1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Tìm hiểu và giải quyết một số vấn đề khó của hóa vô cơ ở chương trình 10, 11

17 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 303,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nhìn thấy những vấn đề về kiến thức còn tồn tại trong thực tiễn dạy học hóa học để kịp thời nghiên cứu, tìm ra hướng giải quyết tối ưu thì quá trình giảng dạy sẽ đạt hiệu quả cao nhất,

Trang 1

MỤC LỤC

I MỞ ĐẦU

I.1 Lý do chọn đề tài

I.2 Mục đích nghiên cứu

I.3 Đối tượng nghiên cứu

I.4 Phương pháp nghiên cứu

I.5 Những điểm mới

Trang 1 1 1 2 2

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

II.1 Cơ sở lí luận

II.2 Thực trạng vấn đề

II.3 Tìm hiểu và giải quyết một số vấn đề khó của hóa vô cơ ở

chương trình 10, 11

II.3.1 Tìm hiểu một số vấn đề khó của hóa vô cơ trong chương

trình 10, 11.

II.3.1.2 Chương Halogen

II.3.1.2 Chương Oxi – Lưu huỳnh

II.3.1.3 Chương sự điện ly

II.3.1.4 Chương Nitơ – Photpho

II.3 2 Hướng giải quyết các vấn đề.

II.3.2.1 Chương Halogen

II.3.2.2 Chương Oxi – Lưu huỳnh

II.3.2.3 Chương sự điện ly

II.3.2.4 Chương Nitơ – Photpho

II.3.2.5 Chương Cacbon – Silic

II.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo

dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường

3 3 3

3 3 3 3 3 3 3 4 4 5 6 7 10

12 III KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

III.1.Kết luận

III.2 Kiến nghị

12 12 13

Trang 2

I MỞ ĐẦU I.1 Lý do chọn đề tài :

Trong chương trình hóa học vô cơ ở trường THPT hiện nay còn rất nhiều vấn đề tồn tại nhưng chưa thật sự được quan tâm để tìm ra hướng giải quyết Chẳng hạn, do tính chất đặc thù của bộ môn vừa mang tính thực nghiệm, vừa mang tính lý thuyết làm nảy sinh vấn đề là đôi khi có sự không hoàn toàn thống nhất giữa các kiến thức lý thuyết và kết quả thực hành Hơn nữa, hệ thống kiến thức hóa học rất trừu tượng, muốn tiếp thu được cần có hệ thống kiến thức bổ trợ của các môn học khác Đồng thời những kiến thức, khái niệm mang tính logic, có sự kế thừa và phát triển, trong khi thời gian và trình độ phổ thông có hạn Chính vì thế, nhiều lúc giáo viên gặp khó khăn trong trong việc truyền đạt kiến thức đến học sinh Có thể nói, còn nhiều và rất nhiều những vấn đề còn tồn tại, mà đáng chú ý là những tồn tại nảy sinh do sự bất cập về mặt phân phối chương trình và về mặt kiến thức: có những kiến thức chương trình không đưa vào và có những kiến thức đưa ra không đầy đủ dẫn đến giáo viên không có những cơ sở để giải quyết, gây lúng túng cho giáo viên và gây nhầm lẫn cho học sinh

Những tồn tại trên đều chưa hoàn toàn được quan tâm nghiên cứu để tìm

ra hướng giải quyết Do đó, với mong muốn đóng góp một phần nhỏ của mình

để nghiên cứu một số vấn đề còn tồn tại, khó khăn trong thực tiễn dạy học Hóa

vô cơ, đồng thời để hạn chế phần nào những sai lầm về kiến thức mắc phải khi

giảng dạy Hóa vô cơ ở chương trình hóa học 10, 11 tôi đã chọn đề tài: "Tìm hiểu và giải quyết một số vấn đề khó của Hóa vô cơ ở chương trình 10, 11" I.2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu một số vấn đề khó của học phần Hóa vô cơ ở chương trình 10, 11

mà chủ yếu là nghiên cứu vùng kiến thức gây nhiều khó khăn cho giáo viên THPT nhất

