1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Rèn luyện kỹ năng tự học thông qua các chuyên đề ngữ văn cho học sinh lớp 11 THPT

26 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 102,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối với học sinh lớp 11, việcrèn luyện cho các em kỹ năng tự học nhằm biến “quá trình đào tạo thành quá trình tự đào tạo”, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Ngữ văn, từ đó nâng c

Trang 1

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài:

Cách mạng khoa học - công nghệ và cách mạng xã hội đang phát triểnnhư vũ bão với tốc độ nhanh chưa từng có trong lịch sử loài người, thúc đẩynhiều lĩnh vực phát triển và đang mở ra những triển vọng lớn lao khi nhân loạibước sang thế kỷ XXI Song hành với đó là nhiều thách thức mà loài người cầnvượt qua Thời đại đã đặt ra yêu cầu phải đổi mới nền giáo dục “biến quá trìnhđào tạo thành quá trình tự đào tạo, đây là quy luật cơ bản nhất để đạt được mụctiêu đào tạo.Về triết học đó là sự biến tác động từ bên ngoài thành động lực tựthân vận động trong nhân cách học sinh”[1]

Trong các văn kiện Đại Hội VIII (12- 1995), Đảng đã xác định rõ “Đổimới nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiệnđại hóa, tăng cường giáo dục tư duy sáng tạo, năng lực tự học, tu dưỡng đạo đức,

tự tạo việc làm” Nhằm thực hiện mục tiêu “nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực,bồi dưỡng nhân tài” Để tạo ra “những con người lao động tự chủ, năng động,sáng tạo” đáp ứng được yêu cầu của thời đại, có tri thức khoa học cao, có kỹ nănghành động và tư duy thực tiễn, có phương pháp tự học Nghị quyết trung ương 2của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII ghi đậm những câu sau “Đổi mớimạnh mẽ phương pháp giáo dục - đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rènluyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học…Phát triển mạnh phong trào tựhọc, tự đào tạo”

Thực tế trong dạy học nói chung, dạy và học Ngữ văn 11 –THPT nói riêngchưa phát huy tốt nội lực của người học Học sinh vẫn học theo lối ghi máy móc,học thuộc, học nhồi nhét, học thụ động, khả năng “tự học”- Một nội lực phi thường

ở học sinh vẫn tồn tại dưới dạng tiềm năng Một trong những nguyên nhân quantrọng của thực trạng đó là nhiều giáo viên chưa chú ý hướng dẫn cho học sinh cách

tự học, chưa chú trọng giáo dục rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh, chưa tạođược hứng thú trong các chuyên đề, nội dung tự học Đối với học sinh lớp 11, việcrèn luyện cho các em kỹ năng tự học nhằm biến “quá trình đào tạo thành quá trình

tự đào tạo”, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập môn Ngữ văn, từ đó nâng cao

“năng lực tự học”, phục vụ đắc lực không chỉ trong quá trình học tập mà còn chohoạt động giao tiếp, ứng xử và làm việc sau này

Trong tình hình hiện nay, dịch bệnh Covid 19 diễn biến rất phức tạp, càn

quét khốc liệt trên phạm vi toàn thế giới, gây nhiều tác động tiêu cực chưa từng

có tiền lệ lên nền kinh tế thế giới và Việt Nam Trong bối cảnh đó, đòi hỏi chúng

ta phải có những giải pháp để hạn chế rủi ro của dịch bệnh, ổn định và phát triển

xã hội Sự khốc liệt của dịch bệnh ảnh hưởng không nhỏ đến sự nghiệp giáo dụccủa quốc gia Thay vì việc đến trường nghe thầy cô giảng bài, học sinh phải ởnhà, học trực tuyến qua mạng, nhiều nội dung kiến thức phải tự học mới có thểhiểu bài sâu sắc để vận dụng nâng cao Việc rèn luyện kỹ năng tự học cho họcsinh trong dạy học Ngữ văn cũng như những môn học khác có vai trò quantrọng, góp phần thực hiện hiệu quả chủ trương của Đảng, nhà nước đảm bảophòng chống dịch, nghỉ dịch nhưng không nghỉ học, không làm giảm chất lượnggiáo dục chung của cả nước Xuất phát từ những lý do đó, tôi đã lựa chọn đề tài:

Trang 2

“Rèn luyện kỹ năng tự học thông qua các chuyên đề Ngữ văn cho học sinh lớp

Giúp học sinh có tâm thế tự giác trong mỗi giờ học Cao hơn nữa là sự hứngkhởi, say mê và khát khao sáng tạo, khám phá ra những điều mới mẻ, thú vị trongmôn học Từ đó có chí hướng, động lực vươn lên, tiếp nối truyền thống của các thế

hệ đi trước lan tỏa những điều tốt đẹp đến cộng đồng

1.2.2 Nhiệm vụ:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc rèn luyện kỹ năng tự học chohọc sinh trong dạy học các chuyên đề Ngữ văn 11

- Đưa ra quy trình rèn luyện kỹ năng tự học

- Tổ chức rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh trong dạy học các chuyên

đề Ngữ văn 11

- Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm việc rèn luyện kỹ năng tự họccho học sinh

