphình, Tây Côn lĩnh, v.v Thực vật ở đây gồm Dẻ, Pơ mu, Đỗ quyên, Thông v.v.Phan Kế Lộc (1985) dựa trên khung phân loại của UNESCO đã đưa rakhung phân loại thảm thực vật ở Việt Nam được thể hiện trên bản đồ1:2.000.000 Bảng phân loại gồm có 5 lớp quần hệ.
- Lớp quần hệ rừng rậm
- Lớp quần hệ rừng thưa
- Lớp quần hệ trảng cây bụi
- Lớp quần hệ trảng cây bụi lùn
- Lớp quần hệ trảng cỏMỗi lớp quần hệ được phân ra các bậc nhỏ hơn phân lớp quần hệ, nhómquần hệ, quần hệ và phân quần hệ
Bảng phân loại này đã được một số tác giả áp dụng để tiến hành phân loạithảm thực vật trong các nghiên cứu như (Trần Đình Đại, 1990; Trần Đình Lý,1995; Nguyễn Nghĩa Thìn, 1996)
Vũ Đình Huề (1984) đã đề nghị phương pháp phân loại rừng phục vụ cácmục đích kinh doanh Theo tác giả, kiểu rừng là một loạt các xã hợp thực vậtthuộc một kiểu trạng thái, trong phạm vi một kiểu điều kiện thực bì rừng vàtương ứng có một biện pháp lâm sinh thích hợp
Vũ Tự Lập (1976) trong công trình “Cảnh quang địa lý miền Bắc ViệtNam” đã sử dụng nhân tố độ ưu thế của các loài cây trong ô tiêu chuẩn để xác
định các quần hợp, ưu hợp và phức hợp Trong khi đó Thomasius (1978) căn cứvào chỉ số khô hạn của Buderco (1956) đã sắp xếp rừng thành 16 dạng thực bìkhí hậu, 4 dạng thực bì thổ nhưỡng
Việc sử dụng ảnh vệ tinh để nghiên cứu về thảm thực ở Việt Nam cũng đã
được tiến hành từ rất sớm Ngay từ những năm 1953-1954 người Pháp đã sửdụng ảnh máy bay vào nhiều mục đích khác nhau trong đó có lĩnh vực lâmnghiệp Nhiều khu vực được lưu ý quan trắc bằng máy bay như Điện Biên (LaiChâu), Cúc Phương (Ninh Bình), Nà Sản (Sơn La), v.v, cho tới nay vẫn còn giá
Trang 16trị Năm 1962 với sự giúp đỡ của chuyên gia Trung Quốc, chúng ta đã tiến hànhchụp ảnh hàng không phục vụ cho lâm nghiệp, địa chất, thành lập bản đồ địahình, v.v, và từ đó đến nay nhiều vùng khác nhau thuộc lãnh thổ nước ta trong đó
có Nghệ An Tuy nhiên chỉ từ năm 1980 khi ảnh vệ tinh được đưa vào Việt Nam,cùng với việc thành lập Uỷ ban nghiên cứu vũ trụ Việt Nam và chương trìnhnghiên cứu khoa học cấp nhà nước thì kỹ thuật viễn thám mới phát triển như:
điều tra tài nguyên và nghiên cứu môi trường Trong lâm nghiệp bản đồ hiệntrạng rừng toàn quốc năm 1983 tỷ lệ 1/500.000 và các bản đồ hiện trạng rừng ởcác cấp tỷ lệ khác nhau ở nước ta đã được thành lập thông qua tư liệu ảnh vệ tinh
do Viện Điều tra Quy hoạch Rừng - Bộ Lâm nghiệp (cũ) tiến hành đã phục vụ cóhiệu quả cho mục đích điều tra rừng và quy hoạch lâm nghiệp
Trong lĩnh vực nghiên cứu thảm thực vật thì bản đồ thảm thực vật dải venbiển Việt Nam thông qua sử dụng phương pháp viễn thám của Phan Kế Lộc vàPhan Phú Đồng (1989) là công trình đầu tiên ở Việt Nam sử dụng ảnh vệ tinh đểnghiên cứu thảm thực vật Từ đó tới nay nhiều công trình nghiên cứu thảm thựcvật bằng phương pháp viễn thám đã công bố hoặc thực hiện trong các dự án khoahọc ở các cấp khác nhau như:
2.2 Điều kiện tự nhiên kinh tế xã hội khu vực nghiên cứu
2.2.1 Vị trí địa lý
Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống nằm ở phía Tây bắc tỉnh Nghệ An vàcách thành phố Vinh về phía Tây bắc, cách Quốc lộ 1A theo đường 48 đi vào từ
Trang 17huyện Diễn Châu khoảng 60 km Khu bảo tồn trải dài từ 1905' đến 190 29'độ vĩbắc và 104043'đến 105016' độ kinh đông.
