Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp & PTNTTrường đại học lâm nghiệp ------Nguyễn Đức Hậu Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển Du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì Và
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp & PTNT
Trường đại học lâm nghiệp
- -Nguyễn Đức Hậu
Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển
Du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì
Và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường
Chuyên ngành Lâm Học
Mã số: 60.62.60
Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp
Hà Tây - 2006
Trang 2Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp & PTNT
Trường đại học lâm nghiệp
- -Nguyễn Đức Hậu
Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển
Du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì
Và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường
Trang 3đã hướng dẫn và giúp tôi ngay từ buổi đầu khi hình thành ý tưởng, xây dựng
đề cương cho đến khi hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn tập thể ban giám hiệu trường Đại học LâmNghiệp Cán bộ lãnh đạo, các thầy cô trong khoa đào tạo sau đại học Trường
Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiêncứu tại trường cũng như góp ý xây dựng luận văn của tôi
Tôi xin chân thành cám ơn ông Đỗ Khắc Thành giám đốc vườn quốcgia Ba Vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt bản luận văn này
Tôi xin chân thành cám ơn: Hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiênnhiên Việt Nam, Trung tâm Vườn Quốc Gia và ông Lê Văn Lanh (Tổng thư
ký hội)
Tôi xin cám ơn uỷ ban nhân dân các huyện: Kỳ Sơn, Lương Sơn (HoàBình), Ba Vì (Hà Tây) Và uỷ ban nhân dân các xã thuộc vùng đệm VườnQuốc Gia Ba Vì đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điềutra thu thập số liệu
Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên vườn quốcgia Ba Vì và đặc biệt là: Thạc sỹ Nguyễn Văn Diện (hạt trưởng hạt kiểm lâmVườn Quốc Gia Ba Vì), thạc sỹ Trần Minh Tuấn (trưởng phòng Khoa học - Kỹthuật Vườn Quốc Gia Ba Vì), thạc sỹ Vũ Đăng Khôi (trưởng phòng Kế hoạch
- Tài chính Vườn Quốc Gia Ba Vì) đã đóng góp và giúp đỡ tôi rất nhiều trongquá trình nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này của mình
Trang 4Cuối cùng tôi xin được một lần nữa gửi lời cám ơn tới tất cả các cơquan, trường, viện nghiên cứu, uỷ ban nhân dân các huyện, xã, các nhà quản
lý, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp đã chân thành giúp đỡ tôi hoànthành bản luận văn tốt nghiệp này
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Tây, ngày 18 tháng 9 năm 2006
Tác giả
Nguyễn Đức Hậu
Trang 5mở đầu
Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình,cách thành phố Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây Bên cạnh những giá trịnhiều mặt về bảo tồn thiên nhiên thì vườn quốc gia Ba Vì còn là một địa điểm
du lịch sinh thái hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế do nơi đây cóbầu không khí trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên đẹp với núi Ba Vìhùng vĩ nổi tiếng từ lâu đời, sự đa dạng phong phú của hệ sinh thái và nền vănhóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở đây Trong nhữngnăm gần đây, du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì đã có sự phát triển khámạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Hà Tây, cũngnhư sự phát triển của du lịch Xứ Đoài nói riêng, đặc biệt là du lịch xung quanhvườn quốc gia Ba Vì và khu vực vùng đệm với các bản sắc văn hoá của cácdân tộc Dao, Mường v.v…
Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch đang phát sinh những tác động xấu
ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của Vườn và khu vực vùng đệm trong bốicảnh của kinh tế thị trường Nếu vấn đề không được quan tâm đúng mức thì cóthể gây ra những hậu quả khó lường Nó sẽ tác động đến việc thực hiện cácchức năng nhiệm vụ, và sự phát triển bền vững của Vườn cũng như vùng đệmvườn quốc gia Ba Vì Khi tài nguyên đa dạng sinh học bị suy giảm, cảnh quanmôi trường bị thay đổi thì nguy cơ giảm sút khách du lịch đến tham quan là
điều khó tránh khỏi Một vấn đề bức xúc đặt ra là làm thế nào vừa giữ gìn, bảo
vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, vừa phát triển du lịch sinhthái ở vườn quốc gia Ba Vì trong nền kinh tế thị trường
Nhằm góp phần luận giải vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển
du lịch bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài:
“Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn
quốc gia Ba Vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường” làm luận văn thạc
sĩ của mình
Trang 6Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu
Từ lâu, đa dạng sinh học là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiềunhà khoa học trong và ngoài nước Các nhà khoa học trong nước đã dànhnhiều công sức nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vùng miền trên phạm vi cảnước Từ đầu những năm 1990, hai nhà nghiên cứu Đặng Huy Huỳnh và PhạmTrọng ảnh đã nghiên cứu hệ động vật thuộc các đảo ven bờ Việt Nam Từ đó,
đưa ra những giải pháp bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học ở các đảo ven bờbiển nước ta Năm 1994, Phan Nguyên Hồng đã nghiên cứu thành công hệsinh thái rừng ngập mặn Kết quả nghiên cứu của ông đã được công bố trongcuốn sách: “Chuyên khảo biển Việt Nam”
Hà Tây nói chung và Vườn quốc gia Ba Vì nói riêng đã được nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu nhiều lĩnh vực như: điều kiện tự nhiên, kinh tế,xã hội và đặc biệt là đa dạng sinh học Năm 1993, một nhóm các tác giả: LêTrần Trấn, Nguyễn Hữu Tử, Trần Văn Thuỵ đã tiến hành nghiên cứu thảmthực vật Hà Tây và đặc trưng cơ bản hệ thực vật Ba Vì Các tác giả đã đánh giátính đa dạng của hệ thực vật Ba Vì, từ đó cho rằng cần thiết phải bảo tồn đadạng sinh học trên vùng núi này Ngoài ra còn có một số tá giả khác cũngnghiên cứu về vườn quốc gia Ba Vì Trong số đó có bài: Vườn quốc gia Ba Vì, những nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội của hai tác giả Nguyễn Văn Chương
và Nguyễn Đức Kháng Đáng chú ý là có nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã tậptrung nghiên cứu cây thuốc ở Ba Vì như: Nguyễn Nghĩa Thìn, Lê Thế Trung,Chu Quốc Trường, Nguyễn Văn Liêm, Trần Thế Tăng, Nguyễn Thu Hiền, ĐỗThị Thu Hà
Ngoài ra, một số tác giả đã nghiên cứu các hoạt động kinh tế, xã hộicủa đồng bào các dân tộc thiẻu số ở Ba Vì Điển hình là nghiên cứu của Vũ
Trang 7Văn Thịnh về: Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các
hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì, và Một số giải pháp xây dựng bản làng sinh thái vùng dân tộc từ một số mô hình bản sinh thái đồng bào dân tộc Dao, Ba Vì, Hà Tây của giáo sư Nguyễn Văn Chương…
Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa thì du lịch trở thành một ngànhkinh tế quan trọng của nước ta Du lịch đã có nhiều đóng góp cho tăng trưởngkinh tế và phát triển xã hội, nó đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọncủa Việt Nam Trong bối cảnh hội kinh tế quốc tế và khu vực, giao lưu kinh tế,văn hoá giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng, nhu cầu đi du lịch, thamquan, nghỉ ngơi của người dân trong nước cũng tăng Du lịch phát triển theohướng đa dạng hoá trên cơ sở khai thác tiềm năng về cảnh quan môi trường vàgiá trị của nền văn hoá lâu đời của dân tộc nhằm đáp ứng nhu cầu của dukhách Du lịch sinh thái cũng có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong những nămgần đây Nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu loại hình du lịch này.Phó giáo sư Phạm Trung Lương đã viết cuốn sách “Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” đưa ra những khái niệm cơ
bản và phân tích tình hình và xu hướng phát triển của du lịch sinh thái Cuốnsách đã cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về một loại hình dulịch còn tương đối mới mẻ, có quan hệ chặt chẽ đến vấn đề bảo tồn da dạngsinh học ở nước ta Năm 2002, Nguyễn Xuân Tân đã tiến hành công trìnhnghiên cứu và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả các loại hình du lịchsinh thái vườn quốc gia Ba Vì
Nhìn chung, tuy đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về vườnquốc gia Ba Vì từ nhiều góc độ khác nhau và đã làm rõ được nhiều vấn đềkhoa học, nhất là về hệ thực vật, đa dạng sinh học nhưng còn thiếu nhữngcông trình nghiên cứu sự phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạngsinh học Câu hỏi đặt ra là làm thế nào vừa bảo tồn được đa dạng sinh học vừaphát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì
Trang 8Sơ đồ Vườn quốc gia Ba Vì
n
Trang 9Chương 2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu
