Xuất phát từ những yêu cầu và thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn thực hiện đề tài: “Một số giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực người học qua giờ đọc hiểu tùy bút “ Người lái đò Sông Đà”
Trang 21 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa
XI về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo đã chỉ rõ: “Phát triển giáodục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyểnmạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diệnnăng lực và phẩm chất người học Học đi đôi với hành; lí luận gắn với thực tiễn;giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” Theođường lối chỉ đạo của Đảng và Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã xác địnhxây dựng chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 theo định hướng phát triểnnăng lực, phẩm chất người học
Nắm bắt được tinh thần đổi mới, mỗi giáo viên đã và đang nghiên cứu đềxuất và thực hiện nhiều giải pháp hiệu quả trong việc đổi mới phương pháp dạyhọc Đây là tiền đề vô cùng quan trọng để ngành giáo dục thực hiện mục tiêu đổimới giáo dục hiện nay Tuy nhiên, từ thực tế giảng dạy của đơn vị cho thấy sựsáng tạo trong việc đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực của họcsinh chưa nhiều Dạy học vẫn nặng truyền thụ kiến thức, hoàn thành đầy đủ nộidung giáo án đã định sẵn Việc rèn luyện kỹ năng, hình thành phẩm chất, nănglực có được quan tâm nhưng hiệu quả chưa cao, điều đó dẫn tới việc học sinhthụ động, lúng túng khi giải quyết những vấn đề trong thực tiễn
Ngữ văn là môn học có những khả năng đặc biệt, có ưu thế trong việchình thành phẩm chất, năng lực cho HS.Việc khai thác hiệu quả giờ học Ngữvăn giúp cho một tiết học không bị khiên cưỡng, áp đặt mà còn khơi gợi đượchứng thú của học sinh Từ đó giúp các em có những cảm nhận riêng về tín hiệunghệ thuật trong các tác phẩm văn chương Đồng thời cũng là yếu tố quan trọnggóp phần đổi mới toàn diện nền giáo dục đào tạo gắn với bốn mục tiêu quan
trọng của giáo dục:“học để biết, học để làm, học để chung sống, học để khẳng định mình”
Bản thân tôi là một giáo viên đang trực tiếp tham gia vào công việc “trồngngười” tại trường THPT Như Xuân, tôi luôn ý thức rằng: việc đổi mới PPDH làrất cần thiết Xuất phát từ những yêu cầu và thực trạng trên, tôi đã mạnh dạn
thực hiện đề tài: “Một số giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực người học qua giờ đọc hiểu tùy bút “ Người lái đò Sông Đà” của Nguyễn Tuân cho học sinh lớp 12 THPT làm sáng kiến kinh nghiệm của mình Với kinh nghiệm ít ỏi
của bản thân, tôi muốn đóng góp cho công việc dạy học một đề tài nhỏ bé đểgóp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học Giúp các em học sinh hứngthú, tích cực hơn trong việc mở “cánh cửa nhỏ” đi vào thế giới văn chương
1.2 Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu đề tài này là tôi muốn nắm được thực trạng của vấn đề nângcao phẩm chất, năng lực học sinh trong nhà trường Đề xuất một số biện phápnhằm nâng cao phẩm chất, năng lực học sinh trong việc giảng dạy bộ môn Ngữ
Trang 3văn Hướng các em HS trở thành những người công dân có ích, đáp ứng đượcmục tiêu của ngành giáo dục nói chung và bộ môn Ngữ văn nói riêng.
- Nâng cao trình độ chuyên môn; Thực hiện đổi mới phương pháp giảngdạy; Phát huy năng lực của học sinh trong giờ đọc - hiểu văn bản văn học từ đóbồi dưỡng phẩm chất, năng lực cho học sinh
- Xây dựng giáo án và kế hoạch dạy học theo hướng nâng cao phẩm chất,
năng lực người học qua giờ đọc hiểu tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn
Tuân
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Trong đề tài này, tôi tập trung nghiên cứu giải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực người học qua giờ đọc hiểu tác phẩm Người lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân tại trường THPT Như Xuân Nhằm góp phần nâng cao chất lượng
và hiệu quả dạy học cho học sinh lớp 12 THPT
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Để đạt tới mục đích nghiên cứu, trong quá trình thực hiện tôi sử dụng cácphương pháp sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Tìm hiểu những kháiniệm phẩm chất, năng lực; Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọchiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường THPT; Nghiên cứu thực trạng dạy học theophương pháp dạy học phát triển phẩm chất, năng lực tại trường THPT NhưXuân
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Khảo sát sự yêu thích, hứng thú của
HS sau khi GV áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học theo hướng nâng caophẩm chất, năng lực người học Khảo sát mức độ nhận thức của học sinh saukhi thực nghiệm Từ kết quả khảo sát, người viết đánh giá hiệu quả của đề tàinghiên cứu
- Phương pháp phân tích, so sánh, đối chiếu: Giữa lớp GV có sử dụng cácgiải pháp nâng cao phẩm chất, năng lực người học với lớp GV sử dụng phươngpháp dạy học truyền thống
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm : Dạy học theo giáo án đã biên soạn,thu thập thông tin về sự thay đổi số lượng và chất lượng sau khi GV sử dụngphương pháp dạy học theo hướng nâng cao năng phẩm chất, năng lực người họcthông qua bài kiểm tra, đánh giá cụ thể
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Một số khái niệm liên quan
* Phẩm chất
Theo từ điển Tiếng Việt: “Phẩm chất là cái làm nên giá trị của người hayvật” Hoặc: Phẩm chất là những yếu tố đạo đức, hành vi ứng xử, niềm tin, tìnhcảm, giá trị cuộc sống; ý thức pháp luật của con người được hình thành sau mộtquá trình giáo dục
Trang 4Chương trình giáo dục phổ thông, “Phẩm chất là những tính tốt thể hiện ởthái độ, hành vi ứng xử của con người, cùng với năng lực tạo nên nhân cách conngười”.
* Năng lực
Theo từ điển tiếng Việt (do Hoàng Phê chủ biên )“Năng lực là khả năng,
điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó.Năng lực là phẩm chất tâm lý và sinh lý tạo cho con người khả năng hoàn thànhmột loại hoạt động nào đó với chất lượng cao”
Theo Chương trình giáo dục phổ thông, năng lực được quan niệm
là thuộc tính cá nhân được hình thành, phát triển nhờ tố chất sẵn có và quá trình học tập, rèn luyện, cho phép con người huy động tổng hợp các kiến thức,
kĩ năng và các thuộc tính cá nhân khác như hứng thú, niềm tin, ý chí, thực hiện thành công một loại hoạt động nhất định, đạt kết quả mong muốn trong những điều kiện cụ thể.
Trong tài liệu tập huấn việc dạy học và kiểm tra, đánh giá theo theo địnhhướng phát triển năng lực của học sinh do Bộ giáo dục và Đào tạo phát hànhnăm 2014 thì “Năng lực được quan niệm là sự kết hợp một cách linh hoạt và có
tổ chức kiên thức, kỹ năng với thái độ tình cảm, giá trị, động cơ cá nhân nhằmđáp ứng hiệu quả một yêu cầu phức hợp của hoạt động trong bối cảnh nhấtđịnh
Như vậy có thể hiểu một cách ngắn gọn năng lực là khả năng vận dụng tất
cả những yếu tố chủ quan (mà bản thân có sẵn hoặc được hình thành qua họctập) để giải quyết các vấn đề trong học tập, công tác và cuộc sống
2.1.2 Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực trong đọc hiểu văn bản môn Ngữ văn ở trường phổ thông.
Đổi mới phương pháp dạy học không có nghĩa là loại bỏ các phương phápdạy học truyền thống như thuyết trình, đàm thoại, luyện tập mà cần bắt đầu bằngviệc cải tiến để nâng cao hiệu quả và hạn chế nhược điểm của chúng Hiện nay,đổi mới phương pháp dạy học đang thực hiện bước chuyển từ chương trình giáodục tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học, nghĩa là từ chỗ quantâm đến việc HS học được cái gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì quaviệc học Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ phương pháp dạyhọc theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy cách học, cách vận dụng kiến thức,rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất Để nâng cao hiệu quả củacác phương pháp dạy học này người giáo viên trước hết cần nắm vững nhữngyêu cầu và sử dụng thành thạo các kỹ thuật của chúng trong việc chuẩn bị cũngnhư tiến hành bài lên lớp, kỹ thuật đặt các câu hỏi và xử lý các câu trả lời trongđàm thoại, hay kỹ thuật làm mẫu trong luyện tập Các phương pháp dạy học
Trang 5truyền thống có những hạn chế tất yếu, vì thế bên cạnh các phương pháp dạyhọc truyền thống cần kết hợp sử dụng các phương pháp dạy học mới.
Dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học được xem như một nộidung giáo dục, một phương pháp giáo dục như phương pháp dạy học nêu vấn
đề, phương pháp dạy học phát huy tính tích cực của học sinh Điểm khác nhau
giữa các phương pháp là ở chỗ dạy học phát triển phẩm chất, năng lực người học có yêu cầu cao hơn, mức độ khó hơn.
2.2 Thực trạng của vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Dạy học phát triển phẩm chất,năng lực không chỉ chú ý tích cực hóa họcsinh về mặt trí tuệ mà còn chú ý rèn luyện năng lực giải quyết vấn đề gắn vớinhững tình huống thực tiễn.Tăng cường việc học tập, tương tác giữa GV và HS
Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân là tác phẩm kí hiện đại Là bài tùy bút xuất sắc trong tập Sông Đà ( 1960) của Nguyễn Tuân Tác phẩm là thành
quả của chuyến đi thực tế lên Tây Bắc năm 1958 Khai thác vấn đề của đời sốngkhi đất nước đổi mới, thể hiện tình yêu của nhà văn với đất nước, thể hiện quanniệm nghệ thuật của Nguyễn Tuân về “cái đẹp”, là một tác phẩm hơi khó tiếpcận với học sinh
Tuy nhiên trong thực tế giảng dạy của bản thân và việc dự giờ đồngnghiệp, tôi thấy việc dạy – học các tác phẩm kí hiện đại trong chương trình tạiđơn vị chưa thật phát huy và khơi dậy tối đa các năng lực của học sinh Điều đó,thể hiện ở những tồn tại sau:
- Dạy học đọc – hiểu còn mang nặng tính truyền thụ một chiều GV vẫn làchú trọng dạy kiến thức hơn là hình thành kỹ năng, vì vậy hạn chế việc học sinhhình thành và phát triển được phẩm chất, năng lực
- Các phương pháp và kỹ thuật dạy học tích cực còn mang tính hình thức.Chưa được thiệc hiện một cách thực chất và chưa thật hiệu quả
- GV vẫn là người làm việc, chưa giao nhiệm vụ cụ thể cho HS; HS chưahình thành thói quen thực hiện nhiệm vụ Vì vậy mà các em ít có cơ hội bày tỏthái độ, quan điểm, chưa hình thành được các kỹ năng và năng lực của ngườihọc
Mặc dù phương pháp dạy học đã được đổi mới song kết quả chưa đạtđược như mong muốn mà nguyên nhân là:
- Về phía giáo viên: Việc đổi mới phương pháp dạy học cũng không đượcthực hiện một cách triệt để, vẫn còn nặng về phương pháp truyền thống truyềnthụ một chiều Bên cạnh đó việc ứng dụng CNTT trong dạy học cũng hạn chế một phần là do kỹ năng sử dụng máy chiếu hay bảng thông minh của người dạyhạn chế
- Về phía học sinh : Một số học sinh chưa có phương pháp học tập phùhợp, chưa tích cực trong việc tìm tòi nghiên cứu bài học
Yêu cầu đặt ra là phải thay đổi, thay đổi cả ở người dạy và ở người học đểsau mỗi bài dạy – học học sinh không chỉ có được hiểu biết (kiến thức) mà còn
Trang 6phải phát triển được năng lực bản thân , có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu
về đổi mới giáo dục
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Giải pháp 1: Xác định rõ những phẩm chất, năng lực cần hình thành cho HS.
* Các năng lực cần hình thành cho HS
Chương trình GDPT mới hướng đến hình thành 10 năng lực cho học sinh.Đây là những năng lực chuyên môn được hình thành, phát triển chủ yếu thôngqua một số môn học, hoạt động giáo dục nhất định Đó là:
- Năng lực ngôn ngữ: Sử dụng tiếng Việt; Sử dụng ngoại ngữ
- Năng lực tính toán: Hiểu biết kiến thức toán học phổ thông cơ bản; Biếtcách vận dụng các thao tác tư duy, suy luận, tính toán, ước lượng, sử dụng cáccông cụ tính toán và dụng cụ đo,…; Đọc hiểu, diễn giải, phân tích, đánh giá tìnhhuống có ý nghĩa toán học
- Năng lực tìm hiểu tự nhiên: Hiểu biết kiến thức khoa học; Tìm tòi vàkhám phá thế giới tự nhiên; Vận dụng kiến thức vào thực tiễn, ứng xử với tựnhiên phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững và bảo vệ môi trường
- Năng lực tìm hiểu xã hội: Nắm được những tri thức cơ bản về đối tượngcủa các khoa học xã hội; Hiểu và vận dụng được những cách tiếp cận và phươngpháp nghiên cứu cơ bản của khoa học xã hội; Nắm được những tri thức cơ bản
về xã hội loài người; Vận dụng được những tri thức về xã hội và văn hóa vàocuộc sống
- Năng lực công nghệ: Thiết kế; Sử dụng; Giao tiếp; Đánh giá
- Năng lực tin học: Sử dụng và quản lý các phương tiện, công cụ, các hệthống tự động hóa của công nghệ thông tin và truyền thông; Hiểu biết và ứng xửphù hợp chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật trong xã hội thông tin và nềnkinh tế tri thức
- Năng lực thẩm mỹ: Nhận biết các yếu tố thẩm mỹ (cái đẹp, cái bi, cáihài, cái chân, cái thiện, cái cao cả); Phân tích, đánh giá các yếu tố thẩm mỹ; Táihiện, sáng tạo và ứng dụng các yếu tố thẩm mỹ
- Năng lực thể chất: Sống thích ứng và hài hòa với môi trường; Nhận biết
và có các kỹ năng vận động cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và hình thành các
tố chất thể lực cơ bản trong cuộc sống; Nhận biết và tham gia hoạt động thể dụcthể thao; Đánh giá hoạt động vận động
Bên cạnh việc hình thành, phát triển các năng lực cốt lõi, chương trìnhgiáo dục phổ thông còn góp phần phát hiện, bồi dưỡng năng lực đặc biệt (năngkhiếu) của học sinh
Các năng lực mà môn Ngữ văn hướng đến:
+ Năng lực giải quyết vấn đề
+ Năng lực sáng tạo
+ Năng lực hợp tác
+ Năng lực tự quản bản thân
Trang 7+ Năng lực giao tiếp Tiếng Việt
+ Năng lực thưởng thức văn học / cảm thụ thẩm mỹ
- Nhân ái: Yêu quý mọi người; Tôn trọng sự khác biệt giữa mọi người
- Chăm chỉ: Ham học; Chăm làm
- Trung thực: Thật thà, ngay thẳng, biết nhận lỗi, sửa lỗi, bảo vệ cái đúng
- Trách nhiệm: Có trách nhiệm với bản thân; Có trách nhiệm với gia đình;
Có trách nhiệm với nhà trường và xã hội; Có trách nhiệm với môi trường sống
2.3.2 Giải pháp 2: Xác định rõ các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học nhằm hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
Đổi mới PPDH Ngữ văn là chuyển những kết quả về đổi mới PPDH củachương trình Ngữ văn hiện hành từ “mặt bên ngoài” vào “mặt bên trong” đểphát huy hiệu quả đổi mới PPDH, đáp ứng mục tiêu hình thành và phát triểnnăng lực của học sinh
Đối với môn Ngữ văn, khi vận dụng các PPDH phát huy tính tích cực, tựgiác, chủ động, sáng tạo của học sinh như giải quyết vấn đề, dạy học khám phá,dạy học theo dự án,…cần chú ý đến sự khác biệt về năng lực và sở thích củamỗi học sinh trong tiếp nhận văn bản, nhất là các văn bản văn học để có cách tổchức dạy học phân hóa phù hợp; đặc biệt chú trọng bồi dưỡng phương pháp tựhọc, qua đó hướng dẫn học sinh biết kiến tạo tri thức và nền tảng văn hóa chobản thân từ những cảm nhận, suy nghĩ và những trải nghiệm của cá nhân trongcuộc sống Tăng cường tính giao tiếp, khả năng hợp tác của học sinh trong giờhọc Ngữ văn qua các hoạt động thực hành, luyện tập, trao đổi, thảo luận,…vậndụng các PPDH theo đặc thù của môn học và các PPDH chung một cách phù
hợp nhằm từng bước nâng cao hiệu quả dạy học Ngữ văn
Để nâng cao phẩm chất, năng lực cho HS thông qua giờ đọc hiểu tác
phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân (Ngữ văn 12) Tác giả sáng kiến
đề xuất các phương pháp tổ chức và các kĩ thuật dạy học sau:
2.3.2.1.Phương pháp Thảo luận nhóm:
Thảo luận nhóm là PPDH trong đó "HS được phân chia thành từng nhómnhỏ riêng biệt, chịu trách nghiệm về một mục tiêu duy nhất, được thực hiệnthông qua nhiệm vụ riêng biệt của từng người Các hoạt động cá nhân riêng biệtđược tổ chức lại, liên kết hữu cơ với nhau nhằm thực hiện một mục tiêu chung"
Phương pháp thảo luận nhóm được sử dụng nhằm giúp cho mọi HS thamgia một cách chủ động vào quá trình học tập, tạo cơ hội cho các em có thể chia
sẻ kiến thức, kinh nghiệm, ý kiến để giải quyết các vấn đề có liên quan đến nộidung bài học; tạo cơ hội cho các em được giao lưu, học hỏi lẫn nhau; cùng nhauhợp tác giải quyết những nhiệm vụ chung
Trang 8Trong quá trình giảng dạy, để tiết học diễn ra có hiệu quả khi áp dụngphương pháp thảo luận nhóm, giáo viên cần có sự phân chia khoa học các bướctrong khi thảo luận nhóm
* Các bước khi thảo luận nhóm
Bước 1: Chia nhóm: GV chia lớp thành nhiều nhóm nhỏ, mỗi nhómkhoảng từ 4-6 người
Bước 2: Giao nhiệm vụ, vấn đề cần giải quyết cho từng nhóm
Bước 3: Giám sát hoạt động của từng nhóm
Bước 4: Mỗi nhóm cử đại diện trình bày kết quả thảo luận của nhóm Cácnhóm khác có thể phản biện
Bước 5: Tổng kết đánh giá
Giáo viên nên nhân xét bài thuyết trình của từng nhóm sau khi các nhómtrình bày xong và đã có ý kiến phản biện của các nhóm khác Cuối cùng giáoviên chốt lại các ý kiến, đưa ra định hướng đúng những vấn đề HS cần nhớ saukhi thảo luận
* Phân loại phương pháp thảo luận
-Thảo luận có hướng dẫn: Toàn lớp hay nhóm nhỏ cùng đề tài thảo luậnhoặc khác đề tài thảo luận, nhằm đưa ra nhiều ý kiến kết quả khác nhau từ đóthống nhất chung lại
- Báo cáo xê-mi-na có thảo luận: Sau khi báo cáo chuyên đề, người nghe
sẽ đóng góp ý kiến hoặc nêu thắc mắc, một hoặc nhiều người sẽ trao đổi ý kiếnvới người nghe, dẫn đến kết luận
- Tọa đàm: Hình thức tổ chức thảo luận, trao đổi các vấn đề cụ thể có sựtham gia của nhiều người để giải quyết các vấn đề đặt ra
* Vận dụng phương pháp thảo luận nhóm để dạy học tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân.
