1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Một số biện pháp sử dụng bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ để rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh trong dạy học chương III – hoá học lớp 12 tại trường THPT lam kinh

20 39 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 736,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đứng trước các yêu cầu đổi mới về thực trạng của công tác dạy học, tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp sử dụng bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ để rèn luyện kĩ năng tư duy ch

Trang 1

1 MỞ ĐẦU

1.1 Lí do chọn đề tài.

Trong di chúc thiêng liêng cuả mình, chủ tịch Hồ Chí Minh đã viết: “Bồi

dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc rất quan trọng và rất cần thiết” Bởi vậy, nâng cao hiệu quả dạy học và đổi mới công tác giáo dục luôn là

vấn đề có ý nghĩa sống còn ở mọi thời đại, để đào tạo thế hệ trẻ Việt Nam phát triển toàn diện cả về thể chất, tri thức và đạo đức, đúng như Hồ Chủ tịch đã căn dặn toàn Đảng, toàn dân ta [ 5]

Đối với mỗi trường học, nhiệm vụ trọng tâm hàng đầu là nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, bồi dưỡng và giáo dục học sinh thành những ngưởi tốt, thành những người có ích cho xã hội Đặc biệt ở cấp học THPT – cấp học cuối ở thang giáo dục phổ thông, việc đưa phương pháp dạy học theo hướng đổi

mới là cần thiết và thiết thực Vậy làm gì để khơi dậy và kích thích nhu cầu tư duy tích cực độc lập, sáng tạo của học sinh? Làm thế nào để tạo ra động lực hứng thú học tập cho học sinh? .Trước vấn đề đó người giáo viên cần phải

không ngừng tìm tòi khám phá, sử dụng phối hợp các phương pháp dạy học trong các giờ học sao cho phù hợp với từng kiểu bài, từng đối tượng học sinh, xây dựng cho học sinh một hướng tư duy chủ động, sáng tạo [8]

Hoá học là một bộ môn khoa học có từ lâu đời, các nhà khoa học đã nghiên cứu và tìm tòi ra các chất, nghiên cứu các tính chất vật lí, các tính chất hoá học, các hiện tượng vật lí, hoá học, các hiện tượng thường xảy ra trong tự nhiên giải thích tại sao lại như vậy? Việc học tập tốt bộ môn hoá học trong nhà trường sẽ giúp học sinh hiểu rõ về cuộc sống, những biến đổi vật chất trong cuộc sống hàng ngày

Đặc thù của môn hoá học là bộ môn khoa học thực nghiệm Thí nghiệm hoá học có y nghĩa to lớn trong dạy học hoá học, nó vừa là nội dung, vừa là phương tiện truyền tải kiến thức và rèn luyện khả năng tư duy, kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh, không chỉ nâng cao kiến thức mà còn làm nảy sinh tư duy độc đáo cho học sinh, nó giữ vai trò cơ bản trong việc thực hiện những nhiệm vụ của việc dạy học hoá học ở trường THPT Trong các hình thức kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh thì hình thức trắc nghiệm khách quan có nhiều ưu điểm Qua đó học sinh được kiểm tra nhiều kiến thức, kỹ năng hơn hình thức tự luận, đồng thời cho kết quả nhanh Việc nắm vững các kỹ năng làm bài tập trắc nghiệm sẽ giúp học sinh đạt được kết quả cao trong các bài kiểm tra, bài thi học

kì và kế cả kì thi tốt nghiệp THPTQG [6]

Trong những năm gần đây tại các kì thi THPT Quốc gia, môn hoá học có nhiều điểm mới đã xuất hiện những câu hỏi liên quan đến hình vẽ thí nghiệm, sơ

đồ nhằm phát triển các năng lực tổng hợp Với việc đổi mới phương pháp dạy học theo hướng tích cực và hướng người học làm quen nhiều hơn với thực

