SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁTRƯỜNG THCS&THPT NHƯ THANH SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM SỬ DỤNG CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ DẠY MỘT SỐ BÀI TRONG CHƯƠNG I - TRỒNG TRỌT, LÂM NGHIỆP ĐẠI CƯƠNG
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HOÁ
TRƯỜNG THCS&THPT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
SỬ DỤNG CÁC KĨ THUẬT DẠY HỌC TÍCH CỰC ĐỂ DẠY MỘT SỐ BÀI TRONG CHƯƠNG I - TRỒNG TRỌT, LÂM NGHIỆP ĐẠI CƯƠNG - CÔNG NGHỆ 10 GÓP PHẦN PHÁT TRIỂN PHẨM CHẤT, NĂNG LỰC CHO HỌC SINH LỚP 10 TẠI TRƯỜNG THCS&THPT NHƯ THANH
Người thực hiện: Lê Thị Ánh Tuyết Chức vụ: Giáo viên
SKKN thuộc lĩnh vực: Công nghệ
THANH HÓA NĂM 2021
Trang 2MỤC LỤC
1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 1
1.3 Đối tượng nghiên cứu 2
1.4 Phương pháp nghiên cứu 2
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến 2
2.1.1 Khái niệm kĩ thuật dạy học 2
2.1.2 Vai trò kĩ thuật dạy học 2
2.1.3 Các kĩ thuật dạy học được sử dụng trong dạy học Chương I - Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương 2
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến 7
2.2.1 Thực trạng dạy của giáo viên 7
2.2.2 Thực trạng học của học sinh 8
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 8
2.3.1 Kĩ thuật khăn trải bàn 8
2.3.2 Kĩ thuật sơ đồ tư duy 9
2.3.3 Sử dụng kĩ thuật phòng tranh 10
2.3.4 Kĩ thuật mảnh ghép 11
2.3.5 Kĩ thuật KWL 12
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm 13
3 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 14
3.1 Kết luận 14
3.2 Kiến nghị 14 PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lý do chọn đề tài
Trong thời kì đổi mới đất nước, nhu cầu của xã hội ngày càng cao đã đòi hỏi con người không những phải có kiến thức mà còn có kĩ năng vận dụng Vì vậy, việc bồi dưỡng kiến thức và kĩ năng cho học sinh trong chương trình THPT
là rất cần thiết Để đáp ứng được nhu cầu này, giáo dục sẽ đào tạo ra những học sinh vừa thông kiến thức và vừa có kĩ năng vận dụng, trong đó việc học bộ môn Công nghệ 10 sẽ góp phần không nhỏ vào mục tiêu này Bởi đây là môn khoa học ứng dụng, nghiên cứu việc vận dụng những quy luật tự nhiên và các nguyên
lý khoa học nhằm đáp ứng các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người Vậy dạy và học thế nào là hiệu quả và chất lượng? Để làm được điều này đòi hỏi người dạy phải đổi mới về nội dung, phương pháp dạy học, trong đó đổi mới phương pháp nhằm phát huy tính tích cực của học sinh là vấn đề quan trọng nhất Dạy học cần tập trung vào những gì học sinh cần có (kiến thức, kĩ năng,
niềm tin…) để từ đó họ có thể “làm” được những việc cụ thể, hữu ích hơn là tập
trung vào những gì mà học sinh biết hoặc không biết Trong đó, các nội dung kiến thức hàn lâm, giáo điều sẽ gây ra những thách thức không cần thiết trong học tập của học sinh (giảm động cơ học tập, hứng thú, niềm tin, sự đáp ứng nhu cầu xã hội về nguồn nhân lực…) đồng thời không tạo điều kiện giúp học sinh tiếp cận, giải thích, giải quyết các đòi hỏi của đời sống thực tế
Với bộ môn Công nghệ 10, việc áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực nhằm phát triển phẩm chất, năng lực là điều vô cùng cần thiết Bởi
lẽ, phương pháp dạy học này lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học khi tham gia vào các hoạt động học tập Khi