- Đề xuất một số biện pháp khắc phục làm cơ sở nghiên cứu cho các giáo viên hóa học ở trường THPT, góp phần nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy

và học bộ môn hóa ở trường phổ thông

- Chuẩn bị tốt kiến thức cho bản thân trước sự hoàn thiện và chính xác hóa các kiến thức hóa học, đặc biệt là sự vận dụng các kiến thức đó vào công tác giảng dạy của bản thân sau này, giảm sự sai sót về mặt kiến thức khi giảng dạy một số kiến thức Hóa vô cơ ở chương trình hóa học phổ thông

I.3 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu nội dung, cấu trúc chương trình hóa học 10, 11 mà chủ yếu dựa trên cấu trúc của một bài giảng hóa vô cơ: cấu tạo, tính chất vật lý, tính chất hóa học, ứng dụng, điều chế

Trang 3

- Nghiên cứu những vấn đề gây nhiều khó khăn cho giáo viên trong thực tiễn dạy Hóa vô cơ 10, 11 ở một số trường THPT

- Tìm, xử lý và giải quyết những vấn đề quan trọng được nhiều người quan tâm nhất

I.4 Phương pháp nghiên cứu.

- Phương pháp điều tra: thông qua việc điều tra một số giáo viên ở các trường THPT để tìm hiểu những vấn đề khó được nhiều giáo viên quan tâm

- Dự giờ trực tiếp một số giáo viên

- Gặp gỡ, trao đổi và lấy ý kiến một số giáo viên

Trên cơ sở các vấn đề giáo viên quan tâm, phương pháp giải quyết các vấn đề ở đây là dựa trên những tài liệu chuẩn nhất để giải thích hoặc trao đổi với các thầy

cô thuộc chuyên ngành Hóa vô cơ

I.5 Những điểm mới.

- Nhìn thấy những vấn đề về kiến thức còn tồn tại trong thực tiễn dạy học hóa học để kịp thời nghiên cứu, tìm ra hướng giải quyết tối ưu thì quá trình giảng dạy sẽ đạt hiệu quả cao nhất, đáp ứng được mục đích nâng cao chất lượng dạy và học hóa học phù hợp với nhu cầu ngày càng cao của xã hội Đồng thời phải nhìn thấy chính mình để tìm cách giải quyết, tự nghiên cứu để có được sự chuẩn xác nhất về kiến thức

Trang 4

II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

II.1 Cơ sở lí luận.

- Vấn đề đã được nhều tác giải nghiên cứu và đưa vào tài liệu giảng dạy nhưng không phải chương trình 10, 11 Hóa học phổ thông

II.2 Thực trạng vấn đề.

- Một số nội dung kiến thức trừu tượng, mang tính áp đặt nên gây khó khăn cho giáo viên trong việc truyền đạt kiến thức cũng như khó khăn trong việc hướng dẫn học sinh tự học, tự nghiên cứu

II.3 Tìm hiểu và giải quyết một số vấn đề khó của hóa vô cơ trong chương trình 10, 11.

II.3 1 Tìm hiểu một số vấn đề khó của hóa vô cơ trong chương trình 10, 11.

II.3.1.1 Chương Halogen

1 Vì sao độ tan của các muối AgX lại giảm dần từ AgF đến AgI ?

2 Tại sao số nguyên tử flo liên kết với các halogen khác tăng dần từ clo đến iot?

II.3.1.2 Chương Oxi – Lưu huỳnh

1 Tại sao Lưu huỳnh (S) lại có khuynh hướng hình thành các phân tử Sn

2 Giải thích tại sao H2SO4 chỉ thể hiện tính oxi hóa mạnh khi ở dạng đậm đặc và chỉ thể hiện tính axit mạnh khi ở dạng loãng?

II.3.1.3 Chương sự điện ly

1 Khả năng thủy phân của muối tan phụ thuộc vào yếu tố nào?

II.3.1.4 Chương Nitơ – Photpho

1 Trong phân tử nitơ N2 và axetilen C2H2 đều có một liên kết ba: NN và CC Nhưng vì sao C2H2 có hoạt tính hóa học rất mạnh (dễ tham gia các phản ứng hóa học) còn N2 lại trơ về mặt hóa học?

2 Vì sao ở nhiệt độ thường chỉ có Li có thể tác dụng trực tiếp với N2 được còn các kim loại kiềm khác thì không?

3 Vì sao N2 được dùng làm khói màu trong điện ảnh?

4 Tại sao CO và N2 có câú trúc phân tử tương tự nhau và có nhiều tính chất

Trang 5

giống nhau nhưng CO có khả năng tạo phức còn N2 thì khả năng tạo phức rất kém?