2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
2.1.1 Mục tiêu tổng quát
Góp phần xây dựng căn cứ khoa học cho việc quản lý phát triển vườnquốc gia Ba Vì và vùng phụ cận theo phương châm bảo tồn thiên nhiên gắnvới phát triển du lịch sinh thái trong điều kiện nền kinh tế thị trường
2.1.2 Mục tiêu cụ thể
Làm rõ thực trạng, những mặt đã làm được và chưa làm được, nguyênnhân trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái,những vấn đề đặt ra đối với du lịch sinh thái trong mối quan hệ với bảotồn đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Ba Vì
Kiến nghị những giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học gắn với du lịchsinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Căn cứ vào mục tiêu đề tài, luận văn đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thểcủa luận văn như sau:
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bảo tồn đa dạng sinh học gắn vớiphát triển du lịch sinh thái
Nêu ra một số kinh nghiệm về bảo tồn đa dạng sinh học gắn với pháttriển du lịch sinh thái tại một số vườn quốc gia trên thế giới
Phân tích thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch sinhthái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm, đưa ra kết quả và thách thức
Xác định những vấn đề về quản lý đặt ra trong quá trình bảo tồn thiênnhiên và phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm
Kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học gắn với pháttriển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm
Trang 102.3 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nhiệm cụ nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đề ra,tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:
2.3.1.Thu thập nguồn thông tin thứ cấp
Thu thập nguồn thông tin thứ cấp là một việc làm quan trọng vì đây làmột đề tài khá rộng liên quan đến nhiều vấn đề nghiên cứu Nguồn thông tinthứ cấp giúp tôi kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây Việcthu thập thông tin được tiến hành tại Hà Nội và khu vực vườn quốc gia Ba Vìcũng như các xã vùng đệm Tôi đã thu thập thông tin tại Trung tâm thông tinthuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, viện khoa học Lâm Nghiệp,viện nghiên cứu phát triển Du Lịch, Sở du lịch Hà Tây, vườn quốc gia Ba Vì,
uỷ ban nhân dân các xã vùng đệm, các công ty du lịch trong khu vực nghiêncứu Nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm báo cáo kết quả nghiên cứu của các đềtài, sách, tài liệu nước ngoài, đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vườnquốc gia Ba Vì và các xã vùng đệm, báo cáo tổng kết cuối năm của các xã.Cáctài liệu này được phân loại, hệ thống hoá sử dụng để phân tích những vấn đề
có liên quan
2.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn
Phương pháp phỏng vấn được tiến hành dưới hình thức phỏng vấn bằngphiếu hỏi, phỏng vấn sâu những người cung cấp thông tin chính (PRA)
Phỏng vấn bằng phiếu điều tra
Phiếu điều tra được thiết kế gồm các câu hỏi đóng, và câu hỏi mở.Những ý kiến trả lời được ghi đầy đủ, chính xác, trung thực nhằm đảm bảotính khách quan Công việc điều tra được tiến hành đối với người dân các xãYên Bài, Tản Lĩnh, Vân Hoà, Ba Trại., Ba Vì, Khánh Thượng Phương phápchọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng ở tất cả các xã điều tra Tại mỗi xã, chọn
4 thôn ngẫu nhiên, sau đó mỗi thôn chọn 30 người tham gia trả lời phiếu Tạimỗi thôn, người dân được tập huấn về mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra,
được hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi trong phiếu Phiếu được phát chongười dân, sau đó được thu về xử lý
Trang 11Phỏng vấn sâu
Phương pháp phỏng vấn sâu được áp dụng đối với những người cungcấp thông tin chính bao gồm các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo xã và người dân,cán bộ công nhân viên vườn quốc gia Ba Vì, các công ty du lịch KhoangXanh, Suối Tiên, Ao Vua, Hồ tiên sa, Suối Mơ, Bình Minh, Thác Đa Một bộcâu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc được soạn sẵn để các những người được phỏngvấn trả lời Người được phỏng vấn có thể trao đổi, mạn đàm với người phỏngvấn về những vấn đề liên quan đến giải pháp, chính sách Mỗi cuộc phỏng vấndiễn ra trong khoảng thời gian từ 1 - 1 giờ rưỡi Các cuộc phỏng vấn được diễn
ra một cách thoải mái, cởi mở thu được nhiều thông tin
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)
Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) được sửdụng để thu thập thông tin từ những nhóm khác nhau, trong đó chúng tôi đã sửdụng nhiều công cụ khác nhau như sơ đồ venn, phân tích SWOT, phân loạigiàu nghèo Chúng tôi đã tiến hành các cuộc thảo luận nhóm tập trung với sựgiúp đỡ của cán bộ địa phương Người dân được thông báo tới họp tại trụ sở
uỷ ban nhân dân xã Các nhóm được hình thành, mỗi nhóm tập trung từ 10
-12 người, bao gồm phụ nữ, nam giới là cán bộ xã, cán bộ thôn, người dân,người Kinh, người Dao, người Mường Câu hỏi liên quan đến vấn đề nghiêncứu được viết trên giấy Ao và mọi người thảo luận Một người được nhóm cử
ra có nhiệm vụ ghi chép ý kiến thảo kuận của nhóm Có tất cả 12 nhóm thamgia thảo luận với tổng số 134 người
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác để sử lý,phân tích tài liệu như: Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, xử lý sốliệu trên máy vi tính bằng phầm mềm SPSS
2.4 Kết cấu luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 4 chương;
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
Chương 2: Mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu
Chương 3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng núi Ba Vì và khung lý
thuyết nghiên cứu.
Chương 4 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn đa
dạng sinh học ở Vườn quốc gia Ba Vì…
Trang 12Trước tình hình đó, ngày 16 tháng 1 năm 1991, Chủ Tịch Hội Đồng BộTrưởng (nay là Thủ Tướng Chính Phủ) ban hành quyết định số 17/CT phêduyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập “Rừng Cấm Quốc Gia Ba Vì” vàsau đó ngày 18/12/1991, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành Quyết định
số 407/CT về việc đổi tên “Rừng Cấm Quốc Gia Ba Vì” thành “Vườn QuốcGia Ba Vì” Đến ngày 12/5/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số510/QĐ-TTg về việc: "Mở rộng Vườn Quốc Gia Ba Vì" với diện tích tăng thêm
4.646 ha, và đến nay tổng diện tích của vườn quốc gia Ba Vì là 11.079,5 ha
Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơntỉnh Hoà Bình và huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội 60 km theo
đường Quốc lộ 11A và 87 Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh củahuyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hoà của huyện
Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình Phía Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài của tỉnh HàTây và các xã Đông Xuân, Tiến Xuân của tỉnh Hoà Bình Phía Tây giáp các xã
Trang 13Minh Quang, Khánh Thượng của tỉnh Hà Tây và xã Phú Minh của tỉnh HoàBình [11].
3.1.2 Đặc điểm địa hình
Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bánsơn địa, vùng này trông như một dải núi nổi lên giữa vùng đồng bằng chỉ cáchhợp lưu sông Đà và sông Hồng 30km về phía Nam
Trong vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1.000mnhư: đỉnh Vua: 1.296m, đỉnh Tản Viên: 1.227m, đỉnh Ngọc Hoa: 1.131m,
đỉnh Viên Nam: 1.081 m và một số đỉnh núi thấp hơn như đỉnh Hang Hùm:776m, đỉnh Gia Dê: 714m
Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính Dải dông thứ nhất chạy theohướng Đông - Tây từ Suối ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh HangHùm dài 9km Dải dòng thứ 2 chạy theo hướng Tây - Bắc - Đông - Nam từYên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11 km, sau đó dải này chạy tiếpsang Viên Nam tới dốc Kẽm (Hoà Bình)
Ba Vì là một vùng núi có dộ dốc khá lớn, sườn phía Tây đổ xuống sông
Đà, dốc hơn so với sườn Tây bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là
25o, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình
là 35o, và có vách đá lộ, nên việc đi lại trong Vườn là không thuận lợi [11]
3.1.3 Đặc điểm khí hậu
Khu vực núi Ba Vì chịu ảnh hưởng của cơ chế gió mùa, chịu tác
động phối hợp của vĩ độ và gió mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới ẩm vớimột mùa Đông lạnh và khô, từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô
Địa hình cao đón gió từ nhiều phía nên lượng mưa khá phong phú nhưngphân bố không đều trong khu vực Với đặc điểm trên, đây là nơi nghỉ mát
lý tưởng, là khu du lịch tổng hợp giàu tiềm năng mà chưa được khai thác
đúng mức [14]
Trang 14Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bìnhtrong mùa lạnh là 18OC, nhiệt độ thấp nhất là 6.5oC [11].