đó, sẽ tạo ra hứng thú, sự tự giác học tập, khát khao chiếm lĩnh nội dung học tập của người học Qua thực tiễn giảng dạy môn Công nghệ nhiều năm, tôi nhận thấy phần đông các em khi học bộ môn này còn học theo thói quen, tâm thế thụ động khi tiếp thu bài học Kết quả học sinh không khắc sâu được nội dung bài Đối với giáo viên, khi giảng dạy bộ môn này thường sử dụng các phương pháp truyền thống, nội dung truyền tải máy móc, rập khuôn, chưa biết lựa chọn và sử dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp cho từng bài nên không phát huy được tính tích cực, khả năng của học sinh thông qua các hoạt động dạy học
Để khắc phục tình trạng nêu trên, tôi đã chọn đề tài nghiên cứu “Sử dụng
các kĩ thuật dạy học tích cực để dạy một số bài trong chương I - Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương - Công nghệ 10 góp phần phát triển phẩm chất, năng lực học sinh lớp 10 tại trường THCS &THPT Như Thanh”
Trong năm học 2020-2021 tôi đã áp dụng kĩ thuật dạy học tích cực ở một
số tiết học và đã thu được kết quả ban đầu rất khả quan Cách nhìn của học sinh đối với bộ môn đã có sự thay đổi, không còn sự thờ ơ, hời hợt mà thay vào đó là
sự háo hức, mong đợi trước mỗi tiết học
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Thiết kế, xây dựng các hoạt động dạy học có sử dụng một số kĩ thuật dạy học phát triển phẩm chất năng lực cho học sinh để dạy một số bài trong chương I - Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương - sách giáo khoa Công nghệ 10
- Làm tăng tính hấp dẫn bộ môn, tạo được hứng thú, say mê của học sinh khi học bộ môn này
Trang 4- Giúp các đồng nghiệp có thêm tài liệu tham khảo để vận dụng một cách hiệu quả trong công tác giảng dạy của bản thân
1.3 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài này tập trung nghiên cứu cách thức lựa chọn và sử dụng các kĩ thuật dạy học tích cực trong chương I - Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương - Sách giáo khoa Công nghệ 10
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu thực nghiệm trên lớp
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến
2.1.1 Khái niệm kĩ thuật dạy học
Kỹ thuật dạy học là những động tác, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học Vì thế có thể hiểu, các kỹ thuật dạy học mới ở mức độ thấp chưa phải là phương pháp dạy học độc lập
Kĩ thuật dạy học tích cực là những động tác, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tình huống hành động nhỏ nhằm thực hiện và điều khiển quá trình dạy học với các kỹ thuật mới nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của người học như: kỹ thuật động não, kỹ thuật thông tin phản hồi, kỹ thuật bể cá, kỹ thuật tia chớp, kỹ thuật ổ bi, kỹ thuật XYZ, kỹ thuật khăn trải bàn, kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật kipling
2.1.2 Vai trò kĩ thuật dạy học
- Phát huy sự tham gia hoạt động tích cực, chủ động của học sinh vào quá trình dạy học
- Kích thích tư duy, đánh thức sự sáng tạo của học sinh một cách tốt nhất
- Thúc đẩy sự cộng tác làm việc của học sinh, rèn luyện kỹ năng làm việc nhóm cho người học một cách đầy đủ hơn
2.1.3 Các kĩ thuật dạy học được sử dụng trong dạy học Chương I - Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương
a Kĩ thuật khăn trải bàn
Kĩ thuật khăn trải bàn là cách thức tổ chức hoạt động học tập mang tính hợp tác, kết hợp giữa hoạt động cá nhân và nhóm Học sinh sử dụng giấy khổ lớn để ghi nhận ý kiến cá nhân và ý kiến thống nhất chung của nhóm vào các phần được bố trí như khăn trải bàn
Hình 1 “Khăn trải bàn” dành cho nhóm 4 người
Trang 5* Cách tiến hành
Học sinh được chia thành các nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người, giáo viên phát cho mỗi nhóm một tờ giấy A0
Học sinh chia tờ giấy thành các phần, bao gồm một phần trung tâm và các phần xung quanh có số lượng bằng với số thành viên trong nhóm Mỗi thành viên ngồi vào vị trí tương ứng với phần xung quanh Mỗi thành viên làm việc độc lập, suy nghĩ và viết các ý tưởng về nhiệm vụ được giao vào ô của mình trong thời gian quy định
Kết thúc thời gian làm việc cá nhân, các thành viên chia sẻ, thảo luận và thống nhất câu trả lời Đại diện nhóm ghi các ý tưởng được thống nhất vào phần trung tâm của “khăn trải bàn”
* Ưu điểm
- Thúc đẩy sự tham gia tích cực, tăng cường tính độc lập, trách nhiệm của học sinh trong quá trình học tập theo nhóm
- Huy động được trí tuệ tập thể của nhóm trong quá trình học sinh thực hiện nhiệm vụ
Khi sử dụng kĩ thuật này, giáo viên có thể ghi nhận kết quả làm việc của
cá nhân và kết quả thảo luận của nhóm
*Hạn chế
- Đòi hỏi về không gian lớp học và đồ dùng dạy học phù hợp (giấy khổ lớn, bút lông…) khi tổ chức hoạt động
- Đòi hỏi thời gian phù hợp để học sinh làm việc cá nhân và thống nhất ý kiến trong nhóm
b Kĩ thuật mảnh ghép
Kĩ thuật mảnh ghép là cách thức tổ chức hoạt động học tập hợp tác trong
đó học sinh sẽ hoàn thành một nhiệm vụ phức hợp qua hai vòng Đầu tiên, học sinh hoạt động theo nhóm để giải quyết các nhiệm vụ thành phần sao cho mỗi cá nhân trở thành chuyên gia của vấn đề được giao Sau đó, chuyên gia thuộc các vấn đề khác nhau sẽ kết hợp trong nhóm mới, chia sẻ lại vấn đề đã tìm hiểu để cùng giải quyết nhiệm vụ phức hợp ban đầu
*Cách tiến hành
Vòng 1: Nhóm chuyên gia
Học sinh hoạt động theo nhóm, mỗi nhóm được phân công một nhiệm vụ
cụ thể Khi thực hiện nhiệm vụ học tập, các nhóm phải đảm bảo mỗi thành viên
đều trở thành “chuyên gia” của lĩnh vực đã tìm hiểu và có khả năng trình bày lại
kết quả thực hiện nhiệm vụ của nhóm ở vòng 2
Vòng 2: Nhóm các mảnh ghép
Học sinh hình thành nhóm mảnh ghép, sao cho các nhóm có tối thiểu một thành viên đến từ mỗi nhóm chuyên gia
Kết quả thực hiện nhiệm vụ của vòng 1 được các thành viên trong nhóm mảnh ghép chia sẻ đầy đủ với nhau Sau khi tất cả các thành viên chia sẻ, các nhóm mảnh ghép thảo luận và thống nhất phương án giải quyết nhiệm vụ phức hợp ban đầu
Giáo viên đánh giá tổng hợp 2 vòng thảo luận
Trang 6Hình 2 Sơ đồ minh hoạ sự sắp xếp học sinh hoạt động trong
kĩ thuật các mảnh ghép
* Ưu điểm
- Góp phần giải quyết được nhiệm vụ phức hợp dựa trên học tập hợp tác hiệu quả
- Góp phần kích thích sự tham gia tích cực của học sinh trong hoạt động nhóm, nâng cao vai trò cá nhân trong quá trình hợp tác
- Góp phần phát triển năng lực giao tiếp cho mỗi học sinh thông qua việc chia sẻ trong nhóm mảnh ghép
- Tạo cơ hội cho học sinh hiểu sâu một vấn đề Học sinh không những hoàn thành nhiệm vụ mà còn phải chia sẻ cho người khác
* Hạn chế
