Lí do chọn đề tàiNghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VIII đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục và đào tạo phải bằng “đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục và
Trang 1SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
TRƯỜNG THPT TRIỆU SƠN 3
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐA DẠNG HÓA HOẠT ĐỘNG LUYỆN TẬP, VẬN DỤNG KIẾN THỨC NHẰM PHÁT HUY TÍNH TÍCH CỰC
CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC MÔN
GIÁO DỤC CÔNG DÂN 10
Người thực hiện: Mai Thị Ngọc Hà Chức vụ: Phó tổ trưởng chuyên môn SKKN thuộc môn: Giáo dục công dân
Trang 2MỤC LỤC
Trang
1 MỞ ĐẦU 2
1.1 Lí do chọn đề tài 2
1.2 Mục đích nghiên cứu 3
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2 NỘI DUNG 4
2.1 Cơ sở lí luận 4
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 5
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề 8
2.3.1 Xác định bản chất của hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức trong dạy học GDCD 10 8
2.3.2 Định hướng tổ chức đổi mới hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức bài học trong dạy học GDCD 10 9
2.3.3 Thiết kế minh họa một số hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức trong dạy học GDCD 10 9
2.3.3.1.Luyện tập, vận dụng kiến thức bằng thiết kế sơ đồ tư duy và hệ thống câu hỏi trả lời nhanh 10
2.3.3.2 Luyện tập, vận dụng kiến thức bằng các câu chuyện đạo đức 11
2.3.3.3 Luyện tập, vận dụng kiến thức bằng tổ chức trò chơi 15
2.3.3.4 Luyện tập, vận dụng kiến thức bằng tình huống và sự trải nghiệm thực tế của học sinh 16
2.4 Hiệu quả của sáng kiến đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 17
2.4.1 Đối với hoạt động giáo dục 17
2.4.2 Đối với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường 18
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 19
3.1 Kết luận 19
3.1.1 Bài học kinh nghiệm 19
3.1.2 Khả năng ứng dụng và phát triển sáng kiến kinh nghiệm 19
3.2 Kiến nghị 19
3.2.1 Đối với đồng nghiệp 19
3.2.2 Đối với các cấp lãnh đạo 19 TÀI LIỆU THAM KHẢO
DANH MỤC CÁC ĐỀ TÀI SKKN
PHỤ LỤC
Trang 31 MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng
khóa VIII đã chỉ rõ con đường đổi mới giáo dục và đào tạo phải bằng “đổi mới
mạnh mẽ phương pháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều,
Trước yêu cầu đổi mới hiện nay, đa số giáo viên đều có tinh thần tự đổimới phương pháp dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh; tuynhiên phần lớn các thầy cô giáo đều hướng đến việc đổi mới trong hoạt độngkhởi động và hình thành kiến thức là chủ yếu, chưa quan tâm đúng mức tới hoạtđộng luyện tập, vận dụng kiến thức cũng như vai trò của hoạt động luyện tập,vận dụng kiến thức trong hoạt động dạy học Cụ thể, thường giáo viên chỉ thựchiện hoạt động này một cách nhanh chóng, đại khái thông qua một vài câu hỏitrắc nghiệm nhanh hoặc thông qua tổng kết chủ quan của bản thân về nội dungcủa bài học, chưa chú ý nhiều đến việc tạo điều kiện để học sinh thấy được giátrị của bài học và cơ hội vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn cuộc sống,hoạt động hàng ngày của học sinh Đối với bộ môn GDCD nói chung ở bậcTHPT, nội dung của các bài học thuộc chương trình GDCD 10 nói riêng với đặcthù kiến thức là các nội dung Triết học và các chuẩn mực đạo đức việc giúp họcsinh hiểu rõ được ý nghĩa của nội dung bài học và vận dụng kiến thức đã học vàthực tiễn cuộc sống có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc định hướng sự pháttriển về nhân cách, thái độ sống, học tập và lao động của học sinh trong tươnglai
Tuy nhiên, thực tế trong hoạt động này học sinh vẫn đóng vai trò thụ động
lắng nghe, cảm xúc, hứng thú mới chỉ dừng lại ở sự “lây lan” từ giáo viên sang
học sinh chứ không phải được khơi dậy, hình thành từ hoạt động của bản thâncác em