Khu bảo tồn bị chia cắt với dãy Bắc Trường Sơn bởi lưu vực sông Cả PhíaBắc giáp với Khu BTTN Pù Hoạt nằm trên đường biên giới với Lào, Khu BTTN
Pù Huống hình thành nên hệ thực vật và động vật quanh vành đai của BắcTrường Sơn Vùng bảo vệ nghiên ngặt và vùng đệm Khu BTTN Pù Huống thuộc
5 huyện với địa phận 12 xã
Huyện Quế Phong: 2 xã (Cắm Muộn, Quang Phong)
Huyện Quỳ Hợp: 3 xã (Châu Thành, Châu Tường, Châu Thái)
Huyện Quỳ Châu: 2 xã (Châu Hoàn, Diễn Lãm)
Huyện Con Cuông: 1 xã (Bình Chuẩn)
Huyện Tương Dương: 4 xã (Nga My, Yên Hoà, Yên Tỉnh và HữuKhuông)
2.2.2 Đặc điểm địa hình, thổ nhưỡng
Pù Huống thuộc phía Bắc của khu vực Bắc miền Trung của Việt Nam.Khu BTTN có địa hình dốc và nhiều núi non Đặc điểm cấu trúc địa chất kiến tạotrong lịch sử hình thành và phát triển của tự nhiên khiến cho Pù Huống có nhữngdông núi kéo dài và có xu hướng cấu trúc chủ yếu theo hướng Tây Bắc- ĐôngNam với các đỉnh núi chính trên các dông núi này Đây là hướng chính của địamáng và đứt gãy sông Cả
Khu BTTN Pù Huống nằm trải dài ở hai mái dông chính chạy từ tam giác
Pù Huống đến Pù Luông với chiều dài 43 km, có hai đỉnh cao nhất là đỉnh PùLuông (1447m) và đỉnh Pù Huống (1200m) Từ dông chính có các đường phânthuỷ đồ về các mái tạo nên các dòng chảy dốc và hiểm trở Mái dông chảy vềhướng Đông bắc có các dòng chảy Nậm Quang, Nậm Gương, Huồi Bô, HuồiPhạt, Huồi Phùng Căm, Huồi Lắc, Huồi Khoỏng, Huồi Mục Pán, v.v, tạo nên lưuvực và đổ nước về sông Hiếu Mái dông phía Đông Nam có các dòng chảy NậmLíp, Huồi Kít, Nậm Ngàn, Nậm Chon, Huồi Ôn v.v, tạo nên các dòng chảy đổ vềkhe Bố sau đó đổ về sông Cả
Trang 18Địa hình Pù Huống có tính chất phân bậc khá rõ rệt, có thể chia ra 3 bậc
địa hình
- Địa hình có bậc độ cao 900m đến 1500m: nằm chủ yếu ở các hướngdông chính từ tam giác nơi tiếp giáp giữa 3 huyện Con Cuông, Quỳ Hợp, QuỳChâu đến đỉnh Pù Lon
- Địa hình có bậc độ cao 300m đến 900m: gồm các đồi đất đỏ Bazan ởvùng đệm từ Quỳ Châu đến Quỳ Hợp và các đầu bậc phân thuỷ thấp toả hai bêncác dông chính
- Địa hình có bậc độ cao dưới 300m: bao gồm chủ yếu lưu vực sông suốinhỏ ở hai bên sông Cả và sông Hiếu xen kẻ các đồi núi thấp
2.2.3 Đặc điểm khí hậu
Khu BTTN Pù Huống nằm trong khu vực nhiệt đới ẩm gió mùa, mùa
Đông lạnh, mùa Hè nóng Mặt khác do địa hình dãy núi Trường sơn Bắc là dãynúi cao có khả năng chắn gió và nằm gần như vuông góc với hướng gió mùa
Đông Bắc và Tây Nam nên đã gây ra mưa lớn ở sườn đón gió và hiệu ứng "Phơn"khô nóng gió vượt qua dãy núi Pù Huống làm cho khu vực Pù Huống có mưanhiều vào mùa Hạ (tháng 4 đến tháng 10) và khô về mùa Đông (tháng 11 đếntháng 3 năm sau)
Nhiệt độ: Nhiệt độ trung bình hàng năm là 23,50C trong đó nhiệt độ phân
bố không đều qua các tháng, có sự giao động nhiệt độ trong năm rất rõ rệt Mùa
Đông nhiệt độ thấp nhất vào tháng 1 (170C) và tháng 12 (18,10C), còn mùa Hènhiệt độ cao nhất vào tháng 6 (28,30C) và tháng 7 (28,70C) Biên độ nhiệt giao
động trung bình là 80C
Lượng mưa: Trung bình hàng năm có lượng mưa đạt 1791,1 mm, có thể
phân biệt 2 thời kỳ mưa rõ rệt, thời kỳ mưa nhỏ từ tháng 4 (trung bình 92mm)
đến tháng 7 (trung bình158,2mm) và thời kỳ mưa lớn từ tháng 8 (trung bình268,2mm) đến tháng 10 ( trung bình 300,5 mm) và lượng mưa vào mùa Đông làrất ít (từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau)
Trang 19Độ ẩm: Có hai mùa khô và ẩm khác nhau Thời kỳ ẩm kéo dài từ tháng 9
đến tháng 5 năm sau Độ ẩm trung bình các tháng là 86,0% Độ ẩm vào mùa khôlúc có gió Lào xuống thấp vào tháng 6 và tháng 7 (74 và 81%)
Số giờ nắng trung bình /ngày: Trung bình là 4,5 giờ nắng /ngày, trong đótháng có giờ nắng cao nhất là tháng 7 (6,7 giờ) tháng có giờ nắng thấp nhất làtháng 2 (2,3 giờ)
Bảng 1.1 Một số chỉ tiêu khí hậu thuỷ văn ở Pù Huống
Chỉ
số
Tháng
Nhiệt độ ( 0 C) Lượng mưa (mm) động nhiệt độ Biên độ giao
( 0 C)
Độ ẩm (%) Số giờ nắng (h)
