1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương chất khí vật lý 10 trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh ở trường THPT sầm sơn

29 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 29
Dung lượng 613,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số giáo án giảng dạy chương “ Chất khí ” theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy...11 2.4.. [1] Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8

Trang 1

MỤC LỤC

1 Mở đầu 1

1.1 Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm 3

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm 3

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 4

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 5

2.3.1 Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 5

2.3.2 Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh chương “chất khí” vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 8

2.3.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài dạy chương “Chất khí ” Vật lý 10 THPT theo hướng tăng cường phát triển năng lực tự học với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 9

2.3.4 Một số giáo án giảng dạy chương “ Chất khí ” theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy 11

2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 16

3 Kết luận, kiến nghị 18

3.1 Kết luận 18

3.2 Kiến nghị 18

Tài liệu tham khảo

Trang 3

1 Mở đầu.

1.1 Lí do chọn đề tài.

Ở nước ta, khả năng, năng lực tự học đã được phát huy qua nhiều thời kìlịch sử tuy nhiên vẫn chỉ mang tính cá nhân Hiện nay, với việc mở lớp học thêmtràn lan trong khi kết quả của học sinh (HS) không cao và hoàn toàn phụ thuộcvào giáo viên (GV) qua đó mất hẳn hoặc mai một đi khả năng tự học của họcsinh Giáo dục thế kỉ XXI đang đứng trước những cơ hội và thách thức lớn: Sựphát triển nhảy vọt của khoa học và công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin

và truyền thông đang đưa nhân loại bước đầu quá độ sang nền kinh tế tri thức

Xu thế hội nhập, toàn cầu hóa, dân chủ hóa, đại chúng hóa… mạnh mẽ đangdiễn ra trên thế giới, tác động đến sự phát triển giáo dục của nước ta Trước bốicảnh quốc tế đó, triết lý về giáo dục cho thế kỷ XXI có những biến đổi to lớn,được thể hiện vào tư tưởng chủ đạo là lấy “học thường xuyên suốt đời” làm nềnmóng, dựa trên các mục tiêu tổng quát của việc học là: học để biết, học để làm,học để chung sống cùng nhau và học để tự khẳng định hướng tới xây dựng một

“xã hội học tập” [1] Trong nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XI về đổimới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo đã đề cập đến chín nhóm nhiệm vụ

và giải pháp quan trọng, trong đó có nhóm giải pháp: “ Tiếp tục đổi mới mạnh

mẽ phương pháp (PP) dạy và học theo hướng hiện đại ; phát huy tính tích cực,chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lốitruyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc.Tập trung dạy cách học, cáchnghĩ, khuyến khích tự học (TH) tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mớitri thức, kỹ năng, phát triển năng lực (NL)”

Mục tiêu lớn nhất, bao trùm hết thảy trong công cuộc cải cách giáo dục từnăm học 2002- 2003 đến nay là biến quá trình đào tạo thành quá trình tự đàotạo Nói cách khác là thông qua dạy học, giáo viên cần trang bị cho học sinhphương pháp học tập, là công cụ để học sinh học tập suốt đời

Thực tiễn dạy học nhiều năm tôi nhận thấy: Học sinh chúng ta gặp rấtnhiều khó khăn trong việc ghi nhớ hàng đống kiến thức trong hàng chục mônhọc khác nhau Nếu giáo viên yêu cầu học sinh học thuộc lòng kiến thức nhưngchưa chú ý rèn luyện cho học sinh phương pháp học để tự mình ghi nhớ kiếnthức là chưa đạt được mục tiêu giáo dục đã đề ra

Phần lớn học sinh phải học vẹt, ghi nhớ máy móc để trả bài lấy điểmtrong tiết học sau; rồi sau đó quên rất nhanh kiến thức đã học vì bài vở chồngchất mỗi ngày 5 tiết Nhiều học sinh cảm thấy mệt mỏi, quá tải trong học tập;nhiều giáo viên than phiền sao nhiều học sinh chán học, lười học, không nhớkiến thức cũ…

Mặt khác, theo các nhà nghiên cứu khoa học, với cách ghi chép thông tintruyền thống (ghi chép bằng các ký tự, đường thẳng và những con số) con ngườichỉ mới sử dụng một nửa phía bên trái của bộ não Điều đó có nghĩa là chúng tachưa hề sử dụng kỹ năng nào bên phải của não cả Trong lúc đó phía bên phảinày lại giúp con người xử lý tốt các thông tin về nhịp điệu, màu sắc không gian

Trang 4

và sự mơ mộng Nói cách khác, chúng ta vẫn đang sử dụng 50% khả năng của

bộ não để phục vụ cho việc ghi chép thông tin [2] Chính vì thế nhà khoa họcTony Buzan đã đưa ra Sơ đồ tư duy (Mind map) là để giúp con người thực hiệnđược mục tiêu tận dụng hết 50% khả năng còn lại của bộ não