- Từ kết quả đạt được đề tài đưa ra các kiến nghị, đề xuất

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Kỹ năng tự học và các chuyên đề Ngữ văn lớp 11

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu lý luận: Nghiên cứu các tài liệu của Bộ Giáo dục, các tàiliệu về giáo dục học và lý luận dạy học có liên quan đến đề tài

- Phương pháp thu thập, xử lý thông tin: Tài liệu được thu thập từ các nguồnkhác nhau như: Sách giáo khoa, sách tham khảo, khóa luận tốt nghiệp, các trangweb có nội dung liên quan, các tạp chí giáo dục…sau đó tiến hành phân tích, sosánh, chọn lọc nội dung phù hợp để giải quyết các nhiệm vụ

- Sử dụng phiếu điều tra về thực trạng hứng thú và khả năng tự học củahọc sinh

- Phương pháp trò chuyện: Phương pháp này được sử dụng trong cáctrường hợp sau:

+ Đối với học sinh: Thông qua những hoạt động ngoài giờ lên lớp, nhữngtin nhắn trên nhóm …

+ Đối với giáo viên: Họp tổ chuyên môn, gặp gỡ riêng…

Phương pháp này giúp tôi phần nào tìm hiểu được tình hình học tập, mức độ tậptrung, hứng thú và khả năng tự học của học sinh khi không đến trường

Trang 3

- Tính toán, thống kê, thử nghiệm sư phạm để xử lý số liệu thu thập được, từ

đó có cơ sở phân tích, so sánh, đánh giá rút ra nguyên nhân và kết luận chonhững nội dung cần tìm hiểu, từ đó có thể kiểm chứng tính khả thi và hiệuquả của đề tài

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lý luận:

2.1.1 Khái niệm hoạt động học, tự học, kĩ năng tự học.

Trên cơ sở các quan điểm về hoạt động học, tự học, kĩ năng tự học của nhiều chuyên gia đầu ngành trong và ngoài nước về lĩnh vực này, tác giả đưa ra quan điểm của mình về hoạt động học, tự học, kĩ năng tự học

- Hoạt động học: là hoạt động được tổ chức một cách độc đáo, được điều khiển bởi mục đích tự giác nhằm lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kĩ xảo, những hành

vi xác định để hình thành khối lượng tri thức khoa học nhằm phát triển toàn diệnnhân cách người học

- Tự học: cốt lõi của “học” là “tự học”, nhờ tự học mà “nội lực” được pháthuy mạnh mẽ Tự học là quá trình cá nhân người học tự lực, tự giác, tích cực,độc lập, nhằm chiếm lĩnh tri thức, kinh nghiệm ở một lĩnh vực nào đó trong họctập nhằm hình thành, phát triển và hoàn thiện nhân cách Tự học là một hìnhthức học tập có tính độc lập cao và đậm sắc thái cá nhân nhưng có quan hệ chặtchẽ với quá trình dạy học Nội dung của tự học rất phong phú, bao gồm toàn bộnhững công việc học tập do cá nhân và có khi cả tập thể HS tiến hành ngoài giờ,hoặc do bản thân HS tiến hành ngay trong giờ học trên lớp như: đọc sách, làm bài tập, làm thí nghiệm, tự suy nghĩ, tự “động não”…

- Kỹ năng tự học: là hệ thống phương thức hành động thể hiện hành động tựhọc, những thao tác tự học được người học sử dụng một cách có ý thức tự lực, độclập trên cơ sở lựa chọn và vận dụng những tri thức kinh nghiệm đã có để thực hiện

có kết quả mục tiêu học tập đề ra và phù hợp với những điều kiện cho phép

Hệ thống kỹ năng tự học như: kỹ năng lập kế hoạch, thực hiện kế hoạch,đọc sách, ghi chép, hệ thống hóa, kỹ năng làm các bài tập, tự kiểm tra đánh giá,

kỹ năng ôn tập, kiểm tra, kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn…

Trong học tập bộ môn Ngữ văn ở nhà trường phổ thông có nhiều kỹ năng như: + Kỹ năng đọc – ghi chép sách, tài liệu tham khảo

+ Kỹ năng sử dụng sơ đồ tư duy, tranh ảnh

+ Kỹ năng làm việc với các tài liệu tham khảo (sách, báo, tạp chí…)

+ Kỹ năng làm các bài tập Ngữ văn

+ Kỹ năng lập kế hoạch

+ Kỹ năng sử dụng CNTT

+ Kỹ năng ôn tập – kiểm tra

+ Kỹ năng trình bày, thảo luận các vấn đề xã hội, văn học

+ Kỹ năng phỏng vấn và trả lời phỏng vấn

+ Kỹ năng viết bài nghị luận…[2]

Trang 4

Rèn luyện kỹ năng tự học nhằm hướng tới cái đích cao hơn là hình thànhnăng lực tự học, đáp ứng những đòi hỏi của xã hội, giúp học sinh có thể học mọilúc, mọi nơi, mọi hoàn cảnh và tự học suốt đời như lời khẳng định của Lê nin

“học, học nữa, học mãi”