Trang 202.2.4 Đặc điểm kinh tế xã hội khu bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống thuộc địa phận của 5 huyện (QuếPhong, Con Cuông, Tương Dương, Quỳ Hợp, Quỳ Châu) và 12 xã Dưới đây làmột số thống kê về tình hình kinh tế xã hội của 12 xã này:
- Thu nhập bình quân đầu người: 189.160 đồng
(Theo tài liệu của Cục thống kê Nghệ An năm 2002)
Ngoài phần lớn là dân tộc Kinh thì khu vực này còn có rất nhiều dân tộcanh em chung sống, đó là dân tộc Thái, Khơ Mú, H' Mông, Thổ, Mường, Hoa
Phần lớn người dân ở đây thường sống chủ yếu dựa vào nông nghiệp vànương rẫy, một số lao động tham gia khai thác gỗ, tre nứa và các lâm sản ngoài
gỗ khác Tình trạng đãi vàng diễn ra trước đây tại các xã thuộc huyện TươngDương và Quế Phong Tình trạng khai thác vàng làm ảnh hưởng đến môi trườngsông suối và gây sạt lở hai bên bờ sông suối của khu vực này
Trang 21Chương 2 Mục tiêu, đối tượng
và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Đánh giá thảm thực vật có nhiều cách phân loại nhưng ở Việt Nam bảngphân loại thảm thực vật của Thái Văn Trừng (1970) đã dựa trên cơ sở sinh tháiphát sinh với 14 kiểu là tương đối phổ biến hơn cả Do vậy dựa vào phương phápphân loại đó ta đánh giá thảm thực vật và sử dụng công nghệ GPS để thành lậpbản đồ thảm thực vật Đánh giá thảm thực vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên (BTTN)
Pù Huống dựa vào ảnh Landsat năm 2003 và điều tra thực tế để khoanh vẽ thànhlập bản đồ thảm thực vật Tìm ra nguyên nhân suy thoái và đề xuất một số giảipháp, bảo tồn và phát triển cho Khu Bảo tồn thiên nhiên Pù Huống
2.2 Đối tượng và địa điểm nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu: Đề tài này tập trung đánh giá thảm thực vật của
khu bảo tồn, so sánh các kiểu thảm với nhau nhằm tìm ra những nguyên nhânsuy thoái và đề ra một số biện pháp bảo tồn
2.2.2 Địa điểm nghiên cứu: Địa điểm nghiên cứu của đề tài là Khu BTTN Pù
Huống
2.3 Phương pháp nghiên cứu
2.3.1 Điều tra theo hệ thống tuyến và ô tiêu chuẩn điển hình
Để thu thập số liệu một cách đầu đủ và đại diện cho một khu vực nghiêncứu, chúng ta không thể đi xuyên hết các điểm trong khu vực nghiên cứu đó.Cho nên cần phải dựa vào bản đồ địa hình, ống nhòm quan trắc ngoài thực địa, la
bà và sự giúp đỡ của người dân địa phương để tiến hành chọn tuyến điều tra làlập ô tiêu chuẩn
Điều tra theo tuyến
Dựa vào đặc điểm địa hình để phân tuyến điều tra phía Tây Bắc KhuBTTN gồm hai khu, lấy độ cao là 800m làm giới hạn Các tuyến điều tra thu
Trang 22thập được thiết lập theo đường dông chính, từ tuyến chính các tuyến phụ theokiểu xương cá được mở về 2 phía và đi qua các quần xã khác nhau Trung bình1,5 km chiều dài tuyến chính lại có 2 tuyến phụ được mở ra.
Trên mỗi tuyến tiến hành điều tra tất cả các loài thực vật nằm ở phạm vi
10 m mỗi bên Mỗi loài lấy từ 5-6 tiêu bản Điều tra tất cả các loài thực vật bậccao có mạch
Điều tra ô tiêu chuẩn
Hệ thống các ô tiêu chuẩn và các ô dạng bản sẽ đại diện cho tính chất củathảm thực vật của khu vực nghiên cứu, do đó nó phải được chọn một cách ngẫunhiên và đảm bảo phải đại diện cho hầu hết các khu vực khác nhau (các sinhcảnh khác nhau) trong phạm vi nghiên cứu
Trước khi tiến hành các hoạt động thực địa, cần phải xác định các khu vựccần thiết lập ô định vị trên bản đồ để sau đó, khi ra thực địa, sẽ được chọn những
vị trí trùng khớp với vị trí đã chọn trên bản đồ, đảm bảo được tính ngẫu nhiên và
đại diện cho toàn bộ thảm thực vật của khu vực nghiên cứu
Để đạt được những phân tích chính xác về thành phần loài và xác định
được các loài ưu thế trong cấu trúc thảm thực vật thì tất cả các loài được đo đạctrong ô phải được thu mẫu Trong trường hợp có thể xác định được chính xác tênkhoa học của loài ngoài thực địa thì có thể không cần thu mẫu, tuy nhiên việc cómẫu để phân tích vẫn đảm bảo độ tin cậy cao hơn và bổ sung cho nghiên cứu về
Trang 23thực vật cần thiết cho việc xác định, đồng thời cũng ghi những nhận định tạmthời cho những loài có thể.
