SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH NGA SƠN SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM VẬN DỤNG MÔ HÌNH STEM TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THIẾT KẾ VÀ BẢN VẼ KĨ THUẬT MÔN CÔNG NGHỆ 11 Người thực hiệ
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THPT BA ĐÌNH NGA SƠN
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
VẬN DỤNG MÔ HÌNH STEM TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ THIẾT KẾ VÀ BẢN VẼ KĨ THUẬT MÔN CÔNG NGHỆ 11
Người thực hiện: Phan Thị Nguyệt Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc môn: Công Nghệ CN
THANH HOÁ NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 Mở đầu 1
1.1 Lí do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 Nội dung sáng kiến 2
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 2
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 3
2.3 Đề xuất vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề thiết kế và bản vẽ kĩ thuật 5
2.4 Hiệu quả của sáng kiến 10
2.5 Một số hình ảnh về quá trình thực nghiệm 11 3 Kết luận, kiến nghị 14
3.1 Kết luận 14
3.2 Kiến nghị
14 Tài liệu tham khảo
Danh mục các đề tài SKKN đã được hội đồng đánh giá xếp loại cấp sở GD&ĐT từ loại C trở lên
Phụ lục
Một số từ viết tắt trong báo cáo sáng kiến kinh nghiệm
thông
Trang 31 Mở đầu
1.1 Lý do chọn đề tài
Môn Công nghệ trung học phổ thông (THPT) được Bộ giáo dục và Đàotạo biên soạn trên tinh thần đổi mới, đảm bảo tính phổ thông, cơ bản, hiện đại vàphù hợp với thực tiễn Việt Nam Nó cùng với các môn học khác trong nhàtrường phổ thông góp phần quan trọng vào việc tạo nền tảng ban đầu để đào tạocon người phát triển toàn diện “ Giáo dục THPT nhằm giúp học sinh hoàn thiệnhọc vấn phổ thông có những hiểu biết thông thường về kỹ thuật và hướngnghiệp, có điều kiện lựa chọn hướng phát triển và phát huy năng lực cá nhân,tiếp tục học Đại học, Cao đẳng, Trung học chuyên nghiệp, học nghề hoặc đi vàocuộc sống lao động” [1]
Trước các yêu cầu đổi mới về cách thức tiếp cận trong dạy học, mỗi GVCông nghệ phải vận dụng sáng tạo và sử dụng linh hoạt các PPDH, kỹ thuật dạyhọc tích cực vào từng bài dạy, chủ đề bài học cụ thể mới mang lại hiệu quả cao
Để làm được điều đó thì mỗi GV Công nghệ cần phải nắm vững lí luận dạy học
và trả lời cho được các câu hỏi sau đây:
- Phương pháp, kỹ thuật dạy học tích cực là gì?
- Những PPDH tích cực, kỹ thuật dạy học tích cực nào?
- Cách thức vận dụng từng phương pháp dạy học, các kỹ thuật dạy họctích cực vào từng bài giảng cụ thể như thế nào?
- PPDH tích cực và kĩ thuật dạy học tích cực khác ở chỗ nào?
Về khía cạnh giáo dục, STEM (viết tắt của các từ Science - Khoa học,Technology - Công nghệ, Engineering - Kỹ thuật và Mathematics - Toán học),trang bị cho người học những kỹ năng về tư duy phản biện và giải quyết vấn đề;
kỹ năng làm việc theo nhóm; khả năng tư duy chiến lược và định hướng mụctiêu; kỹ năng quản lý thời gian
Một trong những hình thức dạy học theo mô hình giáo dục STEM mớiđang được áp dụng hiện nay là việc học tập dựa trên cách thực hiện các bài thựchành Theo đó, học sinh được tham gia bài học và bài thuyết trình có chất lượngcao theo từng chủ đề cụ thể
Việc triển khai giáo dục STEM ở trường THPT là nhằm chuẩn bị cho họcsinh(HS) những tri thức thiết yếu nhất, những kỹ năng có thể giúp HS thích nghitốt với từng môi trường làm việc khác nhau
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Đề tài nghiêm cứu về mô hình Giáo dục STEM ở trường THPT
- Đề tài nghiên cứu hướng vận dụng mô hình giáo dục STEM vào dạy họcmôn Công nghệ phổ thông
Trang 4- Thiết kế dạy học dựa theo mô hình giáo dục STEM một chủ đề cụ thể:Chủ đề: Thiết kế và bản vẽ kỹ thuật môn Công nghệ 11.