2.1.2 Chủ đề, chuyên đề dạy học Ngữ văn theo chương trình giáo dục mới.

Trong định hướng xây dựng chương trình Ngữ văn mới, theo hình dungcủa tác giả Nguyễn Minh Thuyết: “Mô hình sách giáo khoa Ngữ văn sau 2018 là

sự tích hợp giữa hai hướng phát triển nội dung dạy học: Phát triển theo hệ thốngkiểu loại văn bản và phát triển theo hệ thống đề tài chủ điểm… Đề tài được hiểu

là các lĩnh vực hiện thực được phản ánh Chủ điểm là sự cụ thể hóa đề tài”[ 3 ].Điều đó có nghĩa là: Việc phân chia và sắp xếp các bài học trong sách giáo khoaNgữ văn sẽ đồng thời dựa trên: Các kiểu loại văn bản chủ yếu và các đề tài chủđiểm phù hợp với trải nghiệm và hứng thú của học sinh Đồng quan điểm trên,tác giả Đỗ Ngọc Thống cũng khẳng định: “Nếu chương trình hiện hành kết hợphai trục thể loại và lịch sử văn học thì chương trình Ngữ văn mới dựa hẳn vàotrục thể loại kiểu văn bản để dạy học đọc, viết, mói và nghe, dạy phân tích, cảmthụ văn học” [4] Triển khai quan điểm này, một nhóm tác giả sách giáo khoaNgữ văn của nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã xây dựng chương trình họcđảm bảo nội dung kiến thức, đáp ứng các yêu cầu cần đạt về phẩm chất, nănglực thông qua các chuyên đề cụ thể:

Lớp 10: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một nội dung văn học dân gian;Sân khấu hóa tác phẩm văn học; Đọc, viết và giới thiệu một tập thơ, tập truyệnngắn…

Lớp 11: Tập nghiên cứu và viết báo cáo về một vấn đề văn học trung đại,văn học hiện đại Việt Nam; Tìm hiểu ngôn ngữ trong đời sống xã hội hiện đại;Đọc, viết và giới thiệu một tác giả văn học; Tìm hiểu phong cách sáng tác củamột trường phái văn học: Cổ điển, hiện thực, lãng mạn…

Việc xây dựng những chuyên đề dạy học là một sự sáng tạo, qua thực tếkiểm nghiệm, chúng tôi thấy có những ưu thế vượt trội hơn so với việc dạy họctheo bài học truyền thống Sự khác biệt thể hiện ở những điểm cụ thể sau:

Dạy học theo chủ đề/ Chuyên đề Dạy học theo bài học truyền thống

Học sinh quyết định chiến lược học

tập: Giờ học xuất phát từ những tình

huống thực tiễn, giáo viên chuyển

giao nhiệm vụ học tập và học sinh tự

tìm cách thực hiện dưới sự hỗ trợ của

giáo viên

Giáo viên là người quyết định chiếnlược học tập: Giờ học xuất phát từmục tiêu, kiến thức, kỹ năng giáo viêncần cung cấp cho học sinh Giáo viên

tổ chức các phương pháp để truyền đạt

Mục tiêu cần đạt: Phát triển năng lực

và phẩm chất cần thiết, hệ thống kiến

Mục tiêu cần đạt: Hệ thống kiếnthức mới được đặt ra trong chương

Trang 5

thức có sự tích hợp cao, gắn liền với

thực tiễn, mang tính cập nhật, trình độ

nhận thức có thể đạt đến mức phân

tích – tổng hợp – đánh giá

trình môn học: Những kiến thứcđược cung cấp rời rạc, đơn lẻ, cònnặng tính hàn lâm Trình độ nhậnthức có thể đạt đến mức: Nhận biết– Thông hiểu – Vận dụng

Nội dung bài học là công cụ để minh

họa, phương tiện để người học vận

dụng và rèn luyện cách tư duy; Thước

đo của kiểm tra đánh giá không chỉ

tập trung vào kiến thức, kết quả mà

còn đánh giá ý tưởng, giải pháp

Nội dung của bài học là đối tượng vàcũng là mục đích chính mà học sinhcần chiếm lĩnh Thước đo của kiểm trađánh giá tập trung vào việc người họchiểu như thế nào về nội dung đượchọc

Không gian học tập mở rộng, đa dạng

(Nhà trường, cuộc sống xã hội, thư

viện, bảo tàng…); Nguồn học liệu

không chỉ giới hạn trong sách giáo

khoa mà còn nhiều tài liệu tham khảo

khâc, hình thức học tập không chỉ trên

lớp học mà còn có thể học qua nghiên

cứu tài liệu, trải nghiệm sáng tạo, dự

án…

Không gian học tập bó hẹp trong phạm

vi chủ yếu là trường học Nguồn họcliệu chính là sách giáo khoa, hình thứchọc tập quan trọng nhất là trên lớp học

- Bám sát những dấu hiệu đặc trưng trên, kết hợp với lý luận và thực tiễndạy học văn trong thời gian gần đây Trong khuôn khổ chuyên đề, chúng ta hãyhình dung các khái niệm liên quan như sau:

- Chủ đề: Là hình thức dạy học có tính khái quát về thể loại văn học haymột vấn đề lớn của cá nhân, đất nước, nhân loại Có thể bao hàm trong nó nhiềuchuyên đề