Trang 2

nghiệm thì việc cho người học tiếp xúc với các loại bài tập bằng thí nghiệm hoá hữu cơ là rất quan trọng Điều này giúp cho người học có thể hiểu được bản chất của sự biến đổi các chất, cách tổng hợp ra chúng trong phòng thí nghiệm hay trong công nghiệp như thế nào và cần những dụng cụ, hóa chất gì Với loại bài tập này, tính đặc thù bộ môn Hóa Học được thể hiện rất rõ Vì vậy, việc đưa thêm loại bài tập trắc nghiệm khách quan về thí nghiệm hoá hữu cơ là việc làm rất cần thiết hiện nay Đa số các học sinh vẫn còn yếu về dạng bài tập về thí nghiệm hoá hữu cơ Đứng trước các yêu cầu đổi mới về thực trạng của công tác

dạy học, tôi chọn đề tài: “ Một số biện pháp sử dụng bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ để rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh trong dạy học chương III – Hoá học lớp 12 tại Trường THPT Lam Kinh”

1.2 Mục đích nghiên cứu

- Trên cơ sở nghiên cứu “Một số biện pháp sử dụng bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ để rèn luyện kĩ năng tư duy cho học sinh trong dạy học

chương III – Hoá học lớp 12 tại Trường THPT Lam Kinh” và tìm hiểu những

khó khăn của học sinh trong học tập hoá học lớp 12, bước đầu tìm ra những biện pháp giúp học sinh khi thực hành và góp phần nâng cao chất lượng dạy học và kết quả kỳ thi THPTQG

- Thí nghiệm hoá học giúp học sinh làm quen với tính chất, mối liên hệ và quan hệ có quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu, làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết khai thác chúng

- Thí nghiệm còn giúp học sinh sáng tỏ mối liên hệ phát sinh giữa các sự vật, giải thích được bản chất các quá trình xảy ra trong tự nhiên, trong sản xuất

và đời sống

- Nhờ thí nghiệm mà con người có thể thiết lập được những quá trình mà trong thực tế tự nhiên hoàn toàn không có được và kết quả đã tạo ra những chất mới Nó còn giúp học sinh khả năng vận dụng những quá trình nghiên cứu trong nhà trường, trong phòng thí nghiệm vào phạm vi rộng rãi trong các lĩnh vực hoạt động của con người

- Đối với bộ môn Hoá học, thí nghiệm giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong nhận thức, phát triển, giáo dục như một bộ phận không thể tách rời của quá trình dạy – học Người ta coi thí nghiệm là cơ sở của việc học hoá học và để rèn luyện

kĩ năng thực hành Thông qua thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững chắc và sâu sắc hơn [2]

1.3 Đối tượng nghiên cứu.

Các thí nghiệm hoá hữu cơ 12 chương III ( Amin-Aminoaxit-Peptit-Proin), các bài tập trắc nghiệm liên quan đến thí nghiệm hoá hữu cơ và phương pháp

sử dụng chúng để rèn luyện một số kỹ năng tư duy sáng tạo cho học sinh THPT

1.4 Phương pháp nghiên cứu

Trang 3

- Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận

- Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn:

+ Tổng hợp được các thực trạng về vấn đề an toàn thực phẩm trong xã hội hiện nay nói chung trong mỗi gia đình nói riêng

- Nhóm các phương pháp hổ trợ: xử lí số liệu, lập bảng biểu, thống kê kết hợp

một số các phương tiện, thiết bị dạy học sau để nâng cao tính chính xác, tính trực quan của các nội dung được tích hợp

- Phương pháp phân tích, tổng hợp:

+ Phân tích và tổng hợp tư liệu về các vấn đề có liên quan đến đề tài

+ Tham chiếu kết quả của các bộ môn trong trường

- Phương pháp thử nghiệm

Thử áp dụng các giải pháp để nâng cao chất lượng làm bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ 12 của học sinh khối 12 trong năm học 2020-2021

