Theo hướng dẫn của Bộ giáo dục về xây dựng đề kiểm tra, đánh giá năng lực môn Ngữ văn, ở cấu trúc đề kiểm tra giữa kỳ 2 và cuối kỳ 2 thuộc chương trình Ngữ văn 11, ngữ liệu được lựa chọn
Trang 11 MỞ ĐẦU
1.1 Lí do chọn đề tài
Trong chương trình Ngữ văn 11, chủ đề Thơ mới (1932-1945) gắn liền với các văn bản dạy học chính khóa là “Vội vàng” (Xuân Diệu), “Đây thôn Vĩ Dạ” (Hàn Mặc Tử) và “Tràng giang” (Huy Cận) là một chủ đề đầy cuốn hút, gợi được nhiều hứng thú và niềm yêu thích của giáo viên cũng như học sinh Tuy vậy, chỉ với tổng dung lượng 6 tiết theo phân phối chương trình chia đều cho 3 văn bản kể trên, để đa số học sinh đạt được các mục tiêu về kiến thức, kĩ năng, năng lực và thái độ là cả một niềm trăn trở đối với giáo viên giảng dạy Vấn đề đặt ra ở đây là giáo viên cần phải thiết kế được một kế hoạch bài dạy khoa học, hiệu quả Và yếu tố bổ trợ quan trọng để tạo nên thành công cho việc dạy học chủ đề Thơ mới đó chính là cần phải thiết kế được nội dung và lựa chọn được phương pháp hướng dẫn học sinh tự học ở nhà theo chủ đề
Theo hướng dẫn của Bộ giáo dục về xây dựng đề kiểm tra, đánh giá năng lực môn Ngữ văn, ở cấu trúc đề kiểm tra giữa kỳ 2 và cuối kỳ 2 thuộc chương trình Ngữ văn 11, ngữ liệu được lựa chọn cho cả phần đọc hiểu và nghị luận văn học chủ yếu là các văn bản thuộc phong trào Thơ mới (1932-1945) Có thể nói, Thơ mới chính là nguồn ngữ liệu phong phú để học sinh thỏa sức phát triển năng lực học tập môn Ngữ văn thông qua việc luyện tập các đề đọc – hiểu văn bản và nghị luận văn học theo cấu trúc đề kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ, cấu trúc đề thi tốt nghiệp THPT hiện nay, từ đó nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Lâu nay, hoạt động hướng dẫn học sinh tự học ở bộ môn Ngữ văn chủ yếu mới chỉ dừng lại ở việc dặn dò học bài cũ, soạn bài mới theo gợi dẫn sách giáo khoa và trong thời gian một vài phút cuối tiết học chứ chưa được đầu tư và thể hiện một cách cụ thể hóa theo hình thức hướng dẫn tự học theo chủ đề
Vì những lí do trên, tôi đã lựa chọn đề tài “Giải pháp để hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả về chủ đề Thơ mới (chương trình Ngữ văn 11, tập hai) nhằm rèn luyện kĩ năng và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
Tôi nghiên cứu đề tài này với mục đích hướng dẫn cho học sinh phương pháp tự học hiệu quả, rèn luyện được thói quen tự học bộ môn theo chủ đề; giúp học sinh có hiểu biết sâu rộng, phong phú về phong trào Thơ mới; rèn luyện các
kĩ năng và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Đề tài cho thấy tầm quan trọng của việc xây dựng, biên soạn nội dung và phương pháp hướng dẫn học sinh tự học theo chủ đề trong môn Ngữ văn Tôi đã phát huy lợi thế của công nghệ thông tin và mạng xã hội để hướng dẫn học sinh chủ động tiếp cận và lĩnh hội các kiến thức liên quan đến chủ đề Thơ mới mà thời lượng dạy học theo phân phối chương trình không cho phép thực hiện tại lớp: Kiến thức lí luận về thơ trữ tình, kiến thức về phong trào Thơ mới (1932-1945); kĩ năng làm phần đọc hiểu ngữ liệu thơ với các dạng câu hỏi thường gặp
