1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường

109 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường
Tác giả Nguyễn Đức Hậu
Người hướng dẫn TS. Lê Anh Vũ
Trường học Trường Đại Học Lâm Nghiệp
Chuyên ngành Lâm Học
Thể loại Luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2006
Thành phố Hà Tây
Định dạng
Số trang 109
Dung lượng 1,33 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp & PTNTTrường đại học lâm nghiệp ------Nguyễn Đức Hậu Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển Du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì Và

Trang 1

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp & PTNT

Trường đại học lâm nghiệp

- -Nguyễn Đức Hậu

Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển

Du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì

Và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường

Chuyên ngành Lâm Học

Mã số: 60.62.60

Luận văn thạc sĩ khoa học lâm nghiệp

Hà Tây - 2006

Trang 2

Bộ giáo dục và đào tạo Bộ nông nghiệp & PTNT

Trường đại học lâm nghiệp

- -Nguyễn Đức Hậu

Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển

Du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia ba vì

Và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường

Trang 3

đã hướng dẫn và giúp tôi ngay từ buổi đầu khi hình thành ý tưởng, xây dựng

đề cương cho đến khi hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn tập thể ban giám hiệu trường Đại học LâmNghiệp Cán bộ lãnh đạo, các thầy cô trong khoa đào tạo sau đại học Trường

Đại học Lâm Nghiệp đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiêncứu tại trường cũng như góp ý xây dựng luận văn của tôi

Tôi xin chân thành cám ơn ông Đỗ Khắc Thành giám đốc vườn quốcgia Ba Vì đã tạo điều kiện thuận lợi giúp tôi hoàn thành tốt bản luận văn này

Tôi xin chân thành cám ơn: Hội các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiênnhiên Việt Nam, Trung tâm Vườn Quốc Gia và ông Lê Văn Lanh (Tổng thư

ký hội)

Tôi xin cám ơn uỷ ban nhân dân các huyện: Kỳ Sơn, Lương Sơn (HoàBình), Ba Vì (Hà Tây) Và uỷ ban nhân dân các xã thuộc vùng đệm VườnQuốc Gia Ba Vì đã giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình điềutra thu thập số liệu

Tôi xin chân thành cám ơn toàn thể cán bộ, công nhân viên vườn quốcgia Ba Vì và đặc biệt là: Thạc sỹ Nguyễn Văn Diện (hạt trưởng hạt kiểm lâmVườn Quốc Gia Ba Vì), thạc sỹ Trần Minh Tuấn (trưởng phòng Khoa học - Kỹthuật Vườn Quốc Gia Ba Vì), thạc sỹ Vũ Đăng Khôi (trưởng phòng Kế hoạch

- Tài chính Vườn Quốc Gia Ba Vì) đã đóng góp và giúp đỡ tôi rất nhiều trongquá trình nghiên cứu và hoàn thiện bản luận văn này của mình

Trang 4

Cuối cùng tôi xin được một lần nữa gửi lời cám ơn tới tất cả các cơquan, trường, viện nghiên cứu, uỷ ban nhân dân các huyện, xã, các nhà quản

lý, các nhà khoa học và các bạn đồng nghiệp đã chân thành giúp đỡ tôi hoànthành bản luận văn tốt nghiệp này

Xin trân trọng cảm ơn!

Hà Tây, ngày 18 tháng 9 năm 2006

Tác giả

Nguyễn Đức Hậu

Trang 5

mở đầu

Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn hai tỉnh Hà Tây và Hòa Bình,cách thành phố Hà Nội khoảng 60 km về phía Tây Bên cạnh những giá trịnhiều mặt về bảo tồn thiên nhiên thì vườn quốc gia Ba Vì còn là một địa điểm

du lịch sinh thái hấp dẫn đối với du khách trong nước và quốc tế do nơi đây cóbầu không khí trong lành, mát mẻ, cảnh quan thiên nhiên đẹp với núi Ba Vìhùng vĩ nổi tiếng từ lâu đời, sự đa dạng phong phú của hệ sinh thái và nền vănhóa đặc sắc của đồng bào các dân tộc thiểu số sinh sống ở đây Trong nhữngnăm gần đây, du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì đã có sự phát triển khámạnh mẽ, góp phần vào sự phát triển chung của ngành du lịch Hà Tây, cũngnhư sự phát triển của du lịch Xứ Đoài nói riêng, đặc biệt là du lịch xung quanhvườn quốc gia Ba Vì và khu vực vùng đệm với các bản sắc văn hoá của cácdân tộc Dao, Mường v.v…

Tuy nhiên, sự phát triển của du lịch đang phát sinh những tác động xấu

ảnh hưởng đến môi trường sinh thái của Vườn và khu vực vùng đệm trong bốicảnh của kinh tế thị trường Nếu vấn đề không được quan tâm đúng mức thì cóthể gây ra những hậu quả khó lường Nó sẽ tác động đến việc thực hiện cácchức năng nhiệm vụ, và sự phát triển bền vững của Vườn cũng như vùng đệmvườn quốc gia Ba Vì Khi tài nguyên đa dạng sinh học bị suy giảm, cảnh quanmôi trường bị thay đổi thì nguy cơ giảm sút khách du lịch đến tham quan là

điều khó tránh khỏi Một vấn đề bức xúc đặt ra là làm thế nào vừa giữ gìn, bảo

vệ môi trường sinh thái, bảo tồn đa dạng sinh học, vừa phát triển du lịch sinhthái ở vườn quốc gia Ba Vì trong nền kinh tế thị trường

Nhằm góp phần luận giải vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển

du lịch bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì, tôi đã quyết định lựa chọn đề tài:

“Bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn

quốc gia Ba Vì và vùng đệm trong nền kinh tế thị trường” làm luận văn thạc

sĩ của mình

Trang 6

Chương 1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

Từ lâu, đa dạng sinh học là một chủ đề thu hút sự quan tâm của nhiềunhà khoa học trong và ngoài nước Các nhà khoa học trong nước đã dànhnhiều công sức nghiên cứu đa dạng sinh học ở các vùng miền trên phạm vi cảnước Từ đầu những năm 1990, hai nhà nghiên cứu Đặng Huy Huỳnh và PhạmTrọng ảnh đã nghiên cứu hệ động vật thuộc các đảo ven bờ Việt Nam Từ đó,

đưa ra những giải pháp bảo vệ và phát triển đa dạng sinh học ở các đảo ven bờbiển nước ta Năm 1994, Phan Nguyên Hồng đã nghiên cứu thành công hệsinh thái rừng ngập mặn Kết quả nghiên cứu của ông đã được công bố trongcuốn sách: “Chuyên khảo biển Việt Nam”

Hà Tây nói chung và Vườn quốc gia Ba Vì nói riêng đã được nhiều nhàkhoa học quan tâm nghiên cứu nhiều lĩnh vực như: điều kiện tự nhiên, kinh tế,xã hội và đặc biệt là đa dạng sinh học Năm 1993, một nhóm các tác giả: LêTrần Trấn, Nguyễn Hữu Tử, Trần Văn Thuỵ đã tiến hành nghiên cứu thảmthực vật Hà Tây và đặc trưng cơ bản hệ thực vật Ba Vì Các tác giả đã đánh giátính đa dạng của hệ thực vật Ba Vì, từ đó cho rằng cần thiết phải bảo tồn đadạng sinh học trên vùng núi này Ngoài ra còn có một số tá giả khác cũngnghiên cứu về vườn quốc gia Ba Vì Trong số đó có bài: Vườn quốc gia Ba Vì, những nhân tố tự nhiên và kinh tế xã hội của hai tác giả Nguyễn Văn Chương

và Nguyễn Đức Kháng Đáng chú ý là có nhiều nhà khoa học nổi tiếng đã tậptrung nghiên cứu cây thuốc ở Ba Vì như: Nguyễn Nghĩa Thìn, Lê Thế Trung,Chu Quốc Trường, Nguyễn Văn Liêm, Trần Thế Tăng, Nguyễn Thu Hiền, ĐỗThị Thu Hà

Ngoài ra, một số tác giả đã nghiên cứu các hoạt động kinh tế, xã hộicủa đồng bào các dân tộc thiẻu số ở Ba Vì Điển hình là nghiên cứu của Vũ

Trang 7

Văn Thịnh về: Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các

hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì, và Một số giải pháp xây dựng bản làng sinh thái vùng dân tộc từ một số mô hình bản sinh thái đồng bào dân tộc Dao, Ba Vì, Hà Tây của giáo sư Nguyễn Văn Chương…

Kể từ khi thực hiện chính sách mở cửa thì du lịch trở thành một ngànhkinh tế quan trọng của nước ta Du lịch đã có nhiều đóng góp cho tăng trưởngkinh tế và phát triển xã hội, nó đã và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọncủa Việt Nam Trong bối cảnh hội kinh tế quốc tế và khu vực, giao lưu kinh tế,văn hoá giữa các quốc gia ngày càng được mở rộng, nhu cầu đi du lịch, thamquan, nghỉ ngơi của người dân trong nước cũng tăng Du lịch phát triển theohướng đa dạng hoá trên cơ sở khai thác tiềm năng về cảnh quan môi trường vàgiá trị của nền văn hoá lâu đời của dân tộc nhằm đáp ứng nhu cầu của dukhách Du lịch sinh thái cũng có cơ hội phát triển mạnh mẽ trong những nămgần đây Nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu loại hình du lịch này.Phó giáo sư Phạm Trung Lương đã viết cuốn sách “Du lịch sinh thái những vấn đề lý luận và thực tiễn phát triển ở Việt Nam” đưa ra những khái niệm cơ

bản và phân tích tình hình và xu hướng phát triển của du lịch sinh thái Cuốnsách đã cung cấp cho người đọc những kiến thức cơ bản về một loại hình dulịch còn tương đối mới mẻ, có quan hệ chặt chẽ đến vấn đề bảo tồn da dạngsinh học ở nước ta Năm 2002, Nguyễn Xuân Tân đã tiến hành công trìnhnghiên cứu và đưa ra các giải pháp nâng cao hiệu quả các loại hình du lịchsinh thái vườn quốc gia Ba Vì

Nhìn chung, tuy đã có một số công trình, bài viết nghiên cứu về vườnquốc gia Ba Vì từ nhiều góc độ khác nhau và đã làm rõ được nhiều vấn đềkhoa học, nhất là về hệ thực vật, đa dạng sinh học nhưng còn thiếu nhữngcông trình nghiên cứu sự phát triển du lịch sinh thái gắn với bảo tồn đa dạngsinh học Câu hỏi đặt ra là làm thế nào vừa bảo tồn được đa dạng sinh học vừaphát triển du lịch sinh thái bền vững ở vườn quốc gia Ba Vì

