1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số giải pháp giúp đối tượng học sinh chậm tiến nâng cao chất lượng bài thi môn ngữ văn phần đọc – hiểu và nghị luận xã hội trong kì thi tốt nghiệp THPT

24 21 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 24
Dung lượng 219 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH CHẬM TIẾN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI THI MÔN NGỮ VĂN PHẦN ĐỌC – HIỂU VÀ

Trang 1

SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ

TRƯỜNG THPT YÊN ĐỊNH 3

SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIÚP ĐỐI TƯỢNG HỌC SINH CHẬM TIẾN NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG BÀI THI MÔN NGỮ VĂN PHẦN ĐỌC – HIỂU VÀ NGHỊ LUẬN

XÃ HỘI TRONG KÌ THI TỐT NGHIỆP THPT.

Người thực hiện : Lê Thị Thanh Hương

Chức vụ : Giáo viên

SKKN thuộc lĩnh vực : Ngữ văn

THANH HOÁ NĂM 2021

Trang 2

MỤC LỤC

1 MỞ ĐẦU……… 1

1.1 Lí do chọn đề tài……….… 1

1.2 Mục đích nghiên cứu……… 2

1.3 Đối tượng nghiên cứu………. 2

1.4 Phương pháp nghiên cứu……… 2

2 NỘI DUNG……… 4

2.1 Cơ sở lý luận………. 4

2 2 Thực trạng của vấn đề……… 4

2.3 Giải pháp nhằm nâng cao chất lượng bài thi môn Ngữ văn phần Đọc – hiểu và nghị luận xã hội trong kì thi tốt nghiệp THPT………

5 2.3.1 Giải pháp chung……… 6

2.3.2 Giải pháp cụ thể 6

2.3 2.1 Tìm hiểu từng đối tượng học sinh qua điểm tổng kết lớp 10 và 11 6 2.3.2.2 Xây dựng bản thân trở thành thần tượng trong lòng học sinh chậm tiến………

7 2.3.2.3 Bám sát cấu trúc đề minh họa của Bộ giáo dục và Đào tạo……… 7

2.3.2.4 Bám sát lớp giảng dạy, tìm hiểu phân loại từng đối tượng học sinh 8 2.3.2.5 Chia nhỏ từng dạng cụ thể, dạy dấu hiệu nhận biết đối với phần Đọc – hiểu………

8 2.3.2.5.1 Dạng xác định các phương thức biểu đạt……… 9

2.3.2.5.2 Nắm nội dung chính và các thông tin quan trọng của văn bản; hiểu ý nghĩa của văn bản, tên văn bản………

10 2.3.2.5.3 Dạng tìm ra một số biện pháp tu từ trong văn bản hoặc nêu tác dụng………

10 2.3.2.5.4 Dạng nhận diện phong cách ngôn ngữ tiếng Việt……… 11

2.3.2.5.5 Dạng câu hỏi: “Theo tác giả”……… 13

2.3.2.5.6 Dạng câu hỏi: Nêu nội dung chính của văn bản……… 13

2.3.2.5.7 Dạng câu hỏi: Hiểu biết về nội dung của câu nói/ câu thơ …… 14

2.3.2.5.8 Dạng câu hỏi: Đồng tình hay không đồng tình? Lí giải? 14

2.3.2.5.9 Dạng câu hỏi: Thông điệp/ bài học có ý nghĩa sâu sắc nhất? Vì sao?

15 2.3.2.6 Dạy từng yêu cầu cụ thể với dạng đề nghị luận xã hội……… 15

2.3.2.7 Khen thưởng, động viên kịp thời sự tiến bộ của từng học sinh…… 17

2.3.2.8 Mỗi Giáo viên Ngữ văn phải là điểm tựa tinh thần cho học sinh chậm tiến………

18 2.4 Kết quả ……… 18

3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ……… 20

3.1 Kết luận……… 20

3.2 Kiến nghị……….… 20

Trang 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO………

1 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài

Sinh thời, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng từng nói: “ Nghề dạy học là nghề cao quý nhất trong những nghề cao quý, nghề sáng tạo nhất trong những nghề sáng tạo” Người thầy là cầu nối giữa quá khứ, hiện tại và tương lai, mang