và phương pháp trả lời; kĩ năng làm nghị luận về một đoạn trích, một bài thơ Nhờ có phương pháp hướng dẫn học sinh tự học theo chủ đề hiệu quả, giáo viên không còn áp lực chạy đua với thời lượng tiết học trên lớp, không còn lo “cháy
Trang 2trong các hoạt động học tập trên lớp, tự tin khi làm các đề kiểm tra, các đề thi theo định hướng phát triển năng lực; khơi dậy hứng thú học tập và niềm đam mê khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các giải pháp để hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả về chủ đề Thơ mới (chương trình Ngữ văn 11, tập hai) nhằm rèn luyện kĩ năng và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
Để có cơ sở đánh giá về hiệu quả của việc áp dụng đề tài vào thực tế dạy học, tôi chọn 2 lớp nguyên vẹn thuộc khối 11 của Trường THPT Triệu Sơn 3, năm học 2020-2021 làm lớp đối chứng và lớp thực nghiệm, cụ thể là:
- Lớp đối chứng: 11E36 (Sĩ số: 44 học sinh)
- Lớp thực nghiệm: 11D36 (Sĩ số: 42 học sinh)
Hai lớp được tôi chọn làm đối tượng nghiên cứu của đề tài đều đăng kí học ban cơ bản định hướng khối D1; đều có số lượng học sinh nữ nhiều hơn học sinh nam; có nhiều điểm tương đồng về chất lượng học tập và rèn luyện của học sinh, đặc biệt là về tình cảm, thái độ cũng như năng lực học tập của các em đối với môn Ngữ văn trước khi tác động
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài, tôi đã sử dụng kết hợp những phương pháp nghiên cứu chủ yếu sau:
- Phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết: Nghiên cứu, tìm hiểu
văn bản về công tác giáo dục nói chung, về dạy học môn Ngữ văn nói riêng, đặc biệt là vấn đề tự học và hướng dẫn học sinh tự học Trên cơ sở đó, tiến hành phân tích, tổng hợp, rút ra nội dung bổ trợ cần thiết và vận dụng linh hoạt trong triển khai, thực hiện đề tài
- Phương pháp điều tra khảo sát thực tế, thu thập thông tin: Khảo sát, nắm bắt thông tin về tình hình thực hiện đổi mới phương pháp dạy học và kiểm tra – đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn hiện nay; tìm hiểu thực tế dạy học chủ đề Thơ mới, thực trạng hướng dẫn học sinh tự học
ở nhà và kết quả thực hiện của học sinh; nắm bắt năng lực học tập và vấn đề tự học của học sinh lớp đối chứng và lớp thực nghiệm Từ đó, đánh giá được thực trạng của vấn đề nghiên cứu và đưa ra các giải pháp để giải quyết vấn đề
- Phương pháp thống kê, xử lí số liệu: Căn cứ kết quả kiểm tra giữa kỳ 2, cuối kỳ 2, khảo sát kiến thức thi tốt nghiệp THPT lần 3 (đều tổ chức theo hình thức kiểm tra tập trung, đề chung của tổ chuyên môn và có sử dụng ngữ liệu về thơ mới) của lớp 11E36 và lớp 11D36, trường THPT Triệu Sơn 3, năm học 2020-2021 để thống kê, xử lí số liệu Từ đó, đánh giá được hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
Trang 32 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
Tự học và học tập suốt đời là luận điểm quan trọng trong tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục Đối với Chủ tịch Hồ Chí Minh, tự học có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những nhân tố quyết định tạo nên trí tuệ Bằng tấm gương tự học và học tập suốt đời, Bác Hồ đã để lại nhiều bài học và những kinh nghiệm quý báu cho các thế hệ noi theo
Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương khóa XI về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo cũng nêu rõ mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời…”
Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 chỉ ra rất rõ việc đổi mới dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực học sinh Chương trình giáo dục tổng thể đưa ra 10 năng lực cốt lõi của học sinh.10 năng lực này lại được chia ra thành 2 nhóm năng lực chính là năng lực chung và năng lực chuyên môn
Có ba năng lực chung mà học sinh được chú trọng phát triển trong chương trình giáo dục phổ thông là: Tự chủ và tự học; kỹ năng giao tiếp và hợp tác nhóm với các thành viên khác; giải quyết vấn đề theo nhiều cách khác nhau một cách sáng tạo và triệt để
Thấm nhuần tư tưởng Hồ Chí Minh về giáo dục; hiểu rõ tinh thần chỉ đạo của Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo; triển khai thực hiện đổi mới dạy học và kiểm tra, đánh giá theo định hướng phát triển phẩm chất, năng lực học sinh Từ đó, tôi thấy rõ tầm quan trọng của việc tự học và phương pháp hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả
Tự học là công việc suốt đời của con người trong xã hội học tập hiện nay, đặc biệt trước sự phát triển như vũ bão của khoa học – kĩ thuật, của nền kinh tế tri thức Vì vậy nhu cầu tự học càng trở nên cấp thiết Trong dạy học, muốn đạt hiệu quả cao phải hướng vào việc phát huy năng lực tự học của học sinh, phải kích thích và tạo động lực cho tự học; dạy học phải lấy tự học làm mục tiêu và làm động lực Đối với học sinh, để việc tự học có kết quả, cần phải có sự hướng dẫn của giáo viên
Tự học có hướng dẫn là quá trình người học tự nghiên cứu học liệu, sách giáo khoa để thu nhận kiến thức và tự rèn luyện kỹ năng dưới sự hướng dẫn của giáo viên Việc hướng dẫn học sinh tự học hiệu quả góp phần rèn luyện kĩ năng
và nâng cao chất lượng giáo dục
Ông cha ta từng nói: “Văn ôn, võ luyện” Câu nói dân dã ấy đã chỉ rõ đặc trưng bản chất của việc học môn Ngữ văn nói chung và học chủ đề Thơ mới (1932-1945) nói riêng Giáo viên cần công phu đầu tư xây dựng, biên soạn nội dung và phương pháp hướng dẫn học sinh tự học theo chủ đề; đồng thời, phát
Trang 4huy lợi thế của công nghệ thông tin và mạng xã hội để hướng dẫn học sinh chủ động tiếp cận và lĩnh hội các kiến thức liên quan đến chủ đề học tập
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Trong những năm gần đây, phương pháp dạy học và kiểm tra, đánh giá môn Ngữ văn đã có nhiều chuyển biến tích cực, phát huy được phẩm chất, năng lực của học sinh Đã có nhiều chương trình tập huấn, nhiều đợt sinh hoạt chuyên môn do Sở Giáo dục, nhà trường và tổ chuyên môn tổ chức nhằm bồi dưỡng, trình độ chuyên môn – nghiệp vụ cho giáo viên, nâng cao chất lượng dạy học Chất hượng dạy học nói chung và chất lượng giảng dạy môn Ngữ văn nói riêng của trường THPT Triệu Sơn 3 đã được cải thiện đáng kể, nâng cao vị thế của nhà trường trong khối các trường THPT toàn tỉnh và tạo được sự tín nhiệm của phụ huynh, của nhân dân Về cơ bản, đa số học sinh đều chăm ngoan, chịu khó học tập, có ý thức thực hiện các nhiệm vụ học tập ở nhà theo hướng dẫn của giáo viên Đây là điều kiện thuận lợi để tôi thực hiện đề tài
