Mục đích nghiên cứu - Tìm hiểu các ứng dụng hỗ trợ giáo viên và học sinh dạy và học trực tuyến.. Phương pháp nghiên cứu Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung, phương pháp và b
Trang 1DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Cách mạng công nghiệp 4.0 ……… CMCN 4.0Giáo viên ……… GV
Học sinh ………HS
Phương pháp dạy học ………PPDHSách giáo khoa ……… SGK
Tốt nghiệp trung học phổ thông……… TNTHPT
Trang 2I MỞ ĐẦU 1.1 Lí do chọn đề tài
Hiện nay, thế giới và Việt Nam đang chứng kiến những sự thay đổi vượt bậctrong thời đại công nghệ số của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư (CMCN4.0) và tầm ảnh hưởng sâu rộng của khoa học công nghệ đến đời sống con người.Bản chất của CMCN 4.0 chính là sự ứng dụng công nghệ, khoa học dữ liệu và sửdụng trí tuệ nhân tạo phục vụ sản xuất và cuộc sống con người CMCN 4.0 đem lạinhiều điều kiện thuận lợi, giúp con người khám phá nhiều tri thức mới, nângcao quy mô và chất lượng nền kinh tế, đặc biệt trong lĩnh vực sản xuất, nhưng cũngđặt ra nhiều thách thức song hành với các thời cơ, buộc người lao động, các nhàhoạch định chiến lược phải thay đổi cho phù hợp Trong sự tác động ấy, giáo dụchiện đại, chịu sự tác động lớn nhất
Trong những năm gần đây, Việt Nam đang thực hiện công cuộc đổi mới cănbản và toàn diện nền giáo dục Sự tác động mạnh mẽ của CMCN 4.0 đến giáo dụcđòi hỏi ngành giáo dục cần thay đổi mục tiêu, nội dung giáo dục, phương pháp dạyhọc Việc dạy học trực tuyến, cùng với các công cụ hỗ trợ cho giảng dạy của thờiđại công nghệ số đã và đang thay đổi lớn đến tình hình dạy và học nước ta CMCN4.0 giúp hiện đại hóa giáo dục, hội nhập với quốc tế, song lại đặt ra rất nhiều vấn đềkhiến giáo viên (GV) và các nhà quản lí phải cân nhắc để thay đổi phương phápdạy học nhằm đem lại hiệu quả cao nhất trong giáo dục hiện nay
Đại dịch virus corona (COVID-19) đã và đang lan truyền một cách nhanhchóng Cũng như tất cả các lĩnh vực khác, giáo dục ở tất cả các cấp đều bị ảnhhưởng Theo tổ chức UNESCO (1), tính đến ngày 8/4/2020, trên thế giới có gần 1,6
tỉ học sinh và sinh viên bị ảnh hưởng; 188 quốc gia buộc phải đóng cửa các trườnghọc trên toàn quốc, gây tác động đến 91.3% tổng số học sinh, sinh viên trên toànthế giới Việc đóng cửa đột ngột các trường học, cao đẳng, và đại học đã làm giánđoạn các hoạt động giảng dạy và học tập.[1]
Virus COVID-19 đặt ra nhiều thách thức khác nhau cho hệ thống giáo dục vàđào tạo của Việt Nam Trước tình hình các trường học đóng cửa do đại dịch virusCOVID-19, các cơ sở giáo dục và giáo viên phải đối mặt với thách thức to lớn, đó
là làm thế nào để kết nối với học sinh và đảm bảo tính liên tục của hoạt động giảngdạy Học tại nhà thông qua hình thức đào tạo, học tập trực tuyến là một trong cácbiện pháp khắc phục đầu tiên được nhắc tới trong bối cảnh COVID-19 Là một giáoviên THPT đang giảng dạy các lớp có học sinh bước vào giai đoạn ôn thi TN THPTnăm học 2020, việc gián đoạn hoạt động giảng dạy đã gây ra nhiều trở ngại cho bảnthân tôi và học sinh trong công tác dạy học và ôn thi Đề khắc phục khó khăn nàytrong giai đoạn nghỉ phòng chống dịch tôi đã tìm hiểu và sử dụng các công cụ hỗtrợ dạy học trực tuyến như: Zoom, meeting, Shubclassroom… giúp các em học, ôn
tập Đặc biệt tôi đã tìm hiểu và có được “ Kinh nghiệm sử dụng ứng dụng
Trang 3Shubclassroom để ra bài tập theo chủ đề, đề luyện thi TNTHPT cho học sinh lớp
12 ôn tập trong quá trình nghỉ do dịch COVID-19”.