Trang 8

Sơ đồ Vườn quốc gia Ba Vì

n



Trang 9

Chương 2 Mục tiêu, nhiệm vụ và phương pháp nghiên cứu

2.1 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

2.1.1 Mục tiêu tổng quát

Góp phần xây dựng căn cứ khoa học cho việc quản lý phát triển vườnquốc gia Ba Vì và vùng phụ cận theo phương châm bảo tồn thiên nhiên gắnvới phát triển du lịch sinh thái trong điều kiện nền kinh tế thị trường

2.1.2 Mục tiêu cụ thể

 Làm rõ thực trạng, những mặt đã làm được và chưa làm được, nguyênnhân trong việc bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái,những vấn đề đặt ra đối với du lịch sinh thái trong mối quan hệ với bảotồn đa dạng sinh học ở vườn quốc gia Ba Vì

 Kiến nghị những giải pháp bảo tồn đa dạng sinh học gắn với du lịchsinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Căn cứ vào mục tiêu đề tài, luận văn đã xác định nhiệm vụ nghiên cứu cụ thểcủa luận văn như sau:

 Hệ thống hóa những vấn đề lý luận về bảo tồn đa dạng sinh học gắn vớiphát triển du lịch sinh thái

 Nêu ra một số kinh nghiệm về bảo tồn đa dạng sinh học gắn với pháttriển du lịch sinh thái tại một số vườn quốc gia trên thế giới

 Phân tích thực trạng bảo tồn đa dạng sinh học gắn với phát triển du lịch sinhthái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm, đưa ra kết quả và thách thức

 Xác định những vấn đề về quản lý đặt ra trong quá trình bảo tồn thiênnhiên và phát triển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm

 Kiến nghị một số giải pháp nhằm bảo tồn đa dạng sinh học gắn với pháttriển du lịch sinh thái ở vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm

Trang 10

2.3 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện các nhiệm cụ nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu đề ra,tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu sau đây:

2.3.1.Thu thập nguồn thông tin thứ cấp

Thu thập nguồn thông tin thứ cấp là một việc làm quan trọng vì đây làmột đề tài khá rộng liên quan đến nhiều vấn đề nghiên cứu Nguồn thông tinthứ cấp giúp tôi kế thừa kết quả của các công trình nghiên cứu trước đây Việcthu thập thông tin được tiến hành tại Hà Nội và khu vực vườn quốc gia Ba Vìcũng như các xã vùng đệm Tôi đã thu thập thông tin tại Trung tâm thông tinthuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, viện khoa học Lâm Nghiệp,viện nghiên cứu phát triển Du Lịch, Sở du lịch Hà Tây, vườn quốc gia Ba Vì,

uỷ ban nhân dân các xã vùng đệm, các công ty du lịch trong khu vực nghiêncứu Nguồn tài liệu thứ cấp bao gồm báo cáo kết quả nghiên cứu của các đềtài, sách, tài liệu nước ngoài, đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội của vườnquốc gia Ba Vì và các xã vùng đệm, báo cáo tổng kết cuối năm của các xã.Cáctài liệu này được phân loại, hệ thống hoá sử dụng để phân tích những vấn đề

có liên quan

2.3.2 Phương pháp điều tra phỏng vấn

Phương pháp phỏng vấn được tiến hành dưới hình thức phỏng vấn bằngphiếu hỏi, phỏng vấn sâu những người cung cấp thông tin chính (PRA)

Phỏng vấn bằng phiếu điều tra

Phiếu điều tra được thiết kế gồm các câu hỏi đóng, và câu hỏi mở.Những ý kiến trả lời được ghi đầy đủ, chính xác, trung thực nhằm đảm bảotính khách quan Công việc điều tra được tiến hành đối với người dân các xãYên Bài, Tản Lĩnh, Vân Hoà, Ba Trại., Ba Vì, Khánh Thượng Phương phápchọn mẫu ngẫu nhiên được áp dụng ở tất cả các xã điều tra Tại mỗi xã, chọn

4 thôn ngẫu nhiên, sau đó mỗi thôn chọn 30 người tham gia trả lời phiếu Tạimỗi thôn, người dân được tập huấn về mục đích, yêu cầu của cuộc điều tra,

được hướng dẫn cách trả lời các câu hỏi trong phiếu Phiếu được phát chongười dân, sau đó được thu về xử lý

Trang 11

Phỏng vấn sâu

Phương pháp phỏng vấn sâu được áp dụng đối với những người cungcấp thông tin chính bao gồm các chuyên gia, cán bộ lãnh đạo xã và người dân,cán bộ công nhân viên vườn quốc gia Ba Vì, các công ty du lịch KhoangXanh, Suối Tiên, Ao Vua, Hồ tiên sa, Suối Mơ, Bình Minh, Thác Đa Một bộcâu hỏi phỏng vấn bán cấu trúc được soạn sẵn để các những người được phỏngvấn trả lời Người được phỏng vấn có thể trao đổi, mạn đàm với người phỏngvấn về những vấn đề liên quan đến giải pháp, chính sách Mỗi cuộc phỏng vấndiễn ra trong khoảng thời gian từ 1 - 1 giờ rưỡi Các cuộc phỏng vấn được diễn

ra một cách thoải mái, cởi mở thu được nhiều thông tin

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA)

Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn có sự tham gia (PRA) được sửdụng để thu thập thông tin từ những nhóm khác nhau, trong đó chúng tôi đã sửdụng nhiều công cụ khác nhau như sơ đồ venn, phân tích SWOT, phân loạigiàu nghèo Chúng tôi đã tiến hành các cuộc thảo luận nhóm tập trung với sựgiúp đỡ của cán bộ địa phương Người dân được thông báo tới họp tại trụ sở

uỷ ban nhân dân xã Các nhóm được hình thành, mỗi nhóm tập trung từ 10

-12 người, bao gồm phụ nữ, nam giới là cán bộ xã, cán bộ thôn, người dân,người Kinh, người Dao, người Mường Câu hỏi liên quan đến vấn đề nghiêncứu được viết trên giấy Ao và mọi người thảo luận Một người được nhóm cử

ra có nhiệm vụ ghi chép ý kiến thảo kuận của nhóm Có tất cả 12 nhóm thamgia thảo luận với tổng số 134 người

Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số phương pháp khác để sử lý,phân tích tài liệu như: Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, xử lý sốliệu trên máy vi tính bằng phầm mềm SPSS

2.4 Kết cấu luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và kiến nghị, luận văn gồm 4 chương;

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu

Chương 2: Mục tiêu, nhiệm vụ, phương pháp nghiên cứu

Chương 3 Đặc điểm tự nhiên, kinh tế - xã hội vùng núi Ba Vì và khung lý

thuyết nghiên cứu.

Chương 4 Thực trạng và giải pháp phát triển du lịch sinh thái, bảo tồn đa

dạng sinh học ở Vườn quốc gia Ba Vì…

Trang 12

Trước tình hình đó, ngày 16 tháng 1 năm 1991, Chủ Tịch Hội Đồng BộTrưởng (nay là Thủ Tướng Chính Phủ) ban hành quyết định số 17/CT phêduyệt luận chứng kinh tế kỹ thuật thành lập “Rừng Cấm Quốc Gia Ba Vì” vàsau đó ngày 18/12/1991, Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng ban hành Quyết định

số 407/CT về việc đổi tên “Rừng Cấm Quốc Gia Ba Vì” thành “Vườn QuốcGia Ba Vì” Đến ngày 12/5/2003 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định số510/QĐ-TTg về việc: "Mở rộng Vườn Quốc Gia Ba Vì" với diện tích tăng thêm

4.646 ha, và đến nay tổng diện tích của vườn quốc gia Ba Vì là 11.079,5 ha

Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn các huyện Lương Sơn, Kỳ Sơntỉnh Hoà Bình và huyện Ba Vì tỉnh Hà Tây, cách thủ đô Hà Nội 60 km theo

đường Quốc lộ 11A và 87 Phía Bắc giáp các xã Ba Trại, Ba Vì, Tản Lĩnh củahuyện Ba Vì, tỉnh Hà Tây Phía Nam giáp các xã Phúc Tiến, Dân Hoà của huyện

Kỳ Sơn, tỉnh Hoà Bình Phía Đông giáp các xã Vân Hoà, Yên Bài của tỉnh HàTây và các xã Đông Xuân, Tiến Xuân của tỉnh Hoà Bình Phía Tây giáp các xã

Trang 13

Minh Quang, Khánh Thượng của tỉnh Hà Tây và xã Phú Minh của tỉnh HoàBình [11].

3.1.2 Đặc điểm địa hình

Ba Vì là vùng núi trung bình và núi thấp, đồi núi tiếp giáp với vùng bánsơn địa, vùng này trông như một dải núi nổi lên giữa vùng đồng bằng chỉ cáchhợp lưu sông Đà và sông Hồng 30km về phía Nam

Trong vườn quốc gia Ba Vì có một số đỉnh núi có độ cao trên 1.000mnhư: đỉnh Vua: 1.296m, đỉnh Tản Viên: 1.227m, đỉnh Ngọc Hoa: 1.131m,

đỉnh Viên Nam: 1.081 m và một số đỉnh núi thấp hơn như đỉnh Hang Hùm:776m, đỉnh Gia Dê: 714m

Dãy núi Ba Vì gồm hai dải dông chính Dải dông thứ nhất chạy theohướng Đông - Tây từ Suối ổi đến cầu Lặt qua đỉnh Tản Viên và đỉnh HangHùm dài 9km Dải dòng thứ 2 chạy theo hướng Tây - Bắc - Đông - Nam từYên Sơn qua đỉnh Tản Viên đến núi Quýt dài 11 km, sau đó dải này chạy tiếpsang Viên Nam tới dốc Kẽm (Hoà Bình)

Ba Vì là một vùng núi có dộ dốc khá lớn, sườn phía Tây đổ xuống sông

Đà, dốc hơn so với sườn Tây bắc và Đông Nam, độ dốc trung bình khu vực là

25o, càng lên cao độ dốc càng tăng, từ độ cao 400m trở lên, độ dốc trung bình

là 35o, và có vách đá lộ, nên việc đi lại trong Vườn là không thuận lợi [11]

3.1.3 Đặc điểm khí hậu

Khu vực núi Ba Vì chịu ảnh hưởng của cơ chế gió mùa, chịu tác

động phối hợp của vĩ độ và gió mùa tạo nên loại khí hậu nhiệt đới ẩm vớimột mùa Đông lạnh và khô, từ độ cao 400m trở lên không có mùa khô

Địa hình cao đón gió từ nhiều phía nên lượng mưa khá phong phú nhưngphân bố không đều trong khu vực Với đặc điểm trên, đây là nơi nghỉ mát

lý tưởng, là khu du lịch tổng hợp giàu tiềm năng mà chưa được khai thác

đúng mức [14]

Trang 14

Mùa lạnh bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau, nhiệt độ trung bìnhtrong mùa lạnh là 18OC, nhiệt độ thấp nhất là 6.5oC [11].