Độ ẩm
Ba Vì có mùa nóng ẩm và mùa lạnh khô Mùa nóng ẩm bắt đầu khoảng
từ giữa tháng 3 cho đến giữa tháng 11 Mùa lạnh khô từ giữa tháng 11 cho đếngiữa tháng 3 năm sau Từ độ cao 400m dường như không có mùa khô vì lượngbốc hơi luôn thấp hơn lượng mưa Căn cứ vào cấp phân loại chế độ ẩm nhiệt,ngưòi ta xếp Ba Vì vào loại hơn ẩm đến ẩm [11]
Chế độ mưa
Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, phân bố không đều giữa các khuvực và các tháng trong năm Tại vùng núi cao và sườn phía đông mưa rấtnhiều với lượng mưa 2.587,6 mm/năm Trong khi đó, vùng xung quanh chânnúi có lượng mưa vừa phải: 1.731,4 mm/năm Lượng mưa ở sườn phía đôngnhiều hơn lượng mưa ở sườn phía tây Số ngày mưa tại chân núi Ba Vì tương
đối nhiều từ 130 - 150 ngày/năm, tại cốt 400m, số ngày mưa từ 169 - 201ngày/năm, bình quân là 189 ngày/năm
Trong năm có một thời kỳ mưa nhiều và một thời kỳ ít mưa Trong mùamưa lượng mưa hàng tháng có thể lên trên 1.000 mm và kéo dài 6 tháng liêntục, từ tháng 5 cho đến tháng 10 tại chân núi, và 8 tháng từ tháng 3 cho đếntháng 10 từ cốt 400 trở lên Mưa lớn từ 300 - 400 mm/tháng tập trung trongcác tháng 6, 7, 8 ở vùng chân núi và trong các tháng 6, 7, 8, 9 tại cốt 400 m
Trang 15Thời kỳ ít mưa kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ở vùng chân núi và từtháng 11 đến tháng 2 năm sau ở cốt 400 m [11].
ảnh 1: Chụp tại khu trung tâm cốt 400
Vườn quốc gia Ba Vì (Tác giả)
Trang 163.1.4 Đặc điểm tài nguyên rừng
Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp thuộc vườn quốc gia Ba Vì quản lý
là 11.079,5 ha, trong đó: diện tích có rừng là 7.095,9 ha, chiếm 64% diện tíchcủa vườn, bao gồm rừng tự nhiên là 3.181,1 ha, chiếm 44,8% diện tích có rừng
và diện tích rừng trồng các loại là 3.914,8ha, chiếm 55,2% diện tích có rừng.Diện tích đất không có rừng là 3.983,6 ha, chiếm 35,9% diện tích của Vườn Cácchỉ số trên cho thấy, vườn quốc gia Ba Vì có tỷ lệ rừng lớn, trong đó diện tíchrừng tự nhiên chiếm 44,8% diện tích đất có rừng Đáng chú ý là vườn quốc gia
Ba Vì có khoảng gần 1.000 ha rừng nguyên sinh, ít bị tác động của con người[14] Đây nguồn tài nguyên sinh học và du lịch vô cùng quý giá
3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Vườn quốc gia Ba Vì
Vườn quốc gia Ba Vì có những chức năng, nhiệm vụ sau đây:
Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng, các nguồn gen động thực vậtrừng quý hiếm, các đặc sản rừng, các di tích văn hoá lịch sử, cảnh quanthiên nhiên trong diện tích được quản lý
Phát triển rừng trên cơ sở trồng rừng mới, phục hồi rừng và thực hiệncác dự án nông lâm nghiệp để phát triển vùng đệm, ổn định và nângcao đời sống nhân dân nơi gần rừng Thực hiện công tác tuyên truyềngiáo dục phổ cập cho nhân dân về ý thức bảo vệ rừng và giữ gìn cảnhquan môi trường
Thực hiện công tác nghiên cứu thực nghiệm khoa học với mục đíchphục vụ, bảo tồn thiên nhiên và môi sinh
Tổ chức các hoạt động dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật, giáo dục hướngnghiệp lâm nghiệp
Tổ chức tham quan nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái
Như vậy, vườn quốc gia Ba Vì ngoài nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên, môisinh, phát triển rừng, nghiên cứu thực nghiệm khoa học và tuyên truyền giáo
Trang 17dục hướng nghiệp lâm nghiệp thì việc tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịchsinh thái và giáo dục môi trường cũng là một trong những nhiệm quan trọngkhông thể thiếu [2].
Tổ chức bộ máy
Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Vườn quốc gia Ba Vì đã tổ chức bộmáy gọn nhẹ theo nguyên tắc trực tuyến Lãnh đạo cao nhất của Vườn là bangiám đốc, giúp việc cho ban giám đốc là các phòng ban chức năng gồm:phòng tổ chức - hành chính, phòng kế hoạch - tài chính, phòng khoa học kỹthuật Các phòng ban chịu sự điều hành trực tiếp của ban giám đốc, có nhiệm
vụ tham mưu cho ban giám đốc về các mặt của vườn theo chức năng đượcphân công
Ngoài ra, trực thuộc ban giám đốc còn có một số đơn vị bao gồm: trungtâm dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường, hạt kiểm lâm Các đơn vịnày cũng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc mà không phụ thuộcmột bộ phận trung gian nào
3.2.2 Đặc điểm xã hội của Vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm
Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 16 xã, thuộc 3 huyện của 2 tỉnh
Hà Tây và Hoà Bình (các xã Tản Lĩnh, Ba Trại, Yên Bài, Vân Hoà, MinhQuang, Khánh Thượng và Ba Vì thuộc huyện Ba Vì - Hà Tây, các xã Dân Hoà,Phúc Tiến, Phú Minh thuộc huyện Kỳ Sơn, và các xã Yên Bình, Yên Quang,Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Trung và Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn tỉnhHoà Bình)
Dân số hiện nay của vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì là 80.680 người,trong đó có 17.018 hộ và 32,980 lao động Tại đây quy tụ đồng bào một sốdân tộc thiểu số sinh sống, bao gồm: dân tộc Kinh chiếm 46,2%, dân tộcMường chiếm 51,5%, dân tộc Dao và dân tộc khác: 2,3% Tuy nhiên, tỷ lệ này
ở các xã có sự khác nhau nhất định Chẳng hạn, tại xã Vân Hoà, dân tộcMường chiếm 65%; xã Ba Vì, dân tộc Dao chiếm 97%
Trang 18Tổng diện tích đất tự nhiên 16 xã khoảng 35.000 ha Trong đó 17.018
hộ với dân số 80.680 người Các dân tộc chủ yếu là:
Người Dao ở các xã vùng đệm sống tập trung ở bản Dao Yên Sơn, nằmcạnh khu du lịch Ao Vua thuộc xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Tây Các nhà dântộc học cho rằng, người Dao ở đây có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Tây, TrungQuốc, di cư sang Việt Nam từ thế kỷ thứ 7, thứ 8 Người Dao có nền văn hoábản địa mang đậm bản sắc dân tộc rất dặc trưng Trong đó, đặc biệt chú ý lànhiều người có nghề thu hái và chế biến thuốc nam, chữa bệnh nổi tiếng
Hiện nay, các xã vùng đệm có khoảng 32.980 lao động, chủ yếu là lao
động phổ thông, chưa qua đào tạo, trình độ canh tác thấp, chưa được tiếp cậnnhiều với tiến bộ khoa học công nghệ Tuy nhiên, một bộ phận nông dân đượccác dự án tạo cơ hội tiếp thu kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất, tăng đượcthu nhập cho gia đình, đời sống dần dần được cải thiện
Theo số liệu điều tra đầu năm 2005, số hộ loại khá có thu nhập trên 15triệu đồng/năm chiếm 46% (hình 3.1), số hộ trung bình có thu nhập trên 11triệu đồng/năm chiếm 34,5%, và số nghèo chiếm 19,5% (theo chuẩn nghèocũ) tức là gần 1/5 số hộ Mặc dù thu nhập ở các nhóm hộ đều tăng nhưngkhoảng cách chênh lệch giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo không thu hẹp
mà có xu hướng gia tăng Kết quả phân tích số liệu điều tra ở vùng đệm vườnquóc gia Ba Vì cho thấy, tổng thu nhập của hộ nghèo chỉ bằng 42% hộ giầu
Trang 19Hình 3.1 Tỷ lệ hộ khá, trung bình và nghèo
Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, năm 2005
Sự phân hoá giàu nghèo đang tiếp tục diễn ra khá gay gắt ở các xã vùng
đệm Trong các thôn đã xuất hiện những người giàu có bên cạnh nhiều hộ gia
đình nghèo thiếu ăn Điều này cho thấy, một mặt cho thấy vẫn còn tồn tạinhững bất bình đẳng về thu nhập, người nghèo chưa được hưởng lợi từ sự tăngtrưởng kinh tế như người giàu, mặt khác cũng cho thấy đây là một áp lực đốivới việc bảo tồn đa dạng sinh học của vườn, đòi hỏi cần có giải pháp khắcphục (hộp 3.1)
Hộp 3.1 Nghèo đói và bảo tồn đa dạng sinh học
Mấy năm nay, nhờ Đảng, nhờ chính sách “đổi mới” đời sống của người dân chúng tôi đã thay đổi nhiều Trước đây, ở xã tôi có nhiều người nghèo lắm, quanh năm làm lụng vất vả nhưng vẫn không đủ ăn Bây giờ khác rồi, một số người có vốn, hiểu biết khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào trồng nên thu nhập tăng, đời sống khá giả không những đủ ăn mà còn tích luỹ, kiến thiết nhà cửa và mua sắm đồ dùng sinh hoạt đắt tiền như ti