1.2 Mục đích nghiên cứu
- Tìm hiểu các ứng dụng hỗ trợ giáo viên và học sinh dạy và học trực tuyến
- Tìm hiểu cách sử dụng ứng dụng Shubclassroom để ra bài tập, đề kiểm tra,
đề ôn thi trực tuyến cho học sinh
- Nghiên cứu kết quả sử dụng ứng dụng Shubclassroom để giúp học sinh ôn tập, kiểm tra kiến thức
1.3 Đối tượng nghiên cứu
“ Kinh nghiệm sử dụng ứng dụng Shubclassroom để ra bài tập theo chủ đề,
đề luyện thi TNTHPT cho học sinh lớp 12 ôn tập trong quá trình nghỉ do dịch COVID-19”
1.4 Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu các tài liệu liên quan đến nội dung, phương pháp và biện pháp sửdụng công cụ hỗ trợ giáo viên và học sinh dạy học trực tuyến
Phương pháp điều tra, khảo sát
Phương pháp thống kê, tổng hợp, so sánh
II NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 Cơ sở lí luận của sáng kiến kinh nghiệm
2.1.1 Giáo dục trực tuyến
Giáo dục trực tuyến (hay còn gọi là e-learning) là phương thức học ảo thôngqua một máy vi tính, điện thoại thông minh nối mạng đối với một máy chủ ở nơikhác có lưu giữ sẵn bài giảng điện tử và phần mềm cần thiết để có thể hỏi/yêucầu/ra đề cho học sinh học trực tuyến từ xa Giáo viên có thể truyền tải hình ảnh và
âm thanh qua đường truyền băng thông rộng hoặc kết nối không dây (WiFi,WiMAX), mạng nội bộ (LAN) Mở rộng ra, các cá nhân hay các tổ chức đều có thể
tự lập ra một trường học trực tuyến (e-school) mà nơi đó vẫn nhận đào tạo họcviên, đóng học phí và có các bài kiểm tra như các trường học khác.[2]
2.1.2 Ưu điểm của giáo dục trực tuyến
Giáo dục trực tuyến cho phép đào tạo mọi lúc mọi nơi, truyền đạt kiến thức theo yêu cầu, thông tin đáp ứng nhanh chóng Học viên có thể truy cập các khoá học bất
kỳ nơi đâu như văn phòng làm việc, tại nhà, tại những điểm Internet công cộng, 24 giờ một ngày, 7 ngày trong tuần
Trang 4Tiết kiệm chi phí: Giúp giảm khoảng 60% chi phí bao gồm chi phí đi lại và chi phí
tổ chức địa điểm Học viên chỉ tốn chi phí trong việc đăng ký khoá học và có thể đăng ký nhiều khoá học mà họ cần
Tiết kiệm thời gian: giúp giảm thời gian đào tạo từ 20-40% so với phương pháp
giảng dạy truyền thống nhờ hạn chế sự phân tán và thời gian đi lại
Uyển chuyển và linh động: Học viên có thể chọn lựa những khoá học có sự chỉ dẫn
của giảng viên trực tuyến hoặc khoá học tự tương tác (Interactive Self-pace
Course), tự điều chỉnh tốc độ học theo khả năng và có thể nâng cao kiến thức thôngqua những thư viện trực tuyến
Tối ưu: Nội dung truyền tải nhất quán Các tổ chức có thể đồng thời cung cấp nhiều
ngành học, khóa học cũng như cấp độ học khác nhau giúp học viên dễ dàng lựa chọn
Hệ thống hóa: E-learning dễ dàng tạo và cho phép học viên tham gia học, dễ dàng
theo dõi tiến độ học tập, và kết quả học tập của học viên Với khả năng tạo những bài đánh giá, người quản lý dễ dàng biết được nhân viên nào đã tham gia học, khi nào họ hoàn tất khoá học, làm thế nào họ thực hiện và mức độ phát triển của họ.[3]
2.1.3 Nhược điểm của giáo dục trực tuyến
Vấn đề cảm xúc và không gian tạo sự ấn tượng cho người học
Tương tác trực tiếp với người dùng bị hạn chế
Hạn chế một số người dùng không sử dụng điện thoại thông minh, máy tính, [2]
Trang 52.1.4 Học trực tuyến xuất hiện khi nào ?