Đối với việc học bộ môn Giáo dục công dân 10, đặc biệt với các bài giảngvới một phần nội dung liên quan đến kiến thức Triết học được coi là khó hiểu,khô khan; Phần nội dung liên quan đến các chuẩn mực đạo đức thường bị các emcoi là lý thuyết, nhàm chán do đã học từ hồi cấp 2 ( THCS) do vậy phần lớn họcsinh học đối phó, chiếu lệ, không tập trung nên hiệu quả giáo dục của bộ mônchưa thực sự đạt được theo yêu cầu Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạngtrên: do xu hướng phát triển của thời đại khoa học, nhu cầu của xã hội, yêu cầucủa nghề nghiệp, sự định hướng của gia đình Song một trong những nguyênnhân chủ yếu đó là do phương pháp của giáo viên chưa tạo được hứng thú vàniềm say mê học tập ở học sinh, hình thức luyện tập, vận dụng còn đơn điệu,nhàm chán, rời rạc và cứng nhắc nặng về kiến thức sách vở nên chưa làm cho họcsinh thấy được, hiểu được ý nghĩa của bài học môn GDCD với sự phát triển, bồidưỡng giá trị sống tích cực cho bản thân thông qua các hoạt động trong cuộc sốnghàng ngày
Trang 4Nhằm tiếp tục nâng cao chất lượng và hiệu quả giờ dạy theo yêu cầu đổi
mới phương pháp dạy học với định hướng “lấy học sinh làm trung tâm”, trong
những năm gần đây công tác bồi dưỡng chỉ đạo chuyên môn tại trường THPTTriệu Sơn 3 được thống nhất từ Ban giám hiệu đến các tổ, nhóm chuyên môn vàtừng cá nhân Là giáo viên dạy Giáo dục công dân, đặc biệt là dạy chương trìnhmôn Giáo dục công dân 10 là chương trình học đầu tiên của bộ môn ở bậc học
mới đối với các em học sinh tôi luôn xác định rằng:“Muốn khơi dậy niềm đam
mê, bồi đắp tình yêu lâu bền của học sinh đối với môn học cần phải chú trọng đổi mới không chỉ trong hoạt động khởi động; hình thành kiến thức mà cả trong hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức của bài học” làm cho học sinh nhận thức rõ được những bài học từ sách vở sẽ có giá trị lớn đối với sự hoàn thiện giá trị của bản thân các em trong từng hoạt động hàng ngày, làm cho các em thấy những bài học đó thật hay và thú vị
Xuất phát từ những lí do nêu trên và qua nhiều năm giảng dạy, tôi đã chọn
đề tài: “Đa dạng hóa hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức bài học nhằm
phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học môn Giáo dục công dân 10” làm sáng kiến kinh nghiệm của mình.
quả dạy học theo hướng tích cực và hình thành năng lực cho học sinh
- Nâng cao được kết quả học tập môn Giáo dục công dân 10”
- Rèn luyện, nâng cao kĩ năng sống cho học sinh
1.3 Đối tượng nghiên cứu
- Nghiên cứu nội dung chương trình Giáo dục công dân 10 và việc học tậpcủa học sinh đối với bài học
- Học sinh khối 10 trường THPT Triệu Sơn 3
- Giáo viên giảng dạy môn Giáo dục công dân – trường THPT Triệu Sơn 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu của phép biện chứng duy vật: Lôgic, lịch sử,phân tích, tổng hợp, so sánh (phân tích từng đối tượng học sinh, tổng hợp cáckết quả đạt được, phân tích tổng hợp tài liệu qua tham khảo sách, báo )
- Phương pháp đàm thoại, phỏng vấn (lấy ý kiến học sinh, phụ huynh,giáo viên )
- Phương pháp thực nghiệm (thông qua thực tế dạy học trên lớp)
Trang 52 NỘI DUNG
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Giải thích một số khái niệm
- “Luyện tập”: là “rèn luyện cho thành thạo”.[2]
- “ Vận dụng” là đem tri thức, lí luận áp dụng vào thực tiễn
- “Tính tích cực của học sinh”: Có thể là tích cực trong học tập, trong
hoạt động trải nghiệm sáng tạo hay cả trong các hoạt động vui chơi Với đề tàinày, tôi xin được đề cập tới khái niệm tích cực của học sinh trong nhận thức học
tập: “Tính tích cực nhận thức biểu hiện sự nỗ lực của chủ thể khi tương tác với
đối tượng trong quá trình học tập, nghiên cứu; thể hiện sự nỗ lực của hoạt động trí tuệ, sự huy động ở mức cao các chức năng tâm lí (như hứng thú, chú ý, ý
2.1.2 Các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn
Nghị quyết số 29-NQ/TW, ngày 04/11/2013 về đổi mới căn bản, toàn diện
giáo dục và đào tạo nêu rõ: “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học
theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo
cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới tri thức, kỹ năng, phát triển năng lực.”[4]
Đáp ứng yêu cầu đó, Bộ Giáo dục và đào tạo có Công văn số5555/BGDĐT-GDTrH, 08/10/2014 cụ thể hóa những yêu cầu đổi mới phương
pháp theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh: “Hình thức giao nhiệm vụ
Ngoài ra, yêu cầu của việc đổi mới phương pháp dạy học còn được cụ thểhóa trong các văn bản chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ năm học hằng năm của BộGiáo dục và đào tạo; hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Sở Giáo dục