Sử dụng sơ đồ tư duy (Mind mapping) (SĐTD) trong dạy học là phương

pháp dạy học tôi đã áp dụng trong thực tế dạy học môn vật lý lớp 10 ở trườngTHPT Sầm Sơn một số năm gần đây Bước đầu gặp nhiều khó khăn, bởi đây làcông cụ học tập còn khá mới mẻ Tuy nhiên, rất mừng là phần lớn học sinh, nhất

là học sinh khá, giỏi nắm bắt rất nhanh và áp dụng có hiệu quả Học sinh trungbình và yếu cảm thấy giảm bớt áp lực trong việc ghi nhớ kiến thức, việc học trởnên nhẹ nhàng hơn

Với những lí do nêu trên, tôi quyết định chọn đề tài: “ Sử dụng sơ đồ tư duy trong dạy học chương " Chất khí" Vật lý 10 trung học phổ thông theo định hướng phát triển năng lực tự học của học sinh ở trường THPT Sầm Sơn”

1.2 Mục đích nghiên cứu.

Tạo cho học sinh sự hứng thú tích cực trong học tập, suy nghĩ độc lập, sửdụng câu văn xúc tích ngắn gọn đầy hình tượng trong việc trình bày lại kiến thứcvừa học xong một bài vật lí Đồng thời cũng tạo cơ hội đồng nghiệp trao đổikinh nghiệm và học hỏi lẫn nhau

Đề xuất được quy trình dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự họcthông qua việc sử dụng SĐTD cho HS chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Hoạt động dạy học chương “Chất khí” Vật lý 10 THPT theo định hướngphát triển năng lực tự học cho HS với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

1.4 Phương pháp nghiên cứu.

* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước cùng với các chỉthị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông, phát triểnNLTH của HS

- Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Bộ trưởng

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Quan sát hoạt động dạy và học của giáo viên và học sinh trong giờ học vật lý ở

trường THPT Sầm Sơn – Thanh Hóa Trao đổi trực tiếp với giáo viên và họcsinh

Trang 5

* Phương pháp thống kê toán học.

- Sử dụng phương pháp thống kê toán học để xử lý kết quả thử nghiệm sư phạm

và kết quả điều tra để rút ra những kết luận về sự khác nhau trong kết quả họctập của hai nhóm: nhóm đối chứng và nhóm thực nghiệm

2 Nội dung sáng kiến kinh nghiệm

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm.

Sơ đồ tư duy là gì? Có thể đưa ra một định nghĩa mang tính khái quát

như sau: Sơ đồ tư duy là một công cụ tổ chức tư duy Đây là con đường thuậntiện và phương pháp dễ nhất để chuyển tải thông tin vào bộ não của con ngườirồi đưa thông tin ra ngoài bộ não Nói cụ thể hơn, đây là một phương tiện ghichép đầy sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó - sắp xếp tất cả những

ý nghĩ của con người

Sơ đồ tư duy có tác dụng gì trong môn vật lý? Qua thực tế giảng dạy,

tôi thấy với cách thể hiện gần như là một cơ chế hoạt động của bộ não, Sơ đồ tưduy sẽ giúp giáo viên sáng tạo hơn trong khi tái hiện kiến thức, tiết kiệm hơntrong quá trình tìm tư liệu và thiết kế bài soạn Ngoài ra, Sơ đồ tư duy không chỉghi nhớ tốt bài học mà còn giúp HS nhìn thấy được một bức tranh tổng thể của

hệ thống bài giảng Bản đồ này còn có chức năng tổ chức và phân loại suy nghĩcủa con người theo từng cấp độ khác nhau Để tóm tắt toàn bộ tri thức trongchương “chất khí” (Vật lý lớp 10), giáo viên có thể sử dụng Sơ đồ tư duy với từkhóa trung tâm là “Chất khí”, xung quanh nó là những từ khóa cấp 1 Sau đó đềnghị các em HS tiếp tục điền thêm các từ khóa cấp độ nhỏ hơn như cấp 2, cấp3…

Nguyên lý và ứng dụng Sơ đồ tư duy là một hình thức ghi chép: sử dụng

ghi chép, sử dụng màu sắc và hình ảnh để mở rộng và đào sâu các ý tưởng Kỹthuật “đẻ” ra loại bản đồ này được gọi là Mind Mapping và có cơ sở từ ý tưởngcủa nhà nghiên cứu khoa học Tony Buzan vào những năm 1960 Ở vị trí trungtâm bản đồ là một hình ảnh hay một từ khóa thể hiện ý tưởng hay khái niệm chủđạo Ý trung tâm này sẽ được nối với các hình ảnh hay từ khóa cấp I bằng các

“nhánh cây” chính và từ các nhánh chính lại có sự phân nhánh đến các từ khóacấp 2 để nghiên cứu sâu hơn Cứ thế, sự phân nhánh tiếp tục tiếp diễn và cáckhái niệm hình ảnh luôn được kết nối với nhau Chính sự liên kết này sẽ tạo nênmột bức tranh tổng thể mô tả về ý trung tâm một cách đầy đủ và rõ ràng