Tuy nhiên, vẫn còn thực trạng một bộ phận học sinh rất thụ động trong giờ học Ngữ văn, không xung phong phát biểu xây dựng bài, khả năng ghi nhớ kém, kết thúc bài học là quên luôn kiến thức trọng tâm,… Cấu trúc đề kiểm tra,
đề thi môn Ngữ văn rất rõ ràng, dạng câu hỏi ở mức độ nhận biết và thông hiểu chỉ yêu cầu nắm được kiến thức và kĩ năng ở mức cơ bản đã có thể đạt điểm trung bình, thế nhưng nhiều em vẫn chỉ đạt được điểm dưới trung bình, thậm chí
là điểm kém Trong kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2020, theo phổ điểm môn Ngữ văn của cả nước, có 830.764 thí sinh dự thi, trong đó, số thí sinh đạt điểm dưới trung bình vẫn còn tới 75.779 thí sinh (chiếm tỷ lệ 9%), đáng buồn hơn là có
119 thí sinh đạt từ 1 điểm trở xuống (chiếm tỷ lệ 0,01%) Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này Nhưng vấn đề đáng quan tâm hơn cả là giáo viên cần phải đổi mới phương pháp dạy học, mà muốn thực hiện được thì trước hết cần học sinh xây dựng được ý thức tự học, phát huy tính chủ động trong giờ học, có nghĩa là giáo viên cần rèn luyện cho học sinh thói quen tự học hiệu quả, chú trọng hướng dẫn học sinh tự học để cải thiện thực trạng nêu trên
Trong phạm vi thực hiện đề tài, tôi tập trung vào các giải pháp để hướng
dẫn học sinh tự học hiệu quả về chủ đề Thơ mới (1932-1945), chương trình Ngữ văn 11, tập hai, nhằm rèn luyện kĩ năng và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Hướng dẫn học sinh soạn bài thông qua việc sử dụng khung mô tả mức độ yêu cầu của mỗi loại câu hỏi, bài tập theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất người học:
Giáo viên chuẩn bị khung mô tả mức độ yêu cầu của mỗi loại câu hỏi, bài tập có thể sử dụng để kiểm tra, đánh giá năng lực và phẩm chất người học Giáo viên phô tô cho mỗi học sinh một bản, hướng dẫn học sinh về nhà soạn bài bằng hình thức tìm hiểu thông tin trong sách giáo khoa và các nguồn tài liệu tham khảo để trả lời câu hỏi Học sinh căn cứ vào từng nội dung, đối chiếu theo các mức độ: nhận biết - thông hiểu - vận dụng thấp - vận dụng cao, tùy theo năng lực tự học mà có thể trả lời các câu hỏi đến một mức độ nhất định, tối thiểu trong một nội dung phải trả lời được một mức độ, khuyến khích học sinh hoàn thành trả lời tất cả các câu hỏi ở đủ các mức độ Khung mô tả này có thể ứng
Trang 5dụng để soạn bài đối với các văn bản thơ trữ tình, đặc biệt là các văn bản thuộc chủ đề Thơ mới (1932-1945)
Dưới đây là khung mô tả mức độ năng lực dùng để hướng dẫn học sinh soạn bài ở nhà – văn bản thuộc chủ đề Thơ mới:
Mức độ
nhận biết Mức độ thông hiểu
Mức độ vận dụng
và vận dụng cao
Nêu những nét
chính về tác giả?
Chỉ ra những biểu hiện về con người tác giả được thể hiện trong tác phẩm?
Nêu những hiểu biết thêm về tác giả qua việc đọc hiểu bài thơ?
Nêu hoàn cảnh
sáng tác bài
thơ?
Phân tích tác động của hoàn cảnh ra đời đến việc thể hiện nội dung tư tưởng của bài thơ?
Nêu những việc sẽ làm nếu ở hoàn cảnh tương tự của tác giả?
Chỉ ra ngôn ngữ
được sử dụng để
sáng tác bài thơ?
Lý giải một số từ ngữ, hình ảnh… trong các câu thơ?
Đánh giá việc sử dụng ngôn ngữ của tác giả trong bài thơ?
Xác định thể
thơ?
Chỉ ra những đặc điểm về bố cục, vần, nhịp…?
Đánh giá tác dụng của thể thơ trong việc thể hiện nội dung bài thơ?
Xác định nhân
vật trữ tình?