và đào tạo; kế hoạch năm học của nhà trường và của mỗi giáo viên
2.1.3 Vai trò của hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức trong dạy học Giáo dục công dân 10.
Hoạt động luyện tập, vận dụng hay hoạt động củng cố kiến thức (theo
cách gọi cũ) như NM.LACOPLEP đã khẳng định: “ là khâu không thể thiếu
trong quá trình giảng dạy Nó thể hiện được tính toàn vẹn của bài giảng Thông qua việc củng cố, ôn luyện mà giáo viên có thể khắc sâu kiến thức cho học sinh”.
Có thể khẳng định hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức giữ vai trò
quan trọng trong quá trình dạy học vì:
Đối với học sinh: Giúp học sinh nhớ tốt các kiến thức đã học; giúp họcsinh rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức; rèn luyện cách diễn đạt, trả lời, táihiện; hệ thống hóa lại các kiến thức đã học
Trang 6Đối với giáo viên: Giúp giáo viên đánh giá được chất lượng bài dạy; mức
độ lĩnh hội kiến thức của học sinh, từ đó có biện pháp bổ sung, sửa chữa kịpthời phương pháp lên lớp của mình
Bài giảng dù hay, hấp dẫn đến đâu nếu không làm tốt hoạt động luyệntập, vận dụng thì cũng có thể coi là chưa hoàn thiện, đặc biệt là đối với mônGDCD nói chung vì theo nguyên lý giáo dục “ học phải đi đôi với hành, lý luậnphải gắn liền với thực tiễn”
Có không ít thầy, cô giáo chưa thấy hết tác dụng của việc tổ chức hoạtđộng luyện tập, vận dụng kiến thức của bài học hoặc do hoạt động khởi động vàhình thành kiến thức chiếm gần hết thời lượng của tiết học nên thường hay làmmột cách chiếu lệ Thực tế dạy học đã chứng minh thông qua hoạt động luyệntập, vận dụng kiến thức sẽ giúp học sinh nhớ được tốt, nhanh các kiến thức đãhọc Việc nhắc lại kiến thức khi luyện tập giúp ích rất nhiều cho sự ghi nhớ
Như vậy có thể thấy luyện tập, vận dụng là:
- Giai đoạn chốt lại những tri thức, kĩ năng quan trọng đã truyền thụ
- Giai đoạn hình thành, rèn luyện và phát triển khả năng tư duy, sáng tạocho học sinh
- Là căn cứ quan trọng để đánh giá hiệu quả giáo dục của tiết học
Tuy nhiên để đạt được hiệu quả giáo dục như mong muốn cần phải tạomột tâm thế tốt cho học sinh trong hoạt động luyện tập và vận dụng này Nói
đến “tâm thế” là nói đến khái niệm “chú ý” Chú ý là sự tập trung của ý thức
vào một đối tượng, sự vật, nào đó, để định hướng hoạt động, đảm bảo điềukiện thần kinh – tâm lí cần thiết cho hoạt động tiến hành có hiệu quả
Một trong những mục đích của giờ Giáo dục công dân là làm sao gâyđược rung động thẩm mỹ, giáo dục nhân cách cho học sinh Nhưng việc tiếp thukiến thức Giáo dục công dân không thể mang tính ép buộc Nó chỉ thực sự hiệuquả khi bắt nguồn từ sự tự nguyện hay có cảm giác thích thú
Hoạt động luyện tập; vận dụng dù là một khâu nhỏ xong vậy nên nếu vì nóchỉ là khâu nhỏ mà bỏ qua thì là một sai lầm lớn trong công tác giảng dạy của mỗingười làm công tác giáo dục
