1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả tiết đọc văn qua khai tác và tổ chức dạy học sáng tạo phần tiêu dẫn

18 17 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 2,07 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2 Mục đích nghiên cứu Môn Ngữ văn ngoài việc trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học, tạo cho các em có khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chươn

Trang 1

MỤC LỤC

1 Mở đầu 1

1.1.Lí do chọn đề tài 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 1

1.3 Đối tượng nghiên cứu 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu 2

2 Nội dung 2

2.1 Cơ sở lí luận: 2

2.2 Thực trạng của vấn đề 4

2.3 Các giải pháp thực hiện 5

2.4 Hiệu quả của sáng kiến 13

3 Kết luận và đề xuất 14

3.1 Kết luận 14

3.2 Đề xuất 14

Trang 2

1 PHẦN MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài.

Bộ môn Ngữ văn không chỉ có đọc văn, ngoài ra còn làm văn, tiếng Việt, học các kiến thức bổ trợ khác Nhưng đọc văn là khâu quan trọng nhất, gắn liền với việc bồi dưỡng năng lực đọc văn, thẩm văn, bồi dưỡng tư tưởng, tình cảm, nhân cách cao đẹp Tuy vậy trong những tiết dạy đọc văn giáo viên và học sinh khi chuẩn bị và tiến hành các hoạt động dạy, học văn bản thường lướt qua phần

“I Tiểu dẫn” Có thể vì cho rằng kiến thức phần này nằm ngoài văn bản, ít quan trọng, không hay sử dụng trong bài văn, trong thi cử hoặc đã có trong sách giáo khoa ai cũng thấy, cũng biết Trước hết phải hiểu kiến thức phần này này sẽ giúp học sinh có được một lối nhỏ (dù không phải là con đường chính thức) để đi vào thế giới nghệ thuật của một tác phẩm văn học Hơn nữa học sinh sẽ có cơ sở để đọc hiểu những văn bản đọc văn khác Đây là phần kiến thức định hướng cần thiết để khám phá, giải mã, tìm hiểu nội dung, nghệ thuật của văn bản Đồng thời sẽ là phần tạo hứng thú, sự chủ động học tập rất tốt cho học sinh cũng như tác động lớn đến việc ghi nhớ kiến thức lâu dài Tôi thực sự thấy rất cần thiết đầu tư, nghiên cứu thiết kế cũng như tổ chức tốt phần Tiểu dẫn này sẽ góp phần quan trọng tạo nên thành công của giờ học đọc văn Vì vậy, tôi viết sáng kiến

kinh nghiệm với đề tài: Một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả tiết đọc văn qua khai thác và tổ chức dạy học sáng tạo phần tiểu dẫn.

1.2 Mục đích nghiên cứu

Môn Ngữ văn ngoài việc trang bị cho học sinh những tri thức để đánh giá đúng các vấn đề văn học, tạo cho các em có khả năng khám phá vẻ đẹp của tác phẩm văn chương còn có nhiệm vụ giúp các em hình thành và phát triển khả năng tự chủ và tự học, nhất là năng lực sử dụng sách giáo khoa, nghe, ghi chép, tìm kiếm thông tin trên cơ sở đó trau dồi phẩm chất linh hoạt, độc lập, sáng tạo của tư duy, phát triển năng lực giao tiếp và hợp tác trong quá trình học nhóm, học ngoài giờ lên lớp và ứng dụng vào thực tế đời sống

Với đề tài Một số kinh nghiệm góp phần nâng cao hiệu quả tiết đọc văn qua khai thác và tổ chức dạy học sáng tạo phần tiểu dẫn các bài học đọc văn

không còn nặng nề, nhàm chán trôi qua Đề tài sẽ định hướng giúp người dạy văn và học văn có một hướng tiếp cận mới, sâu và rộng nhiều màu sắc hơn đối với một phần của bài học tưởng là khô khan với những số liệu có sẵn Tôi chắc chắn rằng với đề tài này tôi đã giúp học sinh tiếp cận bài học theo hướng “mở”, hứng thú, say mê hơn, góp phần định hướng, giải mã kiến thức cần đạt tới của tiết học Từ đó như một lẽ tự nhiên các em nắm vững tri thức văn chương và còn tiếp cận được nhiều tri thức khác, thể hiện nhiều phẩm chất, năng lực của mình Góp phần đổi mới mục tiêu giáo dục phổ thông từ trang bị kiến thức sang nâng cao năng lực người học theo tinh thần của Nghị quyết số 29-NQ/TW cũng như theo tinh thần của Nghị quyết 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã xác định những yêu cầu cần đạt được về phẩm chất, năng lực của học sinh: Năng lực tự chủ và tự học, năng lực giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo

Trang 3

1.3 Đối tượng nghiên cứu:

Đề tài này của tôi sẽ có thể áp dụng vào bất cứ tiết học đọc hiểu văn bản nào, ở bất cứ cấp học nào Bởi lẽ những kiến thức phần Tiểu dẫn lồng ghép trong bài học sẽ giúp học sinh buộc phải hiểu nội dung vấn đề của tiết dạy vừa nâng cao hiểu biết vừa có hứng thú trong học tập theo một phương pháp chủ động tự tìm tòi, nghiên cứu sáng tạo Trên cơ sở đó giáo viên có điều kiện thuận lợi để thực hiện hiệu quả bài dạy của mình Tôi đã áp dụng kinh nghiệm này ở hai khối dạy 11 và 12 năm học 2020-2021 ở cả lớp khối D và lớp khối A, khối A1 đều rất hiệu quả

1.4 Phương pháp nghiên cứu:

- Nghiên cứu tài liệu nghiệp vụ dạy học bộ môn Ngữ văn lớp 11, lớp 12,

sách giáo khoa, sách giáo viên, các tài liệu tham khảo, ý kiến của các nhà nghiên cứu, các nhà quản lí chuyên môn, các giáo viên giỏi trong toàn quốc trên các bài báo, tạp chí khoa học…

- Phân tích, so sánh, đối chiếu yêu cầu giữa chuẩn kiến thức, kĩ năng đối

với bộ môn Ngữ văn bậc THPT với những sản phẩm trên thực tế tìm hiểu của học sinh, tìm ra những hạn chế chủ yếu của học sinh khi học Ngữ văn nhất là khi

đọc hiểu phần Tiểu dẫn So sánh các lớp dạy Trong đó năm học này các lớp chú

trọng phát huy năng lực tìm hiểu kiến thức đọc hiểu phần tiểu dẫn tạo hứng thú cho học sinh tiếp cận, tiếp thu bài học Từ đó có những đánh giá, kết luận được rút ra

- Đưa ra những giải pháp, những đề xuất có tính khoa học để giáo viên có

thể vận dụng vào việc phát huy kiến thức văn hóa, xã hội giúp cho học sinh phát huy hết khả năng phát hiện, vận dụng, khám phá, tư duy sáng tạo, năng lực giao tiếp và các kĩ năng sống cần thiết Từ đó liên hệ đến nội dung, nghệ thuật của văn bản sẽ tiếp nhận

- Phương pháp điều tra, thu thập thông tin: Trò chuyện, tìm hiểu, dự giờ thăm lớp cùng với đồng nghiệp, học sinh và trực tiếp giảng dạy nhiều năm trên lớp

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận.

2.1.1 Đọc hiểu là gì?

Đọc hiểu là hoạt động cơ bản của con người để lĩnh hội tri thức và bồi dưỡng tâm hồn

Đọc là một hoạt động của con người, dùng mắt để nhận biết các kí hiệu

và chữ viết, dùng trí óc để tư duy và lưu giữ những nội dung mà mình đã đọc và

sử dụng bộ máy phát âm phát ra âm thanh nhằm truyền đạt đến người nghe

Hiểu là phát hiện và nắm vững mối liên hệ của sự vật, hiện tượng, đối tượng nào đó và ý nghĩa của mối quan hệ đó Hiểu còn là sự bao quát hết nội dung và có thể vận dụng vào đời sống Hiểu là phải trả lời được các câu hỏi Cái gì? Như thế nào? Làm thế nào?

Đọc hiểu là đọc kết hợp với sự hình thành năng lực giải thích, phân tích, khái quát, biện luận đúng- sai về logic, nghĩa là kết hợp với năng lực, tư duy và biểu đạt

Trang 4

2.1.2 Đọc hiểu văn bản là gì?

Dạy đọc hiểu là việc giáo viên hướng dẫn học sinh sử dụng những kỹ năng để đọc hiểu văn bản thông qua các hoạt động, thao tác và theo một quy trình nhất định nào đó Khi đọc một văn bản, người đọc hiểu phải thấy được:

+ Thể loại của văn bản, nội dung của văn bản; mối quan hệ ý nghĩa của cấu trúc văn bản do tác giả tổ chức và xây dựng

+ Thấy được tư tưởng, ý đồ, mục đích của tác giả gửi gắm trong tác phẩm + Đối với văn bản là tác phẩm văn học: cảm nhận được giá trị đặc sắc của các hình tượng, yếu tố nghệ thuật; ý nghĩa của từ ngữ được dùng trong cấu trúc văn bản

Như vậy đọc hiểu văn bản là hoạt động đọc và giải mã các tầng ý nghĩa của văn bản thông qua khả năng tiếp nhận của người đọc Đọc hiểu tác phẩm văn chương là tiếp xúc với văn bản, hiểu được nghĩa hiển ngôn, nghĩa hàm ẩn, các biện pháp nghệ thuật, thông hiểu các thông điệp tư tưởng, tình cảm của người viết và giá trị tự thân của hình tượng nghệ thuật Đọc hiểu là quá trình thâm nhập vào văn bản với thái độ tích cực, chủ động