- Chuyên đề: Là hình thức dạy học có tính khái quát về một phương diệnnhất định của chủ đề hoặc một giai đoạn văn học, một tác giả, tác phẩm cụ thểliên quan đến chủ đề

2.1.3 Phương pháp dạy học theo chuyên đề.

2.1.3.1 Thiết kế chủ đề/ chuyên đề:

- Xác định vấn đề cần giải quyết trong chuyên đề sẽ xây dựng Đó có thể là

vấn đề tìm kiếm, xây dựng kiến thức mới; Vấn đề kiểm nghiệm, ứng dụng kiếnthức; vấn đề tìm kiếm, xây dựng, kiểm nghiệm, ứng dụng kiến thức mới…

- Xây dựng nội dung chuyên đề: Căn cứ vào tiến trình sư phạm của phươngpháp dạy học tích cực được sử dụng để tổ chức hoạt động học cho học sinh, từtình huống xuất phát đã xây dựng, dự kiến các hoạt động học tập cụ thể tươngứng với các hoạt động học của học sinh, từ đó xác định các nội dung cần thiết đểcấu thành các chuyên đề

Trang 6

Giáo viên sắp xếp các đơn vị nội dung dạy học theo trật tự phù hợp với mức

độ nhận thức của học sinh và mục tiêu đặt ra cho các chuyên đề Việc sắp xếpmột cấu trúc các nội dung trong chuyên đề sẽ hỗ trợ rất tốt cho việc ghi nhớ củahọc sinh, nhưng không phải là sự ghi nhớ máy móc mà là sự ghi nhớ bằng suyluận, dựa trên các mối liên hệ Một chuyên đề lý tưởng là chuyên đề mà mỗi đơn

vị nội dung được cấu thành một vấn đề nhỏ có thể được thể hiện bằng một tìnhhuống Quá trình giải quyết các vấn đề xử lý tình huống là quá trình hình thànhtri thức, kỹ năng cho học sinh

- Xác định chuẩn kiến thức , kỹ năng, thái độ từ đó xác định các năng lực

và phẩm chất có thể hình thành cho học sinh trong chuyên đề

- Xác định và mô tả mức độ yêu cầu (Nhận biết, thông hiểu, vận dụng thấp,vận dụng cao) của mỗi loại câu hỏi/ bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giánăng lực và phẩm chất của học sinh trong dạy học

- Biên soạn các câu hỏi, bài tập cụ thể theo các mức độ yêu cầu đã mô tả để

sử dụng trong quá trình tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá luyện tập theochuyên đề

- Thiết kế tiến trình dạy học chuyên đề thành các hoạt động học được tổchức cho học sinh có thể thực hiện trên lớp hoặc ở nhà Mỗi tiết học trên lớp cóthể chỉ thực hiện một số hoạt động trong tiến trình sư phạm của phương pháp và

kỹ thuật dạy học được sử dụng

+ Giáo viên nêu vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề Họcsinh thực hiện cách giải quyết vấn đề với sự giúp đỡ của giáo viên khi cần Giáoviên và học sinh cùng đánh giá

+ Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống có vấn đề Học sinh phát hiện

và xác định vấn đề nảy sinh Tự đề xuất các giả thuyết, giải pháp và lựa chọncác giải pháp Học sinh thực hiện giải pháp để giải quyết vấn đề Giáo viên vàhọc sinh cùng đánh giá

+ Học sinh tự lực phát hiện vấn đề nảy sinh trong hoàn cảnh của mình hoặc cộngđồng Lựa chọn vấn đề cần giải quyết Học sinh giải quyết vấn đề, tự đánh giá chấtlượng, hiệu quả, có ý kiến bổ sung của giáo viên khi kết thúc

Theo quan sát thấy: mỗi lần giáo viên đặt câu hỏi, học sinh vội nhìn tài liệu,

Trang 7

sách học tốt Ngữ văn tìm đúng chỗ giáo viên hỏi, để khi được gọi đứng lên thì đọc nguyên văn và không có ý kiến cá nhân, không có sự sáng tạo Tuy những câu hỏi mang tính chất tái hiện là không thể thiếu nhưng không thể chỉ dừng lại

ở đó Tái hiện để làm gì? Đó mới là điều cần phải có Với hệ thống câu hỏi còn thiên về nêu, trình bày vấn đề, giáo viên khó có thể tạo cho học sinh tính tích cực, hứng thú học tập và khơi dậy óc sáng tạo, khó khuyến khích học sinh tự làm việc với sách giáo khoa, tự tìm hiểu qua những tư liệu liên quan đến bài học

để hôm sau cùng cô giáo, bạn bè tranh luận Vì thế, giáo viên càng khó hìnhthành cho các em ý thức tự học, tự đọc, tự nghiên cứu bài học bằng khả năng của mình một cách khoa học và hệ thống

Kết quả này cốt lõi bắt nguồn từ việc người thầy chưa khơi dạy đúng nhucầu và nguyện vọng của học sinh để cuốn các em vào cuộc và khai thác đượctiềm năng trong mỗi người học