trên vai trọng trách nặng nề Có nhiều người cho rằng: Người thầy giỏi là người

Trang 4

đào tạo ra những chủ nhân xứng tầm như bác sĩ, kĩ sư, doanh nhân thành đạt…

nhằm cung cấp nguồn nhân lực, thúc đẩy sự phát triển của xã hội Theo tôi, điều

đó là chưa đủ Người thầy giỏi phải là người phải đào tạo ra những con người

đủ năng lực và phẩm chất, sống có ích, biết yêu thương, biết trân trọng các giá trị, biết điểm dừng trước cơn giận dữ, biết quý trọng sinh mệnh con người…Đó

mới là cái đích cuối cùng mà giáo dục hướng tới

Trong những năm gần đây, văn hóa mạng và sự bùng nổ của công nghệ thôngtin đang thay thế dần các nấc thang giá trị Câu châm ngôn bao đời ông cha ta

vẫn sống “Tiên học lễ, hậu học văn” có phần nào bị lãng quên Chẳng còn những trang nhật kí thời chiến “dính hồn, dính máu, dính não” mà chỉ còn

những chiếc điện thoại Iphone, Ipad…đạo đức học sinh xuống cấp, chất lượnggiáo dục ngày càng giảm sút Biết bao sản phẩm lỗi của giáo dục mà cả xã hộiđang phải gánh chịu Trong đó, một phần lớn học sinh không thích lao động, chỉthích hưởng thụ, sống thụ động, không tin tưởng vào bản thân Tỉ lệ học sinhyếu kém trượt tốt nghiệp ngày càng nhiều Gánh nặng đặt trên vai xã hội ngày

càng lớn Có bao giờ, người thầy tự hỏi: “Chúng ta đã giáo dục học sinh bằng tất cả chữ TÂM của mình hay chưa?”

Để đánh giá chất lượng giáo dục của một nhà trường, người ta thường căn cứvào hai cơ sở: chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn Có thể nói, ở nhữngtrường THPT có chất lượng đầu vào tốt thì vấn đề này không đáng lo ngại.Ngược lại, ở những trường THPT có chất lượng đầu vào thấp thì kết quả giáodục cuối cùng luôn luôn là niềm quan tâm, trăn trở và lo lắng Đặc biệt là đối

tượng học sinh chậm tiến Các em không chỉ yếu về học lực và mà còn yếu cả

về đạo đức Đây là đối tượng có khả năng trượt tốt nghiệp cao nhất Đó cũng

là áp lực đè nặng lên cả xã hội

Để định hướng nhân cách và đào tạo người học, thầy cô không chỉ là ngườidạy dỗ, dẫn dắt mà còn gần gũi như người cha, người mẹ, người bạn…của họcsinh để thấu hiểu và có những biện pháp giáo dục và giảng dạy phù hợp Mỗihọc sinh đều có một hoàn cảnh riêng, không đồng nhất Bởi vậy, giáo viên phảinắm vững đặc trưng học sinh của mình, thấu hiểu những khó khăn, sự lệch lạcđạo đức xuất phát từ đâu? Dẫn tới việc yếu kém, chán nản trong học tập ở mức

độ nào? Đặc biệt ở những lớp đa phần là học sinh chậm tiến thì cách giáo dục,tác động lại càng quan trọng Các em xem việc đậu tốt nghiệp của mình là mộtđiều xa vời, mông lung và không có cơ sở Xuất phát từ những vấn đề trên, bản

thân tôi mạnh dạn chọn vấn đề: “Một số giải pháp giúp đối tượng học sinh chậm tiến nâng cao chất lượng bài thi môn Ngữ văn phần đọc – hiểu và nghị luận xã hội trong kì thi tốt nghiệp THPT.