Theo GS Trần Đình Sử trong bài viết Đọc hiểu văn bản - khâu đột phá trong nội dung và phương pháp dạy văn cũng đã khẳng định: Dạy văn là dạy cho học sinh năng lực đọc, kỹ năng đọc để học sinh có thể đọc – hiểu bất cứ văn bản nào cùng loại Từ đọc hiểu văn mà trực tiếp nhận các giá trị văn học, trực tiếp thể nghiệm các tư tưởng và cảm xúc được truyền đạt bằng nghệ thuật ngôn từ, hình thành cách đọc riêng có cá tính Đó là con đường duy nhất để bồi dưỡng cho học sinh năng lực của chủ thể tiếp nhận thẩm mỹ Do đó hiểu bản chất môn văn là môn dạy đọc văn vừa thể hiện cách hiểu thực sự bản chất của văn học, vừa hiểu đúng thực chất việc dạy văn là dạy năng lực, phát triển năng lực là chủ thể của học sinh

Nghị quyết số 88 ngày 28/11/2014 của Quốc hội về đổi mới Chương

trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông đã quy định: “Mục tiêu giáo dục phổ thông là tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh.” Để thực hiện mục tiêu này, giáo dục phổ thông cần “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống văn hóa, lịch sử, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời” Hơn nữa, trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa với những tác động tích cực của nền kinh tế tri thức và tiến bộ của thông tin, truyền thông, dạy học Ngữ văn cần phải giúp người học hình thành một hệ thống phẩm chất, năng lực đáp ứng được với yêu cầu mới

Theo từ điển Tiếng Việt: Năng lực là khả năng huy động tổng hợp các kiến thức, kỹ năng để thực hiện thành công một loại công việc trong một bối cảnh nhất định Năng lực gồm có năng lực chung và năng lực đặc thù Năng lực chung là năng lực cơ bản cần thiết mà bất cứ người nào cũng cần phải có để sống và học tập, làm việc Năng lực đặc thù thể hiện trên từng lĩnh vực khác nhau như năng lực đặc thù môn học là năng lực được hình thành và phát triển do đặc điểm của môn học đó tạo nên

Trang 5

2.1.3 Đọc hiểu tiểu dẫn là gì?

Phần Tiểu dẫn mang tính chất, chức năng dẫn dắt, gợi mở để học sinh dựa vào đó mà tìm hiểu bài, học bài; giáo viên soạn bài dựa vào đó mà lựa chọn phương pháp dạy học phù hợp

Cụ thể nhiệm vụ của phần Tiểu dẫn trong sách giáo khoa Ngữ văn là cung cấp các thông tin liên quan đến đọc hiểu văn bản cho học sinh Các tri thức về văn học sử như kiến thức về đặc điểm thời đại, hoàn cảnh ra đời của văn bản văn học, cuộc đời và sự nghiệp văn chương của nhà văn, phong cách nghệ thuật của tác giả; cung cấp tri thức lí luận văn học ở dạng trực tiếp như thể loại Đó chính

là những phương tiện để khám phá văn bản theo quan điểm tiếp cận đồng bộ, giúp học sinh hiểu sâu sắc kiến thức văn học và tự các em có thể thẩm định, đánh giá kiến thức văn học ở một mức độ nào đó

Khai thác phần Tiểu dẫn, giáo viên phải giúp học sinh có cái nhìn sơ lược

về nội dung nghệ thuật của văn bản Điều này được xem là định hướng ban đầu

để tiếp cận văn bản Thông tin khái quát về nội dung của tác phẩm giúp cho hoạt động đọc hiểu văn bản không đi chệch quỹ đạo, giúp người tiếp nhận hiểu một cách đúng đắn về văn bản Đặc biệt, đối với văn bản chỉ là đoạn trích thì phần tóm tắt nội dung tác phẩm giúp cho học sinh nắm bắt một cách đầy đủ về tác phẩm như cốt truyện, tình tiết, nhân vật trong tác phẩm Phần tóm tắt nội dung của tác phẩm là những câu chuyện có tác dụng khơi gợi hứng thú cho học sinh trước khi đi vào đọc hiểu văn bản Hơn thế nó còn có tác dụng khơi gợi giúp học sinh tìm đọc trọn vẹn tác phẩm, tạo cho sở thích đọc sách cho các em Điều này

có ý nghĩa tốt cho việc học văn của học sinh

2.2 Thực trạng của vấn đề

2.2.1 Thực trạng chung.

Ngày nay, xu thế chung của xã hội là phát triển các ngành khoa học kĩ thuật Dưới mái trường phổ thông, các em học sinh thường chú trọng đến bộ môn khoa học tự nhiên hơn là bộ môn khoa học xã hội Dù hôm nay môn Ngữ văn rất quan trọng với kỳ thi vượt cấp và kỳ thi tốt nghiệp quốc gia nhưng đại đa

số học sinh vẫn chưa quen với sự ngang hàng giữa bộ môn khoa học xã hội với

bộ môn khoa học tự nhiên Trường THPT nơi tôi đang công tác dù có những học sinh vốn có năng khiếu về văn học, yêu thích văn chương nhưng vẫn vô cùng khó khăn trong việc tiếp cận với bộ môn khoa học giàu tính nhân văn này Bởi vậy, mỗi giờ học văn diễn ra trong tâm thế còn thờ ơ đón nhận của học sinh và trong nỗi niềm trăn trở của người thầy