1.5 Những điểm mới của SKKN:

- Hướng dẫn học sinh biết vận dụng kiến thức căn bản về việc làm một số dạng bài tập về thí nghiệm hoá hữu cơ 12 và một số mẹo giúp học sinh làm tốt bài tập trắc nghiệm nhằm giúp học sinh có hứng thú học tập môn hoá

- Đưa ra hệ thống bài tập trắc nghiệm vận dụng phương pháp giải trên

- Học sinh nắm được bản chất của phản ứng hoá học nên các em cảm thấy

dễ hiểu, hiểu sâu sắc vấn đề giải thích được nguyên nhân dẫn đến các trường hợp của bài toán

- Có thể áp dụng cho nhiều đối tượng học sinh khối THPT: với học sinh đại trà, áp dung đối với giáo viên, học sinh ôn luyện thi THPT Quốc gia

- Thông qua bài tập trắc ngiệm khách quan về hình vẽ thí nghiệm học sinh được rèn luyện kĩ năng ôn tập củng cố kiến thức một cách tốt nhất

2 PHẦN NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM

2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm

Hoá học là một môn khoa học thực nghiệm có nghĩa là học đi đôi với hành Chính vì thế mà phương pháp là một vấn đề rất quan trọng trong môn học này Đặc biệt là phương pháp giải bài tập trắc nghiệm trong hoá học lại càng khó khăn tức là để giải quyết được dạng bài tập này đòi hỏi người học cần phải nắm chắc về kiến thức ly thuyết trên cơ sở đó mới hình thành được phương hướng giải quyết bài tập Ngoài ra còn phải có kỹ năng thực hành thí nghiệm và tư duy giải nhanh các bài tập trắc nghiệm đây là một phần không thể thiếu trong dạng bài tập trắc nghiệm

Kiến thức hóa học phổ thông vừa phong phú vừa đa dạng, vừa lí thuyết vừa thực nghiệm, vừa trừu tượng và vừa cụ thể, nên việc mắc sai lầm trong học tập

là điều khó tránh khỏi

Trang 4

Trong trường phổ thông, thí nghiệm giúp học sinh làm quen với những tính chất, mối liên hệ và quan hệ có tính quy luật giữa các đối tượng nghiên cứu, giúp làm cơ sở để nắm vững các quy luật, các khái niệm khoa học và biết cách khai thác chúng Thông qua thí nghiệm, học sinh nắm kiến thức một cách hứng thú, vững chắc, sâu sắc Thí nghiệm hoá học được sử dụng theo đúng mục đích

sẽ là nguồn học sinh khai thác, tìm tòi phát hiện kiến thức, giúp phát huy tính tích cực, chủ động sáng tạo, phát huy năng lực nhận thức và tư duy khoa học hoá học.[2]

Từ các hình vẽ thí ngiệm trong sách giáo khoa, tôi xây dựng thành hệ thống bài tập có sử dụng hình vẽ thí nghiệm phục vụ cho quá trình giảng dạy, kiểm tra đánh giá Thông qua đó nhằm làm phong phú dạng bài tập và bổ sung vào ngân hàng câu hỏi kiểm tra đánh giá

Thí nghiệm hoá học còn có tác dụng phát triển tư duy, giáo dục thế giới quan duy vật biện chứng và củng cố niềm tin khoa học cho học sinh, giúp hình thành những đức tính tốt: Thận trọng, ngăn nắp, trật tư, gọn gàng Đặc biệt với việc thay đổi nội dung chương trình sách giáo khoa và phương pháp dạy học mới theo hướng tích cực hoá hoạt động của học sinh như hiện nay thì thí nghiệm càng được coi trọng.[6]

Giáo viên nên có những dự đoán về sai lầm để tạo tình huống có vấn đề trong bài tập, phần nào giúp học sinh hiểu được những sai lầm đó qua hoạt động giải bài tập, tránh mắc phải những tình huống tương tự sau khi đã hiểu kiến thức một cách chính xác