Nghe và ghi chép là công việc chủ yếu của học sinh trong các giờ học,nhưng có em cả giờ chỉ chép được những đề mục cô giáo ghi trên bảng Các emkhông biết ghi gì trong chuỗi lời giảng của thầy hoặc thầy đọc nhanh các em khôngkịp chép Nắm được bài học theo cách này đã khó, thì các em khó có hứng thú đểtìm tòi, học hỏi, nghiên cứu sâu hơn bài học của mình để mở rộng kiến thức

Đối với những câu hỏi của giáo viên đưa ra trong các giờ học, học sinhphần lớn được chỉ định để trả lời Sự miễn cưỡng khi phải đứng lên trả lời khiếncác em trả lời trên tinh thần đối phó, qua loa Không phải không có những họcsinh xung phong phát biểu và trả lời xuất sắc, nhưng, những trường hợp đó gầnnhư cá biệt Vào những câu hỏi tái hiện các em chỉ việc đọc lại sách giáo khoa.Còn những câu hỏi yêu cầu có sự suy nghĩ, tư duy, phân tích thì hầu như các emđứng yên hoặc nếu có trả lời thì nhanh cho xong Có lẽ giáo viên chưa gợi đượchứng thú học tập cho các em, chưa tạo được tâm thế hứng khởi cho giờ học,chưa khuyến khích được sự tích cực, năng động trong tư duy của học sinh

Cách dạy và học như vậy nên các kỹ năng tự học môn Ngữ văn của học sinhcòn nhiều hạn chế

Sau đây là kết quả khảo sát mức độ thực hiện các kỹ năng tự học được thực hiện tại lớp 11b6 Năm học 2019- 2020 - Đơn vị (%)

biết Đối phó

Chưathành thạo

Thàn

h thạo

Trang 8

Kỹ năng ôn tập 11,8 19,5 51,3 17,4

Kỹ năng hoàn thiện các bài tập 12,4 38,6 19,8 29,2

Kỹ năng thu thập tài liệu học tập 5,9 30,4 44,2 19,5

Kỹ năng sử dụng sơ đồ tư duy 11,3 22,1 35,3 31,3

thành quá trình tự đào tạo”

2.3 Các giải pháp:

2.3.1 Xây dựng các chuyên đề học tập phù hợp với đặc trưng bộ môn và

khả năng tiếp nhận của học sinh.

Xác lập phạm vi kiến thức: Phạm vi kiến thức của một chuyên đề khá

rộng, mang tính khái quát hơn rất nhiều so với nội dung kiến thức trong giáo áncủa bài dạy Do vậy khi soạn bài theo chuyên đề phải rất công phu, phải có cáchnhìn bao quát diện rộng của chương trình môn học Điều này đòi hỏi giáo viênphải có năng lực khái quát hóa vấn đề Cụ thể đối với chương trình Ngữ văn 11

có thể xây dựng, hệ thống hóa kiến thức theo các chuyên đề trong đó phạm vikiến thức bao quát toàn cấp học vừa mang tính chất hệ thống hóa, củng cố ôn

Trang 9

tập vừa mang tính rèn luyện kỹ năng làm văn, cảm thụ văn học để tạo tiền đềcho bậc học cao hơn.

Đối với lớp 11 có thể củng cố kiến thức về các thể loại văn học, nội dung

tư tưởng, đặc điểm thi pháp của một giai đoạn văn học, các phương thức biểuđạt trong văn bản Sau khi nghiên cứu kỹ mục đích, yêu cầu học tập môn NgữVăn, tổ chuyên môn Ngữ văn trường THPT Lam Kinh đã xây dụng khungchương trình dạy học môn Ngữ Văn 11 với các chuyên đề chính như sau(Chương trình đã được ban chuyên môn của nhà trường và Sở GD&ĐT ThanhHóa phê duyệt):

- Truyện ký Trung đại Việt Nam

- Truyện thơ Nôm

- Văn tế Trung đại

- Thơ trung đại Việt Nam

- Hát nói trung đại.

- Tiếng Việt: Phong cách chức năng ngôn ngữ; Các biện pháp tu từ; Ngôn

ngữ chung và lời nói cá nhân; Ngữ cảnh

- Tiếng Việt: Phân loại văn bản; Thực hành các kiểu câu trong văn bản.

- Khái quát VHVN từ đầu TK XX đến cách mạng tháng Tám 1945

- Thơ ca hiện đại: Thơ mới

- Truyện hiện đại: Hai đứa trẻ, Chữ người tử tù, Số đỏ, Chí Phèo

- Làm văn : Phân tích đề, lập dàn ý; các thao tác lập luận

- Thao tác lập luận trong văn nghị luận

- Phong cách ngôn ngữ chức năng

- Các kiểu văn bản

- Nghị luận hiện đại: Một thời đại trong thi ca

- Kịch hiện đại: Vũ Như Tô

- Lý luận văn học

Với cách phân chia bài học theo chủ đề như trên, chúng ta sẽ có rất nhiềuchủ đề dạy học theo nhiều tiêu chí khác nhau Vì vậy, hãy chọn một tiêu chí để

từ đó, xây dựng các chủ đề dạy học theo định hướng

Mục tiêu của là qua các chủ đề dạy học, phát triển phẩm chất, năng lựccủa học sinh Cho nên, mỗi chủ đề dạy học được chọn, cần phải bám sát mụctiêu này Chẳng hạn:

- Phân môn Đọc văn, nếu chọn Chủ đề Thơ hiện đại Việt Nam 1930 –

1945, giáo viên phải thông qua việc hướng dẫn học sinh đọc hiểu văn bản cáctác phẩm, đoạn trích, giúp học sinh hình thành và phát triển những phẩm chấtnhư lòng yêu nước, tình yêu quê hương, ý thức trách nhiệm với đất nước, lốisống ân tình thủy chung

- Phân môn Tiếng Việt, nếu chọn Chủ đề biện pháp tu từ, giáo viên phảihình thành và phát triển được năng lực phát hiện, phân tích các biện pháp tu trongvăn bản, từ đó, hình thành ở học sinh năng lực nói, viết không chỉ đúng mà cònphải hay; Đồng thời, qua đó cũng bồi dưỡng ở các em tình yêu đối với tiếng Việt

- Phân môn Làm văn, nếu chọn Chủ đề Phuơng pháp lập luận, giáo viênphải hình thành và phát triển, rèn luyện cho học sinh năng lực kết hợp các thao

Trang 10

tác lập luận khi trình bày một vấn đề xã hội hay văn học có sức thuyết phục đốivới người đọc, người nghe.

Áp dụng phương pháp dạy học theo chủ đề vào lớp mình phụ trách, tôithấy được hiệu quả bước đầu rất đáng kể: Giáo viên được chủ động, linh hoạtđiều chỉnh trình tự tiết dạy, điều chỉnh thời lượng cho từng bài phù hợp với từngđối tượng học sinh Việc dạy học theo chủ đề đã tạo cho học sinh nhiều hứngthú Các kiến thức được tập hợp theo hệ thống logic khiến việc tiếp thu, vậndụng dễ dàng, linh hoạt hơn

2.3.2 Xác lập quy trình rèn luyện kỹ năng tự học cho học sinh.

Theo từ điển Tiếng Việt “Rèn luyện là luyện tập nhiều trong thực tế để đạt tớinhững phẩm chất hay trình độ vững vàng thông thạo” Một kỹ năng được hìnhthành cần trải qua nhiều giai đoạn: quan sát mẫu, làm thử và cuối cùng là tiếnhành luyện tập Nói một cách khác, để có được một kỹ năng, phải trải qua 3 giaiđoạn: hình thành, phát triển, luyện tập Rèn luyện là một hoạt động tiến hànhđan xen, đồng thời với 3 giai đoạn này Muốn hình thành một kỹ năng nóichung, kỹ năng tự học nói riêng, học sinh phải làm thử, làm đi làm lại nhiều lần.Khi kỹ năng bước đầu hình thành, tiến hành rèn luyện nhiều lần trong một thờigian nhất định thì kỹ năng mới ổn định và phát triển Sau đó, phải tiến hành rènluyện thường xuyên, đều đặn thì kỹ năng mới phát triển thuần thục, tạo cơ sởphát triển thành kỹ xảo Việc rèn luyện đạt kết quả cao hay thấp phụ thuộc vàonhiều yếu tố, trong đó sự nỗ lực của người học, giữ vai trò quyết định Từng kỹnăng tự học rèn luyện cho HS cần được cụ thể hóa thành các bước vì chỉ khi rènluyện theo các bước mới có cở sở để hình thành, phát triển và luyện tập kỹ năng.Đối với các chuyên đề cụ thể của chương trình Ngữ văn 11, ban đầu, người giáoviên phải thiết kế chương trình mẫu, trình bày, hướng dẫn cách làm thật chi tiết

để học sinh nắm vững kiến thức, các kỹ năng tự học: Lập kế hoạch, đọc sách,ghi chép, ghi nhớ, ôn tập, tự kiểm tra …

2.3.3 Rèn luyện kỹ năng tự học ở trên lớp.

Người dạy tổ chức cho học sinh tự lĩnh hội nền văn hóa xã hội chứ khônglàm thay học sinh trong việc lĩnh hội đó Sự giúp đỡ của giáo viên đối với họcsinh trong dạy học là giúp đỡ về phương pháp học, giáo viên giúp học sinh vềcách thức tự học Như vậy, bản chất của hoạt động dạy học để

học sinh tự học là dạy cách học, các kỹ năng tự học

Người thầy phải biết cách tổ chức các hoạt động học tập nhằm tích cựchóa tính tự lực, sáng tạo, chủ động phát hiện và tìm ra kiến thức của người học.Muốn vậy người thầy phải “đổi mới phong cách dạy”, điều này chỉ thực hiệnđược khi tích cực hóa các phương pháp, kĩ thuật, cách đánh giá theo quan điểmđổi mới của Đảng và Nhà nước

2.3.3.1 Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân.

Rèn luyện kỹ năng tự học theo cá nhân giáo viên cần giảm tối đa phương

Trang 11

pháp độc thoại thuyết trình “lấy người dạy là trung tâm”, thay vào đó là sử dụngcác phương pháp, kĩ thuật tăng cường hoạt động độc lập nhận thức của bản thântừng học sinh để các em tích cực “động não”, tự lực suy nghĩ phát

hiện và giải quyết vấn đề

- Phương pháp đàm thoại gợi mở.