Hơn nữa xét từ góc độ tâm lý lứa tuổi và khả năng tiếp thu kiến thức củahọc sinh ở giai đoạn này có thể thấy rằng nhu cầu tìm hiểu, phát triển tư duykiến thức, kỹ năng, cảm xúc thẩm mỹ là rất lớn Nhưng các em có tư tưởngmuốn tự khám phá, thích độc lập trong suy nghĩ, chứ không thích bị áp đặt nênhoạt động luyện tập; vận dụng cũng cần phải đổi mới, đa dạng hơn, hấp dẫn hơn
để tạo hứng thú học tập cho học sinh
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm
Luyện tập, vận dụng là một hoạt động quan trọng trong một tiết học Tuynhiên, hầu như giáo viên không hoặc ít quan tâm đến hoạt động này khi dạy học
Đa phần giáo viên thường luyện tập, vận dụng bằng cách gọi một học sinh đứngdậy trả lời một vài câu hỏi trắc nghiệm nhanh còn phần ý nghĩa và vận dụngkiến thức bài học vào thực tiễn thường giáo viên sẽ thực hiện luôn bằng phươngpháp thuyết trình sau đó giao bài tập về nhà cho học sinh thậm chí có giáo viên
Trang 7còn bỏ qua luôn hoạt động này Việc giáo viên không hoặc ít quan tâm, đầu tưnghiên cứu để đổi mới hoạt động luyện tập, vận dụng có thể do một số nguyênnhân sau:
- Do thời gian của tiết dạy ngắn (chỉ 45 phút cho một tiết học) trong khikiến thức bài học lại nhiều Đa số giáo viên chú trọng việc giảng dạy, truyền đạtkiến thức cho học sinh ở hoạt động khởi động, tìm hiểu kiến thức mới mất chủyếu thời gian nên không có thời gian cho hoạt động này
- Nhiều giáo viên xem đây là hoạt động không cần thiết và tốn thời gian vìcho rằng học sinh đã lĩnh hội được kiến thức trong quá trình dạy học, do đóthường dùng thời gian của hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức cho việc tổchức hoạt động khởi động hoặc tìm hiểu kiến thức mới
- Hoạt động luyện tập, vận dụng là hoạt động diễn ra vào thời điểm cuốicủa tiết học nên học sinh thường lơ là, không chú ý đến học tập nếu hoạt độngnày không lôi cuốn Đây cũng là nguyên nhân giáo viên không tổ chức hoạtđộng luyện tập, vận dụng hoặc tổ chức một cách qua quýt Vì vậy phải duy trì vàtạo được hứng thú, lôi cuốn học sinh cho đến những phút cuối cùng của tiết học
là điều quan trọng
Để minh chứng cụ thể về thực trạng trên, tôi đã tiến hành một số khảo sátđối với giáo viên và học sinh về việc thiết kế và thực hiện hoạt động luyện tậpvận dụng
Bảng 1: Khảo sát việc thiết kế và thực hiện hoạt động luyện tâp; vận dụng kiến thức bài học của giáo viên bộ môn Giáo dục công dân T
2 Cơ sở tiến hành luyện tâp; vận dụng 3 100
- Từ nội dung liên quan đến nội dung bài 1 33,3
3 Mục tiêu của luyện tập; vận dụng 3 100
- Tạo ra “tình huống có vấn đề” để luyện tập,
Trang 86 Mức độ thu hút học sinh của luyện tập; vận
7 Hiệu quả của luyện tập; vận dụng 3 100
Bảng 2: Khảo sát việc tham gia hoạt động luyện tập; vận dụng của học
sinh đối với tiết học Giáo dục công dân 10 T
T Nội dung khảo sát Số HS được khảo sát Tỉ lệ (%)
1 Em có quan tâm đến hoạt động luyện tập; vận
2 Hoạt động luyện tâp; vận dụng của bài học có
giúp em định hướng được hoạt động trong thực
tiễn cuộc sống hàng ngày của em không?
4 Em có chủ động tìm hiểu kiến thức để giải quyết
vấn đề đặt ra trong hoạt động luyện tập; vận
dụng không?