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu mô hình Giáo dục STEM ở trường THPT
- Dạy và học môn Công nghệ 11
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, phương pháp luận về mô hình Giáo dục STEM
- Nghiêm cứu việc vận dụng mô hình giáo dục STEM vào dạy và họcmôn Công nghệ phổ thông
- Thực nghiệm mô hình giáo dục STEM vào dạy và học một chủ đề cụ thểcủa môn Công nghệ phổ thông
- Nghiên cứu, khái quát hóa về mô hình Giáo dục STEM.
- Nghiêm cứu vận dụng mô hình giáo dục STEM vào dạy và học mônCông nghệ phổ thông
- Thực nghiệm, kiểm chứng mô hình giáo dục STEM vào dạy và học mộtchủ đề cụ thể
2 Nội dung của sáng kiến
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm
Mô hình giáo dục STEM là quá trình tích hợp kiến thức giữa các mônkhoa học, kỹ thuật, công nghệ, toán học, qua đó giúp HS hình thành kiến thứctổng hợp về các bộ môn này và hình thành kỹ năng sống
Mục tiêu của STEM là xây dựng cho HS các kỹ năng được kết hợp hàihòa từ kiến thức của các bộ môn nói trên để sử dụng khi làm việc trong thế giớicông nghệ ngày nay
Những kỹ năng STEM là tích hợp của 4 kỹ năng:
- Kỹ năng khoa học: Học sinh được trang bị những kiến thức về các khái
niệm, các nguyên lý, các định luật và các cơ sở lý thuyết của giáo dục khoa học.Mục tiêu quan trọng nhất là thông qua giáo dục khoa học, học sinh có khả năngliên kết các kiến thức này để thực hành và có tư duy để sử dụng kiến thức vàothực tiễn để giải quyết các vấn đề trong thực tế
- Kỹ năng công nghệ: Học sinh có khả năng sử dụng, quản lý, hiểu biết, và
truy cập được công nghệ, từ những vật dụng đơn giản như cái bút, chiếc quạtđến những hệ thống phức tạp như các loại máy móc
- Kỹ năng kỹ thuật: Học sinh được trang bị kỹ năng và hiểu được quy
trình để làm ra nó Vấn đề này đòi hỏi học sinh phải có khả năng phân tích, tổng
Trang 5khoa học, nghệ thuật, công nghệ, kỹ thuật) để có được một giải pháp tốt nhấttrong thiết kế và xây dựng quy trình Ngoài ra HS còn có khả năng nhìn nhận ranhu cầu và phản ứng của xã hội trong những vấn đề liên quan đến kỹ thuật.
- Kỹ năng toán học: Là khả năng nhìn nhận và nắm bắt được vai trò của
toán học trong mọi khía cạnh tồn tại trên thế giới HS có kỹ năng toán học sẽ cókhả năng thể hiện các ý tưởng một cách chính xác, có khả năng áp dụng các kháiniệm và kĩ năng toán học vào cuộc sống hằng ngày
Ngoài ra mô hình giáo dục STEM cũng trang bị cho học sinh những kỹnăng phù hợp để phát triển gồm những kỹ năng chính:
- Tư duy phản biện và kỹ năng giải quyết vấn đề
- Kỹ năng trao đổi và cộng tác
- Tính sáng tạo và kỹ năng phát kiến
- Văn hóa công nghệ và thông tin truyền thông
- Kỹ năng làm việc theo dự án
- Kỹ năng thuyết trình
Khi học sinh theo học theo cách tiếp cận giáo dục STEM đều có những ưuthế nổi bật như: kiến thức khoa học, kỹ thuật, công nghệ và toán học chắc chắn,khả năng sáng tạo, tư duy logic, hiệu suất học tập và làm việc vượt trội và có cơhội phát triển các kỹ năng mềm toàn diện hơn trong khi không hề gây cảm giácnặng nề, quá tải đối với học sinh
Với HS phổ thông, việc theo học các môn học STEM còn có ảnh hưởngtích cực tới khả năng lựa chọn nghề nghiệp tương lai Khi được học nhiều dạngkiến thức trong một thể tích hợp, HS sẽ chủ động thích thú với việc học tập thay