Độ ẩm

Ba Vì có mùa nóng ẩm và mùa lạnh khô Mùa nóng ẩm bắt đầu khoảng

từ giữa tháng 3 cho đến giữa tháng 11 Mùa lạnh khô từ giữa tháng 11 cho đếngiữa tháng 3 năm sau Từ độ cao 400m dường như không có mùa khô vì lượngbốc hơi luôn thấp hơn lượng mưa Căn cứ vào cấp phân loại chế độ ẩm nhiệt,ngưòi ta xếp Ba Vì vào loại hơn ẩm đến ẩm [11]

Chế độ mưa

Lượng mưa hàng năm tương đối lớn, phân bố không đều giữa các khuvực và các tháng trong năm Tại vùng núi cao và sườn phía đông mưa rấtnhiều với lượng mưa 2.587,6 mm/năm Trong khi đó, vùng xung quanh chânnúi có lượng mưa vừa phải: 1.731,4 mm/năm Lượng mưa ở sườn phía đôngnhiều hơn lượng mưa ở sườn phía tây Số ngày mưa tại chân núi Ba Vì tương

đối nhiều từ 130 - 150 ngày/năm, tại cốt 400m, số ngày mưa từ 169 - 201ngày/năm, bình quân là 189 ngày/năm

Trong năm có một thời kỳ mưa nhiều và một thời kỳ ít mưa Trong mùamưa lượng mưa hàng tháng có thể lên trên 1.000 mm và kéo dài 6 tháng liêntục, từ tháng 5 cho đến tháng 10 tại chân núi, và 8 tháng từ tháng 3 cho đếntháng 10 từ cốt 400 trở lên Mưa lớn từ 300 - 400 mm/tháng tập trung trongcác tháng 6, 7, 8 ở vùng chân núi và trong các tháng 6, 7, 8, 9 tại cốt 400 m

Trang 15

Thời kỳ ít mưa kéo dài từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau ở vùng chân núi và từtháng 11 đến tháng 2 năm sau ở cốt 400 m [11].

ảnh 1: Chụp tại khu trung tâm cốt 400

Vườn quốc gia Ba Vì (Tác giả)

Trang 16

3.1.4 Đặc điểm tài nguyên rừng

Hiện nay, diện tích đất lâm nghiệp thuộc vườn quốc gia Ba Vì quản lý

là 11.079,5 ha, trong đó: diện tích có rừng là 7.095,9 ha, chiếm 64% diện tíchcủa vườn, bao gồm rừng tự nhiên là 3.181,1 ha, chiếm 44,8% diện tích có rừng

và diện tích rừng trồng các loại là 3.914,8ha, chiếm 55,2% diện tích có rừng.Diện tích đất không có rừng là 3.983,6 ha, chiếm 35,9% diện tích của Vườn Cácchỉ số trên cho thấy, vườn quốc gia Ba Vì có tỷ lệ rừng lớn, trong đó diện tíchrừng tự nhiên chiếm 44,8% diện tích đất có rừng Đáng chú ý là vườn quốc gia

Ba Vì có khoảng gần 1.000 ha rừng nguyên sinh, ít bị tác động của con người[14] Đây nguồn tài nguyên sinh học và du lịch vô cùng quý giá

3.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

3.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của Vườn quốc gia Ba Vì

Vườn quốc gia Ba Vì có những chức năng, nhiệm vụ sau đây:

 Bảo vệ nguyên vẹn các hệ sinh thái rừng, các nguồn gen động thực vậtrừng quý hiếm, các đặc sản rừng, các di tích văn hoá lịch sử, cảnh quanthiên nhiên trong diện tích được quản lý

 Phát triển rừng trên cơ sở trồng rừng mới, phục hồi rừng và thực hiệncác dự án nông lâm nghiệp để phát triển vùng đệm, ổn định và nângcao đời sống nhân dân nơi gần rừng Thực hiện công tác tuyên truyềngiáo dục phổ cập cho nhân dân về ý thức bảo vệ rừng và giữ gìn cảnhquan môi trường

 Thực hiện công tác nghiên cứu thực nghiệm khoa học với mục đíchphục vụ, bảo tồn thiên nhiên và môi sinh

 Tổ chức các hoạt động dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật, giáo dục hướngnghiệp lâm nghiệp

 Tổ chức tham quan nghỉ mát, nghỉ dưỡng, du lịch sinh thái

Như vậy, vườn quốc gia Ba Vì ngoài nhiệm vụ bảo tồn thiên nhiên, môisinh, phát triển rừng, nghiên cứu thực nghiệm khoa học và tuyên truyền giáo

Trang 17

dục hướng nghiệp lâm nghiệp thì việc tổ chức các hoạt động dịch vụ du lịchsinh thái và giáo dục môi trường cũng là một trong những nhiệm quan trọngkhông thể thiếu [2].

Tổ chức bộ máy

Để thực hiện những nhiệm vụ trên, Vườn quốc gia Ba Vì đã tổ chức bộmáy gọn nhẹ theo nguyên tắc trực tuyến Lãnh đạo cao nhất của Vườn là bangiám đốc, giúp việc cho ban giám đốc là các phòng ban chức năng gồm:phòng tổ chức - hành chính, phòng kế hoạch - tài chính, phòng khoa học kỹthuật Các phòng ban chịu sự điều hành trực tiếp của ban giám đốc, có nhiệm

vụ tham mưu cho ban giám đốc về các mặt của vườn theo chức năng đượcphân công

Ngoài ra, trực thuộc ban giám đốc còn có một số đơn vị bao gồm: trungtâm dịch vụ du lịch sinh thái và giáo dục môi trường, hạt kiểm lâm Các đơn vịnày cũng chịu sự lãnh đạo trực tiếp của ban giám đốc mà không phụ thuộcmột bộ phận trung gian nào

3.2.2 Đặc điểm xã hội của Vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm

Vườn quốc gia Ba Vì nằm trên địa bàn 16 xã, thuộc 3 huyện của 2 tỉnh

Hà Tây và Hoà Bình (các xã Tản Lĩnh, Ba Trại, Yên Bài, Vân Hoà, MinhQuang, Khánh Thượng và Ba Vì thuộc huyện Ba Vì - Hà Tây, các xã Dân Hoà,Phúc Tiến, Phú Minh thuộc huyện Kỳ Sơn, và các xã Yên Bình, Yên Quang,Tiến Xuân, Đông Xuân, Yên Trung và Lâm Sơn thuộc huyện Lương Sơn tỉnhHoà Bình)

Dân số hiện nay của vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì là 80.680 người,trong đó có 17.018 hộ và 32,980 lao động Tại đây quy tụ đồng bào một sốdân tộc thiểu số sinh sống, bao gồm: dân tộc Kinh chiếm 46,2%, dân tộcMường chiếm 51,5%, dân tộc Dao và dân tộc khác: 2,3% Tuy nhiên, tỷ lệ này

ở các xã có sự khác nhau nhất định Chẳng hạn, tại xã Vân Hoà, dân tộcMường chiếm 65%; xã Ba Vì, dân tộc Dao chiếm 97%

Trang 18

Tổng diện tích đất tự nhiên 16 xã khoảng 35.000 ha Trong đó 17.018

hộ với dân số 80.680 người Các dân tộc chủ yếu là:

Người Dao ở các xã vùng đệm sống tập trung ở bản Dao Yên Sơn, nằmcạnh khu du lịch Ao Vua thuộc xã Ba Vì, huyện Ba Vì, Hà Tây Các nhà dântộc học cho rằng, người Dao ở đây có nguồn gốc từ tỉnh Quảng Tây, TrungQuốc, di cư sang Việt Nam từ thế kỷ thứ 7, thứ 8 Người Dao có nền văn hoábản địa mang đậm bản sắc dân tộc rất dặc trưng Trong đó, đặc biệt chú ý lànhiều người có nghề thu hái và chế biến thuốc nam, chữa bệnh nổi tiếng

Hiện nay, các xã vùng đệm có khoảng 32.980 lao động, chủ yếu là lao

động phổ thông, chưa qua đào tạo, trình độ canh tác thấp, chưa được tiếp cậnnhiều với tiến bộ khoa học công nghệ Tuy nhiên, một bộ phận nông dân đượccác dự án tạo cơ hội tiếp thu kỹ thuật mới ứng dụng vào sản xuất, tăng đượcthu nhập cho gia đình, đời sống dần dần được cải thiện

Theo số liệu điều tra đầu năm 2005, số hộ loại khá có thu nhập trên 15triệu đồng/năm chiếm 46% (hình 3.1), số hộ trung bình có thu nhập trên 11triệu đồng/năm chiếm 34,5%, và số nghèo chiếm 19,5% (theo chuẩn nghèocũ) tức là gần 1/5 số hộ Mặc dù thu nhập ở các nhóm hộ đều tăng nhưngkhoảng cách chênh lệch giữa nhóm hộ giàu và nhóm hộ nghèo không thu hẹp

mà có xu hướng gia tăng Kết quả phân tích số liệu điều tra ở vùng đệm vườnquóc gia Ba Vì cho thấy, tổng thu nhập của hộ nghèo chỉ bằng 42% hộ giầu

Trang 19

Hình 3.1 Tỷ lệ hộ khá, trung bình và nghèo

Nguồn: Số liệu điều tra của tác giả, năm 2005

Sự phân hoá giàu nghèo đang tiếp tục diễn ra khá gay gắt ở các xã vùng

đệm Trong các thôn đã xuất hiện những người giàu có bên cạnh nhiều hộ gia

đình nghèo thiếu ăn Điều này cho thấy, một mặt cho thấy vẫn còn tồn tạinhững bất bình đẳng về thu nhập, người nghèo chưa được hưởng lợi từ sự tăngtrưởng kinh tế như người giàu, mặt khác cũng cho thấy đây là một áp lực đốivới việc bảo tồn đa dạng sinh học của vườn, đòi hỏi cần có giải pháp khắcphục (hộp 3.1)

Hộp 3.1 Nghèo đói và bảo tồn đa dạng sinh học

Mấy năm nay, nhờ Đảng, nhờ chính sách “đổi mới” đời sống của người dân chúng tôi đã thay đổi nhiều Trước đây, ở xã tôi có nhiều người nghèo lắm, quanh năm làm lụng vất vả nhưng vẫn không đủ ăn Bây giờ khác rồi, một số người có vốn, hiểu biết khoa học kỹ thuật, đưa giống mới vào trồng nên thu nhập tăng, đời sống khá giả không những đủ ăn mà còn tích luỹ, kiến thiết nhà cửa và mua sắm đồ dùng sinh hoạt đắt tiền như ti

vi, xe máy, quạt điện Nhưng trong xã vẫn còn có hộ nghèo thiếu ăn Họ hay vào rừng lấy củi, hoặc kiếm cây thuốc nam để bán lấy tiền mua sắm thức ăn, đồ dùng sách vở cho con cái.