Vậy những yếu tố nào đã làm cho Sơ đồ tư duy có tính hiệu quả cao vànền tảng của chúng là gì? Hệ quả cho thấy từ Sơ đồ tư duy trước hết là đã thểhiện ra bên ngoài cách thức mà não bộ chúng ta hoạt động Đó là liên kết và sựliên kết Mọi thông tin tồn tại trong não bộ của con người đều cần có các mốinối, những “sợi dây liên kết” để có thể được tìm thấy và sử dụng Khi có mộtthông tin mới được “nhập kho” để được lưu trữ và tồn tại chúng cần được “buộcchặt” và kết nối với các thông tin cũ đã tồn tại trước đó Việc sử dụng các từkhóa, chữ số, màu sắc và hình ảnh đã đem lại một công dụng lớn vì đã huy độngđược cả bán cầu đại não trái và phải hoạt động chứ không riêng lẻ như trước

Trang 6

đây Sự phối hợp đồng bộ này sẽ làm tăng cường các liên kết giữa hai bán cầunão và cho được kết quả tăng cường trí tuệ và tính sáng tạo của chủ nhân bộ não.Việc sử dụng các phần mềm sẽ làm cho công việc lập Sơ đồ tư duy dễ dàng vàlinh hoạt hơn, đồng thời đây cũng là một bước tiến trong việc ứng dụng CNTTtrong dạy học nhằm nâng cao hiệu quả dạy và học bộ môn vật lý và các môn họckhác trong chương trình THCS.

Sơ đồ tư duy có thể phân loại như sau:

Sơ đồ tư duy tổng quát dạng đề cương: Giúp học sinh nắm được số liệu

kiến thức để chuẩn bị cho kì thi, không đi sâu vào chi tiết từng nội dung

Sơ đồ tư duy theo chương :Tập trung thông tin của từng chủ đề kiến

thức, mô tả đầy đủ thông tin chính và phụ cho từng chương hay chủ đề kiếnthức

Sơ đồ tư duy theo đoạn văn hay bài học: Giúp học sinh tóm tắt kiến thức

trong một tiết học thành một sơ đồ tí hon nhưng chứa đựng đầy đủ các thông tin

cơ bản và chi tiết trong bài học đó

Theo tôi, sơ đồ tư duy còn có thể triển khai theo hướng phân tích, tổnghợp nhằm định hướng giải quyết bài toán phức tạp qua nhiều bước, nhiều nội

dung phải giải quyết Tôi tạm đặt sơ đồ tư duy này là: Sơ đồ tư duy phân tích, tổng hợp.

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Việc học tập của học sinh chúng ta hiện nay chưa được giáo viên quantâm nhiều tới phương pháp học Giáo viên chỉ tập trung chú ý đến phương pháptruyền đạt của mình có phù hợp với cả ba đối tượng học sinh không; có bámchuẩn kiến thức kỹ năng không So với giáo dục các nước phát triển chungquanh như Singapor, Mã Lai, Hồng Kông phương pháp dạy học của chúng ta đãchậm hàng thập kỷ

Bởi vậy nhiều học sinh khả năng tự học chưa tốt, việc học thiếu sáng tạo;phương pháp chủ yếu là học thuộc lòng phần nội dung giáo viên cho ghi tại lớp.Kiến thức nào cũng quan trọng và cần phải được ghi đầy đủ, không thể bỏ sót.Kết quả là nhiều học sinh cảm thấy quá tải trong việc ghi nhớ kiến thức; việchọc trở nên nặng nề kém hấp dẫn; nhất là đối với học sinh trung bình và yếu

Mặc dù GV được tập huấn nhiều lần về các kĩ thuật dạy học trong đó có

sử dụng sơ đồ tư duy nhưng nhiều giáo viên còn e dè và gặp khó khăn trong việc

tổ chức hoạt động dạy học trên lớp với việc thiết kế và sử dụng sơ đồ tư duy

Kĩ thuật dạy học sơ đồ tư duy không phải là mới nhưng nó chưa thực sựđược áp dụng rộng rãi trong dạy học nên HS còn lúng túng trong việc tiếp thu vàhọc tập

- Khi chưa áp dụng đề tài việc nắm kiến thức của học sinh ở bài tổng kếtchương “chất khí” được thể hiện qua các bài khảo sát vào tháng 4 năm học 2019

- 2020, Vật lí ở lớp 10 như sau:

Trang 7

học bài

kiểmtra

2.3 Các sáng kiến kinh nghiệm hoặc các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

Trong giải pháp này tôi đưa ra một số kinh nghiệm xây dựng sơ đồ tư duytrong quá trình dạy học vật lý trong một tiết bằng sơ đồ tư duy