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã chọn 10 ô tiêu chuẩn được thiếtlập để đánh giá tính đa dạng của thảm thực vật của rừng
Trong mỗi ô tiêu chuẩn có kích thước 50 x 40 m (0,2 ha) Tiến hành đo
đường kính cách mặt đất 1,3m (D1,3), chiều cao dưới cành (Hc), chiều cao vútngọn (Hn), đường kính tán cây (D tán) của tất cả các cây gỗ có D1,3 6 cm Đobán kính của tán cây theo bốn hướng Đông, Tây, Nam và Bắc Số liệu dùng để vẽtrắc đồ ngang và đứng
Xác định và kiểm tra tên khoa học: đồng thời với việc xử lý mẫu thànhnhững tiêu bản đạt yêu cầu, tiến hành phân loại từng họ, trong họ phân loại từngcác chi Để tiến hành xác định tên loài, thực hiện theo trình tự gồm các bước nhưsau: Phân họ, chi Để làm được việc đó phải dùng phương pháp chuyên gia, cónhư vậy mới giảm nhẹ được gánh nặng trong khâu xác định tên khoa học, somẫu, xác định tên loài dựa vào một số tài liệu chính như: Cây cỏ Việt Nam(Phạm Hoàng Hộ, 1999 - 2000); Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 - 1988); Vân Namthực vật chí; Thực vật chí Đông Dương (Lecomte, 1907 - 1952); Thực vật chíCam-pu-chia, Lào, Việt Nam (Aubréville et al., 1960 - 1997); The Plant book(Mabberley, 1997); Flora of China và Flora of China - Illustration (1994 - 2000);
Họ Na - Annonaceae (Nguyễn Tiến Bân, 2000), Họ Bạc hà - Lamiaceae (Vũ
Trang 24Xuân Phương, 2000); Khoá xác định và phân loại họ Thầu dầu Việt Nam(Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999); Identification guide to Vietnamse Orchids(Orchidaceae Juss.) (Averyanov, 1991); Lan Việt Nam (Nguyễn Thiện Tịch,2001).
Kiểm tra tên khoa học: khi đã có đầy đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại cáctên khoa học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Điều chỉnhkhối lượng họ và chi theo hệ thống của Brummitt (1992), điều chỉnh tên loài theoPhạm Hoàng Hộ (1999 - 2000), Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2002 -2005) và chỉnh tên tác giả theo Brummitt và Powell (1992)
Bổ sung thông tin: việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học của cácloài về dạng sống, về yếu tố địa lý, về công dụng và tình trạng đe doạ, bảo tồn,ngoài các tài liệu trên, còn sử dụng các tài liệu khác như: 1900 cây có ích (Trần
Đình Lý, 1993); Sách đỏ Việt Nam (1994); Từ điển cây thuốc Việt Nam (VõVăn Chi, 1997); Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 1977,1999); Cây cỏ có ích ở Việt Nam (Võ Văn Chi và Trần Hợp, 1999-2002); Từ
điển thực vật thông dụng (Võ Văn Chi, 2003)
Xây dựng danh lục thực vật: Lập bảng danh lục thực vật theo nguyên tắc
đối với các họ, chi, loài và được căn cứ theo hệ thống phân loại của Brummitt(1992) Trên cơ sở danh lục, căn cứ vào các tiêu chuẩn của IUCN (Hiệp hội bảotồn thiên nhiên thế giới) và các Nghị định của Chính phủ Việt Nam để lập danhsách các loài quí hiếm Danh lục ngoài tên khoa học và tên Việt Nam của cácloài còn ghi tình trạng bảo tồn trong sách đỏ và các thông tin khác gồm: dạngsống, yếu tố địa lý và công dụng như mô hình bảng sau:
Bảng2.1:Bảng danh lục các loài thực vật
TT Tên khoa học Tên Việt Nam Yếu tố ĐL Dạng sống Công dụng
1
2
Trang 25Thu thập các tài liệu thông tin sẵn có trong khu bảo tồn như: dự án đầu tưxây dựng Khu BTTN Pù Huống Các tài liệu điều tra chuyên đề thực vật, các loạibản đồ, tài liệu tại KBT và Chi cục Kiểm Lâm Nghệ an, Dự án bảo vệ và quản lýlưu vực sông tỉnh Nghệ An.
Điều tra đánh giá ngoài thực địa: Dựa vào bản đồ hiện trạng tài nguyênrừng và địa hình Khu BTTN để thiết kế 4 tuyến điều tra bắt đầu từ 4 trạm củaKBT Các tuyến đi qua các kiểu địa hình, các đai phân bố thực vật khác nhaunhư sau: (Bản đồ, ô tiêu chuẩn và tuyến điều tra) hình 2.1.