5 Nếu hoạt động luyện tập; vận dụng tạo cho em
sự tò mò, em có muốn tìm hiểu bài học để giải
Đa số học sinh đều có nhu cầu có được hoạt động luyện tập; vận dụngsinh động, hấp dẫn để kích thích tư duy của các em, chủ động chiếm lĩnh kiếnthức mới, vận dụng kiến thức đã học vào thực tế một cách ý nghĩa nhất
Hạn chế:
Trang 9Đối với giáo viên: Việc luyện tập, vận dụng kiến thức bài học chỉ sơ quabằng một vài câu kết có liên quan, mang tính tóm tắt nội dung bài học Hoạtđộng luyện tâp; vận dụng còn mang tính hình thức, chưa tạo được liên kết thực
sự nội dung bài học với tác dụng giáo dục của bài học Do đó, khi giáo viên kếtluận thực chất là truyền thụ một chiều, áp đặt, học sinh thụ động lắng nghe vìvậy có học sinh còn khó hiểu, thắc mắc sau khi học xong bài học tại sao mìnhphải học vấn đề này hay kiến thức này có tác dụng gì đối với việc tập và luyệncủa mình ?
Đối với học sinh: Việc vận dụng kiến thức bài học vào thực tế chưa thực
sự đạt hiệu quả giáo dục như mong muốn; chưa có sự hứng thú với bài học;chưa có động lực để tự tìm hiểu, tự học tập tích cực
*Nguyên nhân:
Nguyên nhân khách quan:
Dạy học phát huy tính tích cực của học sinh là phương pháp đã được nói đếnnhiều trong vài năm trở lại đây Tuy nhiên, hiện nay những tiết học thực sự đổimới để giáo viên có thể tham khảo và học hỏi còn hạn chế
Chương trình kiểm tra, thi ở môn học hiện nay còn phân bố số điểm tươngđối nhiều cho việc ghi nhớ Do đó, giáo viên khi dạy còn áp lực nhiều về việccung cấp đủ kiến thức cho học sinh
Nguyên nhân chủ quan:
Đối với giáo viên:
Một số giáo viên bộ môn chưa chủ động trong việc học hỏi, tiếp thuphương pháp và kĩ năng dạy học tích cực để vận dụng trong quá trình dạy học
Tâm lí giáo viên còn nặng về truyền thụ kiến thức bài học mới, còn sợ
dành nhiều thời gian cho hoạt động luyện tập; vận dụng có thể bị “cháy giáo
án”.
Việc ứng dụng công nghệ thông tin của giáo viên trong một số tình huốngchưa tốt nên còn ngại trong việc thiết kế giáo án theo hướng phát huy tính tíchcực của học sinh trong hoạt động luyện tập, vận dụng
Đối với học sinh:
Nhiều học sinh có tâm lí học lệch, thiên về các môn khoa học tự nhiênnên ở các môn khoa học xã hội, đặc biệt là môn Giáo dục công dân còn chưa có
sự đầu tư, chưa quan tâm đến việc chuẩn bị bài, dẫn đến tiết học còn thụ động
Áp lực học nhiều bộ môn khác nhau trong cùng một buổi học nên khả năngtập trung tư duy tích cực và sáng tạo dành cho môn Giáo dục công dân còn ít
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
2.3.1 Xác định bản chất của hoạt động luyện tập; vận dụng trong dạy học Giáo dục công dân 10.
* Bản chất của hoạt động luyện tập là:
- Giúp học sinh củng cố, hoàn thiện kiến thức, kĩ năng vừa lĩnh hội được
- Giáo viên sẽ tổ chức cho học sinh các hoạt động nhận dạng, thể hiện vàhoạt động ngôn ngữ
Trang 10- Áp dụng trực tiếp kiến thức, kĩ năng đã biết để giải quyết các tìnhhuống/ vấn đề trong học tập.
* Bản chất của hoạt động vận dụng là:
- Giúp học sinh vận dụng được các kiến thức, kĩ năng để giải quyết các tình huống/ vấn đề tương tự hoặc mới trong học tập hoặc trong cuộc sống hàngngày
- Đây có thể là những hoạt động mang tính nghiên cứu, sáng tạo, vì thếcần giúp học sinh gần gũi với gia đình, địa phương, tranh thủ sự hướng dẫn củagia đình, địa phương để hoàn thành nhiệm vụ học tập
- Trước một vấn đề, học sinh có thể có nhiều cách giải quyết khác nhau.Hoạt động luyện tập; vận dụng có mục tiêu huy động vốn tri thức, kĩ năng nềntảng của học sinh Bởi dạy học là một quá trình kiến tạo Nếu ví tri thức, kĩ năng
học sinh tiếp nhận được như “ngôi nhà”, thì “nền móng” sẽ xuất phát từ những
tri thức, kĩ năng vốn có của người học Vì vậy, luyện tập, vận dụng kiến thứcbài học hiệu quả phải tạo ra cơ hội cho các em tự làm sống lại những kiến thứcnền đã có Quá trình ấy bắt đầu bằng nhu cầu cần được hiểu biết và giải quyếtmâu thuẫn giữa điều đã biết và điều muốn biết Muốn như vậy, hoạt động luyệntập; vận dụng cần tạo ra mâu thuẫn trong nhận thức cho học sinh
2.3.2 Định hướng tổ chức đổi mới hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức bài học trong dạy học Giáo dục công dân 10
Một là: Tổ chức hoạt động luyện tập, vận dụng gắn với mục tiêu hình thành năng lực, phẩm chất cho học sinh.