vi, xe máy, quạt điện Nhưng trong xã vẫn còn có hộ nghèo thiếu ăn Họ hay vào rừng lấy củi, hoặc kiếm cây thuốc nam để bán lấy tiền mua sắm thức ăn, đồ dùng sách vở cho con cái.
Phỏng vấn ông Dương Trung Liên, 45 tuổi, dân tôc Dao, thôn Hợp Sơn, Xã Ba Vì,ì huyện Ba Vì, Hà Tây, ngày 10 tháng 2 năm 2006.
Trang 20Cơ cấu thu nhập của cư dân vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì khá đadạng, tuy nhiên nguồn thu chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp Thunhập từ nông nghiệp bao gồm thu từ trồng trọt và chăn nuôi Đồng bào cácdân tộc ở vùng đệm trồng cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai sắn,
…, và cây ăn quả như: vải, nhãn, hồng xiêm, mít, bưởi, và cây công nghiệpnhư: chè, cà phê, Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng là nguồn thu bổ sung cho thunhập của mỗi gia đình Người dân ở vùng đệm nuôi: trâu, bò, lợn, gà, vịt,ngan, dê nhưng sản xuất nhỏ, manh mún nên hiệu quả thấp
Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản như: gỗ, củi,tre, nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng… khoanh nuôi bảo vệ rừng,ngoài ra chặt gỗ lậu, săn bắt động vật và chim thú rừng, trồng rừng, cũng làmột nguồn thu khá quan trọng đối với người dân vùng đệm
Các nguồn thu nhập từ thuỷ sản còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu thunhập của các hộ gia đình do chưa chú trọng phát triển Mặc dù trong nhữngnăm gần đây nghề nuôi cá, các loài thuỷ đặc sản như êch, ba ba, đã bắt đầuphát triển ở một số nơi trong vùng đệm nhưng quy mô còn nhỏ và tốc độ pháttriển chậm
Một số ngành nghề thủ công truyền thống vẫn được duy trì như: mây tre
đan, chế biến dược liệu, dệt vải nhưng giá trị hàng hoá nhỏ bé chưa mang lạinguồn thu đáng kể cho người dân vùng đệm
Các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp như: buôn bán tạp hoá, dịch vụ
ăn nghỉ, tham quan văn hoá bản làng, hướng dẫn du lịch, xe ôm… cũng đangphát triển góp phần tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho nhiều lao độngtrong vùng đệm
3.2.3 Đặc điểm kinh tế của vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm
Đặc điểm kinh tế nổi bật nhất của vùng là kinh tế chậm phát triển,thuần nông, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm Mặc dù nguồn thu nhập chínhcủa người dân là nông nghiệp nhưng do diện tích đất bình quân nông nghiệp
Trang 21thấp, chỉ đạt 500m2/người nên thực chất thu nhập từ nông nghiệp lại rất thấp.Năm 2005, lương thực bình quân đạt 130 kg/người/năm [11] Điều này thực sự
là một nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốcgia Ba Vì Bởi vì, do diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, cácnghề phi nông nghiệp hầu như không có, do đó hàng năm tại đây đã có một sốlượng lớn lao động dư thừa Số lao động này tìm cách vào rừng chặt phá, khaithác tài nguyên rừng bừa bãi ảnh hưởng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học
Cho đến nay trồng lúa và hoa màu vẫn là nghề sản xuất chủ yếu của
đồng bào các dân tộc trong vùng Tuy nhiên trong những năm gần đây, một sốgiống cây có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất như: chè, đót, măng
u, bương, cam, soài, mận, vải Nghề trồng lúa có từ lâu, gắn bó với người nôngdân nhưng sản xuất lúa vẫn chưa phải là nghề phát triển ở vùng này Trình độthâm canh lúa của đồng bào các dân tộc chưa cao, năng suất lúa còn thấp
Đáng chú ý, đến nay cây Sắn vẫn còn được trồng nhiều ở các xã vùng đệmmặc dù Sắn là cây có giá trị kinh tế thấp Một sô cây ăn quả đã được các hộgia đình nông dân trồng nhưng chưa có nhiều cây ăn quả có giá trị kinh tế cao
Bảng 3.1 Thu nhập của các hộ vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì
theo cơ cấu ngành nghề năm 2005
(Đơn vị: %)
Nguồn thuLoại Hộ
Nông nghiệp
Lâm nghiệp Dịch vụ Thu khác
Trang 220 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50
Tỷ lệ %
Nông nghiệp Lâm nghiệp Dịch vụ Thu khác
Nguồn thu
Hình 3.2 Thu nhập của các hộ vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì
theo cơ cấu ngành nghề năm 2005 Nguồn: [11]
Xét theo hướng sản xuất nhìn chung thu nhập của các hộ đều theohướng đa dạng ngành nghề, nhưng thu từ nông nghiệp vẫn là chủ yếu, bìnhquân chiếm tỷ trọng lớn tới 46% tổng thu nhập, ngay cả những hộ phát triểntheo hướng tăng dịch vụ phi nông nghiệp, thu nhập nông nghiệp cũng vẫnchiếm tới 38% Tuy vậy chỉ có những hộ nào có làm dịch vụ thì thu nhập mớicao, bình quân thu nhập trên 14 - 16 triệu đồng/năm so với 9 triệu đồng/nămcủa hộ thuần nông
Thực trạng sản xuất và thu nhập của cư dân vùng đệm
Cũng như các vùng nông thôn miền núi khác, sinh kế của các hộ dântộc vùng đệm bao đời nay đều gắn liền với đất rừng và rừng Cùng với sự pháttriển của xã hội, sự thay đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiênnhiên, làm cho sinh kế của các hộ dân tộc đã có những biến đổi và ngày càng
có chiều hướng đa dạng hơn Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canhtác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bắn, hái
Trang 23lượm), các hộ dân tộc vùng đệm còn có nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làmthuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái…
Ngoài những nguồn thu chủ yếu như: trồng trọt, chăn nuôi, canh táctrên đất rừng, các hộ gia đình dân tộc thiểu số còn có nhiều nguồn thu khácnhư: thợ nề, thợ mộc, bán hàng, thu hái cây thuốc và chế biến dược liệu, khaithác các sản phẩm phụ từ rừng như gỗ củi, mật ong, săn bắn động vật và chimthú rừng…Trong thời vụ nông nhàn họ đi làm thuê trong các khu du lịch, khaithác đá, buôn bán thuốc nam để tăng thêm thu nhập Ngoài ra, do tính chấtkinh tế đặc thù của vùng đệm, cư dân ở đây đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu sốcòn nhận được sự trợ giúp cả về vật chất và tinh thần của Chính Phủ thông quavườn quốc gia Ba Vì và các tổ chức quốc tế để thực hiện các chương trình xoá
đói giảm nghèo, hỗ trợ họ ổn định đời sống lâu dài
3.3 Khung lý thuyết nghiên cứu
3.3.1 Phát triển bền vững
Ngày nay, thuật ngữ "Phát triển bền vững" đã trở nên quen thuộc, được
sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp qui và trong tài liệu nghiên cứu khoahọc Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người không hiểu khái niệm về phát triển bềnvững, dẫn đến chỗ sử dụng không chính xác, thậm chí làm sai lệnh bản chấtcủa thuật ngữ này Có những trường hợp còn lạm dụng thuật ngữ phát triểnbền vững như một thứ mốt trong các văn bản hoặc trong cách nói hàng ngày.Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được đưa ra năm 1980 trong cuốnsách "Chiến lược bảo tồn thế giới", do liên minh bảo tồn thế giới (IUCN) pháthành năm 1987, tài liệu "Brundtland Report" của uỷ ban thế giới về môitrường và phát triển được công bố, đã đưa ra được một phương pháp đánh giámới về sự phát triển, tiến bộ của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội Từ
đó, thuật ngữ trên đã trở thành những thuật ngữ chuyên môn đối với tất cảnhững ai quan tâm đến môi trường và phát triển Tháng 6 năm 1992, hội nghịThượng đỉnh về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janiero đã đưa ra bản
Trang 24tuyên ngôn "Về môi trường và phát triển" và "Chương trình nghị sự 21"(Agenda 21), thống nhất định nghĩa về sự phát triển bền vững Theo đó: Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không làm tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai Những người tham gia hội nghị cũng yêu cầu các quốc gia phải có