Trang 5

1.2 Mục đích nghiên cứu

Tôi nghiên cứu đề tài này nhằm:

- Hệ thống hoá và đề xuất một số giải pháp giúp đối tượng học sinh chậm tiếnnâng cao chất lượng bài thi môn Ngữ văn trong kì thi tốt nghiệp THPT

- Nâng cao chất lượng học tập và giáo dục của bộ môn, góp phần nhỏ bé vàocông cuộc CNH – HĐH đất nước

- Được nghe lời nhận xét góp ý từ đồng nghiệp, đồng môn

- Mong muốn được hội đồng khoa học các cấp nhận xét, đánh giá, ghi nhận kếtqủa nỗ lực của bản thân giúp cho tôi có nhiều động lực mới hoàn thành tốtnhiệm vụ được giao

1.3 Đối tượng nghiên cứu

- Là học sinh lớp 12C7 trường THPT Yên Định 3

* Thuận lợi:

- Học sinh nông thôn, ít tệ nạn xã hội

- Một số em nữ có ý thức chăm ngoan, vươn lên trong học tập để thát khỏi đóinghèo

* Khó khăn:

- Đa phần, học sinh chưa có ý thức tốt trong học tập Các em thường có đặc tínhthích chơi hơn học, hay vi phạm nội quy, vô lễ, đua đòi, thậm chí có những họcsinh tham gia đánh đề, bài bạc, nghiện bi-da, kết quả học tập kém

- Bản thân tôi không trực tiếp giảng dạy lớp 12C7 từ năm lớp 10 và 11, đến nămlớp 12 nhà trường mới phân công giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp THPT cho học

sinh Đây là một khó khăn đối với tôi, như “một mầm non mà bản thân không phải là người ươm mầm và chăm sóc từ ban đầu”, nên việc làm quen, thấu

hiểu tính cách, hoàn cảnh, năng lực của từng học sinh gặp nhiều trở ngại

1.4 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết:

-Nghiên cứu các tài liệu, nghị quyết của Đảng

- Nghiên cứu các chỉ thị của ngành, các tạp chí, các tài liệu có liên quan

* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

- Phương pháp khảo sát và phân loại

- Phương pháp thống kê

- Phương pháp so sánh, đối chiếu

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

Trang 6

2 NỘI DUNG 2.1 Cơ sở lí luận:

Các nghị quyết của Đảng, các văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh, của Ngành giáo dục: Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày

04/11/2013 của Hội nghị lần 8 của BCHTW khóa XI về “Đổi mới căn bản toàn

diện giáo dục - đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH - HĐH trong điều kiện kinh tế thị

Trang 7

trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế” Trong đó có nêu:

Đối với GD phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩmchất, năng lực công dân, phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghềnghiệp cho HS

Học sinh lớp 12 ở lứa tuổi đang đứng trước ngưỡng cửa tương lai, thíchkhẳng định mình Chính vì thế, nếu môi trường tác động tốt thì các em sẽ cónhững hành vi và đạo đức tốt, còn ngược lại thì sẽ rất tồi tệ, có thể các em sẽ hưhỏng, dối trá, mất tư cách, đạo đức kém…điều này ảnh hưởng trực tiếp đến kếtquả học tập và thi cử Tuy nhiên ở lứa tuổi này, các em cũng rất thích được tándương, khen ngợi Vì vậy chúng ta cần những giải pháp thích hợp để giáo dục

và định hướng đúng đắn cho các em học sinh trong các hoạt động giáo dục, họctập và vui chơi lành mạnh, phù hợp với lứa tuổi của các em Có như vậy, chúng

ta mới giáo dục học sinh cuối cấp THPT phát triển một cách đúng nhất về nhâncách cũng như nhận thức của lứa tuổi mình, đặc biệt là các học sinh chậm tiến,

cá biệt

Với học sinh chậm tiến, cần có những biện pháp riêng, phù hợp với hoàncảnh, năng lực của từng em Từ đó, mới hướng các em đi vào nề nếp và phươngpháp học tập phù hợp Muốn làm điều đó giáo viên cần phải có những hiểu biếtnhất định về từng hoàn cảnh, từng nguyên nhân tạo nên những học sinh chậmtiến đó Từ đó xây dựng các biện pháp giảng dạy phù hợp cho đối tượng họcsinh này