Sơ đồ tư duy mỗi người tạo ra là sản phẩm sáng tạo mang dấu ấn cá nhânđộc đáo.Học sinh trong một lớp, mỗi em có một sơ đồ riêng của mình, tôikhuyến khích sáng tạo cá nhân.Tuy nhiên các bước đi để xây dựng sơ đồ tư duy

là tương tự nhau, giải pháp này tập trung vào các bước để tạo lập sơ đồ tư duyđó

Sau đây là một số gợi ý đúc rút từ thực tiễn dạy học của tôi trong thời gianchưa dài

2.3.1 Các biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy.

Trong quá trình dạy học, GV rất coi trọng việc rèn luyện kĩ năng cho HS,nhất là KNTH ngang tầm với việc truyền thụ kiến thức cho HS Nếu như trongnhà trường, GV chỉ dạy HS những nguyên tắc đại cương, thì khi vào đời các em

sẽ không ứng xử được những tình huống phức tạp và đa dạng Thực tế đó, đặt racho GV nhiệm vụ phải rèn luyện những KNTH cho HS bên cạnh việc truyền thụkiến thức, để các em có cơ hội tự hoàn thiện bản thân mình nhằm đáp ứngnhững nhu cầu của thực tiễn

2.3.1.1 Rèn luyện kỹ năng thu thập thông tin:

Quá trình tự học chỉ thật sự hiệu quả cao khi người học thu thập thông tintốt Thu thập thông tin là một trong những bước khá cơ bản, nó góp phần quyếtđịnh đến chất lượng của vấn đề cần nghiên cứu

 Rèn luyện kỹ năng đọc hiệu quả

Để việc đọc sách, tài liệu đạt hiệu quả, đầu tiên phải xác định mục đích,nhiệm vụ, yêu cầu học tập: Đọc đoạn (mục) này để làm gì?; Đọc để trả lờinhững câu hỏi nào?; Lựa chọn nội dung nào cần đọc?; Căn cứ vào quỹ thời giancho phép thì đọc như thế nào? GV hướng dẫn phương pháp đọc này như sau:

- Sử dụng một cây bút chì để dẫn đường khi đọc Đường dẫn ánh mắt khiđọc sách

- Tìm hiểu những ý chính và đánh dấu các từ khóa

Trang 8

- Đọc phần tóm tắt chương ở cuối mỗi chương trong SGK, tài liệu trước

để xác định được kiến thức trọng tâm của chương mà người đọc cần chú ý

 Rèn luyện kĩ năng quan sát, phân tích hình ảnh, hình vẽ

Có thể rèn luyện cho HS kĩ năng này theo các bước như sau:

- Cho HS quan sát hình ảnh, hình vẽ, xác định các đối tượng được thểhiện trong hình

- Hướng dẫn HS quan sát chi tiết hình ảnh đó bằng những câu hỏi gợi ý,tập trung vào những đối tượng đặc trưng nhất của hình đó

- Đối chiếu với bài đọc chính trong SGK để bổ sung thêm những chi tiếtcủa đối tượng trong trường hợp hình ảnh chưa nêu rõ

- Cuối cùng, hướng dẫn HS tổng kết, tóm tắt nội dung hình ảnh và khắcsâu kiến thức

Ví dụ: Khi dạy bài “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” mục 1 có thể tiến hànhnhư sau: GV yêu cầu HS quan sát thí nghiệm về “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt”,nhận xét về sự thay đổi của áp suất và thể tích khi:

a) Khi đẩy Pít – tông xuống

b) Khi kéo Pít – tông lên

Sau khi HS quan sát TN và gạch dưới những từ khóa mô tả TN, GV yêucầu HS trả lời hai câu hỏi nêu trên Từ đó, phát biểu được ĐL Bôi-Lơ – Ma-ri-

ốt Dựa trên những câu hỏi định hướng đó HS sẽ tiến hành thu thập thông tin để

xử lí thông tin Thông qua các hoạt động thu thập thông tin đó thì các kỹ năngthu thập thông tin tương ứng sẽ được hình thành Việc rèn luyện kỹ năng thuthập thông tin giúp phát triển được năng lực nhận biết tìm tòi và phát hiện vấn

đề cho HS

2.3.1.2 Rèn luyện kỹ năng ghi chép, tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy.Sau khi thu thập thông tin (thông qua việc đọc sách, quan sát hình ảnh ) thìviệc tiếp theo của HS là ghi chép lại các thông tin đó bằng công cụ SĐTD GV

có thể rèn luyện kĩ năng này cho HS theo từng bước như sau:

- Hướng dẫn cách xây dựng SĐTD cho HS

- Hướng dẫn HS xác định chủ đề, tập hợp các từ khóa, hình ảnh minh họa

- Hướng dẫn HS xác định mối liên hệ giữa chủ đề với các ý chính, các chitiết phụ trợ

- Tổ chức cho từng HS, từng nhóm HS sử dụng SĐTD để ghi chép, tómtắt thông tin đó (có thể yêu cầu cá nhân HS thực hiện ở trường lẫn ở nhà)