5 Vì sao các kim loại hoạt động như Mg, Zn, Al khi tác dụng với axit nitric (HNO3) loãng có thể tạo thành hỗn hợp sản phẩm: N2O, N2, NH3,

NH2OH, nhưng khi cho các kim loại kém hoạt động như Cu, Ag, Pb, tác dụng với HNO3 loãng thì sản phẩm chỉ có NO?

6 Những loại muối nào dễ bị nhiệt phân? Giải thích tại sao HNO3 và các muối nitrat kim loại nặng có độ bền nhiệt kém hơn so với các muối nitrat của kim loại kiềm?

II.3.1.5 Chương Cacbon – Silic

1 Tại sao C có khả năng tạo mạch dài, hình thành nên một thế giới hữu cơ đa dạng như vậy?

2 CCl4 là chất trung hòa rất trơ đối với nước, còn SiCl4 có tính axit, rất dễ bị thủy phân?

3 C, Si là 2 nguyên tố kế tiếp của phân nhóm chính nhóm IV nhưng CO2 tồn tại ở trạng thái khí còn SiO2 lại ở trạng thái rắn trong điều kiện bình thường?

4 Giải thích vì sao mức độ linh động của nguyên tử H trong các dãy

hydrocacbon là khác nhau?

II.3 2 Hướng giải quyết các vấn đề.

II.3.2.1 Chương Halogen

1 Vì sao độ tan của các muối AgX lại giảm dần từ AgF đến AgI ?

Hướng giải quyết:

Ta biết rằng bán kính của các ion tăng dần theo thứ tự:

F- < Cl- < Br- < I-

Dẫn đến khả năng biến dạng của các anion đó tăng dần làm cho đặc tính ion của liên kết AgX (X là Halogen) giảm dần và do đó độ tan của các muối bạc Halogenua giảm dần từ AgF đến AgI

Cụ thể ta có độ tan S ở 250C của các muối AgX như sau:

AgF AgCl AgBr AgI

S(mol/l) 0,135 1,26.10-5 7,07.10-7 1,22.10-8

2 Tại sao số nguyên tử flo liên kết với các halogen khác tăng dần từ clo đến iot? Cụ thể:

Halogen Hợp chất với Flo

Br BrF, BrF3, BrF5

Trang 6

Hướng giải quyết:

Do độ âm điện giảm dần từ Clo đến iot nên khuynh hướng giữ chặt cặp electron giảm dần theo thứ tự đó, vì thế năng lượng kích thích nguyên tử cần thiết để hình thành các electron không cặp đôi giảm dần từ clo đến iot, đồng thời theo chiều từ clo đến iot bán kính nguyên tử tăng dần nên số nguyên tử flo có thể phân bố được nhiều hơn xung quanh nguyên tử có kích thước lớn hơn

II.3.2.2 Chương Oxi – Lưu huỳnh

1 Tại sao Lưu huỳnh (S) lại có khuynh hướng hình thành các phân tử S n

(mạch đồng thể) trong khi ở O khả năng này rất khó?

Hướng giải quyết:

Nguyên tử Oxi do bán kính bé nên tạo điều kiện thuận lợi cho việc hình thành liên kết  bền vững Lưu huỳnh (S) có bán kính lớn hơn Oxi (O), khoảng cách giữa 2 AO p xa hơn nên khả năng hình thành liên kết  giống như Oxi là rất khó, ngược lại lưu huỳnh (S) có khả năng hình thành lai hóa sp3 hơn Oxi (O), trong các AO lai hóa đó có 2 AO sp3 chứa 2electron độc thân hướng về hai phía

có 2 electron của 2 nguyên tử lưu huỳnh (S) gần bên Từ đó hình thành liên kết với các nguyên tử lưu huỳnh (S) khác và tạo thành các phân tử Sn

2 Giải thích tại sao H 2 SO 4 chỉ thể hiện tính oxi hóa mạnh khi ở dạng đậm đặc và chỉ thể hiện tính axit mạnh khi ở dạng loãng?