2 2 Thực trạng của vấn đề

Thực tế cho thấy các trường THPT trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa vô cùng chútrọng chất lượng mũi nhọn và chất lượng đại trà Nó là cơ sở để khẳng địnhthương hiệu của một địa chỉ giáo dục tin cậy Nhiệm vụ cao cả của nghề dạy học

là ngoài việc giáo dục nhân cách, đạo đức cho học sinh, cảm hóa học sinh hưhỏng, nghịch ngợm thành học sinh ngoan thì người thầy phải cung cấp kiến thức

để học sinh vận dụng vào thực tiễn đời sống Trong đó, kì thi tốt nghiệp THPT

là kết quả của 12 năm đèn sách, là điều kiện đầu tiên để các em vững bước vàotương lai Trong tất cả các lĩnh vực, nhân tố con người sẽ quyết định cho mọi sựthành công hay thất bại

Thực tế nhà trường trong những năm qua, nhiều giáo viên còn gặp khó khăntrong công tác giảng dạy và ôn thi tốt nghiệp cho đối tượng học sinh chậm tiến

Do đặc thù của địa phương nên lượng học sinh vào học tại trường không đồngđều về học lực lẫn hạnh kiểm Việc xếp lớp có sự phân hóa rõ rệt: lớp chọn – lớpđại trà – lớp yếu kém Đặc biệt là đối với học sinh khối 12 nổi trội là những họcsinh yếu kém, ý thức đạo đức yếu Vì vậy, nhiều học sinh đua bạn đua bè bỏ

Trang 8

học, không làm bài tập, nghiện game, không chấp hành nội quy trường lớp, vô lễvới giáo viên…xuất hiện ngày càng nhiều Đặc biệt, chất lượng bài thi cuối cấptrong những năm qua khá thấp so với mặt bằng chung của tỉnh, số lượng bài thimôn Ngữ văn đạt điểm cao chiếm tỉ lệ ít Đa phần, phổ điểm chung trong thi tốtnghiệp THPT dao động từ điểm 2 đến điểm 5

- Nguyên nhân dẫn đến học sinh chậm tiến:

+ Các em đi học do gia đình ép buộc trong khi bản thân không muốn đi Đây làmột thực tế đau lòng

+ Sự kích động từ phim ảnh, các trò chơi bạo lực từ game, do bạn bè lôi kéo, dotác động của xã hội

+ Do cha mẹ ly hôn, dẫn đến buồn chán Do hoàn cảnh khó khăn, phải thườngxuyên làm thêm giúp gia đình dẫn đến học lực sa sút

+ Do lớp học quá nhiều học sinh yếu kém

+ Tư chất chậm trong nhận thức, hổng về kiến thức nên sinh ra mất trật tự,nghịch phá

+ Đối với giáo viên bộ môn: Một số giáo viên phân biệt đối xử Thường xuyên

kỉ luật, hăm dọa, cho nhiều điểm kém, so sánh giữa học sinh này với học sinh

khác…tạo tâm lí chán nản, bi quan cho học sinh chậm tiến Đôi khi, một số đề thi mang tính chất đại trà nhưng vượt tầm của học sinh yếu kém khiến các

Để giảng dạy học sinh chậm tiến không phải là điều dễ dàng Hơn nữa, đó lại là

những học sinh đã quen với cách dạy của thầy cô khác, xa lạ với phong cách

của mình Câu nói của Bác năm xưa : “Ta có yêu dân, kính dân thì dân mới

yêu ta, kính ta” vẫn vẹn nguyên giá trị Nó đúng trong công tác giảng dạy và ôn

thi lớp có nhiều đối tượng học sinh chậm tiến Yếu tố đầu tiên tạo nên sự thayđổi chất lượng giáo dục phải bắt đầu từ tình yêu, sự tôn trọng của người thầy đếnvới mỗi học sinh chậm tiến Lay động các em nhận thức hành vi, hình thành ýthức qua từng tiết học, buổi học