Ví dụ: Sau khi hướng dẫn HS đánh dấu từ khóa và quan sát thí nghiệm

GV có thể hướng dẫn HS tóm tắt kiến thức bài “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt”.SĐTD phần I “Định luật Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” GV nên thường xuyên sử dụngSĐTD ghi chép, tóm tắt, hệ thống hóa kiến thức VL sau mỗi bài học, mỗichương học để HS có cái nhìn khái quát toàn bộ kiến thức của bài học, chươnghọc Việc rèn luyện kỹ năng ghi chép, tóm tắt thông tin bằng sơ đồ tư duy giúpphát triển được năng lực nghe giảng và ghi chép cho HS

2.3.1.3 Rèn luyện kỹ năng xử lí thông tin (phân tích, so sánh, tổng hợp)với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

Trang 9

Quá trình tự học không phải chỉ thu nhận tri thức mà cần biến những trithức này thành tri thức của riêng bản thân người học GV có thể rèn luyện kĩnăng này cho HS như sau:

- Phân tích những thông tin thu thập được và sắp xếp thông tin phù hợpvới từng loại kiến thức cũng như phù hợp với mục đích nghiên cứu

- Lập SĐTD về nội dung cần nghiên cứu

+ Xác định mối liên hệ giữa chủ đề với các ý chính, các chi tiết phụ trợ +

Vẽ SĐTD theo chủ đề ở trên Việc xử lí thông tin thu nhận được với sự hỗ trợcủa công cụ SĐTD của HS sẽ gặp nhiều thuận lợi vì khi đó việc phân tích, tổnghợp, so sánh thông tin trở nên dễ dàng hơn Chẳng hạn như, khi phân tích, sosánh ba định luật “Bôi-Lơ – Ma-riốt” “Sác - Lơ”, “ Gay Luy - Xác” thì HS cóthể xây dựng SĐTD so sánh ba định luật “Bôi-Lơ – Ma-ri-ốt” ,“Sác - Lơ” và “Gay Luy - Xác”

Nhờ sử dụng nhiều kí hiệu, hình vẽ, màu sắc cùng với sự sắp xếp thôngtin hợp lí giúp HS nhớ những thông tin đó tốt hơn hẳn so với kiểu ghi chéptruyền thống việc so sánh, phân tích tổng hợp sẽ dễ dàng hơn Nhìn vàoSĐTD trên, HS dễ dàng đối chiếu, so sánh sự giống và khác nhau giữa ba địnhluật này Việc rèn luyện kỹ năng xử lí thông tin (phân tích, so sánh, tổng hợp)với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy giúp phát triển được năng lực giải quyết vấn đềcho HS

2.3.1.4 Rèn luyện kỹ năng truyền đạt thông tin với sự hỗ trợ của sơ đồ tưduy

GV có thể hướng dẫn HS rèn luyện kĩ năng này theo trình tự như sau:

- Đọc SĐTD như hướng dẫn ở mục trước

- Hình thành sự liên kết giữa các chi tiết cần trình bày trong đầu dướidạng sơ đồ, sắp xếp thứ tự trình bày của các chi tiết này

- Từ các chi tiết, từ khóa, hình ảnh trong SĐTD diễn đạt thành lời nộidung đó Từ khóa và hình ảnh thể hiện đầy đủ thông tin cần trình bày vì vậy cầnphải khai thác triệt để thông tin trong SĐTD

- Tùy theo thời gian trình bày và yêu cầu của câu hỏi mà xác định nhữngphần nào trình bày, phần nào bỏ qua hay là trình bày tất cả

- Khi trình bày cần nhấn mạnh những chi tiết quan trọng, có sự lên xuốnggiọng hợp lí tránh việc trình bày với giọng đều đều tạo nên sự nhàm chán chongười nghe GV có thể rèn luyện kỹ năng này trong quá trình dạy học như yêucầu HS báo cáo kết quả làm việc của nhóm, nêu tóm tắt nội dung bài học dựa

Trang 10

trên SĐTD, Việc rèn luyện kỹ năng truyền đạt thông tin với sự hỗ trợ củaSĐTD giúp phát triển được năng lực làm việc theo nhóm và năng lực giải quyếtvấn đề cho HS

2.3.1.5 Rèn luyện kỹ năng giải bài tập với sơ đồ tư duy

Bài tập VL có nhiều loại như: bài tập tính toán, bài tập định tính nhưngđều có thể dùng công cụ SĐTD để hỗ trợ cho việc giải chúng trở nên dễ dànghơn Chẳng hạn như, với bài tập tính toán HS dùng SĐTD xác định các đạilượng đề bài đã cho, tìm mối liên hệ giữa chúng thông qua các khái niệm, địnhluật, thuyết VL từ đó lập luận đưa ra phương pháp tìm đại lượng mà đề bài yêucầu Còn đối với bài tập định tính, HS có thể sử dụng SĐTD để phân tích hiệntượng, đưa ra các yếu tố ảnh hưởng rồi lựa chọn yếu tố mà là nguyên nhân chínhgây ra hiện tượng đó, từ đó xác định kiến thức VL đã học để giải thích hiệntượng GV có thể hướng dẫn HS rèn luyện kỹ năng này như sau:

- Đọc kĩ đầu bài: Bài tập nói gì? Cái gì là dữ kiện? Cái gì phải tìm? sau đódùng SĐTD tóm tắt đề bài, rồi dựa vào đó phân tích, xác định mối liên hệ giữacác dữ kiện, xác định phương pháp, kiến thức cần áp dụng để giải quyết vấn đề

- Tiến hành giải bài tập để tìm kết quả

- Dựa vào SĐTD đã lập, tiến hành biện luận và kiểm tra kết quả Việc rènluyện kỹ năng giải bài tập với sự hỗ trợ của SĐTD giúp phát triển được năng lựcvận dụng tri thức vào thực tiễn cho HS

2.3.2 Tổ chức dạy học theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh chương “chất khí” vật lí 10 THPT với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy.

2.3.2.1 Cấu trúc nội dung chương “ Chất khí ” Vật lý 10 THPT

2.3.2.2 Đặc điểm kiến thức Chương “chất khí”

Có thể xem như phần mở đầu của nhiệt học Nội dung của chương đề cậpđến cấu trúc phân tử, chất khí và sự biến đổi trạng thái của chất khí Với chươngtrình Vật lý 10 THPT, các chuẩn nội dung kiến thức yêu cầu HS cần đạt được:Phát biểu được nội dung cơ bản của thuyết động học phân tử chất khí Nêu được

Trang 11

các đặc điểm của khí lí tưởng Phát biểu được các ĐL Bôi-lơ Ma- ri-ốt, Sác-lơ,Gay Luy-Xác Nêu được nhiệt độ tuyệt đối là gì Nêu được các thông số p, V, Txác định trạng thái của một lượng khí Viết được phương trình trạng thái của khí

lí tưởng pV= const T  const, phương trình Cla-pê-rôn – Men-đê-lê-ép Bêncạnh đó, HS cần có được kĩ năng: Vận dụng được phương trình trạng thái củakhí lí tưởng Vẽ được đường đẳng tích, đẳng áp, đẳng nhiệt trong hệ toạ độ (p,V) Những tính chất của chất khí được khảo sát bằng TN [2] Các thí nghiệmđược thực hiện chủ yếu dùng để minh hoạ cho các định luật với sai số khá lớn,thí nghiệm cần dùng là để định lượng nhưng thí nghiệm phổ thông còn tươngđối thô sơ, chưa có điều kiện loại bỏ những nguyên nhân dẫn đến sai lệch, chưa

kể nhiều trường vẫn chưa có hoặc chưa đủ thí nghiệm

2.3.2.3 Các đơn vị kiến thức sử dụng sơ đồ tư duy để phát triển năng lực

tự học cho học sinh trong dạy học chương “ Chất khí ” Vật lý 10 THPT

Trong chương “chất khí” có nhiều đơn vị kiến thức có thể phát triển đượcnăng lực tự học cho HS với sự hỗ trợ của SĐTD Tuy nhiên, trong khuôn khổcủa sáng kiến kinh nghiệm cũng như thời gian bị giới hạn nên chúng tôi chỉchọn một đơn vị kiến thức sau: Bài 1: Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt

2.3.3 Thiết kế tiến trình dạy học một số bài dạy chương “Chất khí ” Vật lý

10 THPT theo hướng tăng cường phát triển năng lực tự học với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy

Các định hướng có tính nguyên tắc khi xác định tiến trình dạy học, để quadạy học bồi dưỡng NLTH, tự nghiên cứu cho HS

Về kiến thức

- Trong DH, GV cần xác định đâu là kiến thức cơ bản, kiến thức cần thiết cho

HS Việc sắp xếp các kiến thức cơ bản sẽ làm nền tảng cho việc tạo nên kiếnthức mới Bản chất của quá trình dạy học và logic vận động của nó là cơ sở củaviệc sắp xếp các kiến thức cơ bản và cần thiết Nhiều nghiên cứu cho thấy khithông tin được sắp xếp theo từng bước một cách khoa học thì sẽ làm tăng hiệuquả việc đọc hiểu và nâng cao khả năng nhớ của người học, làm cho người họcnắm vững kiến thức hơn Việc làm này cũng nhằm bồi dưỡng những phẩm chất

và phát triển NLTH cho HS Tất cả các kiến thức mà người GV cần dạy cần phảitập hợp thành sơ đồ cơ bản và trình bày một cách có hệ thống để từ đó HS có thểtập hợp thành hệ thống khái niệm để chiếm lĩnh và có thể mở rộng hơn hoặc có

sự hướng dẫn cho HS tự sắp xếp và tự tạo ra mô hình kiến thức cơ bản

- Việc trình bày kiến thức cơ bản phải theo hướng tinh giản nhất: Khi mà người

GV đã xác định rõ những kiến thức cơ bản và đã tiến hành sắp xếp các kiến thức

đó theo một sơ đồ, bảng hay một trình tự nhất định để HS dễ nhận ra các mốiliên hệ bản chất giữa chúng thì cần phải trình bày theo cách đơn giản nhất, tinhtuý nhất