vì thái độ e ngại hoặc tránh né một lĩnh vực nào đó, từ đó sẽ khuyến khích các
em có định hướng tốt hơn khi chọn chuyên ngành cho các bậc học cao hơn và sựchắc chắn cho cả sự nghiệp về sau
Mô hình giáo dục STEM vận dụng phương pháp học tập chủ yếu dựa trênthực hành và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo Các phương pháp giáo dục tiến
bộ, linh hoạt nhất như Học qua dự án – chủ đề, học qua trò chơi và đặc biệtphương pháp học qua hành luôn được áp dụng triệt để cho các môn học tích hợpSTEM
2.2 Thực trạng của đề tài
Từ thực trạng cho thấy nhiều học sinh phổ thông còn thụ động trong việchọc tập môn Công nghệ; khả năng sáng tạo và năng lực vận dụng tri thức đã học
để giải quyết các tình huống thực tiễn cuộc sống còn hạn chế [8]
a. Thiếu động cơ học tập: Chương trình bộ môn Công nghệ phổ thông còn nặng
tính hàn lâm, chưa phù hợp với mọi đối tượng, chưa đảm bảo được tính vùngmiền Bộ môn được coi là môn phụ nên học sinh không lo sợ kết quả, không có
Trang 6hứng thú học tập Chủ yếu học sinh tập trung vào ôn thi tốt nghiệp nên đa số các
em không đầu tư nhiều thời gian cho bộ môn này Mặt khác, một số trường phâncông giáo viên dạy không đúng chuyên môn…
Công tác quản lý, theo dõi, đánh giá chưa kích thích được tinh thần, khíthế của người dạy và người học, chưa thúc đẩy được chất lượng, hiệu quả dạyhọc và cũng chưa kịp thời uốn nắn được những lệch lạc xảy ra
Kết quả học tập (thể hiện chất lượng dạy học) ở từng trường, từng lớp chủyếu phụ thuộc vào sự đánh giá của cá nhân giáo viên dạy ở lớp đó, trường đó.Bởi vì thường là người dạy, người ra đề, người chấm thi là một
Môn Công nghệ được xây dựng trên cơ sở những nguyên lý kỹ thuật kháphức tạp nên nội dung môn học vừa mang tính cụ thể, vừa mang tính trừu tượngcao
b. Hạn chế về giáo viên
Hiện nay, mặc dù khoa học và công nghệ đang từng ngày, từng giờ thayđổi, các hiện tượng thực tế học sinh phải tiếp xúc rất phong phú, thế nhưng việccập nhật thông tin, đào tạo lại và bồi dưỡng giáo viên chưa được chú ý đúngmức Vì vậy, trong giảng dạy bộ môn, không ít giáo viên còn tỏ ra lúng túng.Mặt khác, quan niệm và nhận thức nói chung của các bậc cha mẹ học sinh vàngay cả các cấp quản lý giáo dục về vị trí, vai trò của giáo dục công nghệ phổthông vẫn chưa đúng mức và thống nhất
Những vấn đề về chế độ chính sách nhằm khuyến khích dạy và học côngnghệ, cơ chế sử dụng đội ngũ giáo viên công nghệ phổ thông vẫn còn lúng túng,chưa thỏa mãn, chưa phù hợp
Do vậy, một số giáo viên chưa đầu tư đúng mức hoặc chưa có điều kiệnhọc tập nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ để đáp ứng được yêu cầu Phầnlớn học sinh chưa hứng thú với môn học, học tập còn mang tính đối phó, hờihợt, tâm lý đó gây lên cản trở trong việc học tập môn này
Phương pháp dạy học mà giáo viên sử dụng vẫn chủ yếu là phương pháptruyền thống: thầy giảng - trò nghe, thầy đọc - trò ghi, phương pháp này mangtính chất thông báo, tái hiện
Hiện nay các phương pháp dạy học tích cực đã và đang được nghiên cứu