Phỏng vấn ông Dương Trung Liên, 45 tuổi, dân tôc Dao, thôn Hợp Sơn, Xã Ba Vì,ì huyện Ba Vì, Hà Tây, ngày 10 tháng 2 năm 2006.

Trang 20

Cơ cấu thu nhập của cư dân vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì khá đadạng, tuy nhiên nguồn thu chủ yếu vẫn dựa vào sản xuất nông nghiệp Thunhập từ nông nghiệp bao gồm thu từ trồng trọt và chăn nuôi Đồng bào cácdân tộc ở vùng đệm trồng cây lương thực, thực phẩm như lúa, ngô, khoai sắn,

…, và cây ăn quả như: vải, nhãn, hồng xiêm, mít, bưởi, và cây công nghiệpnhư: chè, cà phê, Bên cạnh đó, chăn nuôi cũng là nguồn thu bổ sung cho thunhập của mỗi gia đình Người dân ở vùng đệm nuôi: trâu, bò, lợn, gà, vịt,ngan, dê nhưng sản xuất nhỏ, manh mún nên hiệu quả thấp

Thu nhập từ lâm nghiệp: bao gồm thu từ khai thác lâm sản như: gỗ, củi,tre, nứa, song, mây, thu hái cây thuốc, ong rừng… khoanh nuôi bảo vệ rừng,ngoài ra chặt gỗ lậu, săn bắt động vật và chim thú rừng, trồng rừng, cũng làmột nguồn thu khá quan trọng đối với người dân vùng đệm

Các nguồn thu nhập từ thuỷ sản còn chiếm tỷ lệ nhỏ trong cơ cấu thunhập của các hộ gia đình do chưa chú trọng phát triển Mặc dù trong nhữngnăm gần đây nghề nuôi cá, các loài thuỷ đặc sản như êch, ba ba, đã bắt đầuphát triển ở một số nơi trong vùng đệm nhưng quy mô còn nhỏ và tốc độ pháttriển chậm

Một số ngành nghề thủ công truyền thống vẫn được duy trì như: mây tre

đan, chế biến dược liệu, dệt vải nhưng giá trị hàng hoá nhỏ bé chưa mang lạinguồn thu đáng kể cho người dân vùng đệm

Các hoạt động dịch vụ phi nông nghiệp như: buôn bán tạp hoá, dịch vụ

ăn nghỉ, tham quan văn hoá bản làng, hướng dẫn du lịch, xe ôm… cũng đangphát triển góp phần tăng thu nhập và giải quyết việc làm cho nhiều lao độngtrong vùng đệm

3.2.3 Đặc điểm kinh tế của vườn quốc gia Ba Vì và vùng đệm

Đặc điểm kinh tế nổi bật nhất của vùng là kinh tế chậm phát triển,thuần nông, tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm Mặc dù nguồn thu nhập chínhcủa người dân là nông nghiệp nhưng do diện tích đất bình quân nông nghiệp

Trang 21

thấp, chỉ đạt 500m2/người nên thực chất thu nhập từ nông nghiệp lại rất thấp.Năm 2005, lương thực bình quân đạt 130 kg/người/năm [11] Điều này thực sự

là một nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề bảo tồn đa dạng sinh học của Vườn quốcgia Ba Vì Bởi vì, do diện tích đất nông nghiệp bình quân đầu người thấp, cácnghề phi nông nghiệp hầu như không có, do đó hàng năm tại đây đã có một sốlượng lớn lao động dư thừa Số lao động này tìm cách vào rừng chặt phá, khaithác tài nguyên rừng bừa bãi ảnh hưởng đến việc bảo tồn đa dạng sinh học

Cho đến nay trồng lúa và hoa màu vẫn là nghề sản xuất chủ yếu của

đồng bào các dân tộc trong vùng Tuy nhiên trong những năm gần đây, một sốgiống cây có giá trị kinh tế cao đã được đưa vào sản xuất như: chè, đót, măng

u, bương, cam, soài, mận, vải Nghề trồng lúa có từ lâu, gắn bó với người nôngdân nhưng sản xuất lúa vẫn chưa phải là nghề phát triển ở vùng này Trình độthâm canh lúa của đồng bào các dân tộc chưa cao, năng suất lúa còn thấp

Đáng chú ý, đến nay cây Sắn vẫn còn được trồng nhiều ở các xã vùng đệmmặc dù Sắn là cây có giá trị kinh tế thấp Một sô cây ăn quả đã được các hộgia đình nông dân trồng nhưng chưa có nhiều cây ăn quả có giá trị kinh tế cao

Bảng 3.1 Thu nhập của các hộ vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì

theo cơ cấu ngành nghề năm 2005

(Đơn vị: %)

Nguồn thuLoại Hộ

Nông nghiệp

Lâm nghiệp Dịch vụ Thu khác

Trang 22

0 5 10 15 20 25 30 35 40 45 50

Tỷ lệ %

Nông nghiệp Lâm nghiệp Dịch vụ Thu khác

Nguồn thu

Hình 3.2 Thu nhập của các hộ vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì

theo cơ cấu ngành nghề năm 2005 Nguồn: [11]

Xét theo hướng sản xuất nhìn chung thu nhập của các hộ đều theohướng đa dạng ngành nghề, nhưng thu từ nông nghiệp vẫn là chủ yếu, bìnhquân chiếm tỷ trọng lớn tới 46% tổng thu nhập, ngay cả những hộ phát triểntheo hướng tăng dịch vụ phi nông nghiệp, thu nhập nông nghiệp cũng vẫnchiếm tới 38% Tuy vậy chỉ có những hộ nào có làm dịch vụ thì thu nhập mớicao, bình quân thu nhập trên 14 - 16 triệu đồng/năm so với 9 triệu đồng/nămcủa hộ thuần nông

Thực trạng sản xuất và thu nhập của cư dân vùng đệm

Cũng như các vùng nông thôn miền núi khác, sinh kế của các hộ dântộc vùng đệm bao đời nay đều gắn liền với đất rừng và rừng Cùng với sự pháttriển của xã hội, sự thay đổi về quyền sử dụng các nguồn tài nguyên thiênnhiên, làm cho sinh kế của các hộ dân tộc đã có những biến đổi và ngày càng

có chiều hướng đa dạng hơn Qua thực tế cho thấy, ngoài thu nhập từ đất canhtác nông nghiệp, đất lâm nghiệp, đất rừng và sản phẩm rừng (săn bắn, hái

Trang 23

lượm), các hộ dân tộc vùng đệm còn có nguồn thu từ chăn nuôi, nghề phụ, làmthuê, bán hàng, hoạt động du lịch sinh thái…

Ngoài những nguồn thu chủ yếu như: trồng trọt, chăn nuôi, canh táctrên đất rừng, các hộ gia đình dân tộc thiểu số còn có nhiều nguồn thu khácnhư: thợ nề, thợ mộc, bán hàng, thu hái cây thuốc và chế biến dược liệu, khaithác các sản phẩm phụ từ rừng như gỗ củi, mật ong, săn bắn động vật và chimthú rừng…Trong thời vụ nông nhàn họ đi làm thuê trong các khu du lịch, khaithác đá, buôn bán thuốc nam để tăng thêm thu nhập Ngoài ra, do tính chấtkinh tế đặc thù của vùng đệm, cư dân ở đây đặc biệt là các hộ dân tộc thiểu sốcòn nhận được sự trợ giúp cả về vật chất và tinh thần của Chính Phủ thông quavườn quốc gia Ba Vì và các tổ chức quốc tế để thực hiện các chương trình xoá

đói giảm nghèo, hỗ trợ họ ổn định đời sống lâu dài

3.3 Khung lý thuyết nghiên cứu

3.3.1 Phát triển bền vững

Ngày nay, thuật ngữ "Phát triển bền vững" đã trở nên quen thuộc, được

sử dụng rộng rãi trong các văn bản pháp qui và trong tài liệu nghiên cứu khoahọc Tuy nhiên, vẫn còn nhiều người không hiểu khái niệm về phát triển bềnvững, dẫn đến chỗ sử dụng không chính xác, thậm chí làm sai lệnh bản chấtcủa thuật ngữ này Có những trường hợp còn lạm dụng thuật ngữ phát triểnbền vững như một thứ mốt trong các văn bản hoặc trong cách nói hàng ngày.Khái niệm phát triển bền vững lần đầu tiên được đưa ra năm 1980 trong cuốnsách "Chiến lược bảo tồn thế giới", do liên minh bảo tồn thế giới (IUCN) pháthành năm 1987, tài liệu "Brundtland Report" của uỷ ban thế giới về môitrường và phát triển được công bố, đã đưa ra được một phương pháp đánh giámới về sự phát triển, tiến bộ của một quá trình phát triển kinh tế - xã hội Từ

đó, thuật ngữ trên đã trở thành những thuật ngữ chuyên môn đối với tất cảnhững ai quan tâm đến môi trường và phát triển Tháng 6 năm 1992, hội nghịThượng đỉnh về môi trường và phát triển họp tại Rio de Janiero đã đưa ra bản

Trang 24

tuyên ngôn "Về môi trường và phát triển" và "Chương trình nghị sự 21"(Agenda 21), thống nhất định nghĩa về sự phát triển bền vững Theo đó: Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người, nhưng không làm tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của các thế hệ tương lai Những người tham gia hội nghị cũng yêu cầu các quốc gia phải có

chương trình, kế hoạch cụ thể phát triển bền vững đất nước mình trước khibước vào thế kỷ 21, các nước phải có chiến lược tăng trưởng nhanh, đồngthời phải có các phương án và hành động cụ thể nhằm giảm thiểu tác hại,mặt trái của tăng trưởng kinh tế đến môi trường sống, xã hội loài người; cácquốc gia đi đến thống nhất phải coi "Phát triển bền vững là mục tiêu lâu dàicần đạt được của mọi quốc gia" Đến nay, ít nhất có tới 70 định nghĩa khácnhau đang được lưu hành về phát triển bền vững, song định nghĩa về sự pháttriển bền vững do hội nghị Rio de Janiero - 1992 đưa ra được cộng đồngquốc tế chấp nhận

Phát triển bền vững phải đạt được sự cân bằng tổng thể trong ba lĩnhvực kinh tế - xã hội - môi trường Đây chính là 3 thành tố trụ cột của pháttriển bền vững mà bất cứ quốc gia hay vùng lãnh thổ nào muốn đạt được mụctiêu phát triển bền vững đều phải quan tâm Sự phát triển trong từng lĩnh vựcphải gắn bó mật thiết, hữu cơ với nhau Phát triển bền vững phải đảm bảo rằngsản xuất, sinh hoạt của con người luôn nằm trong giới hạn kiểm soát được.Khả năng chịu tải của môi trường sẽ chịu đựng mức độ ô nhiễm có giới hạn,nếu vượt qua mức ấy sẽ gây tình trạng mất cân bằng sinh thái Nền kinh tế đạtđược sự tăng trưởng dài hạn, ổn định, điều kiện sống của con người đượcnâng cao, môi trường sống ngày càng được cải thiện, trong sạch hơn Nhữngthành tựu của sự phát triển không chỉ dành cho thế hệ hiện tại mà thế hệ maisau cũng được kế thừa và phát huy Thông thường sự bình đẳng giữa các thế

hệ sẽ không đạt được nếu thiếu đi sự công bằng xã hội trong hiện tại, hoặc nếu

Trang 25

các hoạt động kinh tế của nhóm người này gây tổn hại đến lợi ích và cuộcsống của nhóm người khác.