- Tốn thời gian để tổ chức hoạt động cho học sinh thực hiện nhiệm vụ học tập với hai vòng (vòng chuyên gia, vòng các mảnh ghép)
- Khi sử dụng kĩ thuật này, trong quá trình di chuyển, học sinh có thể gây mất trật tự trong lớp học
c Kĩ thuật KWL và KWLH
Kĩ thuật KWL (Know - Want - Learn) là cách thức tổ chức hoạt động học tập trong đó bắt đầu bằng việc học sinh sử dụng bảng KWL để viết tất cả những điều đã biết và muốn biết liên quan đến vấn đề, chủ đề học tập Trong và sau quá trình học tập, học sinh sẽ tự trả lời về những câu hỏi muốn biết và ghi nhận lại những điều đã học vào bảng
* Cách tiến hành
Sau khi giới thiệu tổng quan và mục tiêu của vấn đề, chủ đề, giáo viên yêu cầu học sinh điền những điều đã biết về vấn đề, chủ đề đó vào cột K của bảng
Khuyến khích học sinh suy nghĩ và viết vào cột W những điều muốn tìm hiểu về vấn đề, chủ đề
Trong và sau quá trình học tập, học sinh điền vào cột L những điều vừa học được Cuối cùng, học sinh sẽ so sánh với những điều đã ghi tại cột K và cột
W để kiểm chứng tính chính xác của những điều đã biết (cột K), mức độ đáp ứng nhu cầu của những điều muốn biết (cột W) ban đầu
* Ưu điểm
- Học sinh được tạo điều kiện phát triển năng lực tự chủ và tự học
- Góp phần tạo hứng thú học tập cho học sinh khi những điều học sinh cần học liên quan trực tiếp đến nhu cầu nhận thức của các em
Trang 7- Giúp giáo viên đánh giá và học sinh tự đánh giá kết quả học tập, qua đó định hướng cho các hoạt động học tập kế tiếp
* Hạn chế
Học sinh có thể gặp khó khăn khi diễn đạt điều các em đã biết, muốn biết một cách rõ ràng và chính xác
* Một số lưu ý khi sử dụng
Cần lưu trữ cẩn thận bảng KWL vì sau khi hoàn thành cột K và cột W, có thể phải mất thêm một khoảng thời gian mới có thể thực hiện tiếp các cột còn lại (cột L và cột H)
Giáo viên có thể thêm cột H (How) vào bảng nhằm khuyến khích học sinh ghi lại những dự định tiếp tục tìm hiểu các nội dung liên quan đến vấn đề, chủ
đề vừa học
Hình 3: Kĩ thuật KWLH
d Kĩ thuật phòng tranh
Kĩ thuật phòng tranh là cách thức tổ chức hoạt động học tập trong đó các kết quả thực hiện nhiệm vụ học tập của học sinh được trưng bày như một phòng triển lãm tranh Học sinh di chuyển, quan sát các sản phẩm của học sinh khác, đặt câu hỏi và nêu ra nhận xét hoặc ý kiến góp ý Sau đó, giáo viên tổ chức đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ học tập của cá nhân hoặc nhóm
* Cách tiến hành
Giáo viên giao nhiệm vụ học tập cho cá nhân hoặc nhóm Có thể thiết kế nhiều nhiệm vụ khác nhau đủ cho các nhóm hoặc có thể lặp lại các nhiệm vụ ở các nhóm khác nhau
Học sinh thực hiện nhiệm vụ và trưng bày các sản phẩm học tập như một phòng triển lãm tranh
Học sinh di chuyển xung quanh lớp học tham quan phòng tranh Trong quá trình “xem triển lãm” đưa ra các ý kiến phản hồi hoặc bổ sung cho các sản phẩm, sau đó quay trở lại vị trí ban đầu, tổng hợp ý kiến đóng góp và hoàn thành nhiệm vụ học tập của cá nhân hoặc nhóm
Giáo viên tổ chức đánh giá mức độ hoàn thành nhiệm vụ của cá nhân hoặc nhóm
* Ưu điểm
- Học sinh có cơ hội học hỏi lẫn nhau và phát triển các phẩm chất và năng lực
- Góp phần giúp học sinh phát triển kĩ năng quan sát và phân tích, giải quyết vấn đề
* Hạn chế
Khi tổ chức hoạt động dạy học, kĩ thuật này tốn nhiều không gian để các