Lịch sử hình thành của học trực tuyến
Trước khi internet xuất hiện, các khóa học từ xa đã hình thành nhằm cungcấp cho học sinh những khóa học kỹ năng cụ thể Vào năm 1840, Isaac Pitman dạyhọc trò của mình viết tắt qua thư từ Hình thức viết tượng trưng này được thiết kế
để cải thiện tốc độ viết và phổ biến giữa các thư ký, nhà báo và các cá nhân khác,những người đã thực hiện rất nhiều lưu ý khi viết hoặc tạo ghi chú
Pitman, một giáo viên có năng lực, đã nhận bài tập về nhà từ sinh viên gửicho ông thông qua hệ thống thư và sau đó ông sẽ gửi cho họ nhiều bài tập hơn đểhoàn thành
Năm 1924, máy thử nghiệm đầu tiên được phát minh Thiết bị này cho phéphọc sinh tự kiểm tra Sau đó, vào năm 1954, BF Skinner, một giáo sư Harvard, đãphát minh ra “máy dạy học”, điều này cho phép các trường quản lý hướng dẫnđược lập trình cho học sinh của họ Mãi đến năm 1960, chương trình đào tạo dựatrên máy tính đầu tiên đã được giới thiệu với thế giới
Chương trình đào tạo dựa trên máy tính này (hoặc chương trình CBT) đượcgọi là Logic lập trình PLATO cho các hoạt động giảng dạy tự động Ban đầu nóđược thiết kế cho các sinh viên theo học tại Đại học Illinois, nhưng cuối cùng được
sử dụng trong các trường học trong toàn khu vực
Học trực tuyến hôm nay
Với sự ra đời của máy tính và internet vào cuối 20 thứ thế kỷ, các công cụelearning và phương pháp phân phối được mở rộng MAC đầu tiên trong nhữngnăm 1980 cho phép các cá nhân có máy tính trong nhà của họ, làm cho nó dễ dànghơn cho họ để tìm hiểu về các đối tượng cụ thể và phát triển bộ kỹ năng nhấtđịnh Sau đó, trong thập kỷ tiếp theo, môi trường học tập ảo bắt đầu thực sự pháttriển mạnh, Mọi người được tiếp cận với vô số thông tin trực tuyến và các cơ hộihọc tập
Trong những năm 2000, các doanh nghiệp bắt đầu sử dụng elearning để đàotạo nhân viên của họ Các công nhân mới và có kinh nghiệm cũng đã có cơ hội cảithiện cơ sở tri thức ngành của mình và mở rộng các kỹ năng Ở nhà, các cá nhânđược cấp quyền truy cập vào các chương trình cung cấp cho họ khả năng kiếm tiềntrực tuyến và làm phong phú thêm cuộc sống của họ thông qua kiến thức mởrộng Hôm nay, elearning đã phổ biến hơn bao giờ hết, với vô số cá nhân nhận ranhững lợi ích mà học tập trực tuyến có thể cung cấp.[4]
2.1.5 Hiệu quả của học trực tuyến
Không phải tự nhiên mà một quốc gia phát triển hàng đầu như nước Mỹ lại
có số lượng sinh viên và số lượt đăng kí học trực tuyến cao như thế Theo nghiên
Trang 6cứu của một chuyên gia đã có hơn 30 năm nghiên cứu về giáo dục cho thấy kết quảhọc tập của phương pháp học trực tuyến không thua kém phương pháp học truyền