- Nêu cảm xúc của nhân vật trữ tình trong câu thơ /ý thơ?
- Khái quát bức tranh tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
Nhận xét về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong câu thơ/
ý thơ/ bài thơ?
Xác định hình
tượng nghệ thuật
được xây dựng
trong bài thơ?
- Phân tích những đặc điểm của hình tượng nghệ thuật thơ?
- Nêu tác dụng của hình tượng nghệ thuật trong việc giúp nhà thơ thể hiện cái nhìn về cuộc sống và con người?
- Đánh giá cách xây dựng hình
- Nêu cảm nhận/ ấn tượng riêng của bản thân về hình tượng nghệ thuật?
Chỉ ra câu thơ/ ý
thơ thể hiện rõ
nhất tư tưởng
của nhà thơ?
Lí giải tư tưởng của nhà thơ trong câu thơ/ ý thơ đó?
Nhận xét về tư tưởng của tác giả được thể hiện trong bài thơ?
Trên cơ sở các dạng câu hỏi, bài tập theo các mức độ yêu cầu đã có sẵn trên khung mô tả mà giáo viên đã phát ở trên, học sinh đặt khung này vào từng văn bản thơ mới cần soạn bài để cụ thể hóa cách hỏi, từ đó đưa ra câu trả lời phù hợp nhất
Dưới đây là sự cụ thể hóa khung mô tả mức độ năng lực để hướng dẫn học sinh soạn bài “Vội vàng” của Xuân Diệu:
Trang 6Mức độ
nhận biết Mức độ thông hiểu
Mức độ vận dụng
và vận dụng cao
I Tìm hiểu chung:
Nêu những nét
chính về tác giả
Xuân Diệu?
Xuân Diệu là người như thế nào?
Bài thơ giúp em hiểu thêm điều gì về tác giả Xuân Diệu?
Nêu xuất xứ của
bài thơ?
Trình bày những hiểu biết của em về tập thơ “Thơ thơ”?
Tập thơ đó có vị trí như thế nào trong đời thơ Xuân Diệu? Nhan đề của bài
thơ là gì?
Giải thích ý nghĩa của nhan
đề đó?
Lý giải tại sao nhà thơ lại đặt nhan đề là “Vội vàng”?
Đọc và xác định
thể thơ?
Em hiểu thế nào về thể thơ tự do?
Hãy kể tên một số bài thơ cùng chủ đề của Xuân Diệu?
Nhân vật trữ tình
trong bài thơ là ai?
- Những từ ngữ nào trong bài thơ giúp em xác định được nhân vật trữ tình?
- Cảm xúc chủ đạo của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
Em có nhận xét gì về tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài thơ?
II Đọc hiểu văn bản:
1 Tình yêu cuộc sống tha thiết (13 câu thơ đầu):
Mở đầu bài thơ, tác
giả thể hiện một
khát vọng kì lạ đến
ngông cuồng, táo
bạo Đó là khát
vọng gì? Từ ngữ
nào thể hiện điều
này?
- Bức tranh mùa xuân hiện ra như thế nào? Chi tiết thể hiện điều này?
- Chỉ ra phép tu từ đặc sắc và nêu tác dụng?
- Có gì mới trong cách sử dụng nghệ thuật của tác giả?
- Hãy cho biết tâm trạng của tác giả qua đoạn thơ trên?
2 Nỗi băn khoăn về sự ngắn ngủi của kiếp người (Câu 14 đến câu 29):
Chi tiết nào thể
hiện được điều đó?
- Từ quan niệm thời gian là tuyến tính, nhà thơ đã cảm nhận được điều gì?
- Quan niệm về thời gian của người xưa và Xuân Diệu có gì khác?
Quan niệm sống của Xuân Diệu là gì qua đoạn thơ đó?
3 Lời giục giã cuống quýt vội vàng để tận hưởng tuổi xuân của mình (đoạn cuối)
Đọc đoạn thơ 3 - Cảm nhận được sự trôi chảy Trình bày những ấn tượng sâu
Trang 7của thời gian, Xuân Diệu đã làm gì để níu giữ thời gian?