Trang 8nhóm trưng bày sản phẩm học tập và di chuyển theo mô hình mong muốn; tốn nhiều thời gian để học sinh hoàn thành nhiệm vụ học tập
e Kĩ thuật sơ đồ tư duy
Sơ đồ tư duy là một hình thức trình bày thông tin trực quan Thông tin được sắp theo thứ tự ưu tiên và biểu diễn bằng các từ khoá, hình ảnh… Thông thường, chủ đề hoặc ý tưởng chính được đặt ở giữa, các nội dung hoặc ý triển khai được sắp xếp vào các nhánh chính và nhánh phụ xung quanh Có thể vẽ sơ
đồ tư duy trên giấy, bảng hoặc thực hiện trên máy tính
Hình 4: Sơ đồ tư duy
* Cách tiến hành
- Chuẩn bị phương tiện và các nội dung liên quan:
Đối với sơ đồ tư duy trên giấy: bút lông với ít nhất 5 màu, giấy khổ lớn, keo dính,
Đối với sơ đồ tư duy trên máy tính: có thể sử dụng một số phần mềm chuyên dụng như : iMindMap, Edraw Mind Map, Xmind,… Ngoài ra, có thể sử dụng một số ứng dụng trực tuyến như Mindmup (mindmup.com), Coggle (coggle.it),…
Ngoài ra, giáo viên hướng dẫn học sinh chuẩn bị trước tên chủ đề, từ khoá
và các biểu tượng (icon) để có thể khai thác chủ động và hiệu quả
- Vẽ sơ đồ tư duy:
Viết tên chủ đề ở trung tâm, hay vẽ một hình ảnh phản ánh chủ đề
Vẽ các nhánh chính từ chủ đề trung tâm Trên mỗi nhánh chính viết một
Trang 9khái niệm, phản ánh một nội dung lớn của chủ đề Nên sử dụng từ khoá và viết bằng CHỮ IN HOA Có thể dùng các biểu tượng để mô tả thuật ngữ, từ khoá để gây hiệu ứng chú ý và ghi nhớ
Từ mỗi nhánh chính vẽ tiếp các nhánh phụ, viết tiếp những nội dung thuộc nhánh chính đó Các chữ trên nhánh phụ được viết bằng chữ in thường Tiếp tục như vậy ở các tầng phụ tiếp theo cho đến hết
Trong dạy học, có thể sử dụng kĩ thuật sơ đồ tư duy trong nhiều tình huống khác nhau:
- Giáo viên chuẩn bị sơ đồ tư duy và tổ chức cho học sinh tìm hiểu bài giảng theo trình tự các nhánh nội dung trong sơ đồ tư duy do giáo viên thiết kế
- Giáo viên cũng có thể yêu cầu học sinh hoàn thành các nội dung còn khuyết hoặc triển khai thêm dựa trên sơ đồ tư duy do giáo viên cung cấp
- Giáo viên yêu cầu học sinh thiết kế sơ đồ tư duy để tóm tắt nội dung, ôn tập chủ đề; trình bày kết quả thảo luận, nghiên cứu của nhóm hoặc cá nhân; trình bày tổng quan một chủ đề; thu thập sắp xếp ý tưởng; ghi chú bài học,
- Giáo viên yêu cầu học sinh sử dụng sơ đồ tư duy có sẵn để phân tích, tìm mối quan hệ, nhằm tìm tòi, khám phá nội dung chủ đề
Ngoài ra, học sinh cũng có thể sử dụng sơ đồ tư duy để tự học, tự ôn tập ở nhà như một phương pháp tóm tắt, ghi nhớ nội dung,…
* Ưu điểm
- Học sinh được kích thích sự sáng tạo và tăng hiệu quả tư duy Vì sơ đồ
tư duy là một công cụ ghi nhận, và sắp xếp các ý tưởng, nội dung một cách nhanh chóng, đa chiều và logic
- Học sinh dễ dàng bổ sung, phát triển, sắp xếp lại, cấu trúc lại các nội dung
- Tăng khả năng ghi nhớ thông tin khi nội dung được trình bày dưới dạng
từ khoá và hình ảnh
- Học sinh có cơ hội luyện tập phát triển, sắp xếp các ý tưởng; nâng cao khả năng khái quát, tóm tắt, ghi nhớ tiêu điểm
* Hạn chế
Cần chuẩn bị một số phương tiện dạy học phù hợp như giấy khổ lớn, bút nhiều màu, phần mềm…
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến
2.2.1 Thực trạng dạy của giáo viên
- Phương pháp giảng dạy của phần lớn giáo viên hiện nay là hướng vào người dạy, học sinh luôn ở trạng thái thụ động phải ghi nhớ máy móc những kiến thức mặc định có sẵn trong giáo trình Vì vậy chưa đáp ứng được mục tiêu của chương trình sách giáo khoa mới cũng như yêu cầu của xã hội