GV có thể chú ý đến biện pháp thảo luận bằng cách chia lớp ra thành 3hoặc 4 nhóm Ví dụ:
Ở nội dung I Tìm hiểu chung GV chia làm 3 nhóm
- Nhóm thứ nhất: Tìm hiểu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân
- Nhóm thứ hai: Tìm hiểu khái quát về tác phẩm (tập Sông Đà)
- Nhóm thứ ba: Tìm hiểu khái quát về tác phẩm Người lái đò Sông Đà
Ở Nội dung II: Tìm hiểu chi tiết GV có thể chia ra các nhóm lớn, trongcác nhóm đó, chia thành nhiều nhóm nhỏ tương ứng với từng nội dung của bàihọc Ví dụ:
- Nhóm 1: Vẻ đẹp hung bạo của dòng Đà giang Trong đó có các nhómnhỏ: Nhóm 1: Cảnh đá bờ sông ; Nhóm 2: Ghềnh sông; Nhóm 3: Những cái hútnước; Nhóm 4: cảnh thác đá Sông Đà
- Nhóm 2: Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của Đà giang Trong đó có các nhómnhỏ: Nhóm 1: Quan sát từ trên tàu bay xuống; Nhóm 2: Quan sát trong mộtchuyến đi rừng ra; Nhóm 3: Quan khi đi thuyền trôi trên sông
- Nhóm 3: Vẻ đẹp hình tượng người lái đò
- Nhóm 4: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Trang 9Sau khi hoàn thành xong, đại diện từng nhóm trình bày ý kiến, kết quả,các nhóm khác lắng nghe để nhận xét, đánh giá Biện pháp này không chỉ giúp
HS thoải mái thảo luận, trao đổi với nhau mà còn trao đổi, đối thoại với cả GV
để làm rõ các vấn đề chưa hiểu Từ đó phát huy được tính tích cực, sự mạnh dạn
và khả năng sáng tạo cũng như những cảm nhận sâu sắc của học sinh đối với thơvăn ông
Như vậy, có thể nói, nhờ áp dụng biện pháp thảo luận GV sẽ tạo cho giờ
dạy học tác phẩm Người lái đò Sông Đà (Nguyễn Tuân) thêm sôi động, hấp dẫn
hơn Từ đó giúp HS giải quyết vấn đề một cách thấu đáo, đồng thời hiểu sâu sắchơn những giá trị đặc sắc trong sáng tác của Nguyễn Tuân
2.3.2.2.Phương pháp Dạy học giải quyết vấn đề
* Bản chất của dạy học giải quyết vấn đề
Dạy học giải quyết vấn đề là PPDH trong đó GV tạo ra những tình huống
có vấn đề, điều khiển HS phát hiện vấn đề, hoạt động tự giác, tích cực, chủđộng, sáng tạo để giải quyết vấn đề và thông qua đó chiếm lĩnh tri thức, rènluyện kĩ năng và đạt được những mục đích học tập khác Đặc trưng cơ bản củadạy học phát hiện và giải quyết vấn đề là "tình huống gợi vấn đề" vì "tư duy chỉbắt đầu khi xuất hiện tình huống có vấn đề" (Rubinstein)
Tình huống có vấn đề (tình huống gợi vấn đề) là một tình huống gợi racho HS những khó khăn về lí luận hay thực hành mà HS thấy cần có khả năngvượt qua Nhưng không phải ngay tức khắc bằng một thuật giải, mà phải trải quaquá trình tích cực suy nghĩ, hoạt động để biến đổi đối tượng hoạt động hoặc điềuchỉnh kiến thức sẵn có Nghĩa là tình huống có vấn đề có tác dụng kích thích tưduy nảy sinh và thúc đẩy nó phát triển Tình huống có vấn đề buộc con ngườiphải suy nghĩ, động não tạo nên những vận động tích cực bên trong của trí tuệcon người Như vậy, để trở thành những tình huống có vấn đề, cần phải cónhững yếu tố, những điều kiện nhất định bởi không phải tình huống nào cũng làtình huống có vấn đề Điều này có nghĩa là để tạo ra các tình huống có vấn đềđích thực, bản thân GV phải phát hiện trong tài liệu học tập của HS đâu là vấn
đề có “vấn đề”, phải thiết kế thế nào để chúng trở thành các tình huống có vấn
đề và phải nêu vấn đề thế nào để khơi gợi hứng thú, sự tích cực tham gia giảiquyết của HS Bởi không phải cứ nêu vấn đề là sẽ lập tức lôi cuốn HS hay khơigợi được những vận động tư duy, trí tuệ của các em
* Cấu trúc một bài học (hoặc một phần bài học) theo phương pháp nêu
và giải quyết vấn đề
- Đặt vấn đề, xây dựng bài toán nhận thức
+ Tạo tình huống có vấn đề;
+ Phát hiện, nhận dạng vấn đề nảy sinh;
+ Phát hiện vấn đề cần giải quyết
- Giải quyết vấn đề đặt ra
+ Đề xuất cách giải quyết;
Trang 10+ Lập kế hoạch giải quyết;
+ Thực hiện kế hoạch giải quyết
- Kết luận:
+ Thảo luận kết quả và đánh giá;
+ Khẳng định hay bác bỏ giả thuyết nêu ra;
+ Phát biểu kết luận;
+ Đề xuất vấn đề mới
Trong dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề, HS vừa nắmđược tri thức mới, vừa nắm được cách thức lĩnh hội tri thức đó, phát triển tư duytích cực, sáng tạo, được chuẩn bị một năng lực thích ứng với đời sống xã hội,phát hiện kịp thời và giải quyết hợp lý các vấn đề nảy sinh
*Vận dụng dạy học giải quyết vấn đề trong hoạt động khởi động khi dạy Bài “Người lái đò Sông Đà” (Nguyễn Tuân).