và vận dụng vào thực tiễn dạy học, thuật ngữ này dần dần trở nên quen thuộc.Tuy nhiên, nhiều công trình nghiên cứu mới dừng lại ở phạm vi lý luận, hoặccòn là chủ trương, chỉ thị,… chứ chưa thực sự đi vào nhà trường, chưa trở thànhnhu cầu bức xúc với từng giáo viên, học sinh, từng môn học, bài học
Trang 7Đại đa số giáo viên đều thấy đổi mới phương pháp dạy học là cần thiết,nhưng đổi mới như thế nào, triển khai thực hiện ra sao đối với môn học, bài học
cụ thể…thì vẫn còn lúng túng
c. Thiếu sự hỗ trợ từ thiết bị
Cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ dạy học còn hạn chế Nội dung kiến thứcmôn học đòi hỏi nhiều phương tiện trực quan như tranh vẽ, mô hình, vật thật,…nhưng thực tế hiện nay dạy “chay” vẫn phổ biến
Tôi đã chọn 4 lớp có chỉ số tương đồng về học tập để tiến hành khảo sát
và lấy lớp đối chứng, thực nghiệm qua khảo sát 04 lớp đối chứng và thựcnghiệm bằng phiếu khảo sát
2.3 Đề xuất vận dụng giáo dục STEM trong dạy học chủ đề thiết kế và bản vẽ
kỹ thuật
Với mục tiêu môn công nghệ là [2]:
- Kiến thức: Hiểu được những kiến thức ban đầu và thông thường về kỹthuật và công nghệ của một số lĩnh vực sản xuất phổ biến, về kinh tế gia đình vàkinh doanh
- Kỹ năng: Hình thành được một số kỹ năng lao động nghề nghiệp đơngiản, cơ bản, cần thiết, hình thành được kỹ năng học tập môn Công nghệ
- Thái độ: Có thói quen làm việc theo kế hoạch, tuân thủ quy trình, thựchiện an toàn lao động và bảo vệ môi trường, bước đầu hình thành được tác
PHIẾU KHẢO SÁT
(Kết quả khảo sát chỉ mang tính nghiên cứu)
Câu hỏi 1: Em thấy học môn Công nghệ như thế nào?
Trang 8phong công nghiệp, có thái độ quý trọng lao động, say mê, hứng thú học tập vàtìm hiểu về nghề nghiệp.
- Phẩm chất, năng lực được hình thành: Hình thành được những phẩmchất (chăm chỉ, trách nhiệm), năng lực chung (năng lực tự chủ và tự học, nănglực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực giao tiếp và hợp tác) và năng lực đặcthù ( nhận thức công nghệ, giao tiếp công nghệ, sử dụng công nghệ, đánh giácông nghệ, thiết kế kĩ thuật)
a Lựa chọn nội dung bài dạy.
Để áp dụng thành công mô hình giáo dục STEM vào giảng dạy môn Côngnghệ phổ thông thì việc lựa chọn những nội dung thích hợp là rất quan trọng vìvừa phải đảm bảo mục tiêu của bộ môn, vừa phải đảm bảo thời gian, tạo hứngthú và trải nghiệm cho HS
Dưới đây tôi lựa chọn nội dung Công nghệ 11 – Chủ đề: Thiết kế và bản
vẽ kỹ thuật để thực hiện
b Thiết kế giáo án/bài giảng tích hợp giữa lý thuyết và thực hành dựa trên môn hình STEM.
Trong khi thiết kế bài giảng theo tinh thần tích hợp cần đảm bảo:
- Đảm bảo nội dung kiến thức cơ bản của chương trình
- Dựa vào nội dung và mục tiêu dạy học để hướng tới tạo hứng thú học tập
và năng lực giải quyết vấn đề
- Đảm bảo cho HS được chủ động, hoạt động trong điều kiện thuận lợinhất, trên cơ sở đó kích thích hứng thú học tập thông qua các hoạt động hấp dẫn
- Khuyến khích sự tham gia tối đa của HS vào các hoạt động chiếm lĩnh trithức, kỹ năng/ năng lực mới
Trang 9- Phải khai thác tối đa nội dung tạo hứng thú học tập, đưa ra những câuhỏi/bài tập để học sinh giải quyết thông qua thực hành, tạo điều kiện cho HS họctập có hiệu quả.