Ngoài ra, trong các đề kiểm tra ở các kì thi ít ra nội dung trong phần Tiểu dẫn nên khi khai thác nhiều giáo viên, học sinh thực sự chưa quan tâm và thường dạy, học lướt qua phần này Giáo viên thường cung cấp kiến thức về tác giả, tác phẩm nhưng chưa có sự quan tâm đến việc hướng dẫn HS vận dụng nó

để giải mã văn bản và để giải các đề Làm văn có liên quan Khả năng khai thác

và tổ chức dạy phần Tiểu dẫn của giáo viên còn hạn chế nên chỉ dạy qua loa, hình thức dạy đơn điệu, không gợi được hứng thú học tập cho học sinh

2.2.2 Thực trạng đối với giáo viên

Trang 6

Các giáo viên ở trường THPT Lê Lợi Thọ Xuân đã luôn thường xuyên tìm tòi, vận dụng nhiều sáng kiến kinh nghiệm vào trong bài dạy của mình: có nhiều bài tham gia dự thi đã được xếp giải Tuy giáo viên rất tâm huyết và tích cực nhưng còn lúng túng trong việc tìm ra phương pháp dạy hiệu quả nhất với từng lớp học sinh có trình độ, niềm đam mê văn chương khác nhau Phương pháp dạy đọc hiểu phần Tiểu dẫn đôi khi máy móc rập khuôn, không gây hứng thú cho học sinh Thậm chí do quy định của thời lượng chương trình, có lúc người giáo viên phải cắt thời gian dành cho phần tiểu dẫn, yêu cầu học sinh đọc tại nhà Người giáo viên nên hướng dẫn học sinh hiểu đằng sau những dữ kiện ngắn gọn

về tác giả (tên, tuổi, quê quán, những nét chính về cuộc đời ), sự nghiệp sáng tác( số lượng tác phẩm, phong cách, vị trí của tác giả ), tác phẩm( hoàn cảnh sáng tác,vị trí, xuất xứ, giá trị ) sẽ tiềm tàng nguồn tri thức phong phú, những câu chuyện thú vị, những mối liên hệ rất quan trọng đến bài học

Trong thời đại ngày nay, khi sự giao lưu văn hóa quốc tế được gia tăng, khi điều kiện tiếp xúc các nguồn văn bản được mở rộng hơn bao giờ hết Trong bối cảnh đó trình độ văn hóa được đánh giá bằng năng lực nắm bắt, tiếp nhận thông tin, xử lý thông tin từ các văn bản khác nhau Người lao động và người công nhân hiện đại là người biết nắm bắt thông tin nhanh nhạy Mà muốn thế trước hết họ phải biết đọc, không phải chỉ biết đọc chữ, đọc diễn cảm, mà trước hết phải biết đọc hiểu, qua một văn bản phải biết đâu là chỗ quy tụ thông tin, đâu

là câu then chốt thể hiện tư tưởng của tác giả Muốn vậy cánh cửa đầu tiên đó là đọc hiểu tốt phần Tiểu dẫn

Đặc biệt giáo viên mới chú trọng việc cung cấp kiến thức về tác giả, tác phẩm nhưng chưa có sự quan tâm đến việc hướng dẫn học sinh vận dụng nó để giải mã văn bản Giáo viên đã không đặt nó trong mối quan hệ với văn bản đọc hiểu và thông tin về thể loại của văn bản cũng không được giáo viên vận dụng thường xuyên để tiếp cận văn bản

2.3 Giải pháp

Phương pháp đọc hiểu nói đến các hoạt động chủ động tư duy trong quá trình đọc, nhằm giúp người đọc có được các kết quả đọc hiểu một cách sắc sảo, hiệu quả như : Kích hoạt kiến thức nền, thực hiện các sự kết nối, suy diễn, đặt các câu hỏi, tạo hình ảnh trực quan hóa, tự giám sát trong quá trình đọc