- Các kiến thức mà HS cần nắm vững phải được làm sáng tỏ, tức là phải cóchứng cứ Trình bày kiến thức theo cách đơn giản nhất, rõ ràng nhất và đưa các

ví dụ minh họa Để việc phát triển NLTH cho HS đạt hiệu quả thì người GV

Trang 12

phải nghiên cứu kĩ SGK để xác định chính xác: Kiến thức nào HS có thể tựnghiên cứu? Kiến thức nào GV phải giảng giải? Khi nào cho HS lập BĐTD theo

cá nhân hay theo nhóm là hợp lí? Về hình thức, phương pháp tổ chức dạy học

- Hình thức tổ chức đa dạng: cá nhân, nhóm, đảm bảo tính tự lực, tích cực của

HS, tạo điều kiện cho HS tự đánh giá và đánh giá bạn

- Các phương pháp dạy học tích cực như: đặt vấn đề, tương tác nhóm, phươngpháp đặc thù của bộ môn: phương pháp thực nghiệm, mô hình, vẫn đảm bảođúng theo tiến trình đã xây dựng Về điều kiện, phương tiện dạy học

- Nguồn tài liệu cung cấp kiến thức cho HS: chủ yếu từ SGK, một số sách thamkhảo, các hiện tượng, sự vật tự nhiên Biết được các nguồn tài liệu cung cấpkiến thức cho HS sẽ giúp GV thiết kế hoạt động tự lực của HS phong phú hơn,

đa dạng hơn

- Các phương tiện giúp HS làm việc độc lập với SGK: GV cần có biện pháp bổsung thêm những phương tiện dạy học khác để tạo điều kiện cho HS hoạt độngtích cực hơn, phát huy cao độ tinh thần tự lực học tập Có thể là sau khi đọcSGK, có thể nêu các phương án để tự chế tạo thêm thí nghiệm đơn giản, tiếnhành những thí nghiệm theo SGK với những dụng cụ cho sẵn hoặc tự lực xâydựng SĐTD tóm tắt, phân tích, tổng hợp hay hệ thống hóa kiến thức cơ bản -Tìm hiểu những quan niệm ban đầu của HS cũng như khả năng nhận thức của

HS để có sự định hướng nội dung học tập cho HS, tổ chức hình thức dạy họcthích hợp để kích thích hứng thú và tiềm năng của HS Từ những nguyên tắctrên, theo tôi thiết kế tiến trình dạy học theo hướng phát triển NLTH với sự hỗtrợ của SĐTD như sau:

1 Xác định nội dung chính của chương học, bài học Trong hoạt động này, HS

có thể được hướng dẫn các kĩ năng đọc nhanh, tìm hiểu các nội dung chính vàđịnh hướng học tập Chẳng hạn: vào đầu chương, GV có thể yêu cầu HS đọclướt phần mục lục, phần giới thiệu về chương, phần tổng kết chương để thử đưa

ra nội dung chính của chương

2 Tạo tình huống học tập bằng thí nghiệm, bài toán… Sử dụng SĐTD hướngdẫn HS đúng vấn đề cần nghiên cứu, từ đó đi vào bài học mới

3 Tổ chức cho HS tự học khám phá: dùng SDTD giải quyết tình huống vào bài

từ đó hình thành tri thức HS thảo luận nhóm, lập SĐTD đưa ra dự đoán Từ đó

Trang 13

để kiểm tra sự lĩnh hội kiến thức của các em hoặc điều khiển thảo luận thôngqua trình bày báo cáo của HS để đạt được mục tiêu dạy học Như vậy, GV điềukhiển hoạt động học tập của HS bằng cách:

- Tăng cường sử dụng PPDH “Vấn đáp tìm tòi” Trong quá trình đàm thoại, GV

là người tổ chức sự tìm tòi cho HS, HS tự lực phát hiện kiến thức mới Khi chốtcâu trả lời, GV vận dụng ý kiến của HS để kết luận vấn đề được đặt ra, bổ sungchỉnh lí khi cần thiết

- Sử dụng hệ thống câu hỏi nhằm phát huy tính tích cực của HS, trong đó chủyếu là câu hỏi tìm tòi, câu hỏi định hướng, bài tập có vấn đề và tình có vấn đề,phiếu học tập

- Tạo ra các cuộc tranh luận Cách thông thường được sử dụng là một câu hỏi

mở, một vấn đề có nhiều hướng giải quyết buộc HS phải vận dụng kiến thức đãhọc và tư duy để trả lời Tiến trình dạy học trên còn phải tuân theo quy định “bóbuộc” về thời gian nên GV cần phải có sự phối hợp các hình thức tổ chức hoạtđộng học tập trong và ngoài lớp học như tìm hiểu vấn đề khoa học thông quaphương tiện thông tin đại chúng, tìm hiểu một ứng dụng nào đó của VL trongthực tế, hướng dẫn cho HS tự học môn VL ở nhà…

2.3.4 Một số giáo án giảng dạy chương “ Chất khí ” theo định hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh với sự hỗ trợ của sơ đồ tư duy.