Hình 2.1:Sơ đồ tuyến điều tra
Trang 26+ Tuyến 1: Trạm Bình Chuẩn - Dọc khe Mét, cắt dông sang khe Cố- TrạmBình Chuẩn - Nga My.
+ Tuyến 2: Trạm Diên Lãm - Bản Cướm, Khe Đỉnh Pù Huống cao 1100m.+ Tuyến 3: Trạm Cắm Muộn - Bản Tạ, Dốc Bù Tạ, dọc khe Đỉnh Pulon cao1600m
+ Tuyến 4: Trạm Châu Cường - Bản Khì, khe Cố đỉnh Phu cô cô (đỉnh tamgiác - cao 1124m)
- Thành lập 10 ô tiêu chuẩn trên tuyến điều tra
- Đánh giá hệ thực vật theo Nguyễn Nghĩa Thìn và Mai Văn Phô, 2003
- Xây dựng bản đồ thảm thực vật:
Từ kết quả điều tra được thể hiện trên bản đồ về phân bố các kiểu thảmthực vật (kiểu thảm được phân chia theo hệ thống của Thái Văn Trừng) được cậpnhật và chuyển lên bản đồ thành quả theo phương pháp GIS Các kiểu thảm thựcvật thể hiện được tính đa dạng về các kiểu thực vật trong vùng, mỗi kiểu thảmthể hiện các ưu hợp thực vật chủ yếu trên bản đồ Sử dụng kết quả giải đoán ảnh
vệ tinh Landsat năm 2003 để kiểm tra, bổ sung các khu vực nương rẫy và canhtác nông nghiệp trong KBT
vùng
đệmKBTKBTKKBTKBT
Trang 27Sơ đồ 2.2: Các bước giải đoán ảnh vệ tinh để thành lập bản đồ thảm thực vật
Nhập ảnh - hiệu chỉnh hình học Cắt chọn vùng nghiên cứu
Trang 28Hình 2.2: ảnh vệ tinh Landsat TM 7 kênh 4,3,2 năm 2003
Giải đoán ảnh vệ tinh năm 2003:
Bước 1 Chọn vùng mẫu: Để phục vụ cho xây dựng tệp dữ liệu thì phải tiến hànhxác định các loại thảm Căn cứ mục đích của luấn án và cuối cùng chúng tôi đưa
ra các loại thảm sau: (xem phần kết quả)
Bước 2 Xây dựng tệp mẫu các loại thảm (xem phần kết quả)
Bước 3 Xử lý số liệu sau giải đoán: chuyển số liệu sang phần mềmARCVIEW3.2 để phân tích và xử lý số liệu thuộc tính và không gian sau đóchuyển về phần mềm Mapinfo7.5 để biên tập và trình bày trên bản đồ
Trang 29Chương 3 Kết quả nghiên cứu
3.1 Đa dạng thực vật của Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù huống
533 chi và số 138 họ Lớp Hai lá mầm (Dicotyledoneae) thuộc ngành Hạt kín(Angiospermae) có số họ, số chi và số loài lớn nhất, chiếm tới hai phần ba tổng
số họ, số chi, và số loài của Khu BTTN Pù Huống
Bảng 3.1 Các Taxon thực vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống
Trang 30Đây mới chỉ là những ghi nhận ban đầu, chúng tôi tin rằng nếu được nghiêncứu kỹ những số liệu này chắc còn rất thấp so với thực tế hệ thực vật ở đây Đặcbiệt là ngành Dương xỉ(Polypodiophyta)và ngành Hạt kín (Angiospermae).
3.1.2 Sự phong phú của các họ thực vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống
Những khảo sát ban đầu tại Khu BTTN Pù Huống đã thống kê được 12 họ
có 18 loài trở lên (Bảng 3.2) Họ có số loài phong phú nhất là họ Thầu dầu(Euphorbiaceae) 65 loài, tiếp đến là họ Long não (Lauraceae) 42 loài còn lại 10
họ khác có số loài dao động từ 18 - 37 loài Nhìn chung những họ có số loàiphong phú ở Khu BTTN Pù Huống là những họ thực vật nhiệt đới và cũng lànhững họ có mức độ phong phú cao ở Việt Nam như: họ Thầu dầu(Euphorbiaceae), Long não (Lauraceae), Cà phê (Rubiaceae), Đậu (Fabaceae)
Đối với lớp Một lá mầm (Monocotyledoneae) có họ Hoà thảo (Poaceae) vàPhong lan (Orchidaceae)
Bảng 3.2 Mức độ phong phú các họ thực vật có trên 18 loài ở Khu BTTN Pù Huống
TT Tên Khoa học Tên Việt Nam Số lượng chi Số lượng loài
Trang 31Về đa dạng thực vật theo giá trị sử dụng, với kết quả nghiên cứu bước đầu
về hệ thực vật Pù Huống, đã thống kê được số lượng cây theo nhóm công dụngnhư Bảng 3.3
Bảng 3.3 Đa dạng thực vật theo giá trị sử dụng
3.1.3 Những nét đặc trưng của hệ thực vật tại Khu BTTN Pù Huống
Vì đây là những khảo sát bước đầu chưa phản ánh hết tính đa dạng phongphú của hệ thực vật này Do vậy có thể sơ bộ nhận xét về hệ thực vật này nhưsau:
Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống như phần trên đã trình bày, có địahình, địa chất, độ cao phức tạp, bị chi phối của 2 miền khí hậu (gió mùa ĐôngBắc - lạnh ẩm; gió mùa Tây Nam - khô nóng) Những dấu ấn này cũng được
Trang 32khắc hoạ bằng các yếu tố thực vật và rõ nét nhất dễ nhận thấy tại đây có Hệ thựcvật bản địa lá rộng thường xanh mưa mùa nhiệt đới với sự có mặt của nhiều họ:Dâu tằm (Moraceae), Xoan (Meliaceae), Bồ hòn (Sapindaceae), Cà phê(Rubiaceae), Thầu dầu (Euphorbiaceae) Hệ thực vật á nhiệt đới với nhiều đạidiện của Ngành Thông (Pinophyta): Pơ mu (Fokienia hodginsii), Thông nàng(Podocarpus imbricatus), Thông tre lá dài (P neriifolius), Săm bông sọc rộng(Amentotaxus yunnanensis) và một số họ khác: Thích (Aceraceae), Đỗ quyên(Ericaceae), Hồi (Illiciaceae), Dẻ (Fagaceae), v.v Hệ thực vật khô nóng (Indo -Malai) ở sườn Tây và có nơi lấn sang phía Bắc đó là sự có mặt của họ Bằng lăng(Lythraceae) được đặc trưng bởi các loài (Lagerstroemia calyculata, L loudonii,
L tomentosa) Họ Bàng (Combretaceae), họ Dầu (Dipterocarpaceae) Đặc biệt
cũng phải nói tới Hệ thực vật đặc trưng trên núi đá vôi Đó là sự có mặt của một
số loài chỉ thị của núi đá vôi như: Ô rô (Streblus ilicifolius), Trai lý (Garcinia
fagraeoides), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Vàng anh (Saraca dives).
3.2 Tổng quan về thảm thực vật Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống
Từ các ô tiêu chuẩn cho thấy thảm thực vật khác xa nhau giữa đai cao và đaithấp, ranh giới phân biệt ở độ cao 800 - 900m Sự khác biệt này thể hiện ở thànhphần hệ thực vật, cấu trúc tầng tán, trữ lượng và chất lượng gỗ Số liệu sẽ được đềcập tới ở phần sau Cũng từ những dẫn liệu của ô tiêu chuẩn cho ta cơ sở để phânchia các quần xã thực vật hiện tại ở Khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Huống Cáckiểu thảm thực vật ở đây được thể hiện bằng Sơ đồ 3.1
Trang 33thảm thực vật trên núi đá vôi thảm thực vật trên núi đất
1.kiểu rừng á nhiệt đới núi thấp
Đặc điểm: Không có cây vượt tán Tầng cây bụi và cỏ quyết, dây leo ít, thưa Tầng dưới tán có gặp một hai loài trúc
+ Họ loài ưu thế.
- Săm bông sọc rộng – Amentotaxus yunamensis
- Sa mộc dầu - Cunninghamia konishii
- Kim giao - Nageia fleuryi
2.kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới
Đặc điểm: - Rừng 5 tầng Tầng vượt tán nhiều cây cao tới 30-35m.
- Dây leo, thảm tươi, cây bụi phát triển mạnh, rậm rì chằng chịt.
Kiểu phụ 2: Rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi
+ Đặc điểm: Thưa, ít dây leo hơn rừng núi đất.
- Đinh – Makhamia stipulata
- Rau sắng – Melientha suavis
-Kiểu phụ 3: Rừng thứ sinh sau khai thác kiệt.
Đặc điểm: Còn cây gỗ rừng nguyên sinh, tuỳ thuộc vào mức độ khai thác Nhiều dây leo cây bụi, rậm rạp Tầng tán không rõ.
-Kiểu phụ 4: Rừng thứ sinh sau nương rẫy.
Đặc điểm: không còn cây gỗ nguyên sinh : Gội, Táu mật, Táu muối, Trâm, Thị Tầng tán đơn điệu thường 3 tầng, dây leo, tầng phiến - Cây bì sinh (Phong lan, Dương xỉ) hầu như không có
-Kiểu phụ 5: Rừng tre nứa.
Đặc điểm: ưu thế tuyệt đối thuộc nứa dại hay giang Rất ít cây gỗ, hầu như chỉ có 1 tầng nứa hoặc giang rải rác gặp một vài loài cây gỗ tái sinh từ chồi (Trám, Re, Dẻ, Ngát), cây thứ sinh (Muối, Hu đay, Lá nến, Bùm bụp)
-Kiểu phụ 6: Trảng cây bụi, cỏ tái sinh sau nương rẫy Đặc điểm: Đây là 1 giai đoạn từ 3 - 7 năm thuộc
diễn thế phục hồi chưa xếp vào rừng vì thực chất những loài cây mọc nhanh 7 - 8 năm sẽ chết hết, thay thế 1 thế hệ cây gỗ rừng thứ sinh như kiểu phụ 2 Những loài cây gỗ mọc nhanh thường gặp: Lá nến, Bùm bụp, Ba bét, Hu đay, Dướng, Muối, Khổ sâm.