Tôi chọn việc xây dựng hệ thống bài tập trắc nghiệm khách quan về thí nghiệm hữu cơ 12 vì có nghĩa rất lớn trong việc gắn liền giữa lí thuyết và thực hành, nhằm giúp học sinh THPT:

- Củng cố kiến thức về lí thuyết: tính chất vật lí, tính chất hoá học; nguyên nhân để có được tính chất hoá học; cách điều chế phù hợp nhất; nguyên nhân để

có được ứng dụng của mỗi chất

- Rèn luyện kĩ năng thực hành: cách tiến hành thí nghiệm, sử dụng dụng cụ thí nghiệm, hoá chất một cách hợp lí, an toàn, tăng khả năng quan sát hiện tượng, dự đoán tốt hơn về hiện tượng thí nghiệm, viết tường trình thí nghiệm, biết cách sơ cứu đầu tiên khi bị ngộ độc nhẹ hoá chất

- Có được vốn kiến thức cơ bản nhất về thực hành thí nghiệm hoá học, đồng thời cũng giúp các em làm bài tốt hơn trong các kì thi với các câu hỏi trắc nghiệm liên quan đến các hình vẽ thí nghiệm hoá học về các hợp chất hữu cơ Trong môn hoá học thì bài tập hoá học có một vai trò cực kỳ quan trọng nó

là nguồn cung cấp kiến thức mới, vận dụng kiến thức lí thuyết, giải thích các hiện tượng các quá trình hoá học

2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.

Trang 5

Qua thực tế giảng dạt tôi nhận thấy:

- Với môn hoá học hầu hết học sinh bị hổng kiến thức cơ bản, không có phương pháp học tập, thiếu hào hứng trong học tập ( Nguyên nhân có thể do quên kiến thức cơ bản, kỹ năng làm bài thi trắc nghiệm kém; do lười học; do chưa nắm được phương pháp học môn hoá , năng lực tư duy bị hạn chế; do điều kiện học tập hoặc do điều kiện khách quan tác động, học sinh có hoàn cảnh đặc biệt )

- Tinh thần vượt khó để học tập của học sinh chưa cao, thái độ và động cơ học tập còn có những điểm chưa tốt

- Một số em thiếu tìm tòi, sáng tạo trong học tập, không có sự phấn đâu vươn lên, có thói quen chờ đợi lười suy nghĩ hay dựa vào giáo viên, bạn bè hoặc xem lời giải trong sách tham khảo hoặc lên google tra cứu Học sinh còn chưa mạnh dạn trong học tập do chưa hiểu sâu hoặc không có khả năng vận dụng kiến thức

- Nội dung bài dạy nhiều, thời lượng dạy trên lớp còn hạn chế nên giáo viên chỉ có thể tập trung dạy theo giáo án, sách giáo khoa, thời gian quan tâm đến hết đối tượng học sinh trong lớp còn hạn chế

- Với số tiết như hiện nay cùng với phân phối chương trình thì việc rèn luyện

kỹ năng giải bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ là rất khó khăn vì thế cần phải có một giáo trình cơ bản trình bày ngắn gọn, dễ hiểu, xúc tích nhằm giúp giaos viên cũng như học sinh có khả năng dễ dàng thực hiện dạng bài tập này Chính vì thế mà việc đưa ra các phương pháp là cả một vấn đề khó khăn

Từ thực trạng trên và qua kinh nghiệm dạy học môn hoá học nhất là môn hoá học lớp 12 cùng với kinh nghiệm ôn thi tốt nghiệp THPT Quốc gia ( THPTQG) tôi đã tìm ra những giải pháp trong dạy học nhằm nâng cao chất lượng môn học Một trong số các giải pháp đó là hướng dẫn học sinh cách nhận dạng và thủ thuật giải quyết dạng bài tập trắc nghiệm khách quan về thí nghiệm hoá hữu cơ 12

2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề.