Hướng giải quyết:

Ta biết rằng số oxi hóa của S trong H2SO4 là số oxi hóa tối đa nên H2SO4 chỉ thể hiện tính oxi hóa, và tính oxi hóa này chỉ thể hiện khi H2SO4 đâm đặc và nhất là khi đặc nóng, đồng thời mất hẳn khả năng này khi loãng Nguyên nhân là

do khi đặc H2SO4 tồn tại chủ yếu ở dạng phân tử và khả năng nhận electron của phân tử thì dễ hơn so với anion HSO

4, SO2 

4 tồn tại khi loãng Mặt khác, trạng thái lai hóa sp3 tương đối đặc trưng cho S và chỉ phân tử H2SO4 do có độ bền kém nhất theo dãy: H2SO4 , HSO

4, SO2 

4 nên mới có tính oxi hóa mạnh

S O

O

O

O

H

H

S O

O O

O

S O

O O

-tứ diện lệch không bền

Tính đối xứng tăng và số liên kết  tăng

tứ diện đều, liên kết  tỏa đều cho tất cả các nguyên tử O  bền nhất

Trang 7

Do H2SO4 đặc tồn tại chủ yếu ở dạng phân tử nên sự phân li cho H+ xảy ra yếu , do đó thể hiện tính axit yếu H2SO4 loãng thể tính axit mạnh điển hình do

có sự phân li thành HSO4- và SO42-:

H2SO4 ⇄ H+ + HSO

4 HSO

4 ⇄ H+ + SO2 

4

H2SO4 loãng không có khả năng oxi hóa như với axit đặc mà giống như những axit thông thường khác, nó hòa tan các kim loại hoạt động nhờ khả năng oxi hóa của ion H3O+ thành H2 bay lên

II.3.2.3 Chương sự điện ly

1 Khả năng thủy phân của muối tan phụ thuộc vào yếu tố nào?

Hướng giải quyết:

Phản ứng thủy phân là phản ứng trao đổi của chất tan và dung môi Sự thủy phân của các muối tan là kết quả tương tác phân cực giữa các ion với lớp vỏ Hydrat của chúng Đặc điểm và mức độ phân hủy các phân tử lớp vỏ Hydrat phụ thuộc vào bản chất của các cation và anion Tác dụng phân cực của các ion càng mạnh thì sự thủy phân được tiến hành với mức độ càng lớn Cụ thể là:

- Vì các cation liên kết với các phân tử H2O bằng liên kết cho nhận nên điện tích của cation càng cao và kích thước của nó càng nhỏ thì khả năng nhận cặp electron từ O trong H2O của nó càng lớn (liên kết M-OH2 càng bền), liên kết

O-H của phân tử O-H2O phối trí bị phân cực càng mạnh và liên kết Hydro giữa phân

tử H2O phối tử và các phân tử dung môi càng mạnh Do đó xảy ra sự đứt liên kết O-H trong phân tử H2O phối trí và chuyển liên kết Hydro H OH2 thành liên kết cộng hóa trị với sự tạo thành ion OH

3 và phức chất hydroxo-aquơ theo sơ đồ:

M

n +

M

(n-1) +

n +

+ OH3+

Điều này giải thích tại sao các muối của các cation có điện tích lớn như Al3+,

Cu2+, Fe2+, Fe3+, Cr3+ có khả năng thủy phân và tạo thành môi trường có tính axit Còn các cation kim loại kiềm và kiềm thổ thì khả năng thủy phân rất yếu

- Vì sự hydrat hóa các anion được thực hiện nhờ liên kết Hydro, cho nên tương tác phân cực giữa chất tạo phức (anion) và các phân tử H2O có thể biến liên kết Hydro thành liên kết cộng hóa trị Khi đó proton có thể tách ra khỏi phân tử H2O và kết hợp với anion Như vậy là điện tích âm của anion càng lớn

và kích thước của nó càng nhỏ thì nó cho cặp electron càng mạnh và càng dễ tách proton ra khỏi phân tử H2O

Điều này giải thích tại sao các anion có một điện tích như Cl-, Br-, I-, NO3

Trang 8

thì rất khó bị thủy phân, còn các ion như CO2 

3 , PO2 

3 , SO2 

3 có khả năng thủy phân mạnh và cho môi trường kiềm

II.3.2.4 Chương Nitơ – Photpho

1 Trong phân tử nitơ N 2 và axetilen C 2 H 2 đều có một liên kết ba: N N và

C C Nhưng vì sao C 2 H 2 có hoạt tính hóa học rất mạnh (dễ tham gia các phản ứng hóa học) còn N 2 lại trơ về mặt hóa học?