-Kiểu phụ 7: Trảng cây trồng nông nghiệp
Đặc điểm: Độ phủ thấp, tuỳ theo loại cây trồng và mùa vụ (Lúa, Ngô, Đậu Sắn)
Trang 34Qua sơ đồ phân bố thảm thực vật Khu BTTN Pù Huống cho thấy thảmthực vật tại đây bị chi phối bởi những yếu tố chính sau: địa hình, khí hậu, địachất, thổ nhưỡng và tác động của con người Vậy ảnh hưởng của các yếu tố đó
đến sự phân bố thảm thực vật như thế nào
ảnh hưởng của địa hình đến phân bố thực vật
Pù huống là một dãy núi nằm theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, tiếp tụccánh cung Pù Hoạt trải dài trên 40 km Do chênh lệch độ cao địa hình tư 200mtới 1000m nên đã hình thành ở đây những thảm thực vật khác nhau Từ 900m trởlên khác với thực vật dưới 900m
Do ảnh hưởng của địa hình, đặc biệt là ảnh hưởng của dãy núi chính nằmvuông góc với hướng gió Đông Bắc lạnh về mùa Đông và gió Lào khô nống vềmùa Hè, nên khí hậu ở hai phía của khu vực Bảo tồn có sự khác biệt và điều này
đã ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài thực vật Gió mùa Đông Bắc lạnh ẩm
bị ngăn cản bởi dãy núi chính nên về mùa Đông ở sườn núi phía nam ít chịu ảnhhưởng hơn, ngược lại mùa Hè gió Tây Nam khô nóng lại ảnh hưởng tới sườnphía Nam nhiều hơn Nhìn chung do ảnh hưởng của địa hình tạo nên sự khác biệtphía Bắc mưa nhiều độ ẩm cao còn phía Nam mưa ít khô và nóng
Qua số liệu khí hậu Bảng 3.4 cho thấy, tại sườn Bắc có nhiệt độ trung bìnhhàng năm (23,1 - 23,30C) thấp hơn sườn Nam (23,6 - 23,50C) Nhiệt độ tối thấptrung bình tuyệt đối ở sườn Bắc đôi khi hạ xuống gần 00C Nhiệt độ trung bìnhmặt đất cũng thấp hơn (26,40C so với 270C) Những biểu hiện rõ nét nhất là cácchỉ số về mưa ẩm Trong đó địa phận huyện Tương Dương ở sườn phía Tây cókhí hậu khô nóng hơn các huyện còn lại Tương Dương cũng nằm trong vùngMường Xén - Kỳ Sơn, nơi có lượng mưa thấp nhất trên miền Bắc, có năm lượngmưa chỉ có 550mm/năm
Do sự khác biệt giữa khí hậu giữa sườn Bắc và sườn Nam của Khu bảo tồnnên đã ảnh hưởng đến sự phân bố của các loài thực vật
Trang 35Bảng 3.4 Cỏc số liệu khớ hậu trong khu vực Khu BTTN Pự Huống
Chỉ số khớ hậu Quỡ
Chõu
Quỡ Hợp
Tõy Hiếu
Con Cuụng
Tương Dương
T0khụng khớ trung bỡnh năm (oC) 23,1 23,3 23,0 23,5 23,6
T0mặt đất trung bỡnh năm (oC) 26,4 26,7 26,7 26,4 27,0
T0khụng khớ cao nhất trung bỡnh năm (oC) 28,4 26,6 27,6 28,4 29,5
T0khụng khớ cao nhất tuyệt đối (oC) 41,3 40,8 41,6 42,0 42,7
T0thấp nhất trung bỡnh năm (oC) 19,9 20,0 21,2 20,4 20,2
Lượng mưa trung bỡnh năm (mm) 1734 1640 1591 1791 1268
Số ngày mưa trung bỡnh năm (ngày) 150 142 137 139 133
Lượng mưa trung bỡnh ngày lớn nhất (mm) 290 208 279 149 192
Loài Săng lẻ (Lagerstroemia tomentosa) là loài cây rụng lá điển hình củavùng khô hạn nên đã xuất hiện nhiều ở sườn nam và lên tới độ cao 600-700mtrong khi ở sườn Bắc chỉ phân bố đến độ cao 200m ở sườn Nam khu vực dọckhe Mét có những đám Săng lẻ tái sinh sau nương rẫy gần như thuần loài nhưngvới diện tích rất nhỏ so với những loài cây khác nên không dủ điều kiện chia táchthành kiểu rừng nửa rụng lá ở đây
Loài Giáng hương (Pterocarpus macrocarpus) cũng là loài điển hình củakhí hậu mưa mùa và khô nóng, phân bố ở sườn Nam mà không gặp ở sườn Bắccủa khu bảo tồn
Loài Sao mặt quỷ (Hopea mollissima) và Táu muối (Vatica diospyroides)
là loài cây gỗ ưu thế ở Khu BTTN Pù Huống ở sườn Bắc phân bố từ độ cao 350 800m trong khi ở sườn Nam phải tới độ cao 500 - 900m
-Quế thanh (Cinnamomum cassia) là loài cây ưu ẩm chỉ phân bố ở sườnBắc, không gặp ở sườn Nam
Trang 36Ngoài sự khác biệt khí hậu theo địa lý Sự khác biệt khí hậu theo độ cao