2.3.1 Giải pháp chung

a Về phía giáo viên :

+ Trước hết, việc giáo dục và giảng dạy học sinh chậm tiến có thành cônghay không phụ thuộc vào người thầy Người thầy phải là người có “Tâm” Chữ

“Tâm” tôi muốn nói ở đây không phải là sự yêu thương vô bờ đối với học sinh

Trang 9

như người con, người em ruột thịt, mà đó còn là tâm huyết, tha thiết yêu nghề,tập trung từng hành động nhỏ nhất của mình như cử chỉ, cách ăn mặc, lời ăntiếng nói, chăm chút từng tiết giảng…Trong mắt học sinh, người giáo viên là

“thần tượng”, là “điểm tựa tinh thần” của chúng Đừng để thần tượng sụp đổ

trong mắt các em, các em sẽ hoàn sụp đổ và mất phương hướng Xuất phát từ

chữ tâm ấy sẽ dễ dàng tiếp cận được các em học sinh, sự bao dung và sự chịu khó sẽ giúp cho giáo viên dễ dàng thuyết phục giáo dục được các học sinh cá biệt Cũng từ chữ tâm ấy, sẽ đẩy trách nhiệm, nghĩa vụ của giáo viên chủ nhiệm

lên tầm cao hơn, từ đó trăn trở, suy nghĩ đưa ra biện pháp giáo dục phù hợp vớitừng đối tượng

b Về phía học sinh :

+ Giáo viên giảng dạy môn Ngữ văn phải nắm được đặc điểm, kết quả qua hainăm học ( 10 và 11), hoàn cảnh cụ thể của từng học sinh chậm tiến thông qua sổđiểm bộ môn và giáo viên chủ nhiệm Từ đó cảm thông, tránh sự xúc phạm vôtình đến các em và đồng thời tạo nhiều điều kiện hơn để các em phát huy học tập

2.3.2 Giải pháp cụ thể

2.3 2.1 Tìm hiểu từng đối tượng học sinh qua điểm tổng kết lớp 10 và 11:

Đối với một giáo viên bộ môn, việc tìm hiểu, khai thác và nắm vững chấtlượng môn học lớp 10 và 11 là cơ sở không thể thiếu để biết được đối tượng họcsinh mà mình trực tiếp giảng dạy Giáo viên bộ môn sẽ nhận ra được những khó

khăn, những vấn đề mà từng học sinh còn vướng phải Đa phần học sinh yếu

về văn hóa sẽ kéo theo yếu về đạo đức Việc quan tâm kết quả qua hai năm học

trước đó vô cùng quan trọng để mỗi giáo viên hiểu rõ về đối tượng giáo dục Từ

đó, có những biện pháp tác động hiệu quả

Giáo viên bộ môn cũng cần tránh cái nhìn lí tưởng hóa về lớp học, về học

sinh của mình Phải tập xác định tư tưởng vững vàng để sẵn sàng đón nhậnnhững học sinh chậm tiến về đạo đức lẫn học lực Tạo cho mình năng lượng vàlòng tin giáo dục và giảng dạy học sinh một cách tốt nhất

2.3.2.2 Xây dựng bản thân trở thành thần tượng trong lòng học sinh chậm tiến

Trang 10

Giáo viên phải tôn trọng học sinh chậm tiến, dù các hành vi của chúng có thểgây xúc phạm đến danh dự của mình Tuyệt đối, giáo viên không được xúcphạm danh dự đến các em học sinh trước tập thể lớp Bao dung, vị tha và cảmhóa học sinh bằng chữ “Tâm” ở người thầy.