Khái niệm năng lực được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau Năng lựcđược hiểu như sự thành thạo, khả năng thực hiện công việc của một cá nhân
GS TS Đinh Quang Báo khái quát lại: “ Năng lực là khả năng vận dụng nhữngkiến thức, kinh nghiệm, kĩ năng, thái độ và hứng thú để hành động một cách phùhợp và hiệu quả các tình huống đa dạng của cuộc sống”
Tổ chức hoạt động luyện tập, vận dụng gắn với mục tiêu hình thành nănglực cho học sinh tức là qua hoạt động luyện tập, vận dụng giáo viên không chỉcủng cố được kiến thức cho học sinh mà thông qua đó còn hình thành được cácnăng lực như hợp tác và giao tiếp, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, nănglực tự chủ ; Hình thành được các phẩm chất như yêu nước, chăm chỉ, tráchnhiệm, trung thực
Hai là: Tổ chức hoạt động luyện tập, vận dụng gắn liền với mục tiêu định hướng tích cực.
Một giờ học tốt là một giờ học phát huy được tính tích cực, chủ động củahọc sinh
Dạy học theo hướng tích cực là phải tăng cường tính chủ động, sáng tạo,rèn luyện được kỹ năng tự học, tạo điều kiện cho người dạy có thể thực hiệnđược vai trò tổ chức, dẫn dắt các hoạt động học tập ở người học
Dạy học theo hướng tích cực ở môn GDCD 10 thể hiện ở việc tổ chức chohọc sinh hoạt động để tự phát hiện, tự chiếm lĩnh và hình thành các kĩ năng, kĩxảo cần thiết
Trang 112.3.3 Thiết kế minh họa một số hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức trong dạy học Giáo dục công dân 10.
2.3.3.1 Luyện tập, vận dụng kiến thức bằng thiết kế sơ đồ tư duy và hệ thống câu hỏi trả lời nhanh.
Đây là một trong các phương pháp dễ vận dụng nhất trong việc tổ chứchoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức bài học và đang được nhiều thầy, côgiáo vận dụng nhằm để tổng hợp lại, nhắc lại kiến thức cần ghi nhớ của bài họctrong hoạt động luyện tập
Ví dụ 1: Thiết kế hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức Bài 11: Một số
phạm trù cơ bản của đạo đức học.
* Mục tiêu:
- Giúp học sinh khái quát lại được kiến thức về nghĩa vụ; lương tâm; nhânphẩm, danh dự; hạnh phúc một cách nhanh nhất, cơ bản nhất cho học sinh
- Hình thành năng lực giao tiếp và hợp tác
* Cách tiến hành: Có thể tiến hành bằng các cách khác nhau như học sinh
tự thiết kế sơ đồ hoặc điền khuyết sơ đồ giáo viên đã thiết kế gợi ý…
- Giáo viên yêu cầu nhóm 1,3 lần lượt trình bày kết quả thảo luận nhóm Nhóm 2,4 nhận xét, bổ sung ( nếu có)
- Giáo viên định hướng: Trong cuộc sống hàng ngày chúng ta thường takhông chỉ có nghĩa vụ với mình mà còn với người khác, khi chúng ta thực hiệnđược tốt các nghĩa vụ của mình với người khác với xã hội chúng ta sẽ cảm thấylương tâm thanh thản, khi chưa thực hiện tốt được nghĩa vụ của bản thân chúng
ta sẽ thấy cắn rứt lương tâm Việc thực hiện được những nghĩa vụ của bản thânđối với cộng đồng và xã hội sẽ được xã hội công nhận, đánh giá cao góp phầnxây dựng nhân phẩm và danh dự cho mình, góp phần xây dựng một xã hội hạnhphúc
Trang 12Ví dụ 2: Thiết kế hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức Bài 7: Thực
tiễn và vai trò của thực tiễn đối với nhận thức.