Hướng giải quyết:

Vấn đề này có thể được giải quyết dựa vào các cơ sở sau:

- Cacbon khác với nitơ là cacbon có khả năng tách cặp electron 2s, liên kết đơn C – C (EC-C = 345 kJ/mol) bền hơn hẳn so với liên kết đơn N – N (EN-N =

169 kJ/mol) Điều này chứng tỏ khả năng tạo thành sự phân bố tứ diện đều của các liên kết C – C trong không gian xung quanh mỗi nguyên tử C dẫn đến sự tạo thành liên kết đơn bền khác thường

- Sự tạo thành phân tử N2 từ nguyên tử kèm theo sự tách một lượng năng lượng lớn:

2N = N2 + 945 kJ/mol

điều đó có nghĩa là tỏa nhiệt mạnh Vì thế phân tử N2 rất bền, để phá vỡ nó cần tiêu tốn một năng lượng lớn Ngoài ra khoảng cách giữa 2 hạt nhân NN rất nhỏ: 1,094 A0, điều này cũng xác nhận tính bền cực kỳ cao của liên kết NN trong phân tử N2

Về mặt nhiệt động ta thấy rằng liên kết NN bền hơn liên kết CC thông qua giá trị năng lượng liên kết :

E N N = 945 kJ/mol ; EN-N = 169 kJ/mol

EC C = 830 Kj/mol ; EC-C = 345 kJ/mol

Như vậy là liên kết ba NN bền gấp 6 lần liên kết đơn N-N, trong khi liên kết ba CC chỉ bền gấp 2,5 lần liên kết đơn C-C Sự khác nhau về độ bền của liên kết đơn A – A ở các nguyên tố cạnh nhau trong bảng hệ thống tuần hoàn được giải thích bằng sự có mặt ở nitơ các electron trong liên kết, không tham gia vào sự tạo thành liên kết đơn, mà còn làm yếu nó Nguyên nhân là do các electron không liên kết làm tăng sự đẩy giữa các nguyên tử Vì thế mạch – N –

N – N – không bền khác với mạch C

Mặt khác, sự khác nhau về bán kính nguyên tử cũng là một trong những nguyên nhân làm cho liên kết đơn N – N kém bền hơn liên kết đơn C – C, mà cụ thể là khi bán kính nguyên tử nhỏ, lực đẩy giữa các electron càng lớn làm cho liên kết đơn càng kém bền

Tóm lại, sự hình thành liên kết  giữa các nguyên tử C là không thuận lợi bằng sự tạo thành ở mỗi nguyên tử C 4 liên kết đơn nên liên kết  trong mạch C kém bền, dễ bị phá vỡ để hình thành liên kết  bền hơn.Còn sự phá vỡ liên kết

Trang 9

đầu tiên trong phân tử N2 tiêu tốn một năng lượng khá lớn nên nó ngăn cản sự phá vỡ liên kết ba NN Vì thế mà N2 trơ về mặt hóa học trong khi C2H2 thì hoạt tính hóa học rất mạnh

Ngoài ra, một nguyên nhân nữa ở đây có thể là do liên kết NN không phân cực, còn liên kết CC có thể bị phân cực do nhóm thế và do đó làm tăng hoạt tính của liên kết trong C2H2 lên

2 Vì sao ở nhiệt độ thường chỉ có Li có thể tác dụng trực tiếp với N 2 được còn các kim loại kiềm khác thì không?

Hướng giải quyết:

N2 chỉ có khả năng phản ứng trực tiếp với các chất khi năng lượng của phản ứng đủ bù đắp cho sự phá vỡ liên kết NN Dựa vào tính bền của LiN3 ta có thể

lý giải được nguyên nhân khiến Li có thể tác dụng trực tiếp với N2 ở điều kiện thường Cụ thể, nhiệt tạo thành của LiN3 là

3 Vì sao N 2 được dùng làm khói màu trong điện ảnh?

Hướng giải quyết:

N2 được dùng làm khói màu trong điện ảnh vì: N2 có nhiệt độ hóa lỏng rất thấp (-195,80C) nên khi xả N2 lỏng ra môi trường thì N2 hóa hơi làm cho nhiệt độ môi trường xung quanh giảm đột ngột, do đó hơi nước trong không khí sẽ ngưng

tụ lại thành rắn giống như sương mù màu trắng, và dưới ánh đèn màu ta thấy như có khói màu

4 Tại sao CO và N 2 có câú trúc phân tử tương tự nhau và có nhiều tính chất giống nhau nhưng CO có khả năng tạo phức còn N 2 thì khả năng tạo phức rất kém?