Tính bền vững về mặt kinh tế: chủ yếu được qui định bởi tính hữu ích và

chi phí đầu vào, chi phí khai thác, chế biến và nhu cầu đối với sản phẩm.Trong quá trình phát triển kinh tế cần phải quan tâm đến việc sử dụng hiệuquả tài nguyên, hiệu quả nhưng không gây tổn hại tới môi trường, không làmsuy giảm khả năng của các nguồn tài nguyên thiên nhiên có thể tái tạo được,

để chúng tiếp tục cung cấp lâu dài cho con người Trong sản xuất, nhu cầugiảm chi phí không đi quá những giới hạn cho phép, ảnh hưởng đến môitrường sinh thái Phát triển kinh tế một cách bền vững là việc không làm bầncùng hoá một nhóm người trong khi làm giàu cho một nhóm người khác Nó

đòi hỏi mọi người đều được hưởng lợi từ sự phát triển, không để xảy ra tìnhtrạng một bộ phận xã hội đứng ngoài tiến trình phát triển, không thu được lợiích từ tiến trình phát triển mang lại

Bền vững về mặt môi trường: là việc duy giữ gìn và bảo vệ bảo trường

trong sạch, không bị ô nhiếm bao gồm: đất, không khí, nước, trong đó có việcduy trì cachệ sinh thái

Bền vững về mặt xã hội: phản ánh mối quan hệ giữa phát triển và những

giá trị, niềm tin và chuẩn mực xã hội hiện tại Một hoạt động có tính bền vững

về mặt xã hội nếu nó phù hợp với những chuẩn mực xã hội, hoặc không kéochúng đi quá sức chịu đựng về sự thay đổi của cộng đồng Những chuẩn mựcxã hội dựa vào tôn giáo, truyền thống và phong tục có thể hoặc không thể hệthống hoá được thành pháp luật Chúng phải được thực hiện với các quan hệ

đạo lý, hệ thống giá trị, ngôn ngữ, giáo dục, gia đình và các mối quan hệ khácthuộc hành vi của nhóm và cá nhân mà động lực thúc đẩy trước tiên khôngphải là những toan tính kinh tế

Tóm lại, phát triển bền vững là sự phát triển hài hoà giữa đời sống vậtchất với đời sống tinh thần, giữa thiên nhiên với con người, giữa tự nhiên và

Trang 26

nhân tạo, giữa hiện tại với tương lai Sự phát triển đó nhằm đáp ứng nhu cầu củaxã hội hiện tại, nhưng không làm phương hại đến phát triển của xã hội tươnglai Phát triển bền vững phải đảm bảo sự hài hoà giữa các mục tiêu kinh tế, xãhội và môi trường, vì lợi ích của mỗi người và toàn xã hội, của thế hệ hiện nay

và thế hệ mai sau

Các nhà nghiên cứu cho rằng phát triển bền vững là sự kết hợp giữa bayếu tố: Tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và đảm bảo công bằng xã hội.tuỳ từng nơi, từng lúc, có thể nhấn mạnh một hay hai trong ba yếu tố đó, việcnhấn mạnh yếu tố này hay yếu tố kia, hoặc cả ba yếu tố phụ thuộc vào sự nhậnthức của chủ thể nền kinh tế, trình độ phát triển nền kinh tế - xã hội và thể chếchính trị:

Hình 3.3: Tương quan giữa ba mục tiêu trong phát triển bền vững

Từ hình 3.3 chúng ta có thể thấy rằng: Phát triển bền vững là sự pháttriển của một vùng hay quốc gia, phải đảm bảo và kết hợp hài hoà giữa cácmục tiêu kinh tế, xã hội và môi trường

Xã hội

Kinh tế

Môi trường Phát triển bền vững

Trang 27

Mục tiêu kinh tế: Nhằm đạt được tốc độ tăng trưởng cao, hiệu quả và ổn định.Mục tiêu xã hội: Hướng tới sự công bằng xã hội, việc làm đầy đủ, anninh, giáo dục, y tế, bản sắc văn hoá,

Mục tiêu môi trường: Sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên có thể táitạo được, giữ gìn môi trường trong sạch, bảo tồn các nguồn tài nguyên khôngtái tạo được

Giữa các mục tiêu trên có mối liên hệ đặc biệt, nếu bỏ qua một mụctiêu nào sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển các mục tiêu khác Việc giải quyếtcân đối giữa các mục tiêu khác nhau là thách thức to lớn đối với các quốc gia

 Duy trì kho tài nguyên sinh học

 Sử dụng tài nguyên không tái tạo được với cường độ ở dưới khả năngtạo nên các chất thay thế

 Thực hiện việc phân phối công bằng lợi ích, chi phí sử dụng tài nguyên

và quản lý môi trường

 Khuyến khích các công nghệ tăng hiệu quả sử dụng từ một lượng tàinguyên nhất định

 Sử dụng các chính sách kinh tế để bảo vệ tài nguyên thiên nhiên

 Cần thực hiện phương thức tiếp cận liên ngành, có sự tham gia củangười dân trong quá trình ra quyết định

 Khuyến khích và hỗ trợ việc phát triển các giá trị văn hoá phù hợp vớiphát triển bền vững

Từ những năm đầu thập kỷ 90 của thế kỷ 20, nước ta đã đưa ra quanniệm phát triển bền vững là: Thoả mãn những nhu cầu cơ bản về vật chất, tinh

Trang 28

thần và văn hoá cho thế hệ hiện tại và tương lai của Việt Nam thông qua việc quản lý một cách khôn khéo tài nguyên thiên nhiên Xây dựng và thực hiện các

chính sách, kế hoạch hành động và cơ chế tổ chức nhằm đảm bảo cho khảnăng sử dụng lâu bền các tài nguyên thiên nhiên được nhất thể hoá và liên kếtchặt chẽ với tất cả các khía cạnh của quá trình phát triển kinh tế và xã hội của

đất nước

3.3.2 Du lịch bền vững

Theo định nghĩa của tổ chức du lịch thế giới đưa ra tại hội nghị về môitrường và phát triển của Liên Hợp Quốc tại Rio de Janiero năm 1992 thì: Dulịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhắm đáp ứng các nhucầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi vẫn quan tâm

đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát triển hoạt

động du lịch trong tương lai Du lịch bền vững sẽ có kế hoạch quản lý cácnguồn tài nguyên nhằm thoả mãn các nhu cầu về kinh tế, xã hội, thẩm mỹcủa con người trong khi đó vẫn duy trì được sự toàn vẹn văn hoá, đa dạngsinh học, sự phát triển của các hệ sinh thái và các hệ thống hỗ trợ cho cuộcsống con người

ở Việt Nam khái niệm du lịch bền vững còn khá mới mẻ Mặc dù cònnhững quan điểm chưa thật sự thống nhất tuy nhiên cho đến nay đa số các ýkiến của chuyên gia trong lĩnh vực du lịch và các lĩnh vực khác có liên quan

đều cho rằng: Du lịch bền vững là hoạt động khai thác có quản lý các giá trị

tự nhiên và nhân văn nhằm thoả mãn các nhu cầu đa dạng của khách du lịch,

có quan tâm đến các lợi ích kinh tế dài hạn trong khi vẫn đảm bảo sự đónggóp cho bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên, duy trì được sự toàn vẹn vềvăn hoá để phát triển hoạt động du lịch trong tương lai, góp phần nâng caomức sống của cộng đồng địa phương

Hiến chương du lịch bền vững được đưa ra tại hội nghị thế giới về dulịch bền vững tổ chức tại Lanzarote, Canary Islands, Tây Ba Nha trong đó cónêu ra quan điểm về du lịch bền vững như sau: Nhận thức được rằng du lịch

Trang 29

là một hiện tượng mang tính hai mặt ở chỗ du lịch vừa có khả năng đóng gópmột cách tích cực vào những thành tựu kinh tế - xã hội cũng như chính trị,

đồng thời nó cũng một phần dẫn tới sự xuống cấp về môi trường và sự mất đinhững bản sắc của từng địa phương, phải được xem xét giải quyết trên cơ sởmột hệ tư tưởng có tính toàn cầu

Du lịch bền vững là quá trình quản lý các hoạt động du lịch với mục

đích xác định và tăng cường các nguồn hấp dẫn khách du lịch tới một vùngnào đó, quá trình quản lý này luôn hướng tới việc hạn chế lợi ích trước mắt

để đạt được lợi ích lâu dài từ các hoạt động du lịch Phát triển du lịch bềnvững cần tính đến ba yếu tố sau đây:

 Mối quan hệ giữa lợi ích kinh tế với bảo tồn tài nguyên thiên nhiên,môi trường

 Quá trình phát triển trong một thời gian dài

 Đáp ứng được nhu cầu hiện tại nhưng không làm ảnh hưởng đến nhucầu của thế hệ mai sau

Có thể nói, du lịch bền vững là một quá trình phát triển rất nhậy cảm

đòi hỏi sự kết hợp hài hoà, linh hoạt của tất cả các lĩnh vực trong cuộc sống,mọi nguồn lực đều phải được tận dụng để phục vụ cho du lịch bền vững dựatrên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc được đề ra trong chương trình nghị sự số

21 Tính hai mặt của du lịch bền vững làm cho các quốc gia phải xem xét cẩnthận trước khi đưa ra chiến lược phát triển Một chính sách du lịch thích hợp,

đúng đắn sẽ thúc đẩy các hệ thống quản lý du lịch có lợi cho môi trường Vềlâu dài, du lịch bền vững là tổng hợp phát triển của các nhân tố nằm trong sựbền vững của môi trường và tài nguyên quốc gia

Phát triển du lịch bền vững thể hiện ở chỗ: có sự tham gia của cộng

đồng, xây dựng đánh giá tác động môi trường, tăng cường xây dựng cơ sở hạtầng phục vụ sự phát triển của du lịch và ổn định, an toàn