- Hãy nhận xét về đặc điểm của hình ảnh, ngôn từ, nhịp điệu trong đoạn thơ mới?
đậm của cá nhân về hồn thơ Xuân Diệu ?
Giáo dục KNS: Bài thơ thể
hiện quan niệm sống đẹp của một tâm hồn khao khát sống hay chỉ là lối sống tiêu cực gấp gáp?
III Tổng kết - Hãy nêu đặc sắc nghệ thuậtcủa bài thơ? - Hãy rút ra ý nghĩa của vănbản ?
Giải pháp này giúp học sinh tự giác, tích cực và hứng thú hơn trong việc chuẩn bị bài ở nhà về chủ đề Thơ mới, khắc phục hiện tượng soạn bài đối phó Nhờ có khung mô tả mức độ năng lực, học sinh có thể chủ động đọc hiểu các văn bản thuộc chủ đề Thơ mới trong phần giảm tải hoặc ngoài chương trình, mở rộng kiến thức và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu, kĩ năng trả lời tự luận ngắn
2.3.2 Phát huy lợi thế của mạng xã hội để hướng dẫn học sinh tự học, tự tìm tòi, mở rộng kiến thức theo chủ đề dạy học:
Nếu như trước đây, học sinh chủ yếu tìm hiểu kiến thức trong sách giáo khoa và phải vất vả tìm mua một số cuốn sách tham khảo để đọc, soạn bài, củng
cố và mở rộng kiến thức bài học; thì hiện nay, trong thời đại bùng nổ công nghệ thông tin, chỉ cần một cú click chuột, đã hiện lên rất nhiều bài viết theo chủ đề tìm kiếm của học sinh Tuy nhiên, giữa thế giới kiến thức phong phú nhưng khá hỗn tạp, nhiều bài viết chưa được kiểm chứng, thì giáo viên cần chủ động tìm đọc những bài viết chất lượng và chia sẻ lên nhóm lớp để cung cấp cho học sinh Đồng thời, giáo viên giới thiệu cho học sinh địa chỉ trang mạng có nhiều bài viết hay về bộ môn Ngữ văn để học sinh tìm kiếm trong quá trình tự học
Nội dung kiến thức được chia sẻ lên nhóm lớp là kiến thức mở rộng, phù hợp với đối tượng học sinh khá giỏi Khi dạy học chủ đề Thơ mới, giáo viên chia sẻ đường link bài viết về kiến thức lí luận thơ trữ tình, về phong trào Thơ mới, về từng bài thơ mới trong dạy học chính khóa, về các bài thơ mới đặc sắc trong chương trình giảm tải và ngoài chương trình để học sinh tìm đọc
- Giới thiệu địa chỉ một số trang mạng hữu ích về môn Ngữ văn THPT: + https://www.facebook.com/thayhieuvan của thầy Phan Danh Hiếu
+ https://www.facebook.com/nguvanthptquocgia của cô Trịnh Thu Tuyết + https://www.facebook.com/Hocvanvanhoc
+ Thư viện sách điện tử https://ebook.vn
- Các bài viết đã chia sẻ lên nhóm facebook của lớp thực nghiệm 11D36:
Trang 8+ Bài viết “Phương pháp tiếp cận và phân tích tác phẩm trữ tình” của tác giả Trần Đăng Suyền -> https://taodan.com.vn/phuong-phap-tiep-can-va-phan-tich-tac-pham-tru-tinh.html
+ Bài đăng “110 nhận định hay về thơ” -> https://theki.vn/110-nhan-dinh-hay-ve-tho
+ Bài viết “Thơ trữ tình” -> https://www.facebook.com/hocvanvanhoc, đăng ngày 13/5/2015
+ Bài viết “Thơ mới và sự bùng nổ của cái tôi”, đăng ngày 11/01/2015 https://www.facebook.com/Hocvanvanhoc