chương trình, kế hoạch cụ thể phát triển bền vững đất nước mình trước khibước vào thế kỷ 21, các nước phải có chiến lược tăng trưởng nhanh, đồngthời phải có các phương án và hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác hại,mặt trái của tăng trưởng kinh tế đến môi trường sống, xã hội loài người; cácquốc gia đi đến thống nhất phải coi "Phát triển bền vững là mục tiêu lâu dàicần đạt được của mọi quốc gia" Đến nay, ít nhất có tới 70 định nghĩa khácnhau đang được lưu hành về phát triển bền vững, song định nghĩa về sự pháttriển bền vững do hội nghị Rio de Janiero - 1992 đưa ra được cộng đồngquốc tế chấp nhận
Phát triển bền vững phải đạt được sự cân bằng tổng thể trong ba lĩnhvực kinh tế - xã hội - môi trường Đây chính là 3 thành tố trụ cột của pháttriển bền vững mà bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào muốn đạt được mụctiêu phát triển bền vững đều phải quan tâm Sự phát triển trong từng lĩnh vựcphải gắn bó mật thiết, hữu cơ với nhau Phát triển bền vững phải đảm bảo rằngsản xuất, sinh hoạt của con người luôn nằm trong giới hạn kiểm soát được.Khả năng chịu tải của môi trường sẽ chịu đựng mức độ ô nhiễm có giới hạn,nếu vượt qua mức ấy sẽ gây tình trạng mất cân bằng sinh thái Nền kinh tế đạtđược sự tăng trưởng dài hạn, ổn định, điều kiện sống của con người đượcnâng cao, môi trường sống ngày càng được cải thiện, trong sạch hơn Nhữngthành tựu của sự phát triển không chỉ dành cho thế hệ hiện tại mà thế hệ maisau cũng được kế thừa và phát huy Thông thường sự bình đẳng giữa các thế
hệ sẽ không đạt được nếu thiếu đi sự công bằng xã hội trong hiện tại, hoặc nếu
Trang 25các hoạt động kinh tế của nhóm người này gây tổn hại đến lợi ích và cuộcsống của nhóm người khác.
Tính bền vững về mặt kinh tế: chủ yếu được qui định bởi tính hữu ích và
chi phí đầu vào, chi phí khai thác, chế biến và nhu cầu đối với sản phẩm.Trong quá trình phát triển kinh tế cần phải quan tâm đến việc sử dụng hiệuquả tài nguyên, hiệu quả nhưng không gây tổn hại tới môi trường, không làmsuy giảm khả năng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được,
để chúng tiếp tục cung cấp lâu dài cho con người Trong sản xuất, nhu cầugiảm chi phí không đi quá những giới hạn cho phép, ảnh hưởng đến môitrường sinh thái Phát triển kinh tế một cách bền vững là việc không làm bầncùng hoá một nhóm người trong khi làm giàu cho một nhóm người khác Nó
đòi hỏi mọi người đều được hưởng lợi từ sự phát triển, không để xảy ra tìnhtrạng một bộ phận xã hội đứng ngoài tiến trình phát triển, không thu được lợiích từ tiến trình phát triển mang lại
Bền vững về mặt môi trường: là việc duy giữ gìn và bảo vệ bảo trường
trong sạch, không bị ô nhiếm bao gồm: đất, không khí, nước, trong đó có việcduy trì cachệ sinh thái
Bền vững về mặt xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa phát triển và những
giá trị, niềm tin và chuẩn mực xã hội hiện tại Một hoạt động có tính bền vững
về mặt xã hội nếu nó phù hợp với những chuẩn mực xã hội, hoặc không kéochúng đi quá sức chịu đựng về sự thay đổi của cộng đồng Những chuẩn mựcxã hội dựa vào tôn giáo, truyền thống và phong tục có thể hoặc không thể hệthống hoá được thành pháp luật Chúng phải được thực hiện với các quan hệ
đạo lý, hệ thống giá trị, ngôn ngữ, giáo dục, gia đình và các mối quan hệ khácthuộc hành vi của nhóm và cá nhân mà động lực thúc đẩy trước tiên khôngphải là những toan tính kinh tế
Tóm lại, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vậtchất với đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên với con người, giữa tự nhiên và
Trang 26nhân tạo, giữa hiện tại với tương lai Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu củaxã hội hiện tại, nhưng không làm phương hại đến phát triển của xã hội tươnglai Phát triển bền vững phải đảm bảo sự hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế, xãhội và môi trường, vì lợi ích của mỗi người và toàn xã hội, của thế hệ hiện nay
và thế hệ mai sau
Các nhà nghiên cứu cho rằng phát triển bền vững là sự kết hợp giữa bayếu tố: Tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội.tuỳ từng nơi, từng lúc, có thể nhấn mạnh một hay hai trong ba yếu tố đó, việcnhấn mạnh yếu tố này hay yếu tố kia, hoặc cả ba yếu tố phụ thuộc vào sự nhậnthức của chủ thể nền kinh tế, trình độ phát triển nền kinh tế - xã hội và thể chếchính trị:
Hình 3.3: Tương quan giữa ba mục tiêu trong phát triển bền vững
Từ hình 3.3 chúng ta có thể thấy rằng: Phát triển bền vững là sự pháttriển của một vùng hay quốc gia, phải đảm bảo và kết hợp hài hoà giữa cácmục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường
Xã hội
Kinh tế
Môi trường Phát triển bền vững
Trang 27Mục tiêu kinh tế: Nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả và ổn định.Mục tiêu xã hội: Hướng tới sự công bằng xã hội, việc làm đầy đủ, anninh, giáo dục, y tế, bản sắc văn hoá,
Mục tiêu môi trường: Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên có thể táitạo được, giữ gìn môi trường trong sạch, bảo tồn các nguồn tài nguyên khôngtái tạo được
Giữa các mục tiêu trên có mối liên hệ đặc biệt, nếu bỏ qua một mụctiêu nào sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển các mục tiêu khác Việc giải quyếtcân đối giữa các mục tiêu khác nhau là thách thức to lớn đối với các quốc gia
Duy trì kho tài nguyên sinh học
Sử dụng tài nguyên không tái tạo được với cường độ ở dưới khả năngtạo nên các chất thay thế
Thực hiện việc phân phối công bằng lợi ích, chi phí sử dụng tài nguyên
và quản lý môi trường
Khuyến khích các công nghệ tăng hiệu quả sử dụng từ một lượng tàinguyên nhất định
Sử dụng các chính sách kinh tế để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên
Cần thực hiện phương thức tiếp cận liên ngành, có sự tham gia củangười dân trong quá trình ra quyết định
Khuyến khích và hỗ trợ việc phát triển các giá trị văn hoá phù hợp vớiphát triển bền vững
Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, nước ta đã đưa ra quanniệm phát triển bền vững là: Thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh
Trang 28thần và văn hoá cho thế hệ hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một cách khôn khéo tài nguyên thiên nhiên Xây dựng và thực hiện các
chính sách, kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức nhằm đảm bảo cho khảnăng sử dụng lâu bền các tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hoá và liên kếtchặt chẽ với tất cả các khía cạnh của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của
đất nước
3.3.2 Du lịch bền vững
Theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới đưa ra tại hội nghị về môitrường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janiero năm 1992 thì: Dulịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhắm đáp ứng các nhucầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm
đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt
động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý cácnguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹcủa con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn văn hoá, đa dạngsinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộcsống con người
ở Việt Nam khái niệm du lịch bền vững còn khá mới mẻ Mặc dù cònnhững quan điểm chưa thật sự thống nhất tuy nhiên cho đến nay đa số các ýkiến của chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác có liên quan
đều cho rằng: Du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị
tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch,