2.3.1 Giải pháp 1: Đọc, nghiên cứu, tìm hiểu và soạn bài hiệu quả phần Tiểu dẫn

Khai thác những nội dung chủ yếu trong phần Tiểu dẫn là yêu cầu học sinh khai thác những thông tin xoay quanh tiểu sử, sự nghiệp sáng tác văn học của tác giả và những thông tin khái quát về văn bản đọc hiểu Tuy nhiên giáo viên định hướng khai thác thông tin theo cách dạy học tích hợp và tích cực; phương pháp và phương tiện dạy học linh hoạt hiện đại để khai thác phần Tiểu dẫn đạt hiệu quả cao nhất

Cụ thể:

* Khi khai thác phần tiểu sử tác giả, giáo viên phải chú ý đến việc vận dụng những thông tin về tác giả trong tiếp nhận văn bản Cần tìm hiểu những chi tiết

về tên, tuổi, hoàn cảnh xuất thân, gia đình, sở thích, cá tính của nhà văn Khi khai thác phần cuộc đời thì chú ý đến những bước ngoặt trong cuộc đời có ý

Trang 7

nghĩa hình thành cá tính, bản lĩnh của nhà văn có ảnh hưởng đậm nét đến quá trình hình thành văn bản Thông tin về tiểu sử của tác giả khi đưa vào sách giáo khoa đều có dụng ý soi sáng cho văn bản

+ Đầu tiên như việc giới thiệu năm sinh năm mất của một tác giả ngoài nắm bắt thông tin cá nhân Học sinh qua đó sẽ thấy được đặc điểm lịch sử, văn hóa của thời đại Điều này sẽ là cơ sở để nhìn nhận đánh giá nội dung, tư tưởng của văn bản Khi nắm bắt được điều này học sinh sẽ nhìn nhận thấu đáo nội dung của văn bản mà không bao giờ bị nhầm lẫn Ví dụ như tác giả Nguyễn Khoa Điềm sinh năm 1943, nhà thơ Xuân Quỳnh sinh năm 1942 hay nhà thơ Thanh Thảo 1946 thì không thể nhầm lẫn là các nhà thơ trưởng thành trong cuộc kháng chiến chống Pháp được Vì tính tuổi ra lúc kết thúc chiến dịch Điện Biên Phủ

1954 họ đều đang nhỏ tuổi Họ là lớp nhà thơ trẻ trong thời kì kháng chiến chống Mĩ nên các tác phẩm của họ trong chương trình Ngữ văn 12 đều sẽ có nội dung liên quan đến hiện thực lịch sử Bởi văn học luôn bám sát và phản ánh hiện thực cuộc sống và nhà văn luôn là “thư kí trung thành của thời đại”

+ Phần thông tin về tên của tác giả cũng chứa đựng những điều thú vị Ví dụ như tác giả Lê Hữu Trác có tên hiệu là Hải Thượng lãn - ông già lười ở đất Thượng Hồng có liên quan đến quê hương phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương quê ông Đặc biệt hơn là ngay từ đầu cho học sinh ấn tượng về thái độ coi thường danh lợi của vị danh y này khi vào kinh chữa bệnh cho cha con chúa Trịnh Sâm Tương tự tác giả Tản Đà, Nam Cao cũng như vậy

+ Phần thông tin về quê quán của các tác giả cũng ảnh hưởng rất nhiều đễn phong cách sáng tác của mỗi người Nếu như khi giới thiệu Tố Hữu quê ở Thừa Thiên Huế thì rất dễ trôi qua thông tin Nhưng nếu giới thiệu, tìm hiểu vùng đất

ấy là quê hương của những điệu hò, điệu lí, của những câu “Nam ai, Nam bình” thì sẽ nhớ sâu đậm giọng thơ trong bài Việt Bắc là giọng thủ thỉ tâm sự, giọng ngọt ngào, tha thiết Hay nhà thơ Xuân Diệu khi “Cha đàng ngoài, mẹ ở đàng trong”, bản thân lại sống, làm việc ở nhiều vùng đất khác như Quy Nhơn, Mĩ Tho, Hà Nội đều để lại dấu ấn rõ nét trong thơ ông và trong bài Vội vàng Có thể kể thêm Hoàng Phủ Ngọc Tường là nhà ăn sinh ra, lớn lên, học tập, trưởng thành đều gắn bó với Huế Có lẽ vì vậy mà tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông thể hiện một kiến thức uyên bác, sự say đắm tài hoa vô cùng về sông Hương, về xứ Huế

+ Các giai đoạn trong cuộc đời nhà văn là những mốc thời điểm quan trọng

có ảnh hưởng đến sự chuyển biến về tư tưởng trong sáng tác của nhà văn Vì vậy khi giới thiệu về tác giả cần chú ý đến đặc điểm này Ví dụ như nhà thơ Huy Cận, Xuân Diệu không thể quên hai giai đoạn trước và sau Cách mạng tháng Tám năm 1945 Nếu trước khi tham gia các mạng họ là các nhà thơ tiêu biểu cho phong trào Thơ mới với cái tôi tiểu tư sản xa rời quần chúng nên nhìn chung rơi vào tình trạng buồn, cô đơn luôn khao khát giao cảm với đời Nhà văn Nguyễn Tuân cũng có bước chuyển biến trong đề tài, trong phong cách nghệ thuật Trước Cách mạng ông đi vào 3 đề tài chủ yếu: chủ nghĩa xê dịch, vang bóng một thời và đề tài tha hóa trụy lạc Sau cách mạng tháng Tám 1945 đề tài trong sáng tác của Nguyễn Tuân phong phú, đa dạng, luôn dùng ngòi bút của mình phục vụ nhân dân, phụng sự cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Phong