Phát triển du lịch bền vững cần đảm bảo những nguyên tắc sau đây:

Trang 30

Khai thác, sử dụng tài nguyên hợp lý: Các hoạt động du lịch luôn luôn

gắn với việc khai thác các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các hệ sinh thái Vìvậy, phải chú ý sử dụng hợp lý tài nguyên vào mục đích du lịch, không sửdụng tài nguyên một cách quá giới hạn cho phép

Phát triển du lịch gắn với bảo tồn đa dạng sinh học: Du lịch bền vững

phát triển dựa vào tính đa dạng sinh học Vì vậy, các hoạt động du lịch phảiluôn luôn gắn liền với việc bảo tồn đa dạng sinh học

Bảo đảm hài hòa các lợi ích: Du lịch mang lại lợi ích to lớn nhưng

phát triển du lịch bền vững phải đảm bảo hài hoà lợi ích giữa cá bên liênquan như lợi ích của doanh nghiệp hoạt động du lịch, lợi ích của cộng

đồng, lợi ích của nhà nước

Tăng cường sự tham gia của cộng đồng: Phát triển du lịch bền vững đòi

hỏi cần có sự tham gia của cộng đồng nhằm tạo nên sự đồng thuận xã hội,cộng đồng cần được tham gia các quyết định có liên quan đến phát triển dulịch chẳng hạn như quy hoạch du lịch, quá trình triển khai các dự án du lịch,giám sát các hoạt động du lịch, duy tu bảo dưỡng các công trình hạ tầng phục

vụ du lịch

Nâng cao tính trách nhiệm của các bên liên quan: Hoạt động du lịch

bền vững dựa trên cơ sở đề cao tính trách nhiệm của các bên liên quan, cácchủ thể tham gia các hoạt động du lịch

3.3.3 Du lịch sinh thái

3.3.3.1 Khái niệm

Từ những năm đầu thế kỷ 19, khái niệm du lịch sinh thái xuất hiện vớihàm ý mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như tắm biển, nghỉmát, leo núi…đều gọi là du lịch sinh thái Đến nay, khái niệm về du lịch sinhthái đã có sự phát triển với hàng chục cách hiểu khác nhau

Năm 1987, một định nghĩa hoàn chỉnh về du lịch sinh thái đã đượcHector Ceballos - Lascurain lần đầu tiên đưa ra: Du lịch sinh thái là du lịch

Trang 31

đến những khu vực tự nhiên còn ít bị thay đổi với những mục đích đặc biệt như: Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hoá được chấm phá [1] Cùng với sự phát triển nhanh chóng của

thực tiễn, nhận thức về khái niệm du lịch sinh thái cũng dần dần được hoànthiện mà sự thay đổi quan trọng về nội dung của khái niệm này là từ chỗ coi

du lịch sinh thái là loại hình du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên sangviệc gắn trách nhiệm của du lịch sinh thái với môi trường, có tính giáo dục,

đóng góp tích cực cho bảo tồn đa dạng sinh học, đồng thời đảm bảo lợi íchcho cộng đồng địa phương

Theo chương trình du lịch sinh thái của IUCN thì: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch và tham quan có trách nhiệm với môi trường tại những vùng còn tương đối hoang sơ, để thưởng thức và hiểu biết thiên nhiên (có kèm theo các đặc trưng văn hoá - quá khứ cũng như hiện tại) có hỗ trợ đối với bảo tồn, giảm thiểu tác động từ du khách, đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế - xã hội của nhân dân địa phương [18].

ở Việt Nam, tại cuộc hội thảo quốc gia bàn về: “Xây dựng chiến lượcphát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 - 9/8/1999 khái niệm dulịch sinh thái lần đầu tiên được đưa ra, theo đó: Du lịch sinh thái là loại hình

du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, gắn với giáo dục môi trường,

có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương [8].

Theo tổ chức du lịch thế giới, du lịch sinh thái có những đặc điểm cơbản sau đây:

Thứ nhất: Du lịch sinh thái bao gồm tất cả các loại hình du lịch dựa

vào thiên nhiên, trong đó mục đích chính của khách du lịch là tham quan tìmhiểu về tự nhiên, tìm hiểu khám phá những giá trị văn hoá truyền thống ở cáckhu du lịch

Trang 32

Thứ hai: Du lịch sinh thái bao gồm những hoạt động giáo dục, tuyên

truyền về môi trường sinh thái

Thứ ba: Du lịch sinh thái hạn chế tối đa những tác động tiêu cực đến

môi trường, văn hoá, xã hội

Thứ tư: Du lịch sinh thái hỗ trợ cho hoạt động bảo tồn tự nhiên thông

qua việc tạo ra lợi ích kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho cộng đồng dân cư,nâng cao nhận thức, hiểu biết về bảo tồn đa dạng sinh học và các giá trị tựnhiên khác cho du khách và người dân bản địa

3.3.3.2 Những đặc trưng của du lịch sinh thái

Đặc trưng thứ nhất: Du lịch sinh thái mang tính đa ngành

Tính đa ngành của du lịch sinh thái thể hiện ở 2 góc độ sau:

 Đối tượng được khai thác để phục vụ các hoạt động du lịch sinh thái làrất đa dạng và liên quan đến nhiều ngành, nhiều lĩnh vực như: cảnhquan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hoá, cơ sở hạ tầng và các dịch vụkèm theo

 Du lịch sinh thái mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khácnhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch (điện,nước, nông sản, hàng hoá…)

Đặc trưng thứ 2: Thành phần tham gia du lịch sinh thái rất đa dạng

Thực tế cho thấy có nhiều cá nhân, nhiều tổ chức chính phủ, phi chínhphủ và cộng đồng tham gia các hoạt động du lịch sinh thái Nhiều thành phầntham gia làm cho việc tổ chức, quản lý các hoạt động du lịch sinh thái phứctạp, đòi hỏi phải có sự kết hợp hài hoà giữa các thành phần với nhau

Đặc trưng thứ 3: Du lịch sinh thái hướng tới nhiều mục tiêu

Du lịch sinh thái không chỉ nhằm mục đích thu lợi nhuận giống như cácngành kinh doanh khác mà còn nhằm góp phần bảo tồn thiên nhiên, các cảnhquan lịch sử - văn hoá, nâng cao chất lượng cuộc sống của du khách và nhữngngười tham gia các hoạt động du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hoá, kinh tế và

Trang 33

nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng về đa dạng sinh học, pháttriển bền vững.

Đặc trưng thứ 4: Du lịch sinh thái mang tính mùa vụ

Các hoạt động du lịch sinh thái không phân bố đều trong năm mà tậptrung với cường độ cao trong những khoảng thời gian nhất định trong năm:Các loại hình du lịch nghỉ biển, leo núi, tìm hiểu tập tính động vật (Quan sátchim di cư, quan sát bướm, cá heo, ) theo mùa (theo tính chất khí hậu, mùa

di cư, xuất hiện của động vật) thể hiện rất rõ tính mùa vụ

Đặc trưng thứ 5: Du lịch sinh thái có tính liên vùng

Các hoạt động du lịch sinh thái thường không chỉ diễn ra ở một địaphương, một khu vực mà có sự liên thông giữa các điểm du lịch trong một khuvực, các vùng và giữa các quốc gia với nhau

Đặc trưng thứ 6: Chi phí

Du khách tham gia du lịch sinh thái nhằm hưởng thụ các sản phẩm dulịch chứ không phải với mục đích kiếm tiền Họ sẵn sàng bỏ ra các khoản chiphí cho chuyến du lịch, nhắm khám phá cảnh quan thiên nhiên kỳ thú, môitrường hấp dẫn, bản sắc văn hoá bản địa độc đáo

Đặc trưng thứ 7: Xã hội hoá các hoạt động du lịch

Du lịch sinh thái thu hút nhiều người, nhiều tổ chức kinh tế, xã hội,cộng đồng trực tiếp hoặc gián tiếp tham gia hoạt động du lịch Lợi ích do dulịch sinh thái mang lại được được xã hội hoá rộng rãi Nhiều ngưòi, nhiều tổchức, cộng đồng được hưởng lợi từ du lịch sinh thái

Đặc trưng thứ 8: Giáo dục nhận thức về môi trường

Du lịch sinh thái giúp con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tựnhiên và các khu bảo tồn, nơi có giá trị cao về đa dạng sinh học và nhạy cảm

về môi trường Qua các hoạt đông du lịch sinh thái, nhận thức của khách dulịch, của người dân, cộng đồng dân cư về đa dạng sinh học và môi trường đượcnâng cao

Trang 34

Đặc trưng thứ 9: Bảo tồn các tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa

dạng sinh học

Du lịch sinh thái bao gồm cả hoạt động giáo dục, nâng cao nhận thức vàhình thành ý thức bảo vệ môi trường sinh thái cho khách du lịch, những ngườitham gia các hoạt động du lịch Qua đó, thúc đẩy các hoạt động bảo vệ môitrường, tăng cường nguồn lực duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học

Đặc trưng thứ 10: Sự tham gia của cộng đồng địa phương

Sự tham gia của cộng đồng là một đặc trưng cơ bản của du lịch sinhthái Cộng đồng địa phương với tư cách là chủ sở hữu các nguồn tài nguyênthiên nhiên nên sự tham gia của cộng đồng vào du lịch sinh thái có ý nghĩaquan trọng Một mặt, sự tham gia của cộng đồng mang lại sự phong phú, đadạng của du lịch sinh thái trên cơ sở phát huy các giá trị văn hoá, lịch sửcủa địa phương, mặt khác tăng thêm khả năng quản lý, bảo tồn các nguồntài nguyên

3.3.3.3 Những điều kiện cần thiết để phát triển du lịch sinh thái

Muốn phát triển du lịch sinh thái cần phải có những điều kiện sau đây:

Tồn tại các hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao

Đây là một điều kiện quyết định để phát triển du lịch sinh thái, bởi vì

du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, chỉ có thể tồn tại

và phát triển ở những nơi có các hệ sinh thái điển hình với tính đa dạng sinhhọc cao Đa dạng sinh học là cơ sở tạo ra sự hấp dẫn đối với khách du lịch,nhờ đó du lịch sinh thái mới tồn tại và phát triển được Có thể nói nếu không

có sự đa dạng sinh học thì không thể có du lịch sinh thái

Cán bộ quản lý, hướng dẫn viên du lịch sinh thái phải có trình độ chuyên môn và hiểu biết về đa dạng sinh học

Muốn du lịch sinh thái phát triển, cần phải có đội ngũ hướng dẫn viên

du lịch, không chỉ nắm bắt được các kiến thức về du lịch mà còn có trình độhiểu biết nhất định về các đặc điểm sinh thái tự nhiên và văn hoá ở địa