có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đónggóp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn vềvăn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, góp phần nâng caomức sống của cộng đồng địa phương
Hiến chương du lịch bền vững được đưa ra tại hội nghị thế giới về dulịch bền vững tổ chức tại Lanzarote, Canary Islands, Tây Ba Nha trong đó cónêu ra quan điểm về du lịch bền vững như sau: Nhận thức được rằng du lịch
Trang 29là một hiện tượng mang tính hai mặt ở chỗ du lịch vừa có khả năng đóng gópmột cách tích cực vào những thành tựu kinh tế - xã hội cũng như chính trị,
đồng thời nó cũng một phần dẫn tới sự xuống cấp về môi trường và sự mất đinhững bản sắc của từng địa phương, phải được xem xét giải quyết trên cơ sởmột hệ tư tưởng có tính toàn cầu
Du lịch bền vững là quá trình quản lý các hoạt động du lịch với mục
đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn khách du lịch tới một vùngnào đó, quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế lợi ích trước mắt
để đạt được lợi ích lâu dài từ các hoạt động du lịch Phát triển du lịch bềnvững cần tính đến ba yếu tố sau đây:
Mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên,môi trường
Quá trình phát triển trong một thời gian dài
Đáp ứng được nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến nhucầu của thế hệ mai sau
Có thể nói, du lịch bền vững là một quá trình phát triển rất nhậy cảm
đòi hỏi sự kết hợp hài hoà, linh hoạt của tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống,mọi nguồn lực đều phải được tận dụng để phục vụ cho du lịch bền vững dựatrên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc được đề ra trong chương trình nghị sự số
21 Tính hai mặt của du lịch bền vững làm cho các quốc gia phải xem xét cẩnthận trước khi đưa ra chiến lược phát triển Một chính sách du lịch thích hợp,
đúng đắn sẽ thúc đẩy các hệ thống quản lý du lịch có lợi cho môi trường Vềlâu dài, du lịch bền vững là tổng hợp phát triển của các nhân tố nằm trong sựbền vững của môi trường và tài nguyên quốc gia
Phát triển du lịch bền vững thể hiện ở chỗ: có sự tham gia của cộng
đồng, xây dựng đánh giá tác động môi trường, tăng cường xây dựng cơ sở hạtầng phục vụ sự phát triển của du lịch và ổn định, an toàn
Phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:
Trang 30Khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý: Các hoạt động du lịch luôn luôn
gắn với việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái Vìvậy, phải chú ý sử dụng hợp lý tài nguyên vào mục đích du lịch, không sửdụng tài nguyên một cách quá giới hạn cho phép
Phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học: Du lịch bền vững
phát triển dựa vào tính đa dạng sinh học Vì vậy, các hoạt động du lịch phảiluôn luôn gắn liền với việc bảo tồn đa dạng sinh học
Bảo đảm hài hòa các lợi ích: Du lịch mang lại lợi ích to lớn nhưng
phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo hài hoà lợi ích giữa cá bên liênquan như lợi ích của doanh nghiệp hoạt động du lịch, lợi ích của cộng
đồng, lợi ích của nhà nước
Tăng cường sự tham gia của cộng đồng: Phát triển du lịch bền vững đòi
hỏi cần có sự tham gia của cộng đồng nhằm tạo nên sự đồng thuận xã hội,cộng đồng cần được tham gia các quyết định có liên quan đến phát triển dulịch chẳng hạn như quy hoạch du lịch, quá trình triển khai các dự án du lịch,giám sát các hoạt động du lịch, duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng phục
vụ du lịch
Nâng cao tính trách nhiệm của các bên liên quan: Hoạt động du lịch
bền vững dựa trên cơ sở đề cao tính trách nhiệm của các bên liên quan, cácchủ thể tham gia các hoạt động du lịch
3.3.3 Du lịch sinh thái
3.3.3.1 Khái niệm
Từ những năm đầu thế kỷ 19, khái niệm du lịch sinh thái xuất hiện vớihàm ý mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉmát, leo núi…đều gọi là du lịch sinh thái Đến nay, khái niệm về du lịch sinhthái đã có sự phát triển với hàng chục cách hiểu khác nhau
Năm 1987, một định nghĩa hoàn chỉnh về du lịch sinh thái đã đượcHector Ceballos - Lascurain lần đầu tiên đưa ra: Du lịch sinh thái là du lịch
Trang 31đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt như: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được chấm phá [1] Cùng với sự phát triển nhanh chóng của
thực tiễn, nhận thức về khái niệm du lịch sinh thái cũng dần dần được hoànthiện mà sự thay đổi quan trọng về nội dung của khái niệm này là từ chỗ coi
du lịch sinh thái là loại hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sangviệc gắn trách nhiệm của du lịch sinh thái với môi trường, có tính giáo dục,
đóng góp tích cực cho bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời đảm bảo lợi íchcho cộng đồng địa phương
Theo chương trình du lịch sinh thái của IUCN thì: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối hoang sơ, để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương [18].
ở Việt Nam, tại cuộc hội thảo quốc gia bàn về: “Xây dựng chiến lượcphát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 - 9/8/1999 khái niệm dulịch sinh thái lần đầu tiên được đưa ra, theo đó: Du lịch sinh thái là loại hình
du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường,
có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương [8].
Theo tổ chức du lịch thế giới, du lịch sinh thái có những đặc điểm cơbản sau đây:
Thứ nhất: Du lịch sinh thái bao gồm tất cả các loại hình du lịch dựa
vào thiên nhiên, trong đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìmhiểu về tự nhiên, tìm hiểu khám phá những giá trị văn hoá truyền thống ở cáckhu du lịch
Trang 32Thứ hai: Du lịch sinh thái bao gồm những hoạt động giáo dục, tuyên
truyền về môi trường sinh thái
Thứ ba: Du lịch sinh thái hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến
môi trường, văn hoá, xã hội
Thứ tư: Du lịch sinh thái hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên thông
qua việc tạo ra lợi ích kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư,nâng cao nhận thức, hiểu biết về bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị tựnhiên khác cho du khách và người dân bản địa
3.3.3.2 Những đặc trưng của du lịch sinh thái
Đặc trưng thứ nhất: Du lịch sinh thái mang tính đa ngành
Tính đa ngành của du lịch sinh thái thể hiện ở 2 góc độ sau:
Đối tượng được khai thác để phục vụ các hoạt động du lịch sinh thái làrất đa dạng và liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: cảnhquan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hoá, cơ sở hạ tầng và các dịch vụkèm theo
Du lịch sinh thái mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khácnhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện,nước, nông sản, hàng hoá…)
Đặc trưng thứ 2: Thành phần tham gia du lịch sinh thái rất đa dạng
Thực tế cho thấy có nhiều cá nhân, nhiều tổ chức chính phủ, phi chínhphủ và cộng đồng tham gia các hoạt động du lịch sinh thái Nhiều thành phầntham gia làm cho việc tổ chức, quản lý các hoạt động du lịch sinh thái phứctạp, đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hoà giữa các thành phần với nhau
Đặc trưng thứ 3: Du lịch sinh thái hướng tới nhiều mục tiêu
Du lịch sinh thái không chỉ nhằm mục đích thu lợi nhuận giống như cácngành kinh doanh khác mà còn nhằm góp phần bảo tồn thiên nhiên, các cảnhquan lịch sử - văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của du khách và nhữngngười tham gia các hoạt động du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hoá, kinh tế và
Trang 33nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về đa dạng sinh học, pháttriển bền vững.