* Mục tiêu: Giúp học sinh khắc sâu kiến thức bài học một cách chủ
động, không phải nhớ máy móc Giáo dục ý thức pháp luật về bảo vệ môi trườngcho học sinh Hình thành kĩ năng tự điều chỉnh, đánh giá hành vi; Phẩm chấttrách nhiệm
* Cách tiến hành:
- Giáo viên chiếu hệ thống câu hỏi và trích Nghị định 167/2013/NĐ- CPquy định về xử phạt hành chính đối với hành vi gây mất vệ sinh công cộng đểluyện tập, vận dụng kiến thức vào cuộc sống hàng ngày ( Phụ lục 1)
- Giáo viên gọi học sinh có tín hiệu trả lời sớm nhất, các bạn còn lại theodõi và tiếp tục đưa ra phương án trả lời nếu phương án đưa ra chưa chính xác
2.3.3.2 Luyện tập, vận dụng kiến thức bằng sử dụng các câu chuyện đạo đức.
Sử dụng các câu chuyện đạo đức sẽ tạo được ấn tượng sâu sắc, mạnh mẽ,khơi dậy niềm đam mê, sự tự tin và hứng thú trong học tập của học sinh; giúp
học sinh nắm vững kiến thức theo nguyên lí:“Từ trực quan sinh động đến tư
duy trừu tượng, từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn” Mặt khác với những hình
ảnh, những câu chuyện đạo đức xúc động đã chứng minh nó có sức mạnh thứctỉnh lòng trắc ẩn tiềm tàng ở mỗi con người Từ đó mà học sinh đã tự giác vàchủ động điều chỉnh hành vi của mình theo hướng tích cực Tạo hứng thú chohọc sinh sau khi kết thúc tiết học và có cảm xúc chờ đợi những điều thú vị củanhững tiết học mới
Ví dụ 1: Thiết kế hoạt động luyện tập, vận dụng kiến thức Bài 13 “Công
lục 2) cùng với kỹ thuật sơ đồ tư duy
Trang 13- Hình thành phẩm chất nhân ái, trách nhiệm; năng lực thẩm mỹ; năng lực tựđánh giá.
* Cách tiến hành:
Học sinh điền vào sơ đồ tư duy theo hệ thống câu hỏi sau:
1 Câu chuyện “Trái tim hoàn hảo” đề cập đến những trách nhiệm nào của côngdân với cộng đồng?
2 Biểu hiện của các trách nhiệm sống đó qua câu chuyện?
3 Câu chuyện có ý nghĩa gì đối với bản thân em?
4 Em thấy mình cần phải làm gì để thực hiện trách nhiệm của bản thân với cộngđồng?
(Lưu ý: Học sinh có thể tự vẽ nhánh tùy theo khả năng của bản thân và điều
kiện thời gian quy định của giáo viên cho hoạt động này Giáo viên có thể yêucầu học sinh làm việc theo nhóm hoặc cá nhân vẽ vào giấy A4 sau đó thu lại làm
cơ sở để theo dõi khả năng tiếp thu bài và làm việc của học sinh)
Ví dụ 2: Thiết kế hoạt động luyện tập; vận dụng Bài 1: Thế giới quan duy
vật và phương pháp luận biện chứng giáo viên sử dụng câu chuyện “ Mượn nồi
và chiếc bình ngọc- Câu chuyện đạo đức Hồ Chí Minh”.
*Mục tiêu:
- Kích thích học sinh nhớ lại những kiến thức về thế giới quan, phươngpháp luận đã được học trong sách vở để vận dụng vào hoạt động trong cuộcsống
-Tạo hứng thú cho học sinh sau khi kết thức tiết học
- Rèn luyện năng lực tự nhận thức, tự điều chỉnh hành vi
- Rèn luyện kỹ năng sống: Biết kiềm chế cảm xúc; Kỹ năng ứng phó với căng thẳng
2 Trước sự việc đó Bác và các vị lãnh đạo cấp cao đã có những cách xử
lý như thế nào? Tại sao có cách xử lý khác nhau đó? Điều đó thể hiện nội dungkiến thức nào mà em đã được học trong bài?
3 Bài học rút ra cho bản thân em trong học tập và rèn luyện sau khi tìmhiểu câu chuyện trên và nội dung của bài 1 em đã học?