Bài: Định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt [4]

Bước 1 : Xác định mục tiêu của bài dạy học

1.Kiến thức Phát biểu và viết được biểu thức định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt

2.Kĩ năng

- Quan sát và theo dõi thí nghiệm Xử lí được số liệu thu được từ thí nghiệm vàvận dụng vào việc xác định mối quan hệ giữa áp suất và thể tích khi nhiệt độkhông đổi

- Vận dụng được định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt để giải các bài tập

- Vẽ được đồ thị biểu diễn quá trình đẳng nhiệt trên các hệ trục toạ độ

- Vẽ được các SĐTD theo yêu cầu của GV

3.Thái độ

- Rèn luyện thói quen hợp tác trong học tập, thái độ làm việc khoa học

- Rèn luyện tính trung thực và khách quan khi làm thí nghiệm

Bước 2: Hình thức, phương pháp tổ chức dạy học

- Hình thức cá nhân, nhóm

- Phương pháp DH : tương tác nhóm, đặt vấn đề

Bước 3: Xác định điều kiện, phương tiện DH

- Điều kiện vật chất : máy vi tính, máy chiếu, các thí nghiệm hỗ trợ bài dạy

- Số HS trong một lớp

- Khả năng học tập: tương đối đồng đều và thuộc loại khá

* GV cần chuẩn bị:

- Bộ thí nghiệm tự tạo để tạo tình huống có vấn đề

- Dụng cụ thí nghiệm để dẫn tới định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt

Trang 14

- Các SĐTD, MVT

- Câu hỏi định hướng phát triển NLTH

* HS cần chuẩn bị:

- Ôn lại thuyết động học phân tử

- Giấy, bút màu Bước 4: Xác định kiến thức có thể giúp HS tự học khám phánhằm phát triển NLTH Quá trình đưa ra định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt

Bước 5: Xác định vị trí đưa ra SĐTD và tác dụng của việc đưa ra SĐTD đónhằm phát triển NLTH của HS

- TN về sự biến đổi trạng thái của khối khí trong bình

- Đề xuất phương án TN

- SĐTD nhằm đưa ra giả thuyết

- SĐTD đưa ra phương án TN

- SĐTD giải quyết tình huống đầu bài

Bước 6: Rà soát lại các SĐTD Xác định các hình thức sử dụng SĐTD trong dạyhọc

Bước 7: Thiết kế tiến trình DH của bài như sau:

1 Tạo tình huống học tập GV tạo tình huống học tập bằng TN tự tạo, sử dụngSĐTD hướng dẫn HS nhận thức đúng vấn đề cần nghiên cứu Từ đó đi vào bàimới

2 Tổ chức HS tự học khám phá Dùng SĐTD giải quyết tình huống trên Từ đó,hình thành tri thức cho HS HS thảo luận nhóm lập SĐTD để đưa ra dự đoán vềquy luật biến đổi trạng thái khí lí tưởng trong bình Qua đó giúp HS phát triểnNLTH tương ứng

3 Tổ chức HS trình bày sản phẩm SĐTD của mình, tranh luận và đưa ra sảnphẩm tốt nhất

4 GV đánh giá bằng SĐTD đã chuẩn bị sẵn để nhận xét và chốt lại giảthuyết chung của cả lớp

5 Yêu cầu HS thảo luận, sử dụng SĐTD để đưa ra phương án TN kiểm tragiả thuyết đó Và chốt lại nội dung định luật Bôi-lơ – Ma-ri-ốt

6 Củng cố vận dụng kiến thức và giao nhiệm vụ về nhà

TỔ CHỨC HOẠT ĐỘNG NHẬN THỨC [6]

Hoạt động 1 Tạo tình huống học tập: [7]

Ngày đăng: 20/05/2021, 21:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[8] Nghiên cứu nội dung và chương trình sách giáo khoa, sách bài tập, tài liệu tham khảo chương “ Chất khí” thuộc chương trình Vật lý 10 THPT Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chất khí
[1] Các văn kiện của Đảng, chính sách của Nhà nước cùng với các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo về vấn đề đổi mới giáo dục phổ thông, phát triển NLTH của HS Khác
[2] Tôi tài giỏi. Bạn cũng thế - Adam khoo.chuẩn kiến thức – kĩ năng vật lí 10 Khác
[6] Công văn số 3280/BGDĐT-GDTrH ngày 27 tháng 8 năm 2020 của Bộ trưởng Bộ GDĐT Khác
[7] Nghiên cứu cơ sở lí luận về tâm lí học, giáo dục học và lý luận dạy học vật lý của vấn đề tự học, sơ đồ tư duy trong dạy học vật lí Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w