2.3.1 Phương pháp dạy học bài mới

a) Giúp học sinh phát hiện và giải quyết vấn đề của bài toán

Phần bài học thường được nêu thành cùng một loại tình huống có vấn đề nhưng đơn giản để tự học sinh giải quyết Thời gian đầu giáo viên hướng dẫn học sinh

và giải quyết vấn đề, dần dần yêu cầu học sinh tự nêu và giải quyết

b) Giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức mới

Phân chia thời gian, giáo viên giúp học sinh tự nêu, tự giải quyết vấn đề, tự xây dựng kiến thức mới

c) Giúp học sinh phát hiện chiếm lĩnh kiến thức

Từ những tình huống có thực trong đời sống

Giải quyết vấn đề đơn giản tìm ra kiến thức mới

Trang 6

Xây dựng rồi ghi nhớ và vận dụng kiến thức mới vào các tình huống khác trong thực hành sẽ chiếm lĩnh kiến thức vừa phát hiện

d) Hướng dẫn học sinh thiết lập mối quan hệ giữa kiến thức mới và kiến thức đã học ở trước đó

Huy động kiến thức đã học và vốn sống để phát hiện và chiếm lĩnh kiến thức mới Đặt kiến thức mới trong mối quan hệ với kiến thức đã có

2.3.2 Phương pháp dạy học các bài luyện tập , ôn tập

a) Giúp học sinh nhận ra các kiến thức mới học trong các dạng bài tập khác nhau Khi luyện tập, nếu học sinh nhận ra kiến thức đã học trong mối quan hệ mới thì tự học sinh sẽ làm được bài Nếu học sinh không nhận ra được kiến thức đã học trong các dạng bài tập thì giáo viên nên giúp các em bằng cách hướng dẫn , gợi y để tự học sinh nhớ lại kiến thức

b) Giúp học sinh luyện tập theo khả năng của các em

Bao giờ cũng yêu cầu học sinh phải làm bài tập theo thứ tự đã sắp xếp trong phiếu , sử dụng nhiều đơn giản tạo hứng thú cho học sinh

c) Hỗ trợ, giúp đỡ nhau giữa các đối tượng học sinh ( học sinh khá, giỏi kèm học sinh yếu, kém)

Nên khuyến khích học sinh bình luận về cách giải của bạn, tự rút kinh nghiệm trong quá trình trao đổi y kiến

Sự hổ trợ giữa các học sinh trong nhóm, trong lớp góp phần tạo mối đoàn kết và sự mặc cảm tự ti của học sinh yếu dần không còn

d) Tập cho học sinh thói quen không thoả mãn với bài làm của mình đã làm Sau mỗi tiết học, tiết luyện tập nên tạo cho học sinh niềm vui vì đã hoàn thành được công việc được giao, niềm tin vào sự tiến bộ của bản thân ( khuyến khích, nêu gương )

Khuyến khích học sinh giải nhiều bài tập ở nhà với những bài đơn giản đến khó mà các em đã làm ở lớp Có những biện pháp cụ thể để giúp các em vươn lên trong học tập Những kết quả phân tích trên đây không chỉ cho chúng ta thấy

rõ tầm quan trọng của thí nghiệm thực hành hóa học (TNTHHH) mà còn nhấn mạnh đến phương pháp sử dụng các TNTHHH đó như thế nào để có thể đạt được hiệu quả cao, đáp ứng mục tiêu dạy học hiện nay của sự nghiệp giáo dục

Để rèn luyện cho học sinh kỹ năng giải bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ, giáo viên phải đưa ra những bước giải chung, hướng dẫn các em một số bài Sau đó chỉ giải đáp những thắc mắc khi các em gặp khó khăn ở một số bài

2.3.3 Phương pháp quan sát

Trong quá trình nghiên cứu đề tài và áp dụng đề tài vào bài dạy mang tính chất thí điểm tôi có quan sát xem thái độ cũng như phản ứng của học sinh xem các em tiếp cận đề tài ở mức độ nào và khi đưa vào áp dụng rộng rãi thì có phát huy kết quả không