Đặc trưng thứ 4: Du lịch sinh thái mang tính mùa vụ
Các hoạt động du lịch sinh thái không phân bố đều trong năm mà tậptrung với cường độ cao trong những khoảng thời gian nhất định trong năm:Các loại hình du lịch nghỉ biển, leo núi, tìm hiểu tập tính động vật (Quan sátchim di cư, quan sát bướm, cá heo, ) theo mùa (theo tính chất khí hậu, mùa
di cư, xuất hiện của động vật) thể hiện rất rõ tính mùa vụ
Đặc trưng thứ 5: Du lịch sinh thái có tính liên vùng
Các hoạt động du lịch sinh thái thường không chỉ diễn ra ở một địaphương, một khu vực mà có sự liên thông giữa các điểm du lịch trong một khuvực, các vùng và giữa các quốc gia với nhau
Đặc trưng thứ 6: Chi phí
Du khách tham gia du lịch sinh thái nhằm hưởng thụ các sản phẩm dulịch chứ không phải với mục đích kiếm tiền Họ sẵn sàng bỏ ra các khoản chiphí cho chuyến du lịch, nhắm khám phá cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, môitrường hấp dẫn, bản sắc văn hoá bản địa độc đáo
Đặc trưng thứ 7: Xã hội hoá các hoạt động du lịch
Du lịch sinh thái thu hút nhiều người, nhiều tổ chức kinh tế, xã hội,cộng đồng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hoạt động du lịch Lợi ích do dulịch sinh thái mang lại được được xã hội hoá rộng rãi Nhiều ngưòi, nhiều tổchức, cộng đồng được hưởng lợi từ du lịch sinh thái
Đặc trưng thứ 8: Giáo dục nhận thức về môi trường
Du lịch sinh thái giúp con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tựnhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và nhạy cảm
về môi trường Qua các hoạt đông du lịch sinh thái, nhận thức của khách dulịch, của người dân, cộng đồng dân cư về đa dạng sinh học và môi trường đượcnâng cao
Trang 34Đặc trưng thứ 9: Bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa
dạng sinh học
Du lịch sinh thái bao gồm cả hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức vàhình thành ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho khách du lịch, những ngườitham gia các hoạt động du lịch Qua đó, thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môitrường, tăng cường nguồn lực duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học
Đặc trưng thứ 10: Sự tham gia của cộng đồng địa phương
Sự tham gia của cộng đồng là một đặc trưng cơ bản của du lịch sinhthái Cộng đồng địa phương với tư cách là chủ sở hữu các nguồn tài nguyênthiên nhiên nên sự tham gia của cộng đồng vào du lịch sinh thái có ý nghĩaquan trọng Một mặt, sự tham gia của cộng đồng mang lại sự phong phú, đadạng của du lịch sinh thái trên cơ sở phát huy các giá trị văn hoá, lịch sửcủa địa phương, mặt khác tăng thêm khả năng quản lý, bảo tồn các nguồntài nguyên
3.3.3.3 Những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch sinh thái
Muốn phát triển du lịch sinh thái cần phải có những điều kiện sau đây:
Tồn tại các hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao
Đây là một điều kiện quyết định để phát triển du lịch sinh thái, bởi vì
du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chỉ có thể tồn tại
và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinhhọc cao Đa dạng sinh học là cơ sở tạo ra sự hấp dẫn đối với khách du lịch,nhờ đó du lịch sinh thái mới tồn tại và phát triển được Có thể nói nếu không
có sự đa dạng sinh học thì không thể có du lịch sinh thái
Cán bộ quản lý, hướng dẫn viên du lịch sinh thái phải có trình độ chuyên môn và hiểu biết về đa dạng sinh học
Muốn du lịch sinh thái phát triển, cần phải có đội ngũ hướng dẫn viên
du lịch, không chỉ nắm bắt được các kiến thức về du lịch mà còn có trình độhiểu biết nhất định về các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá ở địa
Trang 35phương Họ có khả năng tuyên truyền, giải thích cho khách du lịch về vănhoá, lịch sử và đa dạng sinh học, góp phần nâng cao nhận thức cho du khách
về môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học
Du lịch sinh thái đòi hỏi những người quản lý, điều hành du lịch phảinắm vững và tôn trọng các nguyên tắc của du lịch sinh thái Một mặt, các nhàquản lý, điều hành du lịch sinh thái quan tâm đến lợi nhuận do du lịch manglại nhưng mặt khác họ phải quan tâm đến việc bảo tồn đa dạng sinh học thôngqua các hạot động thiết lập quan hệ hợp tác với nhà quản lý các khu bảo tồnthiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo
vệ một cách lâu dài các giá trị thiên nhiên và văn hoá, cải thiện cuộc sống,nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch[9] Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa du lịch sinh thái với các loại hình dulịch khác
Giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực của du lịch sinh thái đến môi trường
Hoạt động du lịch sinh thái thường có những tác động tiêu cực đến tựnhiên và môi trường Nếu không có các biện pháp hạn chế những tác động tiêucực sẽ làm mất đi cơ sở phát triển bền vững của du lịch sinh thái Du khách sẽkhông đến những nơi mà họ không có cơ hội thoả mãn về sự khám phá đadạng sinh học cũng như các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hoá khác
Để hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường, du lịch sinh tháicần tính toán đến lượng khách tham quan một cách hợp lý, đảm bảo sự hài hoàgiữa lượng khách tham quan và môi trường Du lịch sinh thái cần phải tuânthủ các quy định của “Sức chứa”, tính toán số lượng khách đến một địa điểm
trong cùng một thời điểm sao cho phù hợp về mặt vật lý, sinh học, tâm lý, xãhội và trình độ quản lý của các người làm du lịch
Dưới góc độ vật lý: Sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du
khách mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn
Trang 36tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinhhoạt của du khách.
Dưới góc độ sinh học: Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu
số lượng du khách tham quan quá lớn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môitrường, làm xuất hiện các tác động bất lợi cho hệ sinh thái do hoạt động của
du khách và tiện nghi mà họ sử dụng Sức chứa này sẽ đạt tới giới hạn khi sốlượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởngtới tập tính của các loài thú hoang dã và làm cho môi trường sinh thái bịxuống cấp như: rác thải, đất đai xói mòn,
Dưới góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu
vượt quá thì du khách cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị
ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Khi đó, mức độ thoả mãn của
du khách bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng quá đông đúc
Dưới góc độ xã hội: Sức chứa được hiểu là giới hạn về lượng du khách
đến mà hoạt động du lịch tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá - xã hội,kinh tế - xã hội của khu vực, tập quán sinh hoạt và bản sắc văn hoá của cộng
đồng người dân địa phương
Dưới góc độ quản lý: Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu
du lịch có khả năng tiếp nhận Nếu số lượng khách du lịch vượt quá giới hạncho phép thì năng lực quản lý của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầucủa khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kếtquả sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội [11]
Thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch:
Việc thoả mãn những mong muốn được khám phá, hiểu biết của khách
du lịch về kinh nghiệm, hiểu biết đối với tự nhiên của văn hoá bản địa thường
là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài củangành du lịch sinh thái Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng sự hiểu biếtcủa du khách có ví trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn Những gì họ
Trang 37đã nhìn thấy và khám phá được có ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức, quanniệm, tâm tư tình cảm của họ về môi trường, xã hội và cộng đồng [5].