Định nghĩa: “ Phương pháp đàm thoại gợi mở là phương pháp giáo viên khéoléo đặt hệ thống câu hỏi để học sinh trả lơi nhằm gợi mở cho học sinh sáng tỏnhững vấn đề mới bằng sự tái hiện những tài liệu đã học hoặc từ những kinhnghiệm đã tích lũy được trong cuộc sống, nhằm giúp HS củng cố, mở rộng, đàosâu, tổng kết, hệ thống hóa tri thức đã tiếp thu được nhằm mục đích kiểm tra,đánh giá và giúp học sinh tự kiểm tra, đánh giá việc lĩnh hội tri thức, kỹ năng, kĩxảo trong quá trình học.” [5]

Những yêu cầu cơ bản trong việc sử dụng phương pháp đàm thoại + Giáo viên cần sử dụng linh hoạt các hình thức đàm thoại phù hợp vớithời gian, không gian, mục đích, nội dung giáo dục Khi kết thúc đàm thoại, họcsinh “có vẻ” như tìm ra chân lý và chính khía cạnh này đã tạo ra cho người họcniềm vui sướng của nhận thức, một tình cảm tốt đẹp cần phát triển

ở người học

+ Yêu cầu đối với việc vận dụng phương pháp đàm thoại:

* Giáo viên phải đặt câu hỏi cho toàn lớp rồi mới chỉ định học sinh trả lời.Khi một học sinh trả lời xong, cần yêu cầu những em khác nhận xét, bổ sung,sửa chữa câu trả lời nhằm thu hút sự chú ý lắng nghe câu trả lời của bạn với tinhthần phê phán Qua đó kích thích hoạt động chung của cả lớp

* Giáo viên cần lắng nghe khi học sinh trả lời, nếu cầu thiết đặt thêm câu hỏiphụ, câu hỏi mở dẫn dắt học sinh để trả lời câu hỏi chính được tốt hơn

* Cần tôn trọng ý kiến của học sinh: Có thái độ bình tĩnh khi học sinh trảlời sai hoặc thiếu chính xác, tránh thái độ nôn nóng, vội vàng, cắt ngang ý kiếncủa học sinh khi không cần thiết Chú ý nhận xét, uốn nắn, nhận xét, bổ sungcâu trả lời của học sinh, giúp các em hệ thống hóa tri thức tiếp thu

được trong quá trình đàm thoại

* Cần chú ý sử dụng mọi biện pháp thúc đẩy học sinh mạnh dạn nêu thắc mắc

và khéo léo sử dụng thắc mắc đó để tạo nên tình huống vấn đề và thu hút toànlớp tham gia thảo luận, tranh luận để giải quyết vấn đề đó

* Tạo ra không khí thoải mái trong lớp học để học sinh không quá lo ngạikhi trả lời, các học sinh kém không mặc cảm về trình độ của mình

* Khuyến khích, động viên sự cố gắng của học sinh Nếu chúng ta tin ở sự

cố gắng của học sinh thì các em thêm nỗ lực phấn đấu, không nản chí Giáo viênnên trân trọng mỗi tiến bộ dù chỉ rất nhỏ của các em song, không

nên quá lạm dụng lời khen

Trang 12

- Các bước học sinh thường phải trải qua để trả lời câu hỏi yêu cầu cao về mặtnhận thức Theo Gall, học sinh thường phải qua 5 bước để trả lời câu hỏi

yêu cầu cao về mặt nhận thức

+ Bước 1: Chăm chú theo dõi câu hỏi

+ Bước 2: Nắm vững nội dung yêu cầu của câu hỏi

+ Bước 3: Trả lời thầm trong ý nghĩ (chưa thành lời)

+ Bước 4: Hình thành câu trả lời công khai

+ Bước 5: Xem lại câu trả lời của chính mình khi nghe câu trả lời của bạn hoặc nghe lời nhận xét của giáo viên đối với câu trả lời của bạn

Ví dụ: Với chuyên đề đọc hiểu truyện hiện đại Việt Nam – Tác phẩm “Hai đứa trẻ”, giáo viên lấy một đoạn văn bất kỳ trong tác phẩm và đặt câu hỏi:

* Cho biết văn bản trên nói về điều gì?

* Hãy xác định và nêu ý nghĩa tác dụng của biện pháp tu từ trong văn bản.

* Cho biết các phương thức biểu đạt trong văn bản và phương thức biểu đạt nào là chủ yếu?

* Nhận xét gì về nét đặc sắc nghệ thuật trong văn bản trên?

- Phương pháp hướng dẫn học sinh khai thác tri thức từ tài liệu học tập.