Trang 35

phương Họ có khả năng tuyên truyền, giải thích cho khách du lịch về vănhoá, lịch sử và đa dạng sinh học, góp phần nâng cao nhận thức cho du khách

về môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học

Du lịch sinh thái đòi hỏi những người quản lý, điều hành du lịch phảinắm vững và tôn trọng các nguyên tắc của du lịch sinh thái Một mặt, các nhàquản lý, điều hành du lịch sinh thái quan tâm đến lợi nhuận do du lịch manglại nhưng mặt khác họ phải quan tâm đến việc bảo tồn đa dạng sinh học thôngqua các hạot động thiết lập quan hệ hợp tác với nhà quản lý các khu bảo tồnthiên nhiên và cộng đồng địa phương nhằm mục đích đóng góp vào việc bảo

vệ một cách lâu dài các giá trị thiên nhiên và văn hoá, cải thiện cuộc sống,nâng cao sự hiểu biết chung giữa người dân địa phương với khách du lịch[9] Đây là điểm khác nhau cơ bản giữa du lịch sinh thái với các loại hình dulịch khác

Giảm thiểu tối đa các tác động tiêu cực của du lịch sinh thái đến môi trường

Hoạt động du lịch sinh thái thường có những tác động tiêu cực đến tựnhiên và môi trường Nếu không có các biện pháp hạn chế những tác động tiêucực sẽ làm mất đi cơ sở phát triển bền vững của du lịch sinh thái Du khách sẽkhông đến những nơi mà họ không có cơ hội thoả mãn về sự khám phá đadạng sinh học cũng như các giá trị tự nhiên, lịch sử, văn hoá khác

Để hạn chế những tác động tiêu cực đến môi trường, du lịch sinh tháicần tính toán đến lượng khách tham quan một cách hợp lý, đảm bảo sự hài hoàgiữa lượng khách tham quan và môi trường Du lịch sinh thái cần phải tuânthủ các quy định của “Sức chứa”, tính toán số lượng khách đến một địa điểm

trong cùng một thời điểm sao cho phù hợp về mặt vật lý, sinh học, tâm lý, xãhội và trình độ quản lý của các người làm du lịch

Dưới góc độ vật lý: Sức chứa ở đây được hiểu là số lượng tối đa du

khách mà khu vực có thể tiếp nhận Điều này liên quan đến những tiêu chuẩn

Trang 36

tối thiểu về không gian đối với mỗi du khách cũng như đối với nhu cầu sinhhoạt của du khách.

Dưới góc độ sinh học: Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà nếu

số lượng du khách tham quan quá lớn sẽ vượt quá khả năng tiếp nhận của môitrường, làm xuất hiện các tác động bất lợi cho hệ sinh thái do hoạt động của

du khách và tiện nghi mà họ sử dụng Sức chứa này sẽ đạt tới giới hạn khi sốlượng du khách và các tiện nghi mà họ sử dụng bắt đầu có những ảnh hưởngtới tập tính của các loài thú hoang dã và làm cho môi trường sinh thái bịxuống cấp như: rác thải, đất đai xói mòn,

Dưới góc độ tâm lý: Sức chứa được hiểu là giới hạn lượng khách mà nếu

vượt quá thì du khách cảm thấy khó chịu vì sự đông đúc và hoạt động của họ bị

ảnh hưởng bởi sự có mặt của các du khách khác Khi đó, mức độ thoả mãn của

du khách bị giảm xuống dưới mức bình thường do tình trạng quá đông đúc

Dưới góc độ xã hội: Sức chứa được hiểu là giới hạn về lượng du khách

đến mà hoạt động du lịch tác động tiêu cực đến đời sống văn hoá - xã hội,kinh tế - xã hội của khu vực, tập quán sinh hoạt và bản sắc văn hoá của cộng

đồng người dân địa phương

Dưới góc độ quản lý: Sức chứa được hiểu là lượng khách tối đa mà khu

du lịch có khả năng tiếp nhận Nếu số lượng khách du lịch vượt quá giới hạncho phép thì năng lực quản lý của khu du lịch sẽ không đáp ứng được yêu cầucủa khách, làm mất khả năng quản lý và kiểm soát hoạt động của khách, kếtquả sẽ ảnh hưởng đến môi trường và xã hội [11]

Thoả mãn nhu cầu nâng cao hiểu biết của khách du lịch:

Việc thoả mãn những mong muốn được khám phá, hiểu biết của khách

du lịch về kinh nghiệm, hiểu biết đối với tự nhiên của văn hoá bản địa thường

là rất khó khăn, song lại là yêu cầu cần thiết đối với sự tồn tại lâu dài củangành du lịch sinh thái Vì vậy, những dịch vụ để làm hài lòng sự hiểu biếtcủa du khách có ví trí quan trọng chỉ đứng sau công tác bảo tồn Những gì họ

Trang 37

đã nhìn thấy và khám phá được có ảnh hưởng sâu sắc đến nhận thức, quanniệm, tâm tư tình cảm của họ về môi trường, xã hội và cộng đồng [5].

3.3.4 Đa dạng sinh học

3.3.4.1 Khái niệm

Đa dạng sinh học được hiểu là sự phong phú về sự sống trên trái đất của hàng triệu loài thực vật, động vật, vi sinh vật cùng nguồn gen của chúng

và các hệ sinh thái mà chúng là thành viên Theo Công Ước Đa Dạng Sinh

Học (1994) thì: Đa dạng sinh học được định nghĩa là sự phong phú của mọi cơthể sống có từ tất cả các nguồn từ hệ sinh thái, trên cạn, ở biển và các hệ sinhthái dưới nước khác, và mọi tổ hợp sinh thái mà chúng tạo nên Đa dạng sinhhọc bao gồm: sự đa dạng nguồn gen trong loài (đa dạng di truyền), số lượngcác loài (đa dạng loài) và các hệ sinh thái (đa dạng hệ sinh thái) [15]

Khi xem xét đa dạng sinh học, người ta thường chú ý đến 3 khía cạnh:

đa dạng di truyền, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái

 Đa dạng di truyền: là tính đa dạng của các thông tin di truyền chứatrong tất cả các cá thể thực vật, động vật, và vi sinh vật Đa dạng ditruyền có ở bên trong và giữa các quần thể của các cá thể tạo nên mộtloài, cũng như giữa các loài

 Đa dạng loài là đa dạng về số lượng và chủng loại của các loài sinh vậtkhác nhau trong hệ sinh thái

 Đa dạng hệ sinh thái là tính đa dạng của các sinh cảnh, các quần xãsinh vật và các quá trình sinh thái

3.3.4.2 Vai trò của đa dạng sinh học trong phát triển

Đa dạng sinh học có giá trị to lớn về nhiều mặt và là những giá trịkhông thể thay thế được Trước hết, nó có vai trò to lớn đối với sự tồn tại vàphát triển của thế giới sinh học trong đó có con người Nó cũng có vị trí đặcbiệt về mặt kinh tế, xã hội, văn hoá Đa dạng sinh học có giá trị đặc biệt về

Trang 38

mặt khoa học và ứng dụng trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thuỷ sản, côngnghiệp và nhiều lĩnh vực khác [27].

Đa dạng sinh học trong nông nghiệp bao gồm các động thực vật, các visinh vật được sử dụng làm thức ăn và cho sự phát triển nông nghiệp Đa dạngsinh học bao gồm đa dạng: các nguồn gen di truyền (chẳng hạn như các phânloài, giống, nòi khác nhau), các loài dùng để lấy sợi, chất đốt hay dược liệuquý giá Đa dạng sinh học cũng bao gồm sự đa dạng các loài không được thuhoạch trực tiếp nhưng có tác dụng hỗ trợ cho sản xuất như các loài vi sinh vậttrong đất, các loài côn trùng giúp cho quá trình thụ phấn Các loài động thựcvật cung cấp các sản phẩm phục vụ cuộc sống con người Các loài động thựcvật hoang dã là nguồn tài nguyên quan trọng, là nguồn gen quý giá làm cơ sở

để lai tạo nên những cây, con năng suất, chất lượng cao, có khả năng thích ứngcao đối với môi trường, là cơ sở đảm bảo cho sự phát triển nền nông nghiệpbền vững

Đa dạng sinh học mang lại lợi ích rất to lớn cho con người, là nền tảng

đối với cuộc sống vì đa dạng sinh học không chỉ là việc cung cấp liên tục cácnguồn tài nguyên thiên nhiên mà còn duy trì các chức năng sinh thái Các hệsinh thái có vai trò quan trọng trong việc điều hoà khí hậu, làm trong sạch môitrường nước, không khí, duy trì chu trình nước (phục hồi nước ngầm, bảo vềlưu vực), làm màu mỡ đất, tích trữ và tái tạo chất dinh dưỡng, hấp thụ và phânhuỷ các chất gây ô nhiễm

Đa dạng sinh học giúp tránh được việc tăng các phí tổn do suy thoái các

hệ sinh thái như mất sản lượng và các chất dinh dưỡng Đa dạng sinh học còn

có giá trị đáp ứng nhu cầu thẩm mỹ và văn hoá, là cơ sở cho ngành du lịchphát triển

Đa dạng sinh học có vai trò quan trọng đối với việc xoá đói, giảmnghèo, gắn liền với sinh kế của cộng đồng địa phương Các hệ sinh thái và đadạng sinh học đáp ứng phần lớn nhu cầu cơ bản của người nghèo như: lương

Trang 39

thực, thực phẩm, vải mặc, thuốc chữa bệnh, củi đốt, nước sinh hoạt và nướcphục vụ sản xuất nông nghiệp Đa dạng sinh học duy trì các chức năng sinhthái như: ngăn chặn bão lụt, hạn hán mà người nghèo dễ bị tổn thương nhất.