3.3.4 Đa dạng sinh học
3.3.4.1 Khái niệm
Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng
và các hệ sinh thái mà chúng là thành viên Theo Công Ước Đa Dạng Sinh
Học (1994) thì: Đa dạng sinh học được định nghĩa là sự phong phú của mọi cơthể sống có từ tất cả các nguồn từ hệ sinh thái, trên cạn, ở biển và các hệ sinhthái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên Đa dạng sinhhọc bao gồm: sự đa dạng nguồn gen trong loài (đa dạng di truyền), số lượngcác loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) [15]
Khi xem xét đa dạng sinh học, người ta thường chú ý đến 3 khía cạnh:
đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái
Đa dạng di truyền: là tính đa dạng của các thông tin di truyền chứatrong tất cả các cá thể thực vật, động vật, và vi sinh vật Đa dạng ditruyền có ở bên trong và giữa các quần thể của các cá thể tạo nên mộtloài, cũng như giữa các loài
Đa dạng loài là đa dạng về số lượng và chủng loại của các loài sinh vậtkhác nhau trong hệ sinh thái
Đa dạng hệ sinh thái là tính đa dạng của các sinh cảnh, các quần xãsinh vật và các quá trình sinh thái
3.3.4.2 Vai trò của đa dạng sinh học trong phát triển
Đa dạng sinh học có giá trị to lớn về nhiều mặt và là những giá trịkhông thể thay thế được Trước hết, nó có vai trò to lớn đối với sự tồn tại vàphát triển của thế giới sinh học trong đó có con người Nó cũng có vị trí đặcbiệt về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá Đa dạng sinh học có giá trị đặc biệt về
Trang 38mặt khoa học và ứng dụng trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, côngnghiệp và nhiều lĩnh vực khác [27].
Đa dạng sinh học trong nông nghiệp bao gồm các động thực vật, các visinh vật được sử dụng làm thức ăn và cho sự phát triển nông nghiệp Đa dạngsinh học bao gồm đa dạng: các nguồn gen di truyền (chẳng hạn như các phânloài, giống, nòi khác nhau), các loài dùng để lấy sợi, chất đốt hay dược liệuquý giá Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự đa dạng các loài không được thuhoạch trực tiếp nhưng có tác dụng hỗ trợ cho sản xuất như các loài vi sinh vậttrong đất, các loài côn trùng giúp cho quá trình thụ phấn Các loài động thựcvật cung cấp các sản phẩm phục vụ cuộc sống con người Các loài động thựcvật hoang dã là nguồn tài nguyên quan trọng, là nguồn gen quý giá làm cơ sở
để lai tạo nên những cây, con năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứngcao đối với môi trường, là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển nền nông nghiệpbền vững
Đa dạng sinh học mang lại lợi ích rất to lớn cho con người, là nền tảng
đối với cuộc sống vì đa dạng sinh học không chỉ là việc cung cấp liên tục cácnguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn duy trì các chức năng sinh thái Các hệsinh thái có vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, làm trong sạch môitrường nước, không khí, duy trì chu trình nước (phục hồi nước ngầm, bảo vềlưu vực), làm màu mỡ đất, tích trữ và tái tạo chất dinh dưỡng, hấp thụ và phânhuỷ các chất gây ô nhiễm
Đa dạng sinh học giúp tránh được việc tăng các phí tổn do suy thoái các
hệ sinh thái như mất sản lượng và các chất dinh dưỡng Đa dạng sinh học còn
có giá trị đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hoá, là cơ sở cho ngành du lịchphát triển
Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng đối với việc xoá đói, giảmnghèo, gắn liền với sinh kế của cộng đồng địa phương Các hệ sinh thái và đadạng sinh học đáp ứng phần lớn nhu cầu cơ bản của người nghèo như: lương
Trang 39thực, thực phẩm, vải mặc, thuốc chữa bệnh, củi đốt, nước sinh hoạt và nướcphục vụ sản xuất nông nghiệp Đa dạng sinh học duy trì các chức năng sinhthái như: ngăn chặn bão lụt, hạn hán mà người nghèo dễ bị tổn thương nhất.
Đa dạng sinh học tạo cơ hội kiếm kế sinh nhai, cải thiện điều kiện dinh dưỡng,chăm sóc sức khoẻ và cung cấp nguồn nước sạch cho người nghèo Hầu hếtcác vùng đa dạng sinh học nằm ở nơi xa xôi, hẻo lánh có nhiều đồng bào dântộc thiểu số sinh sống Họ là nhữg người nghèo và dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất.Những vùng đa dạng sinh học thường nằm cách xa các đô thị, các trung tâmkinh tế, chính trị, văn hoá thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh họcnhưng cũng chứa dựng những mâu thuẫn nhất định giữa khai thác tài nguyên
để giảm nghèo và bảo tồn Vì vậy, cần có các quyết định phát triển kinh tế dựatrên cơ sở vừa khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ giảm nghèo vừa duytrì, bảo tồn đa dạng sinh học thông qua chính sách hỗ trợ đầu tư giảm nghèocủa chính phủ cho cộng đồng [10]
Đa dạng sinh học Việt Nam có ý nghĩa to lớn thể hiện trên nhiềuphương diện: Sinh thái, kinh tế, văn hoá xã hội
Trên phương diện sinh thái: Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự
sống, đảm bảo sự lưu chuyển của các chu trình vật chất và năng lượng, duy trìtính ổn định và độ màu mỡ của đất, giảm nhẹ tác hại ô nhiểm và thiên tai
Trên phương diện kinh tế: Đa dạng sinh học có đóng góp lớn cho nền
kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong các lĩnh vực xản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp và thuỷ sản là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực của đất nước, duy trìnguồn gien tạo giống vật nuôi, cây trồng, cung cấp vật liệu cho xây dựng vàcác nguồn nhiên liệu, dược liệu
Theo thống kê ở Việt Nam có khoảng 25 triệu người sống trong hoặcgần khu rừng và khoảng 20% thu nhập của họ là từ lâm sản ngoài gỗ Nghềthuỷ sản đem lại thu nhập chính cho khoảng 8 triệu người và một phần thu
Trang 40nhập cho khoảng 12 triệu người Năm 2005, ngành thuỷ sản Việt Nam xuấtkhẩu đạt 2,5 tỷ USD.
Trên phương diện văn hoá xã hội: Đa dạng sinh học tạo nên cảnh
quan thiên nhiên và đó là nguồn cảm hứng vô tận của nghệ thuật, là cội nguồncủa nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp của người dân Việt Nam Từ ngàn đờixưa, đời sống văn hoá người Việt đã rất gần gũi với thiên nhiên Nhiều loàicây, con vật đã trở thành vật thiêng hoặc vật thờ cúng đối với cộng đồngngười Việt Các nghành nghề truyền thống như nhuộm tràm, dệt thổ cẩm, làmhàng mỹ nghệ từ gỗ, tre nứa hay song mây là biểu hiện sự gắn bó của đời sốngvăn hoá con người Việt Nam với đa dạng sinh học
Các hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao cung cấp những giá trị vôcùng to lớn cho các ngành giải trí ở Việt Nam với các loại hình du lịch sinhthái đang dần dần phát triển, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị kinh tế và góp phầnquan trọng vào việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của
đa dạng sinh học và công tác bảo tồn thiên nhiên
3.3.4.3 Các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học
Công ước quốc tế về đa dạng sinh học đã được thông qua tại hội nghịThượng đỉnh về môi trường và phát triển do Liên Hợp Quốc tổ chức năm 1992tại Rio de Janeiro (Braxin) là công cụ quốc tế chính được dùng để giải quyếtcác vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học Đến tháng 8 năm 2005, đã có 168quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia công ước đa dạng sinh học
Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên của công ước này từngày 16 tháng 11 năm 1994 Kể từ đó, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện cácnghĩa vụ và cam kết của mình nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên
đa dạng sinh học
Thông qua hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, bảo tồn và sử dụngtài nguyên đa dạng sinh học đã được xây dựng và ban hành tương đối đầy đủ,chi tiết nhiều mảng khác nhau của lĩnh vực bảo tồn, tạo cơ sở pháp lý cho việc