thống Nhiều người cho rằng, dựa vào ưu điểm của phương pháp học trực tuyến mà
nhiều người thấy nó dễ đào tạo hơn cách truyền thống
2.1.6 Học trực tuyến ngày càng phổ biến.
Giai đoạn 2010-2020 là thời kì các đơn vị giáo dục truyền thống bắt đầu ứngdụng các công cụ trực tuyến vào việc giảng dạy. Việt Nam được đánh giá là bắt kịpnhanh xu hướng thế giới bởi ở thời điểm năm 2010, khi E-Learning bắt đầu trởthành một xu thế toàn cầu và lan tỏa ra nhiều quốc gia trên thế giới thì ngay sau đónhững doanh nghiệp trong nước cũng có những bước đi khai phá đầu tiên, cho ramắt một loạt các trang web học trực tuyến như Violet.vn,Hocmai.vn, Topica, Onluyen.vn, Speakup.vn, Mathplay, Moon.vn… Đến nay, E-Learning đã trở thành một mô hình học tập thu hút lượng lớn người sử dụng, đặcbiệt là tại các thành phố lớn như Hà Nội và Hồ Chí Minh với độ phủ đối tượng khárộng, từ học sinh các cấp, sinh viên tới người đi làm Hoạt động giáo dục trực tuyếntại Việt Nam cung cấp chủ yếu các nhóm dịch vụ là: Các khóa học ngoại ngữ; Cácchương trình ôn thi/bài giảng kiến thức phổ thông (cấp 2, cấp 3) và khóa học kỹnăng Nội dung các bài giảng E-Learning khá phong phú, được thiết kế tích hợpdưới nhiều hình thức thể hiện khác nhau như video, clip, hiệu ứng âm thanh, hìnhảnh minh họa sinh động… nhưng vẫn đảm bảo sự tương tác với giáo viên Riêngvới chương trình dành cho học sinh phổ thông các cấp, nhiều trang học trực tuyếncung cấp hệ thống dữ liệu hàng nghìn bài giảng được thiết kế bám sát chương trìnhcủa Bộ Giáo dục và Đào tạo.[5]
Giai đoạn 2013-2018 Việt Nam đứng thứ 4 thế giới về tốc độ phát triển learning Nhận định về xu thế đào tạo trực tuyến, Thứ trưởng Bộ Giáo dục và đàotạo Nguyễn Văn Phúc chia sẻ, ở các nước trên thế giới, đào tạo trực tuyến diễn rarất mạnh mẽ với nhiều hình thức khác nhau Không chỉ các khóa đào tạo cấp bằng,những khóa học đại chúng mở, ngắn hạn đáp ứng nhu cầu cho mọi đối tượng cũngphát triển nhanh chóng Ngoài các trường đào tạo trực tuyến, ở những trường đàotạo truyền thống, hình thức đào tạo trực tuyến kết hợp thông qua việc học trênkhông gian mạng chiếm phần lớn nội dung học tập [6]
e-2.1.7 Học trực tuyến không chỉ có một hình thức đào tạo duy nhất
Các tổ chức hay cá nhân đào tạo qua học trực tuyến không chỉ có một hìnhthức duy nhất, mà có thể bằng cách: thư điện tử, phương pháp đặc trưng qua cácdịch vụ phong phú Học trực tuyến cho phép học viên truy cập các liên kết bênngoài, những mô phỏng chất lượng cao và hiệu ứng sinh động, bên cạnh đó dựa vào
Trang 7mức độ học tập của học viên và quy mô của website học trực tuyến mà sẽ có những
phương pháp đào tạo thích hợp nhất
2.1.8 Học trực tuyến phù hợp với hầu hết mọi lứa tuổi
Học trực tuyến không chỉ phù hợp với các học viên từ 18-24 tuổi hay các học
viên nhỏ tuổi hơn mà còn phù hợp với các học viên trưởng thành nhưng năng động
Tính chất hiện đại của học trực tuyến khiến các học viên trẻ tuổi nhưng kém kiên
trì có
2.2 Yêu cầu về thiết kế bài học trực tuyến và cấu trúc kịch bản sư phạm bài học trực tuyến [3]
Người thiết kế bài học trực tuyến phải đưa ra được:
(i) Ý tưởng về bài học: Học cái gì?;
(ii) Công nghệ phù hợp: học như thế nào, tiến trình học tập là gì?