Trang 7

Qua phương pháp này tôi thu thâp được những thông tin từ phía học sinh

để có thể điều chỉnh đề tài cho phù hợp với từng đối tượng học sinh từ đó giúp

đề tài của tôi có thể áp dụng rộng rãi trên tất cả đối tượng học sinh

2.3.4 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động

Thực hiện phương pháp này tôi tiến hành áp dụng vào giảng dạy cho những học sinh khá giỏi trước trong năm học vừa qua tôi thấy rằng khi áp dụng

đề tài này cho các đối tượng học sinh như vậy thì phát huy rất tốt những khả năng của các em từ đó tôi thấy chất lượng nắm bài của các em rất tốt đồng thời những kỹ năng thực hành của các em rất thuần thục từ đó thúc đẩy được sự ham học hỏi của các em hơn

Ngoài những phương pháp chủ yếu trên tôi còn sử dụng một số phương pháp khác đê phục vụ cho quá trình nghiên cứu đề tài như: Phương pháp đàm thoại, Phương pháp trao đổi hỏi y kiến, Phương pháp nghiên cứu lí thuyết Tuy nhiên ở mỗi phương pháp nó lại có những thuận lợi và có những khó khăn nhất định trong quá trình thu thập thông tin và các dữ liệu để nghiên cứu đề tài

+ Một số yêu cầu cần thiết khi làm bài tập trắc nghiệm về thí nghiệm hoá hữu cơ:

- Nắm vững lí thuyết

- Đọc kĩ đề bài và biết kết hợp các lựa chọn của đề bài

- Bình tĩnh, tự tin

+ Một số kinh nghiệm muốn nắm vững lí thuyết cần:

- Luôn chuẩn bị bài trước khi học bài mới

- Luôn tập trung, chú trong giờ học , biết ghi chép những nôi dung quan trọng

và những nội dung giáo viên lưu y

- Trả lời các câu hỏi ly thuyết và làm các bài tập trắc nghiệm vận dụng sau mỗi bài học, tiết học

- Đọc thêm các sách tham khảo

- Tóm tắt nội dung mỗi bài học hoặc cả chương, tìm ra mối liên hệ giữa các bài học và các chất với nhau

- Xuất phát từ những kiến thức và kỹ năng cơ bản từ cách giair thông thường mà học sinh biết, người giáo viên cần hướng dẫn học sinh tìm ra những quy luật, các mối qua hệ đặc biệt để từ đó dẫn đến cách giải nhanh

CÁCH TỔ CHỨC THỰC HIỆN:

THÍ NGHIỆM MỘT SỐ TÍNH CHẤT CỦA AMIN, AMINOAXIT, PROTEIN

1 Thí nghiệm 1: Một số thí nghiệm của amin.[1]

1.1 Thí nghiệm 1: Nhúng mẫu giấy quỳ tím vào ống nghiệm đựng dung dịch

propyl amin

Hiện tượng: Mẫu giấy quỳ tím chuyển sang màu xanh.

Trang 8

Giải thích: Propyl amin và nhiều amin khác khi tan trong nước tác dụng với

nước cho ion OH

-CH3CH2CH2NH2 + H2O  [CH3CH2CH2NH3]+ + OH

-1.2 Thí nghiệm 2: Đưa đũa thủy tinh vừa nhúng vào dung dịch HCl đậm

đặc lên miệng lọ đựng dung dịch metyl amin đậm đặc

Hiện tượng: Xung quanh đũa thủy tinh bay lên làn khói trắng.

Giải thích : Khí metylamin bay lên gặp hơi HCl xảy ra phản ứng tạo ra muối:

CH3NH2 + HCl  [CH3NH3]+Cl

-1.3 Thí nghiệm 3: Nhỏ mấy giọt anilin vào nước, lắc kĩ Anilin hầu như không

tan, nó vẩn đục rồi lắng xuống đáy Nhúng mẩu giấy quỳ tím vào dung dịch anilin Màu quỳ tím không đổi Nhỏ dung dịch HCl đặc vào ống nghiệm, anilin tan dần do đã xảy ra phản ứng

C6H5NH2 + HCl  C6H5NH3+Cl

-1.4 Thí nghiệm 4: Nhỏ vài giọt nước brom vào ống nghiệm đựng sẵn 1 ml

dung dịch anilin

Hiện tượng : Xuất hiện kết tủa trắng.