- Đội ngũ giáo viên giảng dạy bộ môn này chưa được bồi dưỡng, cập nhật kiến thức theo chương trình sách giáo khoa một cách bài bản Từ thói quen thuyết giảng, không ít người chỉ chạy theo khối lượng kiến thức có trong sách giáo khoa, dạy sao cho hết bài mà không quan tâm đến việc tìm ra biện pháp để tác động đến quá trình nhận thức của học sinh
- Là 1 trường miền núi được thành lập từ năm 2014, cơ sở vật chất của nhà trường còn nhiều thiếu thốn Việc sử dụng các phương tiện, thiết bị dạy học
Trang 10trong các bài giảng không được tiến hành thường xuyên, nặng về lí thuyết và nhẹ thực hành Đây là điều bất hợp lí khi giảng dạy một bộ môn có nhiều kiến thức có thể ứng dụng trong thực tiễn
- Việc áp dụng các kĩ thuật dạy học tích cực còn nhiều hạn chế Đa số giáo viên chỉ chú trọng áp dụng các kĩ thuật dạy học trong các tiết thao giảng dự giờ, còn trong các tiết dạy bình thường thì vẫn theo kiểu truyền thụ kiến thức một chiều, thầy đọc - trò chép
2.2.2 Thực trạng học của học sinh
- Về phía học sinh, với quan niệm đây chỉ là “môn học phụ” nên học sinh
không tích cực trong quá trình nhận thức Trong suốt tiết học chỉ có một vài học sinh hăng hái xây dựng bài, nhiệt tình với những công việc và nhiệm vụ được giao, số còn lại chỉ nghe và ghi chép
- Do nội dung bài được trình bày đầy đủ, cặn kẽ và tường minh trong giáo trình, các câu hỏi hay bài tập cũng chỉ ở mức độ đòi hỏi học sinh nhớ lại nội dung là có thể trả lời được Thành thử học sinh chưa cần cố gắng và nghị lực cao trong hoạt động trí tuệ Quá trình này kéo dài làm cho học sinh không có hứng thú học tập, lâm vào trạng thái học tập thụ động, thờ ơ với môn học
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong quá trình giảng dạy nội dung chương I - Trồng trọt, lâm nghiệp đại cương tôi đã sử dụng các kỹ thuật dạy học tích cực trong quá trình giảng dạy để nâng cao chất lượng giảng dạy Các kỹ thuật dạy học chủ yếu được áp dụng là:
Kỹ thuật mảnh ghép, kỹ thuật khăn trải bàn và kỹ thuật sử dụng sơ đồ tư duy, kỹ thuật KWLH
2.3.1 Kĩ thuật khăn trải bàn
2.3.1.1 Áp dụng dạy bài 15 - Điều kiện phát sinh, phát triển sâu bệnh hại cây trồng
Nội dung bài này được chia thành 2 hoạt động:
Hoạt động 1: Các điều kiện phát sinh, phát triển sâu bệnh hại cây trồng Hoạt động 2: Điều kiện để sâu bệnh phát triển thành dịch
Kĩ thuật khăn trải bàn sẽ được áp dụng trong hoạt động 1
* Yêu cầu cần đạt
Học sinh trình bày được các điều kiện làm phát sinh, phát triển sâu bệnh hại, từ đó đề xuất các biện pháp hạn chế
* Cách tiến hành
- Chia nhóm: Chia lớp thành các nhóm nhỏ, mỗi nhóm từ 4-6 học sinh
(Tùy vào tình hình thực tế như số lượng học sinh, không gian lớp mà giáo viên chia nhóm và số thành viên mỗi nhóm)
- Phát cho mỗi nhóm 1 tờ giấy A0 và 1 cây bút lông màu đỏ, mỗi học sinh
1 cây bút màu xanh
- Giao nhiệm vụ: Tìm các điều kiện làm phát sinh, phát triển sâu, bệnh hại
- Các nhóm tiến hành thảo luận
+ Giáo viên yêu cầu mỗi học sinh trong nhóm độc lập suy nghĩ và ghi ý kiến của mình vào các góc “khăn trải bàn”
+ Giáo viên yêu cầu học sinh thảo luận nhóm để thống nhất và ghi lại kết quả chung của nhóm vào giữa “khăn trải bàn”