GV chiếu cho HS xem một đoạn phim về sông Đà Sau đó 1-2 em sẽ nhậnxét GV đặt câu hỏi cho HS Câu hỏi: Em có cảm nhận như thế nào về dòngsông em vừa xem trong video, HS trả lời câu hỏi và GV dẫn vào bài
2.3.2.3 Kĩ thuật đặt câu hỏi.
Trong dạy học phát triển năng lực HS và GV cùng chủ động tham gia vàobài giảng Trong đó GV đóng vai trò chủ yếu là người tổ chức, cố vấn, hỗ trợhọc sinh lĩnh hội kiến thức Vì vậy GV thường phải sử dụng các câu hỏi để gợi
mở, dẫn dắt học sinh tìm hiểu, khám phá thông tin, kiến thức, kĩ năng mới… Và
để đánh giá mức độ tiếp nhận kiến thức và kết quả học tập của HS Học HS cũngthường xuyên phải sử dụng các câu hỏi để tìm kiếm sự tư vấn, gợi ý từ GV vàcác bạn khác trong lớp… Do đó chúng ta có thể thấy được vai trò quan trọngcủa kỹ thuật đặt câu hỏi trong dạy học phát triển năng lực
Việc sử dụng các câu hỏi một cách có hiệu quả đem lại sự hiểu biết lẫnnhau giữa HS với GV và HS với HS Kỹ thuật đặt câu hỏi càng tốt thì mức độtham gia của vào bài học của HS càng cao, HS sẽ học tập tích cực hơn và đượckích thích tư duy nhiều hơn trong quá trình học
Mục đích sử dụng câu hỏi trong dạy học là để
Kích thích, dẫn dắt HS suy nghĩ, khám phá tri thức mới, tạo điều kiện vàkích thích HS tham gia vào quá trình dạy học; kiểm tra, đánh giá mức độ làmchủ kiến thức và kỹ năng cũng như sự quan tâm, hứng thú của HS đối với nộidung học tập; dẫn dắt, gợi mở và kích thích HS tư duy, tìm tòi và khám phá trithức mới; định hướng, thu thập, mở rộng thông tin, kiến thức cho HS
Các dạng câu hỏi thường dùng trong dạy học
Hiện nay có rất nhiều cách phân loại câu hỏi khác nhau Tuy nhiên, nếuxét trong lĩnh vực dạy học và dựa trên mục đích, chức năng của câu hỏi thì cóthể phân ra các loại câu hỏi sau:
Câu hỏi đóng: Là dạng câu hỏi đơn giản chỉ có thể trả lời Đúng – Sai, Có
– Không hoặc có thể trả lời bằng một từ hoặc một câu ngắn Chúng thường đượcdùng để thu nhận những thông tin cụ thể và về một sự thật nào đó Dạng câu hỏi
Trang 11này thường dùng trong phần tổng kết bài học, sau phần giới thiêu bài hoặc saukhi giao nhiệm vụ cho HS Không nên sử dụng dạng câu hỏi này trong thảo luận
để chia sẻ thông tin hoặc để kích thích phát triển tư duy HS vì nó sẽ khiến cuộcthảo luận đi vào ngõ cụt
Câu hỏi mở: Là dạng câu hỏi có nhiều hướng trả lời hay nhiều đáp án
chấp nhận được thường được dùng để đánh giá và thảo luận Dạng câu hỏi nàygiúp HS phát hiện, giải quyết vấn đề, đồng thời kích thích trí tưởng tượng để tìmtòi khám phá và tiếp nhận tri thức mới
Câu hỏi mở kích thích HS đào sâu suy nghĩ và đưa ra nhiều quan điểm Khôngchỉ có một câu trả lời đúng hoặc sai Câu hỏi mở giúp HS có cái nhìn tổng quáthoặc đưa ra những băn khoăn, thắc mắc về tình huống được đưa ra Khi đưa racác câu hỏi mở, GV sẽ thu được nhiều ý tưởng hoặc câu trả lời khác nhau từ HS
Điều này cũng giúp cho GV định hướng nội dung và phương pháp phùhợp đối với HS
Câu hỏi giả định: Là dạng câu hỏi kích thích học sinh suy nghĩ vượt khỏi
khuôn khổ của các tình huống được GV đưa ra
Câu hỏi hành động: Là dạng câu hỏi giúp HS lập kế hoạch và triển khai
các ý tưởng vào tình huống thực tế
Câu hỏi làm rõ: là câu hỏi khai thác, thu thập thêm thông tin Câu hỏi
này là loại được sử dụng nhiều nhất trong sự tương tác trực tiếp giữa GV và HS
Nó có tác dụng dẫn dắt để hướng tới sự hiểu biết, thúc đẩy trạng thái lắng nghetích cực, khuyến khích, tạo hứng thú và thử thách cho học sinh
Câu hỏi mở rộng: Là câu hỏi khuyến khích sự trình bày, phân tích, giải
thích, mở rộng, đào sâu suy nghĩ Dạng câu hỏi này giúp HS nhận thức toàn diệnhơn, sâu sắc hơn về một vấn đề mà GV đưa ra
Câu hỏi so sánh: Là câu hỏi yêu cầu so sánh, đánh giá, bình luận Dạng
câu hỏi này khuyến khích tư duy phê phán, bình luận, đánh giá, thúc đẩy kỹnăng tư duy bậc cao, định hướng suy nghĩ vào các khái niệm và các vấn đề trọngtâm của bài học
Câu hỏi tóm tắt: Là câu hỏi yêu cầu trình bày vắn tắt những nội dung đã
học Nó là một yếu tố có ảnh hưởng quan trọng và thúc đẩy sự tiến bộ của HS.Loại câu hỏi này giúp cho HS nhìn nhận nội dung học tập một cách khái quát vàlogic từ đó khắc sâu kiến thức đã học Đồng thời giúp HS hình thành và pháttriển khả năng tư duy, khái quát và hóa, trừu tượng hóa
Ngoài cách phân loại trên, dựa trên thang nhận thức Bloom chúng ta còn có thể phân loại thành những dạng câu hỏi sau:
Câu hỏi biết: Là dạng câu hỏi giúp HS tái hiện những gì đã biết, đã trải
qua HS dựa vào trí nhớ để trả lời Dạng này thường yêu cầu kể lại, liệt kê, mô
tả, trình bày, cho biết, gọi tên…
Câu hỏi hiểu: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra HS cách liên hệ, kết nối
các dữ kiện, số liệu, các đặc điểm… khi tiếp nhận thông tin Dạng câu hỏi này
Trang 12thường yêu cầu giải thích, nêu ý chính, so sánh, tóm tắt, trình bày, mô tả vắntắt…vv
Câu hỏi vận dụng: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra khả năng áp dụng
những thông tin, kiến thức đã thu được vào tình huống mới
Câu hỏi phân tích: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra khả năng phân tích
nội dung vấn đề, từ đó tìm ra mối liên hệ Vận dụng phối hợp những kiến thức
đã học từ đó đưa ra cách giải quyết vấn đề hoặc chứng minh luận điểm, hoặc điđến kết luận, hoặc đề xuất mang tính sáng tạo
Câu hỏi đánh giá: Là dạng câu hỏi nhằm kiểm tra khả năng suy xét, chọn
lọc, lựa chọn, quyết định, cân nhắc và phán đoán của học sinh trong việc nhậnđịnh, đánh giá các ý tưởng, sự kiện, hiện tượng dựa trên các tiêu chí đưa ra
Câu hỏi tổng hợp: Là dạng câu hỏi thường yêu cầu sự đề xuất, sáng tạo,
dự đoán, lên kế hoạch, tưởng tượng, xây dựng, thiết kế…
Quy trình đặt câu hỏi.
Trong kỹ thuật đặt câu hỏi GV cũng cần phải nắm rõ quy trình để đưa racâu hỏi phù hợp đúng thời điểm
Bước 1 Chuẩn bị câu hỏi: xác định nội dung và ý chính của nội dung học
tập, hỏi về những gì, hỏi để làm gì
Bước 2 Đối chiếu và thích ứng các câu hỏi với đặc điểm và trình độ khác
nhau của HS Câu hỏi cần đáp ứng các yếu tố sau:
- Tính minh bạch, rõ ràng: Câu hỏi đơn giản, ngắn gọn không đánh đố
- Tính thách thức Câu hỏi không nên quá dễ mà đòi hỏi HS phải suy nghĩ
và nỗ lực nhất định khi đưa ra câu trả lời Đồng thời phải làm cho HS cảm thấyhãnh diện và thỏa mãn khi trả lời đúng
- Tính định hướng: Câu hỏi phải hướng đến số đông Câu hỏi phải gâyđược phản ứng ở nhiều HS; ai cũng cảm thấy mình có trách nhiệm trả lời, phảisuy nghĩ; do đó tạo được không khí học tập sôi nổi
- Tính vừa sức: đây là nguyên tắc quan trọng và là yêu cầu chung cho mọiphương pháp dạy học Câu hỏi phải nằm trong giới hạn của khả năng tri giácthông tin, ngôn ngữ, ý trong câu; kinh nghiệm cảm nhận các tình huống giaotiếp, năng lực tư duy, tưởng tượng; khả năng diễn đạt của HS
- Tính linh hoạt: Câu hỏi cần tổng hợp về kiểu loại, về độ khó, về tính đốitượng Chọn thời điểm thích hợp để hỏi (tình huống cụ thể) để dạy học đạt hiệuquả cao
Bước 3 Lựa chọn ngôn từ diễn đạt phù hợp khi đặt câu hỏi
Câu hỏi đưa ra càng ngắn gọn, ít từ, ít mệnh đề, ít cấu trúc, ít thuật ngữ mới lạcàng tốt
Bước 4 Khích lệ HS tư duy để trả lời câu hỏi
Khi đặt câu hỏi, không nên quá dễ, không có tác dụng khích lệ HS GVcũng không nên thừa nhận câu trả lời của HS một cách dễ dãi Đối với nhữngcâu hỏi khó, GV cần chuẩn bị kỹ để chủ động giải quyết các tình huống bất ngờ
Bước 5 Duy trì tiến trình hỏi – đáp bằng câu hỏi bổ trợ, mở rộng.