Trang 8

các sáng tác của ông cũng có những chuyển biến Đơn cử là tinh thần dân tộc và lòng yêu nước được phát huy mạnh mẽ trong tác phầm của ông Cái đẹp của người tài hoa có thể tìm thấy trong nhân dân trên mọi lĩnh vực như người lao động lái đò trên dòng sông Đà Thiên nhiên vẫn còn là những công trình thiên tạo tuyệt vời

+ Khi giới thiệu tác giả chúng ta chú ý đến việc khái quát là phong cách nghệ thuật của nhà văn bởi dây là một nội dung quan trọng để vận dụng giải mã văn bản Nếu biết được phong cách của một tác giả thì người đọc sẽ dễ dàng có một hướng tiếp cận đúng đắn tác phẩm của tác giả đó, giúp học sinh hình dung những nét khái quát về phong cách nghệ thuật của tác giả Đó là một nội dung gợi dẫn cần thiết để học sinh có hướng tiếp nhận tác phẩm chính xác hơn, nhất

là những nét phong cách được thể hiện trong văn bản đọc hiểu Ví dụ: Giới thiệu phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân “uyên bác, tài hoa” Thông tin này sẽ giúp ta tiếp nhận tác phẩm “Người lái đò sông Đà” của Nguyễn Tuân rất hiệu quả Khai thác nét phong cách tài hoa của Nguyễn Tuân trong tác phẩm qua việc

sử dụng ngôn ngữ phong phú và sáng tạo khi miêu tả sự đau đớn của người lái

đò trong cuộc vật lộn với nước, đá sông Đà ở trùng vi thạch trận vòng thứ nhất.Ông chỉ thay đổi một phụ âm đầu trong từ “méo xệch” So với thông thường “méo xệch” chỉ đơn thuần diễn tả nỗi đau làm biến dạng khuôn mặt nhưng với từ “méo bệch” không chỉ có nghĩa trên mà còn thấy sự nhợt nhạt của khuôn mặt với nỗi đau đến mức tê dại Bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng cần lưu ý đến nhận định trong tiểu dẫn: “Hồn thơ phóng khoáng, hồn hậu, lãng mạn, tài hoa” Từ thông tin có được ở nhận định trên mà khi đọc - hiểu chúng ta sẽ có hướng tiếp nhận văn bản một cách đúng đắn để cảm nhận được cái nhìn, cảm xúc của chủ thể trữ tình biểu hiện ở hình ảnh thơ, ở những chi tiết về người lính Tây Tiến có xuất thân ở chốn Hà thành Phong cách nghệ thuật của các tác giả còn lồng ghép khi giới thiệu các tác phẩm tiêu biểu trong sự nghiệp sáng tác của tác giả

* Khai thác những thông tin khái quát chung về văn bản đọc - hiểu trong phần giới thiệu về văn bản thì hoàn cảnh sáng tác, xuất xứ, vị trí của và đặc biệt

là đặc trưng thể loại của tác phẩm là nội dung không thể bỏ qua

+ Hoàn cảnh sáng tác cho thấy ảnh hưởng trực tiếp của thời đại, cuộc sống của tác giả đối với tác phẩm Trong giờ đọc - hiểu văn bản, giáo viên không chỉ làm công việc giản đơn là cung cấp thông tin về hoàn cảnh sáng tác

mà điều cần thiết là nêu bật vai trò của hoàn cảnh sáng tác chi phối toàn bộ tác phẩm văn học Trong sách giáo khoa vở kịch Hồn Trương chỉ giới thiệu tác phẩm viết 1981 và đến 1984 mới ra mắt công chúng Nếu chỉ đơn thuần cho học sinh ghi nhớ điều này thì rất thiếu sót Mà các em phải hiểu được hoàn cảnh xã hội và văn học thời kì này đã có chuyển biến mạnh mẽ khác so với trước thập kỉ

80 Số phận con người, vấn đề cá nhân những vấn đề tiêu cực nóng bỏng của đời sống trở thành nguồn cảm hứng sáng tạo Từ đó khi đọc hiểu vở kịch học sinh

có thể tư duy với hiện tượng vênh lệch “ bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo” Lưu Quang Vũ qua đó sẽ phê phán biểu hiện tiêu cực của lối sống quá chạy theo tầm thường vật chất, thích hưởng thụ đến nỗi trở nêm phàm phu, tho thiển hoặc lối sống lấy cớ tâm hồn cao quý, tinh thần đáng trọng mà không quan tâm đến sinh hoạt vật chất, không phấn đấu vì hạnh phúc trọn vẹn