+ Bài viết “Cái hay của Thơ mới (1932-1945)” của tác giả Bảo Châu, https://caybuttre.vn/cai-hay-cua-tho-moi-1932-1945-bao-chau
+ https://toplist.vn/top-list/bai-van-phan-tich-bai-tho-voi-vang-cua-xuan-dieu-hay-nhat-37028.htm
+ https://download.vn/phan-tich-bai-tho-trang-giang-cua-huy-can-20266 + https://toplist.vn/top-list/bai-van-phan-tich-tac-pham-day-thon-vi-da-cua-han-mac-tu-hay-nhat-37061.htm
Giải pháp này giúp học sinh có thể tranh thủ, tận dụng thời gian mọi lúc, mọi nơi để tự học, tự nghiên cứu nội dung mở rộng của chủ đề Thơ mới theo các địa chỉ giáo viên cung cấp Trên cơ sở đó, giáo viên hướng dẫn học sinh cách vận dụng kiến thức lí luận vào làm bài nghị luận văn học để đạt hiệu quả cao Hướng dẫn học sinh vận dụng những lời nhận định hay về thơ trữ tình, về phong trào Thơ mới, về các nhà thơ tiêu biểu để dẫn dắt mở bài gián tiếp, phân tích, đối sánh trong phần thân bài và đánh giá, mở rộng vấn đề ở phần kết bài để tạo nên
sự sinh động, phong phú, cuốn hút, giàu chất văn và giàu sức thuyết phục trong lập luận, diễn đạt
2.3.3 Sử dụng nguồn ngữ liệu phong phú về chủ đề bài học để thiết kế các
đề đọc hiểu bám sát cấu trúc đề kiểm tra giữa kỳ, cuối kỳ, khảo sát kiến thức thi tốt nghiệp THPT, hướng dẫn học sinh tự luyện tập để củng cố, mở rộng kiến thức bài học và rèn luyện kĩ năng làm phần đọc hiểu:
Dựa theo bảng đặc tả kĩ thuật đề kiểm tra giữa kỳ 2, cuối kỳ 2 chương trình Ngữ văn 11 của Bộ giáo dục, tôi nhận thấy rằng: Các văn bản thơ mới thuộc chương trình giảm tải và ngoài chương trình chính là nguồn ngữ liệu phong phú
để thiết kế các đề đọc hiểu bám sát cấu trúc đề minh họa của Bộ giáo dục Giáo viên giới thiệu cho học sinh tìm mua cuốn sách “Thi nhân Việt Nam” của tác giả Hoài Thanh, Hoài Chân; hướng dẫn học sinh chủ động đọc các bài viết về phong trào Thơ mới, về từng phong cách thơ tiêu biểu, đánh dấu và ghi nhớ những lời đánh giá, bình phẩm đặc sắc của Hoài Thanh, đồng thời đọc hiểu các văn bản thơ tiêu biểu Về phía mình, giáo viên lựa chọn một số văn bản thơ mới để biên soạn đề đọc hiểu, phô tô đề phát cho học sinh về nhà luyện tập Qua đó, vừa giúp học sinh củng cố kiến thức, tìm tòi, mở rộng hiểu biết về chủ đề Thơ mới, vừa rèn luyện kĩ năng làm phần đọc hiểu ngữ liệu thơ mới
Dưới đây là đề đọc - hiểu minh họa:
Trang 9Đọc đoạn trích sau:
Mưa đổ bụi êm êm trên bến vắng,
Đò biếng lười nằm mặc nước sông trôi;
Quán tranh đứng im lìm trong vắng lặng
Bên chòm xoan hoa tím rụng tơi bời.
Ngoài đường đê cỏ non tràn biếc cỏ,
Đàn sáo đèn sà xuống mổ vu vơ;
Mấy cánh bướm rập rờn trôi trước gió,
Những trâu bò thong thả cúi ăn mưa.
(Trích “Chiều xuân” – Anh Thơ, Ngữ văn 11, Tập hai,
NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.51)
Thực hiện các yêu cầu:
Câu 1 Xác định thể thơ của đoạn trích trên.