Giáo viên phải chịu khó lắng nghe tâm sự của các em, thường xuyên quantâm và hỏi thăm, chăm sóc các em trong các điều kiện có thể Từ đó mới tìmhiểu được nguyên nhân chính dẫn đến sự cá biệt của các em mà tìm giải phápcho phù hợp, an ủi và động viên kịp thời các em khi phát hiện những bi kịch,chuyện buồn mà gia đình cũng như xã hội mang lại

Giáo viên phải giữ được chữ tín đối với học sinh cả chuyên môn lẫn nhâncách sống Hứa đi đôi với làm Chú ý cẩn trọng trong từng lời nói, cử chỉ… Giáo viên Ngữ văn không chỉ là người thầy cung cấp kiến thức mà còn địnhhướng đạo đức, uốn nắn nhân cách cho người học Người thầy tránh cách gọicác em là học sinh chậm tiến, đặc biệt là trước lớp, trước mặt người khác Các

em chỉ là những “học sinh chưa ngoan”, “chưa giỏi” Nếu chúng ta gọi các

em là học sinh chậm tiến hoặc cá biệt, chúng ta đã cố tách học sinh ra khỏi lớp

đó, cô lập các em trước lớp Nhiệm vụ của giáo viên là giáo dục học sinh chưa ngoan thành những học sinh ngoan bởi “Nếu bạn nhìn ai đó với ánh mắt yêu

thương, bạn sẽ không nhìn thấy những nét xấu mà bạn sẽ chỉ nhìn thấy những nét đẹp mà thôi”.

2.3.2.3 Bám sát cấu trúc đề minh họa của Bộ giáo dục và Đào tạo:

Việc Bộ giáo dục đổi mới cách ra đề thi tốt nghiệp THPT khiến không ít giáoviên và học sinh khó khăn trong việc tiếp cận kỳ thi tốt nghiệp đang cận kề.Vậy, để có thể có được kết quả bài làm cao nhất thì cả giáo viên và học sinh cầnthực hiện tốt khâu chuẩn bị Bởi khâu chuẩn bị tốt sẽ tạo tâm thế tiếp nhận chohọc sinh

- Về phía giáo viên:

+ Chủ động tìm hiểu, tiếp cận phương pháp, cách thức ra đề thi tốt nghiệp mới.Nắm rõ những chỉ đạo của cấp trên để giữ vững tinh thần của học sinh Đồngthời cung cấp cho các em những hiểu biết đầu tiên về cách ra đề thi, số lượngcâu hỏi bố trí giữa các phần, cấu trúc, mức điểm cho mỗi câu

+ Dựa vào cấu trúc đề minh họa của từng năm, giáo viên sẽ định hướng nhữngnội dung cụ thể, loại bỏ những nội dung không có trong chương trình Đặc biệt,giáo viên cần nhấn mạnh trọng tâm từng bài, từng phần có khả năng ra thi caonhất

Trang 11

+ Sưu tầm những bài thơ, đoạn văn, văn bản liên quan đến những nhà thơ, nhàvăn trong chương trình học, định hướng cho các em bằng các ra những đề thitương tự dưới dạng đọc hiểu và đề mở (đối với phần nghị luận văn học).

+ Giao bài tập cho các em về nhà bằng cách tự cảm nhận một văn bản và kiểmtra lại khoảng thời gian 15 phút đầu giờ học

- Về phía học sinh:

+ Nắm được cấu trúc đề, cách thức đổi mới đề thi tốt nghiệp, tự tạo cho mìnhtâm lý tiếp nhận

+ Tự học, tự cảm nhận văn bản dưới định hướng của giáo viên

+ Thường xuyên theo dõi các thông tin xã hội ở các kênh truyền thông để trang

bị những kiến thức xã hội cho phần nghị luận xã hội

+ Nắm chắc cốt truyện, thuộc lòng thơ, hiểu ý nghĩa của những chi tiết quantrọng trong văn bản truyện

2.3.2.4 Bám sát lớp giảng dạy, tìm hiểu phân loại từng đối tượng học sinh

Đối với GV bộ môn, ngay từ những ngày đầu được giao nhiệm vụ, bản thân

mỗi giáo viên cần bám sát lớp Không phải hết tiết là hết nhiệm vụ Đặc biệt,

ở những lớp có nhiều đối tượng học sinh chậm tiến thì việc nắm vững tình hìnhđặc trưng lớp học về sĩ số, quê quán, hoàn cảnh gia đình…càng quan trọng Từ