Trang 13Bước 6 Đánh giá và thu thập thông tin phản hồi về quá trình học tập Các
câu hỏi cần tập trung vào nội dung chính yếu, cơ bản của bài học; nhất là nhữngyếu tố khái niệm và ứng dụng
Các yêu cầu trong kỹ thuật đặt câu hỏi
Kỹ thuật đặt câu hỏi là một yêu tố quan trọng, là linh hồn và là trung tâmcủa dạy học phát triển năng lực Điều quan trọng là phải lựa chọn được loại câuhỏi thích hợp để kích thích tư duy của HS và thu hút họ vào các cuộc thảo luậnhiệu quả
Khi đặt câu hỏi cần đảm bảo các yêu cầu sau
- Câu hỏi phải liên quan đến việc thực hiện mục tiêu bài học
- Ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu
- Đúng lúc, đúng chỗ
- Phù hợp với trình độ HS
- Kích thích suy nghĩ của HS
- Phù hợp với thời gian thực tế
- Sắp xếp thep trình tự từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp
- Không ghép nhiều câu hỏi thành một câu hỏi móc xính
Vận dụng khi dạy học tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân
theo định hướng phát triển năng lực, phẩm chất GV thiết kế các câu hỏi theotừng mức độ, chẳng hạn như sau:
Nguyễn Tuân-Trong thiên tùybút, tác giả đãdùng những biệnpháp nghệ thuậtnào để khắc họamột cách ấntượng hình ảnhcon sông Đàhung bạo?
-Cách viết củanhà văn đã thayđổi thế nào khi
-Qua hình tượng sông
Đà, Nguyễn Tuân thểhiện tình cảm gì đối vớithiên nhiên đất nước ?-Từ hình tượng ông lái
đò, em hãy tìm hiểucuộc sống của nhữngngười lao động hàngngày để phát hiện ra vẻđẹp đáng trân trọng ởhọ?
-Nhận xét ngắn gọn hiệuquả nghệ thuật củanhững hình ảnh so sánhtrong đoạn văn sau:
“Tiếng thác nước nghe như là oán trách gì, rồi lại như là van xin, rồi lại như là khiêu khích, giọng gằn mà chế nhạo.
Thế rồi nó rống lên như
- Từ cảmnhận về vẻđẹp Sông
Đà em hãytrình bàysuy nghĩcủa mình vềviệc bảo vệcảnh quanthiên nhiêncủa quêhương, đấtnước (trìnhbày dướihình thứcđoạn văn từ
150 – 200chữ)
- Viết 1đoạn văn
200 chữ để
Trang 14Đà như mộtdòng chảy trữ
chứng minhhoạ?
tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu, rừng tre nứa nổ lửa…”
- Sau khi tìm hiểu vềhình tượng Sông Đà, emrút ra bài học gì cho bảnthân trong cuộc sống?
làm nổi bậtnét giống vàkhác nhaugiữa nhânvật HuấnCao và Ônglái đò
2.3.3 Giải pháp 3: Xây dựng cách thức tổ chức và thiết kế giờ dạy đọc hiểu hướng tới phát triển phẩm chất, năng lực học sinh.
* Cách thức tổ chức giờ đọc hiểu
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, tự giác, chủđộng, sáng tạo của cả người dạy và người học nhằm nâng cao tri thức, bồidưỡng năng lực hợp tác, năng lực vận dụng tri thức vào thực tiễn, bồi dưỡngphương pháp tự học, tác động tích cực đến tư tưởng, tình cảm, đem lại hứng thúhọc tập cho người học
Để phát triển năng lực của HS trong giờ Ngữ văn cấp THPT, cần đổi mớimạnh mẽ việc thiết kế bài học từ phía GV Trong thiết kế, GV phải cho thấy rõcác hoạt động của HS chiếm vị trí chủ yếu Với GV, phương pháp thuyết trìnhnên giảm thiểu tới mức tối đa, thay vào đó là tổ chức hoạt động cho HS bằngviệc nêu vấn đề, đề xuất các tình huống, dự án
Trong giờ dạy, giáo viên tổ chức cho HS vận dụng kiến thức giải quyếtcác vấn đề về lý thuyết cũng như thực tiễn, qua đó giúp học sinh khắc sâu hơnkiến thức mới Theo tinh thần đó, thiết kế bài học được biên soạn theo các bướcsau:
Bước 1: Chuẩn bị bài dạy
Trong kế hoạch bài dạy GV cần xác định rõ các yêu cầu về kiến thức, kỹnăng, thái độ và các phẩm chất, năng lực hướng đến Bằng việc xác định mụctiêu này trong quá trình dạy học GV sẽ có thể lựa chọn được phương pháp giảngdạy phù hợp, cách thức tổ chức lớp học theo đúng mục tiêu đã định
Do yêu cầu mở rộng hiểu biết để thấm thía các nội dung chủ đề đặt ratrong từng văn bản ở các truyện ngắn hiện đại, từ đó tăng cường ý thức công dâncủa mỗi HS đã khiến việc chuẩn bị kiến thức hỗ trợ chủ đề truyện ngắn hiện đạimang một ý nghĩa tích hợp rộng hơn.Yêu cầu đó đòi hỏi GV phải chuẩn bị kỹcác nhiệm vụ giao cho HS, GV giao cho các nhóm HS cùng sưu tầm các tư liệungoài văn bản liên quan đến chủ đề trên các nguồn thông tin đại chúng ( phátthanh, truyền hình, mạng Internet, báo chí, sách vở, tranh ảnh, âm nhạc ) làmchất liệu cho dạy đọc hiểu truyện ngắn hiện đại
Với tác phẩm Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân, GV có thể chuẩn
bị những clip lên quan đến nội dung bài dạy như: bài hát Tiếng gọi SôngĐà( Trần Chung), và các hình ảnh về Sông Đà, phim tài liệu giới thiệu về Sông
Trang 15Đà Ngoài ra, GV cần chuẩn bị tất cả các thiết bị cho giờ dạy một cách chu đáo,
kỹ lưỡng
Bước 2: Chuyển giao nhiệm vụ
GV đặt ra các vấn đề, các câu hỏi, giao nhiệm vụ cho HS (cho nhóm HS),
từ đó sẽ hình thành các phẩm chất năng lực mà người học hướng tới Chẳng hạn
khi giao nhiệm vụ cho HS để đọc hiểu tác phẩmNgười lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân GV nêu vấn đề: Em có cảm nhận ban đầu như thế nào khi xemvideo giới thiệu về Sông Đà Từ đó em thấy mình có trách nhiệm gì để đónggóp, xây dựng quê hương đất nước Khi trả lời câu hỏi này các em đã hình thànhnăng lực: Tự chủ và tự học; Giao tiếp và hợp tác; Giải quyết vấn đề và sáng tạo;Năng lực ngôn ngữ…Từ đó hình thành phẩm chất yêu nước, trung thực, tráchnhiệm…
Bước 3: Thực hiện nhiệm vụ: HS làm bài tập, thực hiện nhiệm vụ GV đã
giao cho (Thực hiện ở nhà)
Bước 4: Báo cáo kết quả học tập: Trên các nhiệm vụ được giao HS sẽ
báo cáo kết quả trước lớp, các bạn khác cho ý kiến
Bước 5: Đánh giá kết quả thực hiện nhiệm vụ: Trên cơ sở nội dung báo
cáo của các nhóm, GV nhận xét bổ sung và chốt ý
* Thiết kế bài dạy đọc hiểu nhằm phát triển phẩm chất, năng lực.