Trang 9

+ Về phần giới thiệu xuất xứ, vị trí của văn bản đọc hiểu: Nếu văn bản đọc hiểu là một đoạn trích thì Tiểu dẫn sẽ giới thiệu về vị trí đoạn trích trong tác phẩm Với thông tin về vị trí đọan trích người đọc sẽ theo dõi được mạch cảm xúc trong tác phẩm nếu nó là thơ, nắm được diễn biến của cốt truyện nếu nó là truyện Bài học trong sách giáo khoa thường chỉ lấy một đoạn trích làm nội dung học tập Để hiểu đoạn trích, việc đọc toàn bộ tác phẩm là cần thiết nhưng khó thực hiện trong phạm vi nhà trường Vì vậy, tìm hiểu xuất xứ, vị trí đoạn trích là một cách để biết chung về tác phẩm Từ đó có cơ sở để cảm nhận nội dung và ý nghĩa đoạn trích Biết về xuất xứ của văn bản, học sinh đồng thời cũng biết được đôi nét về nội dung, nghệ thuật của văn bản Bởi vì, tác phẩm văn học là một hệ thống chỉnh thể được cấu tạo bằng ngôn ngữ nghệ thuật, được cấu kết chặt chẽ trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức

+ Một yêu cầu đặt ra trong hoạt động đọc hiểu trong dạy học Ngữ văn theo tinh thần đổi mới là phải gắn với đặc trưng thể loại Dạy tác phẩm văn chương theo thể lọai là dựa vào đặc trưng riêng của từng thể lọai để định hướng tiếp cận, phân tích, lý giải bình giá giá trị tác phẩm văn học trong nhà trường Ngoài ra cò giúp học sinh có kiến thức lí luận mọt cách sát với nhu cầu khi làm văn Nhấn mạnh lúc này để kiến thức lý luận sẽ không khô khan, khó hiểu khi liên hệ đến văn bản đọc hiểu cụ thể Thực tế trong chương trình của sách giáo khoa hiện nay thường tập trung lựa chọn những tác phẩm tiêu biểu cho những thể loại quen thuộc làm văn bản mẫu cho hoạt động đọc hiểu văn bản Trên cơ

sở đó hướng dẫn cách thức phân tích tác phẩm văn học, hướng dẫn cách chiếm lĩnh các tri thức lí luận và lịch sử văn học gắn với thể loại văn học Để hiểu được điều này, sách giáo khoa đã cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ lược về thể loại của văn bản đọc hiểu trong phần Tiểu dẫn mà khi tiếp cận văn bản giáo viên và học sinh phải biết vận dụng nó để việc đọc hiểu diễn ra một cách thuận lợi Ví dụ: Để hướng dẫn cho học sinh đọc hiểu văn bản “Ai đã đặt tên cho dòng sông” của Hoàng Phủ Ngọc Tường, giáo viên cần cho các em hiểu về thể loại bút kí Theo từ điển thuật ngữ văn học là ghi lại những con người thực và sự việc mà nhà văn đã tìm hiểu nghiên cứu cùng với những cảm nghĩ của mình nhằm thể hiện một tư tưởng nào đó Sức hấp dẫn và thuyết phục của bút kí tùy thuộc vào tài năng, trình độ quan sát nghiên cứu, khám phá, diễn đạt của tác giả đối với các sự kiện được đề cập đến Tác phẩm Ai đã đặt tên cho dòng sông là một bút kí đặc sắc mà qua đó học sinh sẽ vừa được làm quen với một thể loại văn học, vừa được biết đến một phong cách bút ký Hoàng Phủ Ngọc Tường tinh

tế tài hoa kết hợp nhuần nhuyễn chất trí tuệ và tính trữ tình, chất nghị luận sắc sảo và sự hiểu biết uyên bác được tổng hợp từ vốn kiến thức phong phú về triết học, văn hoá, địa lý, lịch sử, hội hoạ, âm nhạc, thơ ca… Đoạn trích trong sách Ngữ văn 12 là đoạn miêu tả từ bắt đầu nơi rừng già, dòng sông xuôi về miền đất Châu Hoá, uốn mình qua kinh thành Huế rồi đi về với biển cả Thế cho nên có một cách tiếp cận tác phẩm là căn cứ vào thể loại sẽ giúp học sinh hiểu dụng ý nhà văn muốn gửi đến các đặc điểm của con sông theo từng dòng chảy Sông Hương - mãnh liệt nơi rừng già vùng thượng nguồn; sông Hương - êm đềm nơi đồng bằng và ngoại vi thành Huế; sông Hương - thơ mộng soi bóng kinh thành Huế; sông Hương - day dứt chia tay Huế để về với biển cả Đồng thời đặc trưng