Hướng giải quyết:

Trong phân tử N2 có cặp electron chưa tham gia liên kết ở vào obitan lai hóa

sp của N, còn trong phân tử CO cặp electron chưa tham gia liên kết nằm trên obitan lai hóa sp của C Vì độ âm điện của Nsp (sp = 5,07) lớn hơn rất nhiều so với độ âm điện của Csp (sp = 3,29) nên cặp electron trong phân tử N2 bị giữ chặt hơn, khó tham gia hình thành liên kết cho nhận với nguyên tử kim loại chuyển tiếp, trong khi đó cặp electron ở phân tử CO thì thuận lợi hơn cho qúa trình hình thành liên kết cho nhận Đó là lí do làm cho CO tạo được với kim loại chuyển tiếp cacbonyl kim loại còn N2 thì không

5 Vì sao các kim loại hoạt động như Mg, Zn, Al khi tác dụng với axit nitric (HNO 3 ) loãng có thể tạo thành hỗn hợp sản phẩm: N 2 O, N 2 , NH 3 ,

Trang 10

NH 2 OH, nhưng khi cho các kim loại kém hoạt động như Cu, Ag, Pb, tác dụng với HNO 3 loãng thì sản phẩm chỉ có NO?

Hướng giải quyết:

Có thể giải thích vấn đề này dựa trên sự hình thành hidro nguyên tử Trong dung dịch HNO3 loãng, H+ tạo ra nhiều Đồng thời với sự có mặt của một chất khử mạnh thì vai trò oxy hóa của H+ tăng lên, xảy ra sự cạnh tranh giữa khả năng nhận electron của H+ tạo thành H nguyên tử và của NO3- tạo thành NO Hydro nguyên tử có độ hoạt động mạnh, sẽ khử ngay HNO3 cùng với NO tạo thành các sản phẩm N2O, N2, NH3, NH2OH,

6 Những loại muối nào dễ bị nhiệt phân? Giải thích tại sao HNO 3 và các muối nitrat kim loại nặng có độ bền nhiệt kém hơn so với các muối nitrat của kim loại kiềm?

Hướng giải quyết:

Độ bền đối với nhiệt của muối phụ thuộc vào bản chất của cation kim loại và của anion axit Số muối có rất nhiều và phản ứng nhiệt phân của muối rất đa dạng Tuy nhiên có thể hệ thống hóa một số nét chủ yếu sau:

- Muối của kim loại kiềm nói chung bền nhiệt hơn muối của kim loại kiềm thổ, muối của kim loại kiềm thổ bền hơn muối của các kim loại khác, nhất là kim loại chuyển tiếp Điều này được giải thích dựa vào tác dụng phân cực của ion kim loại: cation nào càng gây biến dạng càng nhiều thì muối càng có tính cộng hóa trị và do đó càng kém bền Khả năng phân cực của cation phụ thuộc vào các yếu tố được nhắc đến ở mục I.2.5.1

Điều này giải thích tại sao khả năng phân hủy của các muối cacbonat là khác nhau Cụ thể là:

K2CO3 nóng chảy ở 9000C

CaCO3 phân hủy trên 8500C

FeCO3 phân hủy trên 4000C

- Muối của axit bền hơn bản thân axit

- Độ bền nhiệt của muối tỉ lệ với độ bền nhiệt của axit: muối của axit bền sẽ bền hơn muối của axit kém bền,

Có 2 kiểu nhiệt phân của axit:

a) Axit mất H2O biến thành anhidrit axit

Vd: H2CO3 không bền, ngay ở nhiệt độ thường đã phân hủy hoàn toàn:

H2CO3 → CO2 + H2O

H3BO3 mất nước ở trên 1000C :

2H2BO3 → 2B2O3 + 3H2O

H2CrO4 chỉ tồn tại trong dung dịch, khi cô đặc dung dịch nó phân hủy

H2CrO4 → CrO3 + H2O

Các axit H3PO4 và H2SO4 bền hơn nhiều

b) Axit phân hủy theo phản ứng oxi hóa khử hay tự khử, tự oxi hóa: Vd: HNO3 tinh khiết dễ phân hủy ở nhiệt độ thường

Ngày đăng: 20/05/2021, 21:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w