- Hình thành và phát triển những kỹ năng/ năng lực chung và phù hợp vớihọc sinh
Mục tiêu cơ bản của việc sử dụng mô hình STEM vào quá trình dạy học là
đa dạng hoá hoạt động của HS trong quá trình học tập Mục tiêu này chỉ đạtđược khi giáo viên sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học như: đàm thoại,thảo luận, giải quyết vấn đề, hoặc phối kết hợp các phương pháp dạy họctrong một bài học
Vì vậy, Trong quá trình dạy học cần: Phát huy tính tích cực, chủ động, tựlực của học sinh: trong thảo luận nhóm, HS phải tự giải quyết nhiệm vụ học tập,đòi hỏi sự tham gia tích cực của các thành viên; đồng thời, các thành viên cũng
có trách nhiệm về kết quả làm việc của mình Do đó, khi giáo viên áp dụng môhình giáo dục STEM trong quá trình giảng dạy sẽ:
- Phát triển năng lực hợp tác làm việc của HS: HS được luyện tập kỹ năng
hợp tác, làm việc với tinh thần đồng đội, các thành viên có sự quan tâm vàkhoan dung trong cách sống, cách ứng xử…
- Giúp cho học sinh có điều kiện trao đổi, rèn luyện khả năng ngôn ngữ
thông qua hợp tác làm việc trong nhóm, phát triển năng lực giao tiếp, biết lắngnghe, chấp nhận và phê phán ý kiến người khác Đồng thời, HS biết đưa ranhững ý kiến và bảo vệ những ý kiến của mình
- Giúp cho HS có sự tự tin trong học tập, vì HS học tập theo hình thức hợp
tác và qua giao tiếp xã hội - lớp học, cho nên các em sẽ mạnh dạn và không sợmắc phải những sai lầm
- Hình thành phương pháp nghiên cứu khoa học cho HS: thông qua thảo
luận nhóm, nhất là quá trình tự lực giải quyết các vấn đề bài học, giúp HS hìnhthành dần phương pháp nghiên cứu khoa học, rèn luyện và phát triển năng lựckhoa học trong mọi vấn đề cuộc sống
- Tăng cường tri thức, hiệu quả trong học tập: HS có thể nắm bài ngay trên
lớp, hình thành những tri thức sáng tạo thông qua sự tự tư duy của mỗi thànhviên Áp dụng mô hình này sẽ khích thích hs tìm kiếm những nguồn tri thức cóliên quan đến vấn đề thảo luận và có thể tư duy độc lập Trên cơ sở đó, HS sẽthu lượm những kiến thức, kỹ năng và năng lực cho bản thân thông qua quátrình tìm kiếm tri thức
d Đề xuất hình thức kiểm tra đánh giá trong dạy học môn Công nghệ bậc THPT theo quan điểm giáo dục STEM.
Trang 10Qua nghiên cứu tôi đề xuất các bước trong quá trình soạn bài kiểm tra/đánhgiá theo quan điểm giáo dục STEM.
Bước 1 Xác định thời lượng kiểm tra: Tùy theo từng nội dung chủ đề dài hay
ngắn mà ta thiết kế bài kiểm tra dài hay ngắn
Bước 2 Xác định mục tiêu, mức độ các loại kỹ năng/năng lực cần đánh giá
trong chủ đề Tùy theo từng đối tượng kiểm tra mà mục tiêu, mức độ năng lựctrong bài kiểm tra là khác nhau
Bước 3 Xây dựng ma trận đề bài kiểm tra theo năng lực: Căn cứ vào các
năng lực cần kiểm tra, nội dung chủ đề, bài dạy ta xác định số lượng câu hỏi/bàitập trong bài kiểm tra là bao nhiêu câu, đo loại năng lực gì, mức độ năng lực cần
đo Xây dựng các câu hỏi theo ma trận đề kiểm tra năng lực ở bước 3: Tiến hànhxây dựng các câu hỏi theo quy trình xây dựng câu hỏi ở dưới đây
Xây dựng các câu hỏi
- Xác định năng lực cần đánh giá ở chủ đề: Trên cơ sở mục đích đánh giá, nội
dung học tập để xác định xem năng lực nào cần đánh giá