Hình 1: Phản ứng tạo kết tủa trắng của anilin và dung dịch brom

Giải thích: Do ảnh hưởng của nhóm NH2 (tương tự nhóm –OH ở phenol), ba nguyên tử H ở các vị trí ortho và para so với nhóm –NH2 trong nhân thơm của anilin bị thay thế bởi ba nguyên tử brom:

Trang 9

:

+ 3Br2

NH2

Br Br

Br

+ 3HBr

(2,4,6-tribromanilin)

H2O

2 Thí nghiệm 2: Một số thí nghiệm của aminoaxit [ 1 ]

2.1.Tính chất axit - bazơ của dung dịch amino axit:

Thí nghiệm : Nhúng quỳ tím vào các dung dịch glyxin (ống nghiệm 1), vào

dung dịch axit glutamic (ống nghiệm 2) và vào dung dịch lysin (ống nghiệm 3)

Hiện tượng: Trong ống nghiệm (1) màu quỳ tím không đổi Trong ống nghiệm

(1) quỳ tím chuyển sang màu hồng Trong ống nghiệm (3) quỳ tím chuyển sang màu xanh

Giải thích:

- Phân tử glyxin có một nhóm –COOH và một nhóm –NH2 nên dung dịch gần như trung tính

- Phân tử axit glutamic có hai nhóm –COOH và một nhóm –NH2 nên dung dịch

có môi trường axit

- Phân tử lysin có một nhóm –COOH và hai nhóm –NH2 nên dung dịch có môi trường bazơ

Amino axit phản ứng với axit vô cơ mạnh cho muối, ví dụ :

H2NCH2COOH + HCl  ClH3NCH2COOH

Hoặc H3N+CH2COO- + HCl  ClH3NCH2COOH

Amino axit phản ứng với bazơ mạnh cho muối và nước,

Ví dụ : H2NCH2COOH + NaOH  H2NCH2COONa + H2O

Hoặc H3N+CH2COO- + NaOH  H2NCH2COONa + H2O

3 Thí nghiệm 3: Sự đông tụ protein khi đun nóng [ 1]

Tiến hành thí nghiệm:

+ Cho vào ống nghiệm 2-3 ml dung dịch protein 10% (hoặc lòng trắng trứng) + Đun nóng ống nghiệm đến khi sôi khoảng 1 phút

Hiện tượng: Dung dịch protein đục dần sau đó đông tụ lại thành từng

mảng bám vào thành ống nghiệm

Giải thích: Vì thành phần chính của lòng trắng trứng là protein nên dễ bị đông

tụ khi đun nóng

Trang 10

Hình 2: Hiện tượng đông tụ protein

4 Thí nghiệm 4: Phản ứng màu biure [1]

Tiến hành thí nghiệm: Cho vào ống nghiệm 1ml dung dịch protein 10%, 1ml

dung dịch NaOH 30% và 1 giọt dung dịch CuSO4 2%

+ Lắc nhẹ ống nghiệm và quan sát hiện tượng

Hiện tượng: Xuất hiện màu tím đặc trưng.

Hình 3: Phản ứng màu biure

Giải thích: Do tạo ra Cu(OH)2 theo phản ứng:

2NaOH + CuSO4 → Na2SO4 + Cu(OH)2

Phản ứng giữa Cu(OH)2 với các nhóm peptit -CO-NH- tạo ra sản phẩm màu tím

* Phát triển thành câu hỏi trắc nghiệm: ( theo các mức độ từ dễ đến khó)

Ngày đăng: 20/05/2021, 21:08

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w