Trong thời đại cách mạng công nghệ hiện nay, tri thức của nhân loại được lưutrữ rất đa dạng trên các phương tiện: Sách báo, tạp chí, Internet… Giáo viên cầnnhấn mạnh cho học sinh thấy rằng, kiến thức môn học không chỉ gói gọn trongnội dung sách giáo khoa, trong bài giảng của thầy cô mà đến từ nhiều nguồnkhác nhau Do đó, thường xuyên giới thiệu cho học sinh những cuốn sách hay,những tài liệu bổ ích liên quan đến môn học và khuyến khích các em tự tìmkiếm, tự phân tích và tổng hợp kiến thức Cũng có thể giới thiệu địa chỉ một sốtrang web chuyên ngành, hoặc các trang diễn đàn trao đổi kinh nghiệm học tập

để các em tham khảo thêm

Đối với các chuyên đề Ngữ văn 11, tôi giới thiệu cho học sinh tìm đọc các

cuốn sách: “Thi nhân Việt Nam” – (Hoài Thanh – Hoài Chân); “Nhà văn hiện đại” – (Vũ Ngọc Phan); Nhà văn – Chân dung và phong cách –

(Nguyễn Đăng Mạnh); Các tuyển tập thơ, truyện của các tác giả…

Trên mạng Internet, sóng truyền hình, tôi lưu ý cho học sinh về cácchương trình “Văn hóa nghệ thuật”; “Việt Nam quê hương tôi” … Mỗi chươngtrình, bài viết, học sinh chú ý lưu tâm những thông tin cơ bản về cuộc đời, sựnghiệp, phong cách sáng tác của các nghệ sĩ rồi đối chiếu với những kiến thứctrong sách giáo khoa để ghi nhớ, mở rộng, nâng cao vấn đề

- Phương pháp/ kĩ thuật động não:

Khái niệm: “Là loại phương pháp dùng để giải quyết nhiều loại vấn đề khác nhau, giúp người học trong một thời gian ngắn nảy sinh được nhiều ý tưởng, nhiều giả định về một vấn đề nào đó” [6]

- Cách sử dụng

+ Bước 1: GV lựa chọn và nêu vấn đề cần tìm hiểu cho học sinh

+ Bước 2: Khích lệ học sinh phát biểu và đóng góp ý kiến

+ Bước 3: Liệt kê tất cả mọi ý kiến của học sinh viết lên bảng hoặc giấy

to, không loại trừ một ý kiến nào, trừ trường hợp trùng lặp

Trang 13

+ Bước 4: Làm sáng tỏ những ý kiến chưa rõ ràng và thảo luận sâu từng ý + Bước 5: Tổng hợp ý kiến từ mọi người xem có thắc mắc, bổ sung gì không.

Ví dụ: Trong chuyên đề Thơ hiện đại Việt Nam, nói đến Huy Cận, Xuân Diệu là

nói đến những nỗi sầu muộn triền miên, vạn kỷ Giáo viên có thể hỏi: Tại sao những nỗi buồn trong lòng thi nhân cũng là biểu hiện của niềm khát khao giao cảm với cuộc đời?

- Những điều cần lưu ý khi sử dụng hương pháp này: + Phương pháp động não có thể dùng để lý giải một vấn đề nào đó songđặc biệt phù hợp với các vấn đề ít nhiều đã quen thuộc trong thực tế

của người học

+ Các ý kiến phát biểu cần ngắn gọn, nên bằng một từ hay một câu ngắn + Hoan nghênh tất cả mọi ý kiến, không phê phán, nhận định đúng, sai + Cuối giờ động não, nên nhấn mạnh kết luận nào là kết quả của sự thamgia chung của mọi người

+ Các giờ hoc động não có thể bị quá trớn, trở nên om sòm và căng thẳng,không được việc nào trọn vẹn trừ việc tạo ra nhiễu loạn Vì vậy, yêu cầu giáoviên phải nghiêm khắc khi định áp dụng quy trình này và thiết lập

các chuẩn ngay từ đầu để học sinh hiểu rõ ràng

- Sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy để rèn luyện kỹ năng tự học cho

học sinh.

- Vai trò của sơ đồ tư duy

Phát hiện ban đầu của GS Roger Sperry thuộc đại học California cho thấyhai vỏ bán cầu não có khuynh hướng phân chia thành hai nhóm có chức năng tưduy khác nhau Từ trước tới nay, trong quá trình học tập hầu hết học sinh mớichỉ sử dụng một nửa của bộ não- não trái, mà rất ít sử dụng các kỹ năng của nãophải nơi giúp người học xử lý các thông tin về nhịp điệu, màu sắc, không gian,

sự mơ mộng Hay nói cách khác, học sinh mới sử dụng 50% khả năng của bộnão khi ghi nhận thông tin Sử dụng sơ đồ tư duy giúp người học tận dụng cácchức năng của não trái lẫn não phải khi học Đây là một kĩ thuật hình họa đóngvai trò là “chìa khóa vạn năng để khai phá tiềm năng của bộ não” Theo TonyBuzan thì “một hình ảnh có giá trị hơn cả ngàn từ” và “màu sắc cũng có tácdụng kích thích não như hình ảnh Màu sắc mang đến cho sơ đồ tư duy nhữngrung động cộng hưởng, mang lại sức sống và năng lượng vô tận cho tư duy sángtạo” [7]

Ví dụ: Về cuộc đời và quá trình tha hóa của Chí Phèo

Chí Phèo: - Trước khi đi tù

- Đi Tù về

- Qua bàn tay Bá Kiến

-

Ngày đăng: 20/05/2021, 21:13

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w