- Xác định nội dung cần đánh giá, cấu trúc/thành tố nào cần đánh giá: Ở đây là
đánh giá sự tiến bộ, kiến thức, kỹ năng theo hướng phát triển năng lực Năng lựcchung, năng lực chuyên biệt được hình thành và phát triển ở người học
- Xác định phương pháp đánh giá và mức độ năng lực cần đánh giá
+ Phương pháp đánh giá ta lựa chọn tùy theo từng chủ đề học tập
+ Mức độ năng lực cần đánh giá: Dựa vào ma trận đề kiểm tra; dựa vàotình hình thực tế của lớp học mà lựa chọn mức độ năng lực đánh giá cho phùhợp với mục tiêu môn học, bài học
- Thiết kế câu hỏi/bài tập đánh giá theo năng lực: Dựa vào các bước trên ta tiến
hành thiết kế câu hỏi/ bài tập đánh giá theo năng lực phù hợp với nội dung họctập và chú trọng đến việc vận dụng vào các tình huống, vấn đề thực tiễn
Lựa chọn loại năng lực trong số những năng lực (chung, chuyên biệt) đã nêu ởmục đích để thiết kế câu hỏi/bài tập đo loại năng lực ấy Căn cứ vào nội dung bàihọc và thực tiễn để thiết kế câu hỏi cho phù hợp Khi thiết kế xong câu hỏi/bàitập phải kiểm tra lại xem có đảm bảo các nguyên tắc kiểm tra đánh giá theo nănglực không Đánh giá xếp loại các câu hỏi theo mức độ năng lực và có đảm bảomục đích bài kiểm tra không
Bước 4 Thẩm định và thử nghiệm các câu hỏi: Sau khi thiết kế xong các câu
hỏi/bài tập cần xem xét kỹ lưỡng xem mức độ phù hợp với ma trận đề kiểm trakhông, xin ý kiến của các thầy cô giáo đang trực tiếp giảng dạy và đưa ra thửnghiệm ở một vài lớp học
Đây là cơ sở để xem xét có lựa chọn câu hỏi đó hay không và sắp xếp trình bàycác câu hỏi trong bài kiểm tra theo mức độ năng lực từ thấp đến cao Nếu chưa
Trang 11đạt yêu cầu để ra thì quay lại Bước 3 để điều chỉnh/ chỉnh sửa lại câu hỏi / bài
tập Nếu đã đạt yêu cầu thì đem đi kiểm tra đánh giá
Bước 5: Kiểm tra, đánh giá: nhằm đánh giá lại mục tiêu bài học/ chủ đề.
Từ đó tôi đưa ra quy trình xây dựng bài kiểm tra đánh giá theo mô hình STEM
Xác định mục tiêu, mức độ kỹ
năng, năng lực
Xác định thời lượng kiểm tra
Xây dựng câu hỏi theo ma trận
Thử nghiệm kiểm tra, đánh giá
Xác định loại câu hỏi/bài tập
Xác định các kỹ năng/năng lực cần kiểm tra, đánh giá
Xác định nội dung và phương pháp cần kiểm tra, đánh giá
Thiết kế câu hỏi/bài tập để kiểm tra, đánh giá phù hợp
Kiểm tra, đánh giá
Chưa đạt yêu cầu
Đạt yêu cầu
Trang 122.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm
Sau khi thực hiện đề tài này tôi đã kiểm chứng trong quá trình dạy học
PHIẾU ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM STEM “ THIẾT KẾ HỘP ĐỰNG ĐỒ DÙNG HỌC TẬP”
Tên nhóm đánh giá: Lớp:
Nhóm 3
Nhóm 4
Nhóm 5
Nhóm 6
Đạt trên 8 điểm - sản phẩm đạt yêu cầu(Đ),
Dưới 8 điểm chưa đạt yêu cầu(CĐ)
Nhóm trưởng tổng hợp nhanh ý kiến các thành viên trong nhóm ghi vào cột xếploại, …
Chọn ra nhóm có số điểm cao nhất
Trang 13- Giáo viên hiểu rõ về mô hình giáo dục STEM và việc vận dụng mô hìnhgiáo dục STEM vào dạy học môn Công nghệ 11 nói riêng và môn Côngnghệ phổ thông nói chung có kết quả tốt và được nhà trường đánh giá cao.
- Học sinh hứng thú học tập môn Công nghệ
- Kết quả học tập của các em được nâng lên
Bảng kết quả so sánh sau khi thực hiện xong chủ đề: Thiết
Trang 142.5 Một số hình ảnh về quá trình thực nghiệm