đó, giáo viên có thể phân loại từng đối tượng học sinh theo từng nhóm khácnhau, vùng miền khác nhau

Khi phân loại được các đối tượng học sinh, người dạy sẽ chủ động trong việc

ra đề cho phù hợp với đối tượng, điều chỉnh cách dạy Trong các tiết ôn tập

và kiểm tra thực hành, giáo viên có thể ra những câu hỏi vừa sức cho đối tượnghọc sinh chậm tiến Không sử dụng hệ thống câu hỏi quá khó khiến các em rơivào trạng thái tự ti, chán nản… Trong một tiết học, không thể áp dụng giáo áncho cả khối Tùy thuộc vào từng đối tượng học sinh, người dạy sẽ lựa chọn cáchtruyền tải dễ hiểu nhất, đơn giản nhất, tránh cầu kì nhưng đảm bảo đầy đủ vềkiến thức Đặc biệt, người dạy cần ra đề phù hợp theo mức độ từ dễ đến khó chohọc sinh

2.3.2.5 Chia nhỏ từng dạng cụ thể, dạy dấu hiệu nhận biết đối với phần Đọc

– hiểu

Thực tế, có nhiều học sinh tâm sự: “Chúng em mất gốc từ trước, giờ không

hiểu được gì” Vậy nhiệm vụ của người giáo viên là bồi lại cái gốc ấy, chăm

bẵm để nó được nảy mầm Thực ra, môn ngữ văn là môn học dễ bồi lại gốc

nhất, bởi kiến thức được thi vào một số tác phẩm trọng tâm lớp 12 và phần hiểubiết xã hội

Trang 12

Đối với học sinh chậm tiến, có thể nói tất cả kiến thức đối với các em rất mônglung và mơ hồ Giáo viên không thể dạy kiểu định hướng giống như các đối

tượng học sinh khác mà cần “cầm tay chỉ đến nơi” Cần chia rõ từng dạng câu

hỏi cụ thể, hướng dẫn học sinh nhận biết qua những dấu hiệu (nếu có) và cáchtìm câu trả lời đúng nhất

Trong đề thi tốt nghiệp THPT, phần đọc – hiểu có ít nhất là hai câu hỏi dướidạng nhận biết để tránh điểm liệt cho những học sinh yếu kém Thông thường,các câu hỏi chỉ yêu cầu kiến thức cơ bản, dễ nhận diện, không đánh đố học sinh.Nhiệm vụ của người giáo viên là giúp học sinh chậm tiến lấy điểm trọn vẹn ởnhững câu hỏi này

Với dạng câu hỏi đọc – hiểu yêu cầu học sinh đọc và trả lời các câu hỏi về cácphương thức biểu đạt, thể thơ, xác định các biện pháp tu từ Ngoài những câuhỏi về nội dung, thông tin … trong văn bản, thì đề thi còn có những câu hỏi mở,đưa ra những tình huống trong cuộc sống để học sinh thể hiện quan điểm cánhân, yêu cầu các em phải suy ngẫm, đưa ra quan điểm, nhận xét, ý kiến của cánhân, phải phân tích sâu, thuyết phục Vậy muốn làm tốt các em cần rèn luyệntốt kĩ năng đọc – hiểu Các câu hỏi đọc – hiểu thường tập trung vào các khíacạnh sau:

2.3.2.5.1 Dạng xác định các phương thức biểu đạt

- Học sinh cần nắm vững đặc trưng và dấu hiệu để xác định đúng phương thứcbiểu đạt Có 6 phương phương thức biểu đạt được đưa vào giảng dạy nhưngtrong đó, có 4 phương thức được thi nhiều nhất trong đề thi tốt nghiệp THPT

+ Ngữ liệu là thơ: Dạng tồn tại của nó chủ yếu là phương thức biểu cảm Giáoviên cần chỉ rõ cho học sinh thấy những từ ngữ, hình ảnh…biểu thị và bộc lộcảm xúc của nhân vật trữ tình

+ Ngữ liệu là văn xuôi:

Ngày đăng: 20/05/2021, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w