địa hình cũng ảnh hưởng đến sự phân bố đến loài thực vật Khi độ cao tăng lên100m thì nhiệt độ không khí hạ thấp xuống khoảng 0,50C đồng thời độ ẩm tănglên Do vậy theo độ cao địa hình đã hình thành nên hai kiểu rừng: kiểu rừng kínthường xanh mưa mùa nhiệt đới (độ cao dưới 900m) và kiểu rừng thường xanh ánhiệt đới núi thấp (độ cao trên 900m) với các loài thực vật đặc trưng cho từngkiểu rừng
ở độ cao trên 900m, nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 15-190C, nhiệt
độ thấp nhất có khi xuống tới 00C, cho nên có hiện tượng sương muối vào mùa
Đông Do điều kiện khí hậu á nhiệt đới nên xuất hiện kiểu rừng thường xanh ánhiệt đới núi thấp có một số loài cây đặc trưng như: Pơ Mu (Fokienia hodginsii),Thông tre (Podocarpus neriifolius), Thông lông gà(Dacrycarpus imbricatus deLaub), Hồi đá vôi (Illicium difengpi), Chè núi (Ternstroemia japonica), Đỗquyên (Rhododendron sp) Trong kiểu rừng thường xanh á nhiệt đới núi thấpcũng xuất hiện các loài cây khác đặc trưng trong họ Dẻ (Fabaceae), họ Re(Lauraceae), họ Chè (Theaceae), họ Du (Ulmaceae) Các loài thực vật ngoại tầngnhư Phong lan, Rêu, Địa y, v.v, cũng xuất hiện nhiều hơn
ở độ cao dưới 900m mang các đặc trưng của khí hậu nhiệt đới mưa mùa.Kiểu rừng kín thường xanh mưa mùa nhiệt đới phân bố ở đây Đối với kiểu rừngthường xanh mưa mùa nhiệt đới của Khu BTTN Pù Huống có loài cây ưu thế
điển hình ở đây là Táu mật (Vatica odorata) và Táu muối (Vatica diospyroides).Ngoài ra còn có một số loài cây đặc trưng khác như Săng lẻ (Lagerstroemia
tomentosa), Lim xanh (Erythrophleum fordii), v.v Sự khác biệt về tổ thành thực
vật của hai kiểu rừng này sẽ được đề cập tới phần sau
Trang 37ảnh hưởng của địa chất thổ nhưỡng đến phân bố thực vật Khu BTTN Pù Huống
Yếu tố địa chất thổ nhưỡng có ảnh hưởng rõ rệt ở Khu BTTN Pù Huống làkiểu rừng được hình thành trên núi đá vôi và rừng trên nhóm các loại đất cónguồn gốc từ các loại đá khác nhau
Nhóm đất trên núi đá vôi thường có tầng mỏng khô, có nhiều đá lẫn tầngmùn mỏng, đất có tính kiềm với độ pH cao Tại đây có kiểu phụ rừng kín thườngxanh mưa mùa nhiệt đới trên núi đá vôi với các loài thực vật đặc trưng như Ruối
ô rô (Streblus ilicifolius), Mạy tèo (Streblus macrophyllus), Vàng anh (Saraca
dives), Trai lý (Garcinia fagraeoides), Rau sắng (Melientha suavis), v.v Rừng ở
đây nói chung cây có kích thước nhỏ, thưa, sinh trưởng chậm hơn so với kiểurừng trên núi đất Kiểu rừng phụ này có diện tích nhỏ (gần 1700ha chiếm 3,3%),phân bố ở xã Bình Chuẩn, xã Nga My ở phía Nam khu bảo tồn
Nhóm đất không có đá vôi chiếm trên 90% của Khu bảo tồn Đất ở đây
được hình thành bởi quá trình feralits hoá các đá trầm tích, đá macma axit, đásét Đây là những loại đất feralit đỏ vàng hoặc nâu đỏ có thành phần cơ giớitrung bình đến nặng, có độ pH trung bình đến thấp
Nhóm đất không có đá vôi thì đất vàng đỏ phát triển trên đá macma axit và
đá cát chiếm phần lớn, phân bố ở các xã Nga My, Yên Tĩnh, Cắm Muộn, QuangPhong Nhóm đất này có thành phần cơ giới nhẹ, nghèo dinh dưỡng, dễ bị xóimòn nên tốc độ phục hồi rừng trên những diện tích đã mất rừng rất chậm Đất
đai sau mất rừng thường khô nên Giang, Nứa là những loài ưu ẩm ít, tạo thànhquần thể lớn ở khu vực này
Nhóm đất đỏ vàng phát triển trên các loại đá sét và đá biến chất khác phân
bố ở Đông - Nam Khu bảo tồn trên địa phận các xã Bình Chuẩn, Châu Cường,Diễn Lãm và phía Nam xã Nga My Đây là loại đất có tầng dày, ẩm, thành phầncơ giới nặng, tương đối giàu dinh dưỡng Do vậy các diện tích rừng bị mất docanh tác nương rẫy được phục hồi băng Giang, Nứa hoặc hỗn giao cây gỗ ưa