Trang 10

thể loại bút ký là tiếng nói của "cái tôi" chủ thể nên "cái tôi" càng thể hiện đậm nét bao nhiêu bài viết càng dễ đi vào lòng người bấy nhiêu Chắc rằng nhà văn

đã rất ý thức điều ấy nên "cái tôi" Hoàng Phủ luôn xuất hiện: "tôi thường nghe nói đến…", "tôi nghĩ rằng…", "… đánh thức trong tâm hồn tôi…", "tôi thất vọng…" , "tôi hi vọng ", như để trò chuyện, tâm sự và nhiều khi thuyết minh lý giải cho bạn đọc hiểu rõ hơn về dòng sông Hơn nữa giá trị hàng đầu của bút ký

là giá trị nhận thức Một bài bút ký hay như Ai đã đặt tên cho dòng sông giúp

người đọc được hiểu thêm về dòng sông Hương, hiểu thêm về kinh đô Huế, về

xứ Huế, qua đó mà thêm yêu quê hương đất nước mình và người đọc còn được hiểu sâu hơn sức mạnh và giá trị của ngôn từ nghệ thuật Ngay trong phần giới thiêu đặc trưng thể loại giáo viên sơ lược lấy ví dụ qua văn bản sẽ khiến học sinh khi mới đàu đọc văn bản không phải chờ giảng giải mới hiểu mà bước đầu

có cảm nhận yêu thích tác phẩm văn học đặc biệt là thể kí

+ Một nội dung quan trọng không thể thiếu nữa trong phần tiểu dẫn là tìm hiểu khái quát nội dung, nghệ thuật của tác phẩm Đây là định hướng ban đầu để tiếp cận văn bản đúng hướng

2.3.2 Giải pháp 2 Tổ chức cho học sinh tiến hành hoạt động học bằng

hệ thống các câu hỏi từ câu hỏi tái hiện đến những câu hỏi gợi mở, nêu vấn

đề, câu hỏi tình huống

Trên cơ sở những nội dung cơ bản được đề cập trong phần Tiểu dẫn, giáo viên xây dựng câu hỏi nhằm đạt được mục tiêu là học sinh tiếp cận được tri thức

gì qua phần Tiểu dẫn? Giáo viên xây dựng một hệ thống câu hỏi tái hiện, câu hỏi gợi mở câu hỏi nêu vấn đề, câu hỏi tình huống để học sinh lần lượt nắm bắt vấn

đề Đầu tiên có thể đặt câu hỏi tái hiện quen thuộc: Theo em phần tiểu dẫn trong bài học này cần nắm những nội dung cơ bản nào? Học sinh phải luôn nhớ được :

Về tác giả phải nắm rõ những đặc điểm về thân thế, cuộc đời, sự nghiệp sáng tác, phong cách nghệ thuật, những đánh giá về tác giả đó; Về tác phẩm học sinh phải biết rõ hoàn cảnh ra đời, thể loại, những nhận định về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm Tuy nhiên cần phải tiếp tục đặt câu hỏi sáng tạo khác Đặt ra những tình huống mới và giúp học sinh giải quyết là cách để các em nắm lấy kiến thức một cách vững chắc nhất Loại câu hỏi này phù hợp với đổi mới phương pháp dạy học hiện đại Ví dụ : Câu hỏi nêu vấn đề cho hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Anh/chị biết gì về hoàn cảnh ra đời của tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa của Nguyễn Minh Châu? Nguyễn Minh Châu sáng tác vào năm 1983, lúc này cuộc kháng chiến chống Mĩ đã kết thúc, đất nước thống nhất trong nền độc lập hòa bình Cuộc sống mới với “muôn mặt đời thường” đã trở lại sau chiến tranh Nhiều vấn đề của đời sống văn hóa, nhân sinh trước đây do hoàn cảnh chiến tranh chưa được chú ý nay đã được đặt ra, nhiều quan niệm đạo đức phải được nhìn nhận lại trong tình hình mới Như một tất yếu khách quan văn học phải đổi mới Và Nguyễn Minh Châu là nhà văn “mở đường tinh anh và tài năng nhất” Ho nàn cảnh ấy giúp anh/chị hiểu sâu tác phẩm như thế nào? Câu hỏi đặt ra cho học sinh vấn đề: lí giải mối quan hệ giữa hoàn cảnh sáng tác và nội dung tác phẩm Khi dạy tác phẩm Chí phèo của nhà văn Nam Cao nên đặt ra câu hỏi vì sao đề tài người nông dân, người trí thức cứ trở đi, trở lại trong sáng tác của Nam Cao, vì sao Nam Cao lại dành cho Chí Phèo lòng tin tưởng về phẩm

Ngày đăng: 20/05/2021, 21:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w