Đa dạng sinh học tạo cơ hội kiếm kế sinh nhai, cải thiện điều kiện dinh dưỡng,chăm sóc sức khoẻ và cung cấp nguồn nước sạch cho người nghèo Hầu hếtcác vùng đa dạng sinh học nằm ở nơi xa xôi, hẻo lánh có nhiều đồng bào dântộc thiểu số sinh sống Họ là nhữg người nghèo và dễ bị ảnh hưởng nhiều nhất.Những vùng đa dạng sinh học thường nằm cách xa các đô thị, các trung tâmkinh tế, chính trị, văn hoá thuận lợi cho công tác bảo tồn đa dạng sinh họcnhưng cũng chứa dựng những mâu thuẫn nhất định giữa khai thác tài nguyên

để giảm nghèo và bảo tồn Vì vậy, cần có các quyết định phát triển kinh tế dựatrên cơ sở vừa khai thác tài nguyên thiên nhiên phục vụ giảm nghèo vừa duytrì, bảo tồn đa dạng sinh học thông qua chính sách hỗ trợ đầu tư giảm nghèocủa chính phủ cho cộng đồng [10]

Đa dạng sinh học Việt Nam có ý nghĩa to lớn thể hiện trên nhiềuphương diện: Sinh thái, kinh tế, văn hoá xã hội

Trên phương diện sinh thái: Các hệ sinh thái là cơ sở sinh tồn của sự

sống, đảm bảo sự lưu chuyển của các chu trình vật chất và năng lượng, duy trìtính ổn định và độ màu mỡ của đất, giảm nhẹ tác hại ô nhiểm và thiên tai

Trên phương diện kinh tế: Đa dạng sinh học có đóng góp lớn cho nền

kinh tế quốc gia, đặc biệt là trong các lĩnh vực xản xuất nông nghiệp, lâmnghiệp và thuỷ sản là cơ sở đảm bảo an ninh lương thực của đất nước, duy trìnguồn gien tạo giống vật nuôi, cây trồng, cung cấp vật liệu cho xây dựng vàcác nguồn nhiên liệu, dược liệu

Theo thống kê ở Việt Nam có khoảng 25 triệu người sống trong hoặcgần khu rừng và khoảng 20% thu nhập của họ là từ lâm sản ngoài gỗ Nghềthuỷ sản đem lại thu nhập chính cho khoảng 8 triệu người và một phần thu

Trang 40

nhập cho khoảng 12 triệu người Năm 2005, ngành thuỷ sản Việt Nam xuấtkhẩu đạt 2,5 tỷ USD.

Trên phương diện văn hoá xã hội: Đa dạng sinh học tạo nên cảnh

quan thiên nhiên và đó là nguồn cảm hứng vô tận của nghệ thuật, là cội nguồncủa nhiều phong tục, tập quán tốt đẹp của người dân Việt Nam Từ ngàn đờixưa, đời sống văn hoá người Việt đã rất gần gũi với thiên nhiên Nhiều loàicây, con vật đã trở thành vật thiêng hoặc vật thờ cúng đối với cộng đồngngười Việt Các nghành nghề truyền thống như nhuộm tràm, dệt thổ cẩm, làmhàng mỹ nghệ từ gỗ, tre nứa hay song mây là biểu hiện sự gắn bó của đời sốngvăn hoá con người Việt Nam với đa dạng sinh học

Các hệ sinh thái có tính đa dạng sinh học cao cung cấp những giá trị vôcùng to lớn cho các ngành giải trí ở Việt Nam với các loại hình du lịch sinhthái đang dần dần phát triển, hứa hẹn đem lại nhiều giá trị kinh tế và góp phầnquan trọng vào việc nâng cao nhận thức của người dân về tầm quan trọng của

đa dạng sinh học và công tác bảo tồn thiên nhiên

3.3.4.3 Các biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học

Công ước quốc tế về đa dạng sinh học đã được thông qua tại hội nghịThượng đỉnh về môi trường và phát triển do Liên Hợp Quốc tổ chức năm 1992tại Rio de Janeiro (Braxin) là công cụ quốc tế chính được dùng để giải quyếtcác vấn đề liên quan đến đa dạng sinh học Đến tháng 8 năm 2005, đã có 168quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia công ước đa dạng sinh học

Việt Nam phê chuẩn và trở thành thành viên của công ước này từngày 16 tháng 11 năm 1994 Kể từ đó, Việt Nam đã nỗ lực thực hiện cácnghĩa vụ và cam kết của mình nhằm bảo tồn và sử dụng bền vững tài nguyên

đa dạng sinh học

Thông qua hệ thống văn bản pháp luật về quản lý, bảo tồn và sử dụngtài nguyên đa dạng sinh học đã được xây dựng và ban hành tương đối đầy đủ,chi tiết nhiều mảng khác nhau của lĩnh vực bảo tồn, tạo cơ sở pháp lý cho việc

Ngày đăng: 20/05/2021, 22:15

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường (2002), Chương trình nâng cao nhận thức Đa dạng sinh học giai đoạn 2001- 2010. Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật Hà Nội (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình nâng caonhận thức Đa dạng sinh học giai đoạn 2001- 2010
Tác giả: Bộ Khoa Học Công Nghệ và Môi Trường
Nhà XB: Nhà xuất bản KhoaHọc Kỹ Thuật Hà Nội (2005)
Năm: 2002
3. Bộ Tài nguyên Môi trường, Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo diễn biến môi trường Việt Nam
4. Công ty du lịch Ao Vua (2005): Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2000đến 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2000
Tác giả: Công ty du lịch Ao Vua
Năm: 2005
6. Công ty du lịch Suối Mơ (2005): Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2000đến 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2000
Tác giả: Công ty du lịch Suối Mơ
Năm: 2005
7. Lê Trần Chấn và ngk (1993): “Thảm thực vật Hà Tây và đặc trưng cơ bản hệ thực vật Ba Vì”, Tạp chí Môi trường Tài nguyên Hà Tây, tr.60 - 63 8. Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Đức Kháng, Vườn quốc gia Ba Vì, những Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thảm thực vật Hà Tây và đặc trưng cơ bảnhệ thực vật Ba Vì”, Tạp chí Môi trường Tài nguyên Hà Tây, tr.60 - 638. Nguyễn Văn Chương, Nguyễn Đức Kháng
Tác giả: Lê Trần Chấn và ngk
Năm: 1993
9. Phạm Ngọc Đăng, Báo cáo thiết kế quy hoạch tái thiết khu nghỉ vườn quèc gia Ba V×. Báo cáo dự án quy hoạch vườn quốc gia Ba Vì (1997) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo thiết kế quy hoạch tái thiết khu nghỉ vườnquèc gia Ba V×
10. Vũ Đình Hiếu (2006), Đa dạng sinh học và Công tác bảo tồn Đa dạng sinh học của Việt Nam. Báo cáo tại hội nghị tổng kết đánh giá sự tham gia của người dân với bảo tồn đa dạng sinh học – Cúc Phương (8/2006) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đa dạng sinh học và Công tác bảo tồn Đa dạngsinh học của Việt Nam
Tác giả: Vũ Đình Hiếu
Năm: 2006
12. Phùng Tiến Huy (1999), Vấn đề quản lý bền vững rừng đặc dụng Vườn quốc gia Ba Vì. Dự án quản lý bền vững vườn quốc gia Ba Vì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vấn đề quản lý bền vững rừng đặc dụngVườn quốc gia Ba Vì
Tác giả: Phùng Tiến Huy
Năm: 1999
13. Nguyễn Đức Kháng và Cộng sự (1993), Điều tra tổ thành thực vật rừng nói cao Ba V×. Báo cáo khoa học vườn quốc gia Ba Vì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Điều tra tổ thành thực vật rừngnói cao Ba V×
Tác giả: Nguyễn Đức Kháng và Cộng sự
Năm: 1993
14. Vũ Đăng Khôi (2005), Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái và bảo tồn vườn quốc gia Ba Vì và vùng phụ cận. Luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp trường đại học Bách Khoa Hà Nội (2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái vàbảo tồn vườn quốc gia Ba Vì và vùng phụ cận
Tác giả: Vũ Đăng Khôi
Năm: 2005
16. Phạm Trung Lương (2002), Du lịch sinh thái: Những vấn đề về lý luận và thực thực tiễn phát triển ở Việt Nam. Nhà xuất bản Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái: Những vấn đề về lý luận vàthực thực tiễn phát triển ở Việt Nam
Tác giả: Phạm Trung Lương
Nhà XB: Nhà xuất bản Giáo dục
Năm: 2002
17. Phòng Tài chính và Kế hoạch huyện Ba Vì (2004), Kết quả doanh thu du lịch Vườn quốc gia Ba Vì. Báo cáo tổng kết năm 2004 của uỷ ban nhân dân huyện Ba Vì Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kết quả doanh thudu lịch Vườn quốc gia Ba Vì
Tác giả: Phòng Tài chính và Kế hoạch huyện Ba Vì
Năm: 2004
19. Nguyễn Xuân Tân (2002), Giải pháp nâng cao hiệu quả của các loại hình du lịch sinh thái Vườn quốc gia Ba Vì. Báo cáo hội nghị nâng cao năng lực quản lý đa dạng sinh học và phát triển du lịch ở các vườn quốc gia (8/2002) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giải pháp nâng cao hiệu quả của các loại hìnhdu lịch sinh thái Vườn quốc gia Ba Vì
Tác giả: Nguyễn Xuân Tân
Năm: 2002
20. Tổng Cục Du lịch (2004), Tạp chí du lịch Việt Nam. Số tháng 6/2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí du lịch Việt Nam
Tác giả: Tổng Cục Du lịch
Năm: 2004
24. Vũ Văn Thịnh (2004), Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bền vững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì. Dự án phát triển kinh tế xã hội vùng đệm vườn quốc gia Ba Vì (6/2004) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng và giải pháp nâng cao thu nhập bềnvững cho các hộ dân tộc thiểu số ở vùng đệm Vườn quốc gia Ba Vì
Tác giả: Vũ Văn Thịnh
Năm: 2004
26. Uỷ ban nhân dân huyện Ba Vì (1999), Quy hoạch tổng thể phát triển huyện Ba Vì. Dự án phát triển kinh tế xã hội huyện Ba Vì (1999) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy hoạch tổng thể phát triểnhuyện Ba Vì
Tác giả: Uỷ ban nhân dân huyện Ba Vì
Năm: 1999
28. Kreg Lindberg và Donal E. Hawkins (1999), Du lịch sinh thái - hướng dẫn cho các nhà lập kế hoạch và quản lý. Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật (2002) 29. Masahysu Arai, Giáo dục môi trường ở vườn quốc gia Nhật Bản. Nhà xuấtbản Văn Hoá Thông Tin (2000) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Du lịch sinh thái - hướng dẫn chocác nhà lập kế hoạch và quản lý."Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật (2002)29. Masahysu Arai,"Giáo dục môi trường ở vườn quốc gia Nhật Bản
Tác giả: Kreg Lindberg và Donal E. Hawkins
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa Học Kỹ Thuật (2002)29. Masahysu Arai
Năm: 1999
30. Tatyana P. Soubbotina (2005), Không chỉ là tăng trưởng kinh tế. Nhập môn về phát triển bền vững. Nhà xuất bản Văn Hoá - Thông Tin (2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Không chỉ là tăng trưởng kinh tế. Nhậpmôn về phát triển bền vững
Tác giả: Tatyana P. Soubbotina
Nhà XB: Nhà xuất bản Văn Hoá - Thông Tin (2005)
Năm: 2005
2. Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn (1997), QĐ 1707/NN - TCCB (QĐ ngày 18/18/1997) của bộ trưởng Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn về việc quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy vườn quốc gia Ba Vì Khác
5. Công ty du lịch Khoang Xanh - Suối Tiên (2005): Báo cáo kết quả kinh doanh từ năm 2000 đến 2005 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w