- Học sinh tiến hành thảo luận nhóm
- Giáo viên yêu cầu nhóm lần lượt trình bày kết quả thảo luận Nhóm cònlại theo dõi, nhận xét, bổ sung (nếu có)
Trang 14Giáo viên định hướng: Việc Tướng của quân đội Trung Hoa gửi một bứccông văn cho Bác yêu cầu Bác với tư cách là Chủ tịch nước cho họ mượn mộtcái nồi nấu cơm nhằm mục đích chế diễu, kích động, khiêu khích, coi thườngChính phủ mới của chúng ta Xong Bác đã rất bình tĩnh, nhìn nhận thấu đáođược âm mưu và mục đích của chúng, trong khi một số các vị lãnh đạo lại rấtnóng giận muốn đánh Như vậy, trước một sự việc xong mỗi người lại có cách
xử lý khác nhau là phụ thuộc vào quan điểm, niềm tin và định hướng hoạt độngcủa mỗi người khác nhau hay còn gọi là “thế giới quan” và cách xem xét sự vật,hiện tượng trong sự ràng buộc lẫn nhau (phương pháp luận biện chứng) cụ thểnếu không cho chúng mượn chúng sẽ lấy cớ này để tấn công chúng ta khi lựcchúng ta còn yếu ( bất lợi) , nếu cho chúng mượn chúng sẽ không có cớ để gâyhấn chúng ta sẽ tranh thủ được thời gian để xây dựng lực lượng( có lợi)
Câu chuyện trên cho chúng ta một bài học trong cuộc sống hàng ngàychúng ta sẽ có những điều không như ý muốn, xong không nên nóng giận, bồngbột, biết kiềm chế cảm xúc của bản thân dựa trên sự hiểu biết; dựa trên cơ sở củakiến thức đã học về thế giới quan và phương pháp luận biện chứng sẽ giúpchúng ta biến nguy thành cơ, biết cách để giải quyết những khó khăn có thể gặpphải trong cuộc sống
Hoặcsử dụng câu chuyện “ Vết nứt và con kiến”
Cách tiến hành: Giáo viên sử dụng câu chuyện “Vết nứt và con kiến”
cùng kĩ thuật đặt câu hỏi
Vết nứt và con kiến: “Khi ngồi ở bậc thềm nhà, tôi thấy một con kiến
đang tha chiếc lá trên lưng Chiếc lá lớn hơn con kiến gấp nhiều lần Bò đượcmột lúc, con kiến chạm phải một vết nứt khá lớn trên nền xi măng Nó dừng lạigiây lát Tôi nghĩ con kiến hoặc là quay lại, hoặc là nó sẽ một mình bò qua vếtnứt đó Nhưng không Con kiến đặt chiếc lá ngang qua vết nứt trước, sau đó đếnlượt nó vượt qua bằng cách bò lên trên chiếc lá Đến bờ bên kia, con kiến lại thachiếc lá và tiếp tục cuộc hành trình Hình ảnh đó bất chợt làm tôi nghĩ rằng tạisao mình không thể học loài kiến bé nhỏ kia, biến trở ngại, khó khăn của ngàyhôm nay thành hành trang quý giá cho ngày mai tươi sáng hơn”
( Theo Hạt giống tâm hồn 5- Ý nghĩa cuộc sống , NXB Tổng hợp TP HCM)
Hỏi: Bài học rút ra cho bản thân em qua câu chuyện trên là gì? Từ đó
thấy rõ được vai trò của kiến thức nào em đã được học trong bài?
- Học sinh theo dõi, suy nghĩ
- Giáo viên mời 2-3 học sinh trả lời Lớp nhận xét bổ sung( nếu có)
Giáo viên định hướng: Bài học, tại sao đứng trước những thử thách, ta lạikhông nhìn bằng một thái độ tích cực hơn Tại sao thay vì sợ hãi và lẩn trốn, takhông biến nó thành một bài học kinh nghiệm, một thách thức, cơ hội để tatrưởng thành? Nhìn ở một khía cạnh khác, ta sẽ thấy những thử thách khó khăntrong đời, nếu bản thân lạc quan vượt qua, sẽ thấy chúng chỉ là một điều rất bìnhthường, để khi ta vượt qua được, trái tim khối óc mình sẽ tự nhiên trở nên mạnh
mẽ và bản lĩnh hơn Để trên con đường tương lai, ngày mai, ngày hôm sau… ta