Câu 2 Tìm những từ láy được sử dụng trong đoạn thơ trên và nêu tác dụng biểu
đạt của việc sử dụng các từ láy đó?
Câu 3 Biện pháp tu từ nào được sử dụng trong câu thơ: “Đò biếng lười nằm
mặc nước sông trôi”?
Câu 4 Cảm nhận về bức tranh chiều xuân qua khổ thơ thứ nhất (trình bày trong
khoảng 5 đến 7 dòng)
Gợi ý đáp án:
Câu 1: Đoạn trích viết theo thể thơ tự do.
Câu 2: Từ láy được sử dụng trong đoạn thơ: êm êm, im lìm, rập rờn, thong
thả… Với việc sử dụng các từ láy này, tác giả làm nổi bật vẻ đẹp yên bình, thơ
mộng, giản dị, thân thương của cảnh xuân làng quê Việt Nam
Câu 3: Biện pháp tu từ được sử dụng trong câu thơ: “Đò biếng lười nằm mặc
nước sông trôi” là nhân hóa.
Câu 4: Cảm nhận về bức tranh xuân qua khổ thơ thứ nhất: Đoạn thơ vẽ khung
cảnh bức tranh chiều xuân ở vùng thôn quê Cảnh vật yên bình, êm ả: Làn mưa bụi, bến đò vắng, con đò nằm im, dòng nước trôi lững lờ, quán tranh im lìm bên bến vắng, hoa xoan tím rụng tơi bời… Cảnh vật hiện lên giản dị, thân thương mang hồn quê; hình ảnh nào cũng gần gũi, quen thuộc như một phần máu thịt trong đời sống tâm hồn bao người dân đất Việt
Quan việc triển khai thực hiện giải pháp này, ta thấy phần đọc hiểu văn bản đóng vai trò quan trọng trong việc lĩnh hội kiến thức, rèn luyện kĩ năng, giúp học sinh đạt được kết quả cao trong làm bài kiểm tra, khảo sát do nhà trường tổ chức, góp phần nâng cao chất lượng dạy học bộ môn
2.3.4 Hướng dẫn học sinh củng cố kiến thức, rèn luyện kĩ năng thông qua hình thức đánh giá sản phẩm tự học của bạn:
Để việc tự học trở thành nhiệm vụ thường xuyên, trở thành thói quen và nhu cầu thiết yếu của học sinh thì sau khi học xong chủ đề, giáo viên cần thực hiện khâu kiểm tra, đánh giá sản phẩm tự học Giáo viên yêu cầu học sinh nạp lại sản phẩm gồm nội dung bài soạn bám sát bảng mô tả năng lực, bài làm hoàn
Trang 10Học sinh nạp sản phẩm tự học theo thời gian quy định, giáo viên hướng dẫn học sinh nhận sản phẩm của một bạn khác để thực hiện việc tự đánh giá chéo ở nhà, sau đó báo cáo kết quả lên trang tính của lớp Giáo viên lấy kênh thông tin này làm cơ sở để đánh giá thường xuyên trong bộ môn
Giải pháp này giúp học sinh một lần nữa ôn tập lại kiến thức đã học, chủ động, tự giác trong quá trình tự học, soạn bài, luyện tập, tìm tòi, mở rộng kiến thức Qua đó, giáo viên có thể quản lí, giám sát, đôn đốc, chấn chỉnh kịp thời đối với học sinh lười học, học đối phó, nâng cao hiệu quả bài dạy và chất lượng học tập
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường
2.4.1 Kết quả kiểm tra, đánh giá chất lượng học tập môn Ngữ văn gắn với chủ đề Thơ mới của lớp đối chứng và lớp thực nghiệm (3 đề kiểm tra được thể hiện ở phần phụ lục):
BẢNG 1: THỐNG KÊ KẾT QUẢ KIỂM TRA, ĐÁNH GIÁ
LỚP ĐỐI CHỨNG 11E36