Hoạt động 1: hoạt động khởi động:
- Mục đích của hoạt động:
+ Hoạt động khởi động giúp học sinh huy động vốn kiến thức và kỹ năng
để chuẩn bị tiếp nhận kiến thức và kỹ năng mới
+ Giúp HS tạo hứng thú để bước vào bài học mới
+ Giúp GV tìm hiểu xem học sinh có hiểu biết như thế nào về những vấn
đề trong cuộc sống có liên quan đến nội dung bài học
- Nội dung, hình thức khởi động:
+ Câu hỏi, bài tập: Có thể là quan sát tranh/ảnh để trao đổi với nhau vềmột vấn đề nào đó có liên quan đến bài học; Hoặc trực tiếp ôn lại kiến thức đãhọc ở cấp/lớp dưới, thiết kế dưới dạng kết nối hoặc những câu hỏi đơn giản, nhẹnhàng
+ Thi đọc, ngâm thơ, kể chuyện, hát…: một số hoạt động yêu cầu HS đọcdiễn cảm, ngâm thơ, kể chuyện hoặc hát về chủ đề liên quan đến bài học Cáchoạt động này trong một số trường hợp được thiết kế thành các cuộc thi, nhằmtạo ra không khí sôi nổi, hứng thú trước khi tiến hành học bài mới
– Trò chơi: một số trò chơi trong hoạt động khởi động giúp tạo ra hứngthú trước khi vào bài học mới Các trò chơi này gắn với nội dung mỗi bài học
Hoạt động khởi động khi dạy tác phẩmNgười lái đò Sông Đà của Nguyễn
Tuân GV cho HS xem đoạn video trong phim tài liệu về Sông Đà hoặc cho bàinghe bài hát tiếng gọi Sông Đà
HS trả lời, GV dẫn vào bài mới:
Trang 16Nổi lên như một vì sao tinh tú trên thi đàn văn học Việt nam hiện đại, Nguyễn Tuân được biết đến là một trong những cây bút có sức sáng tạo dồi dào bậc nhất với nhiều thành tựu xuất sắc ở cả hai giai đoạn trước và sau cách mạng tháng Tám Ông là một nghệ sĩ tài hoa, uyên bác và có cá tính độc đáo – một nghệ sĩ suốt đời đi tìm cái đẹp, viết về cái đẹp và say trong cái đẹp Nguyễn Tuân thường khám phá thế giới ở phương diện văn hóa, thẩm mỹ, thường miêu
tả con người trong vẻ đẹp tài hoa của người nghệ sĩ Ông sáng tác nhiều thể loại, nhưng thành công nhất là thể tùy bút Tác phẩm tiêu biểu nhất của thể loại này là tùy bút “Người lái đò sông Đà” Tác phẩm viết về dòng sông thiên nhiên(chất vàng mười) nhưng mục đích là tô đậm vẻ đẹp con người lao động sông nước( thứ vàng mười đã qua thử lửa ) Hôm nay, chúng ta cùng khám phá
vẻ đẹp của tùy bút này.
Hoạt động 2: Hoạt động hình thành kiến thức mới
- Mục đích của hoạt động:
Hoạt động này giúp HS tự chiếm lĩnh kiến thức mới thông qua hệ thốngcác bài tập/nhiệm vụ
- Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ:
Trên cơ sở các nội dung/ nhiệm vụ mà GV giao cho HS chuẩn bị Tới giờhọc, GV tổ chức hướng dẫn học sinh đọc hiểu để hình thành phẩm chất năng lựctheo các bước:
Bước 1: Yêu cầu HS đọc văn bản và chú thích
Lưu ý: Ở nội dung này, GV có thể giao nhiệm vụ cho HS đọc trước ở nhà.Đến lớp chỉ đọc một đoạn hoặc bài ngắn và một vài lưu ý trong chú thích Rồikhái quát lại vấn đề trọng tâm mang tính khái quát của bài học
Bước 2: GV thiết kế và tổ chức các hoạt động hướng dẫn HS tìm hiểu vănbản bằng việc sử dụng một số câu hỏi tập hợp thành một bài tập/nhiệm vụ lớnhơn; thiết kế các bài tập trắc nghiệm, kết hợp tự luận; thiết kế các hoạt động kíchthích, sáng tạo… Nội dung các bài tập/nhiệm vụ trong mục này nêu lên các yêucầu tìm hiểu về đặc điểm thể loại, nội dung, nghệ thuật của văn bản
Bước 3: Dựa trên nhiệm vụ được phân công, các nhóm/các cá nhân thảoluận trao đổi thông tin rồi báo cáo sản phẩm dựa trên nhiệm vụ được giao Khi
tổ chức trao đổi thảo luận hay tìm hiểu khám phá kiến thức bài học như vậy, họcsinh sẽ hình thành và phát huy tốt các năng lực và phẩm chất
Lưu ý:
– GV cần dự kiến những trường hợp HS không làm được bài tập/nhiệm
vụ để có phương án giải quyết Có thể kích thích lại hứng thú hoặc ra bàitập/nhiệm vụ khác, từ những bài tập dễ hơn, phù hợp hơn, rồi từ đó nâng dầnhiểu biết của các em
– Các hoạt động của HS trong mục này gồm: Hoạt động cá nhân, hoạtđộng nhóm Kết thúc hoạt động nhóm, HS phải trình bày kết quả và thảo luậnvới GV
Với Tùy bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân Khi hướng dẫn HS
đọc hiểu, GV lựa chọn các hình thức tổ chức dạy học và PPDH phù hợp với đặc
Trang 17trưng thể loại Khi tổ chức Hoạt động hình thành kiến thức, GV chia nhóm vàgiao nhiệm vụ cụ thể:
Ở nội dung I Giới thiệu chung GV chia làm 3 nhóm
- Nhóm thứ nhất, tìm hiểu khái quát về tác giả Nguyễn Tuân
- Nhóm thứ hai, Tìm hiểu khái quát về tác phẩm (tập Sông Đà)
- Nhóm thứ ba, Tìm hiểu khái quát về tác phẩm Người lái đò Sông Đà
Ở Nội dung 2: Đọc hiểu GV có thể chia ra các nhóm lớn, trong các nhóm
đó, chia thành nhiều nhóm nhỏ tương ứng với từng nội dung của bài học
Ví dụ như:
- Nhóm 1: Vẻ đẹp hung bạo của dòng Đà giang Trong đó có các nhómnhỏ: Nhóm 1: Cảnh đá bờ sông ; Nhóm 2: Ghềnh sông; Nhóm 3: Những cái hútnước; Nhóm 4: cảnh thác đá Sông Đà
- Nhóm 2: Vẻ đẹp thơ mộng, trữ tình của Đà giang Trong đó có các nhómnhỏ: Nhóm 1: Quan sát từ trên tàu bay xuống; Nhóm 2: Quan sát ở nhiều thờigian khác nhau; Nhóm 3: Quan sát trong một chuyến đi rừng ra; Nhóm 4: Quansát khi thuyền trôi trên sông
- Nhóm 3: Vẻ đẹp hình tượng người lái đò
- Nhóm 4: Phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
Khi HS giải quyết được các nhiệm vụ GV giao cho, các em sẽ hình thànhcác năng lực: Năng lực hợp tác; Năng lực tự học, Năng lực sáng tạo; Năng lựcgiải quyết vấn đề… Từ hình tượng Sông Đà và Người lái đò, học sinh sẽ nhậnthức được vấn đề và hình thành được năng lực, phẩm chất cần thiết
Hoạt động 3: Hoạt động luyện tập – thực hành
- Mục đích của hoạt động:
Yêu cầu HS phải vận dụng những kiến thức vừa học được ở hoạt động hìnhthành kiến thức mới để giải quyết những nhiệm vụ cụ thể Thông qua đó GVxem HS đã nắm được kiến thức hay chưa và nắm được ở mức độ nào
- Nội dung và hình thức các bài tập/nhiệm vụ:
Trong phạm vi sáng kiến này, bài tập luyện tập/thực hành được thiết kếtrong họat động luyện tập Trong hoạt động này người viết đưa ra các câu hỏitrắc nghiệm để đánh giá quá trình tiếp thu bài của HS đặc biệt là đánh giá cácnăng lực như: Năng lực giải quyết vấn đề; Năng lực sáng tạo; Năng lực hợp tác,Năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông Đánh giá các phẩm chất:
Tự lập, tự tin, tự chủ; Có trách nhiệm với bản thân
- Lưu ý: HS có thể được hướng dẫn hoạt động cá nhân hoặc nhóm để hoànthành các câu hỏi, bài tập, bài thực hành…Hoạt động cá nhân để HS hiểu và biếtđược mình hiểu kiến thức như thế nào, có góp gì vào hoạt động nhóm và xâydựng các hoạt động của tập thể lớp Hoạt động nhóm để trao đổi, chia sẻ kết quảmình làm được, thông qua đó HS có thể học tập lẫn nhau, tự sửa lỗi cho nhau,giúp cho quá trình học tập của HS hiệu quả hơn Kết thúc hoạt động này HS sẽtrao đổi với GV để được bổ sung, uốn nắn những nội dung chưa đúng
Hoạt động 4: Hoạt động vận dụng
- Mục đích của hoạt động:
Trang 18Hoạt động này giúp HS sử dụng kiến thức, kỹ năng đã học để giải quyếtcác vấn đề, nhiệm vụ trong thực tế “Thực tế” ở đây được hiểu là thực tế trongnhà trường, trong gia đình và trong cuộc sống của HS Hoạt động này sẽ khuyếnkhích HS nghiên cứu, sáng tạo, tìm ra cái mới theo sự hiểu biết của mình; Tìmphương pháp giải quyết vấn đề và đưa ra những các giải quyết vấn đề khácnhau; Góp phần hình thành phẩm chất, năng lực học tập với gia đình và cộngđồng.
- Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ:
+ Trong hoạt động này, GV giao nhiệm vụ, HS làm việc ở nhà, liên hệ từbài học vào thực tế cuộc sống để thực hiện nhiệm vụ Trong các giờ học tiếptheo, GV nhận xét, đánh giá quá trình thực hiện nhiệm vụ của HS về thái độ,tinh thần học tập, khả năng giao tiếp và đánh giá kết quả cuối cùng của HS
+ Với đề tài này GV giao nhiệm vụ và hướng dẫn HS phát hiện nét giống
và khác nhau giữa nhân vật Huấn Cao và Ông lái đò.HS làm việc cá nhân ở nhà,sưu tầm, nhận xét Sản phẩm thể hiện trên giấy A4 Việc đánh giá của GV sẽgiúp HS có kỹ năng viết bài văn nghị luận
- Lưu ý: Hoạt động vận dụng khác với hoạt động thực hành Hoạt độngthực hành là làm các bài tập cụ thể do GV hoặc sách hướng dẫn đặt ra, còn Hoạtđộng ứng dụng là hoạt động được triển khai ở nhà, cộng đồng; Động viênkhuyến khích HS nghiên cứu, sáng tạo; Giúp HS gần gũi với gia đình, địaphương, tranh thủ sự hướng dẫn của gia đình, địa phương HS tự đặt ra yêu cầucho mình, trao đổi và thảo luận với gia đình và cộng đồng để cùng giải quyết.Tuy nhiên hoạt động vận dụng vẫn có thể được tổ chức trên lớp nếu GV thấycần thiết và có thời gian
Hoạt động 5: Hoạt động tìm tòi, mở rộng
- Mục đích của hoạt động:
Hoạt động này giúp HS tiếp tục mở rộng kiến thức, kỹ năng Hoạt độngnày dựa trên lập luận cho rằng, quá trình nhận thức của HS là không ngừng, nhưvậy cần có sự định hướng để đáp ứng nhu cầu tiếp tục học tập, rèn luyện saumỗi bài học cụ thể
- Nội dung và hình thức bài tập/nhiệm vụ cụ thể:
+ Đọc thêm các đoạn trích, văn bản có liên quan
+ Trao đổi với người thân về nội dung bài học như: kể cho người thânnghe về câu chuyện vừa học, hỏi về ý nghĩa câu chuyện…
+ Tìm đọc sách, báo, mạng in-tơ-nét…một số nội dung theo yêu cầu
Trang 19cho HS cấp THPT nói trên, GV cần xác định và nêu rõ các cách thức tổ chứchoạt động cho cá nhân, hoạt động cho cặp đôi, hoạt động nhóm, hoạt độngchung cả lớp, hoạt động với cộng đồng.
+ Hoạt động cá nhân: là hoạt động yêu cầu HS thực hiện các bàitập/nhiệm vụ một cách độc lập Loại hoạt động này nhằm tăng cường khả nănghoạt động độc lập của học sinh, diễn ra khá phổ biến, đặc biệt là đối với các bàitập/nhiệm vụ có yêu cầu khám phá, sáng tạo, hoặc rèn luyện đặc thù
+ Hoạt động cặp đôi và hoạt động nhóm: là những hoạt động nhằm giúphọc sinh phát triển năng lực hợp tác, tăng cường sự chia sẻ và tính cộng đồng.Khi tổ chức hoạt động này, GV cần xác định rõ mục đích, nội dung bàitập/nhiệm vụ cho phù hợp với hoạt động cặp đôi hay hoạt động nhóm Ví dụ: kểcho nhau nghe, nói với nhau một nội dung cần chia sẻ, đổi bài cho nhau để đánhgiá chéo,…Hình thức hoạt động nhóm được sử dụng trong trường hợp cần sựhợp tác
+ Hoạt động chung cả lớp: là hình thức hoạt động phù hợp với số đông
HS Đây là hình thức nhằm tăng cường tính cộng đồng, giáo dục tinh thần đoànkết, sự chia sẻ, tinh thần chung sống hài hòa
+ Hoạt động cộng đồng: là hình thức hoạt động của HS trong mối tươngtác với xã hội Hoạt động với cộng đồng bao gồm các hình thức từ đơn giản như:tham gia bảo vệ môi trường, tìm hiểu các di tích văn hóa, lịch sử ở địaphương…
Định hướng thiết kế bài học Ngữ văn theo hướng phát triển phẩm chất,năng lực của HS cấp THPT trên đây là một hướng đi mới đáp ứng đổi mớiPPDH
*Thực nghiệm sư phạm (phu lục 1)
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1 Hiệu quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm
Để đánh giá hiệu qủa của sáng kiến, tôi đã đối chiếu giữa 2 lớp: lớp với sĩ
số 36, có sử dụng PPDH theo định hướng nâng cao phẩm chất, năng lực ngườihọc như giải pháp sáng kiến đã đề xuất; lớp 12C7 với sĩ số 37 là lớp đối chứng,không sử dụng các giải pháp mà sáng kiến đề xuất Sau giờ dạy thực nghiệm, tôi
có đánh giá kết quả học tập của HS bằng cách cho HS làm bài kiểm tra trong 15phút ở cả 2 lớp (Đề kiểm tra phụ lục 2)
Tiêu chí bài kiểm tra: Tôi xây dựng bài kiểm tra dựa trên cơ sở của yêucầu mục tiêu bài học cần đạt mà giáo án xây dựng theo đúng chương trình chuẩn
do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra Cụ thể, dạy bài bài Người lái đò Sông Đà ở
SGK Ngữ văn, lớp 12- tập 1 Tiêu chí bài kiểm tra thể hiện được sự phù hợp vàđúng đắn, bởi dựa trên mục tiêu yêu cầu bài học của chương trình chuẩn do BộGiáo dục và Đào tạo đề ra chứ không phải do người viết sáng kiến tự đặt ra
Trang 20Hình thức bài kiểm tra là trắc nghiệm Cách đánh giá bài kiểm tra: Mỗicâu trả lời đúng sẽ được 1 điểm/1 câu.Và kết quả như sau:
Số
HS
Kết quả thực nghiệm Điểm
(7-8đ)
Tỉ lệ
%
Điểm TB
(5-6đ)
Tỉ lệ
%
Điểm yếu
Bảng kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS sau thực nghiệm.
Bảng tổng hợp kết quả kiểm tra mức độ nhận thức của HS lớp thựcnghiệm và lớp đối chứng dựa trên thang điểm giỏi, khá, TB và yếu Kết quảthống kê trên được thể hiện dưới dạng biểu đồ như sau:
Biểu đồ So sánh kết quả kiểm tra sau khi dạy thực nghiệm.
Biểu đồ đã biểu thị sự so sánh kết quả kiểm tra lớp thực nghiệm và lớpđối chứng sau khi dạy thực nghiệm Kết quả thực nghiệm đã cho chúng tôi thấy
sự khác biệt giữa kết quả học tập của lớp thực nghiệm và lớp đối chứng Mức độđạt được kiến thức ở 2 lớp có sự chệnh lệch nhau rõ ràng Ở lớp đối chứng, tỉ lệ
HS đạt điểm khá và giỏi chiếm 40,6% Trong khi đó, ở lớp thực nghiệm tỉ lệ HSđiểm khá và giỏi chiếm 74%, hơn 33,4 % so với lớp đối chứng Điểm trung bình
ở lớp đối chứng chiếm tỉ lệ cao lên tới 48,6% và có 10,8% HS đạt điểm yếu.Còn lớp đối chứng số HS đạt điểm yếu không có HS nào và số HS đạt điểm TBchiếm tỉ lệ ít trong tổng số HS, chiếm 26% Như vậy, với kết quả đó có thể
khẳng định dạy học tác phẩm Người lái đò Sông Đà Nguyễn Tuân theo hướng
nâng cao năng lực, phẩm chất người học đã đem lại hiệu quả và có tính khả thi
4.1.2 Hiệu quả về mức độ hứng thú của HS sau khi thực nghiệm
Để khẳng định giờ học thực sự không gây nhàm chán, khó khăn cho cho
HS, tôi đã khảo sát HS thông qua 3 câu hỏi.(Phụ lục 3)
Trang 21Tôi tiến hành khảo sát 36 HS lớp 12c5 trường THPT Như Xuân các mứcđộ: rất thích; thích học; không thích học Kết quả như sau:
Mức độ Rất thích Thích học thích học Không Không rõ
quan điểm
Quan điểm khác
Bảng khảo sát sự yêu thích của HS sau giờ thực nghiệm
Nhìn vào kết quả, bảng khảo sát cho thấy, tỉ lệ số HS rất thích và thíchhọc khi học tác phẩm chiếm 88,9 % Điều đó cho thấy việc áp dụng dạy học tích
hợp trong dạy học tác phẩm Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân đem lại
hiệu quả và có tính khả thi cao
4.1.3 Hiệu quả của sáng kiến đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Đề tài đã được bản thân tôi và một số đồng nghiệp trong tổ Ngữ văn kiểmnghiệm qua thực tiễn giảng dạy tại trường THPT Như Xuân Việc đổi mớiphương pháp giảng dạy đã thực sự phát huy tính tích cực, chủ động của họcsinh, theo đúng mực tiêu phát triển năng lực của người học của chương trìnhgiáo dục phổ thông mới Việc đổi mới PPDH này cũng được chúng tôi áp dụnglinh hoạt trong các bài học, tiết học để mỗi bài học thực sự là một “ cuộc khámphá nhỏ” của của học sinh với kho tàng tri thức
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 3.1.Kết luận
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sáng kiến đã tiến hành thử nghiệm giải
pháp nâng cao phẩm chất, năng lực HS qua giờ dạy học đọc hiểu tuỳ bút Người lái đò sông Đà của Nguyễn Tuân Kết quả thử nghiệm cho thấy có sự chuyển
biến và thay đổi theo hướng tích cực hơn về nhận thức, thái độ và hành vi củahọc sinh Điều này cho phép bước đầu khẳng định tính đúng đắn của giả thuyếtkhoa học và việc hoàn thành nghiên cứu của sáng kiến
Đặc biệt, các giải pháp đã được đề xuất mang tính khả thi và bước đầu đãđược thử nghiệm trong thực tiễn nâng cao phẩm chất, năng lực cho HS trườngtrung học phổ thông Như Xuân Việc đổi mới và nhân rộng các giải pháp nângcao phẩm chất, năng lực cho HS không chỉ đối với trường THPT Như Xuân, cáctrường trung học trên địa bàn huyện, mà còn cho các trường trung học phổ thông
ở các tỉnh thành với những điều kiện tương tự
3.2 Kiến nghị
Đối với Sở giáo dục: Để tạo điều kiện cho GV dạy và HS học tốt mônNgữ văn, tôi mạnh dạn đề nghị tăng cường tổ chức các buổi giao lưu sinh hoạtchuyên môn giữa các trường THPT trong tỉnh (đặc biệt là tổ chức giao lưu kinhnghiệm chuyên môn giữa các trường miền núi với những trường có bề dày thành
Trang 22tích) để các giáo viên có điều kiện học hỏi, trao đổi những phương pháp giảngdạy mới mang tính tích cực Từ đó, các GV sẽ ngày càng linh hoạt và sáng tạotrong việc áp dụng vào từng trường với những đối tượng học sinh cụ thể.
Đối với nhà trường: Cần bổ sung sách tham khảo, sách hướng dẫn, tàiliệu bồi dưỡng kỹ năng sống để GV và HS có thêm điều kiện để dạy và học tốtmôn học
Đối với tổ chuyên môn: Khuyến khích GV trong tổ mạnh dạn đổi mớiphương pháp giảng dạy, để rèn luyện kiểu tư duy mới và đặc biệt là tạo hứng thúhọc tập, khả năng chiếm lĩnh tri thức cho học sinh
Thanh Hóa, ngày 10 tháng 5 năm 2021
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Bộ Giáo dục và Đào tạo (2002), CT THPT, môn Ngữ văn.
2 Phạm Khắc Chương, Nguyễn Thị Yến Phương (2007), Đạo đức học,
NXB Đại học sư phạm, Hà Nội
3 Trần Đình Sử (Tổng chủ biên) (2007), Ngữ văn 12 (cơ bản), Nxb Giáo
dục, Hà Nội
4 Phan Trọng Luận ( Chủ biên) Thiết kế bài học Ngữ văn 12 tập 1( 2008)
5 Đảng Cộng sản Việt Nam (2013), Nghị quyết số 29 – NQ/TW về đổi mới căn bản toàn diện giáo dục và đào tạo, Hà Nội
Trang 236 Sách giáo khoa Ngữ văn12 tập 1 NXBGD 2009
7 Sách giáo viên Ngữ văn 12 tập 1 NXBGD 2009
8 Tài liệu tập huấn đổi mới phương pháp dạy học theo định hướng pháttriển năng lực cho học sinh ở trường trung học cơ sở, trung học phổ thông( 2014)
Trang 24PHỤ LỤC Phụ lục 1 * Thực nghiệm sư phạm
1.Mục đích thực nghiệm
Tiến hành thực nghiệm nhằm đánh giá tính khả thi, tính hiệu quả của cácgiải pháp pháp nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinh qua giờ đọc hiểu Tùy
bút Người lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân - Ngữ văn lớp 12 mà đề tài này đề
xuất Kết quả thu được từ thực nghiệm sự phạm sẽ là cơ sở chứng minh tínhkhoa học, tính đúng đắn, tính khả thi của các giải pháp và kỹ thuật tổ chức dạyhọc nhằm nâng cao năng lực cho học sinh qua các bài học trong môn Ngữ văn
Từ đó bồi dưỡng, phát triển năng lực cho HS, đặc biệt là giáo dục để học sinhhoàn thiện nhân cách đạo đức tiến bộ
2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thực nghiệm
Đối tượng, địa bàn
Đối tượng để chọn thực nghiệm và đối chứng là HS 2 lớp 12 C5; 12 C7;trường THPT Như Xuân nằm trên địa bàn huyện Như Xuân HS ở 2 lớp có họclực như nhau, 100% HS có học lực từ trung bình trở lên Trong đó lớp 12C5 làlớp thực nghiệm, tôi tiến hành dạy học nâng cao phẩm chất, năng lực cho học
sinh trong giờ đọc hiểu Tùy bútNgười lái đò Sông Đà của Nguyễn Tuân bằng
các phương pháp, kĩ thuật dạy học mà đề tài đã đề xuất, lớp 12 C7 là lớp đốichứng không sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học nâng cao năng lực như
đã đưa ra
Thời gian thực nghiệm
Tôi đã tiến hành dạy thực nghiệm Tùy bútNgười lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân theo giáo án đã thiết kế Tiến hành thực nghiệm trong năm học
2020 – 2021 Cụ thể, tôi tiến hành thực nghiệm đúng với thời gian dạy học theoPPCT môn Ngữ văn Điều này vừa đảm bảo tiến trình dạy học diễn ra bìnhthường, không bị xáo trộn, vừa mang tính khách quan của giờ dạy học thựcnghiệm
3 Nội dung thực nghiệm
Dạy học nâng cao phẩm chất, năng lực cho học sinh theo giáo án đã thiết
kế và sử dụng các biện pháp dạy học đã được đề xuất trong sáng kiến So sánhvới kết quả của việc dạy học theo giáo án bình thường
4 Phương pháp và quy trình thực nghiệm
Trang 25Bước 1: Chuẩn bị thực nghiệm, bao gồm các công việc chính như soạn thảonội dung, chương trình thực nghiệm.
Bước 2: Tiến hành thực nghiệm
Đây là bước chủ yếu quyết định kết quả của thực nghiệm
Tôi thực nghiệm tiến hành dạy học theo giáo án đã thiết kế; thời gian tronghọc kỳ 2, năm học 2020 - 2021
Bước 3: Xử lý kết quả thực nghiệm Đây là bước cuối cùng nhằm rút ra kếtquả thực nghiệm Các công việc chính trong bước này bao gồm:
- Chấm các bài kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của HS
- Thống kê, so sánh và rút ra kết luận về kết quả của việc áp dụng quy trìnhdạy học của luận văn
Giáo án thực nghiệm
Giáo án thiết kế theo PPCT môn học, Tùy bút Người lái đò Sông Đà của
Nguyễn Tuân ( Ngữ văn lớp 12 tập 1) gồm 02 tiết Tác giả sáng kiến đã thiết kếthực nghiệm tiết 1 Cụ thể như sau
- Hiểu và yêu mến tài năng nghệ thuật độc đáo của nhà văn
- Nắm được phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân
2 Kỹ năng
- Rèn kĩ năng đọc – hiểu tác phẩm văn xuôi theo thể loại tùy bút
- Học sinh có ý thức sưu tầm các tài liệu liên quan tới nội dung bài học làmphong phú thêm bài học đọc văn
- Năng lực đọc – hiểu Tùy bút
- Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về tác giả, tác phẩm
- Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành công, hạn chế, nhữngđóng góp nổi bật của nhà văn
- Năng lực phân tích, so sánh các đề tài trong sáng tác của Nguyễn Tuân