(iii) Đánh giá: Làm thế nào để biết người học tiến bộ và đạt mục tiêu học tập?
Bài học trực tuyến phải có cấu trúc tương ứng với các giai đoạn học tập: Giaiđoạn chuẩn bị, giai đoạn học tập và khuyến khích thực hành và giai đoạn phản hồi/đánh giá Dưới đây là một số gợi ý cụ thể:
Giai đoạn 1 Chuẩn bị
Trong giai đoạn này cần thực hiện 3 nhiệm vụ: Thu hút sự chú ý, Nêu ra mụctiêu của bài học và Khuyến khích nhớ lại/tái hiện bài cũ/kiến thức học gần đây
Thu hút sự chú ý: Cần sử dụng nhiều phương tiện truyền thông có thể có hiệu quả,
nhưng nên thận trọng vì người học có thể trở nên nhàm chán hoặc lo sợ; Chútrọng liên kết những vấn đề trong hướng dẫn tới thế giới thực và tạo các cơ hội tốtcho các hoạt động tương tác
Trang 8Nêu ra mục tiêu của bài học: Diễn tả các mục tiêu rõ ràng nhất đến mức có thể, vì
đặc trưng của giải pháp học trực tuyến là tự quản lý Mục tiêu phải diễn đạt đượchọc viên nên đạt những kỹ năng/năng lực cơ bản và điều kiện để đạt mục tiêu đề ra(điều kiện, kỹ năng máy tính,…)
Khuyến khích nhớ lại/tái hiện: Chỉ ra những nội dung cần được ôn tập cho người
học; cần tiếp tục kế thừacác bài học trước
Giai đoạn 2 Hướng dẫn học tập và thực hành
Giai đoạn này cần phải: Sử dụng phương tiện truyền thông theo cách thực sự có ýnghĩa; Hướng dẫn học tập và Khuyến khích thực hành
Sử dụng phương tiện truyền thông theo cách thực sự có ý nghĩa: Không bắt
buộc học viên đọc các tài liệu mà họ đã hiểu /được học ở chủ đề, chuyên đềtrước; Đưa ra những hướng dẫn có thể dự đoán được và cho phép người học tiếptục kiểm soát quá trình học tập của họ
Hướng dẫn học tập: Nên sẵn có 1 người hướng dẫn học tập (qua email, chat,…) ;
hướng dẫn cần rõ ràng, hỗ trợ hiệu quả cho học tập
Khuyến khích thực hành: Hầu hết hệ thống truyền tải của học trực tuyến đều là các
dạng câu hỏi dựa trên máy tính (lựa chọn nhiều phương án, mô phỏng) Hướngthực hành trên máy tính gắn liền với những yêu cầu đối với người học trong côngviệc thực tế
Giai đoạn 3 Phản hồi, đánh giá
Giai đoạn này cần đưa ra Câu hỏi hướng dẫn; Đánh giá thực hành và Nâng cao khảnăng ghi nhớ của người học
Câu hỏi hướng dẫn: Dự đoán các câu trả lời không chính xác; Nêu cụ thể tất cả các
phản hồi của người hướng dẫn (Không chỉ đơn giản là: “làm rất tốt” hoặc
“làm lại” ); Tránh làm giảm tập trung của người học bằng những phần thưởng điện
tử, điều này sẽ làm chậm tốc độ học tập
Đánh giá thực hành: Do máy tính là công cụ đánh giá nên các câu hỏi phải được
thiết kế rõ ràng để không có sự nhầm lẫn khi trả lời; có các gợi ý “bước tiếp theo”dựa trên kết quả và chắc chắn rằng người học biết chính xác mong đợi của mình làgì
Trang 9Nâng cao khả năng ghi nhớ: Nhấn mạnh “công việc thực tế” của người học rất
quan trọng trong thiết kế nội dung; Thông báo với người học về người/địa chỉ liên
hệ để họ có thể tìm kiếm thêm thông tin hoặc giúp đỡ
Các yêu cầu về câu hỏi, phản hồi, đánh giá
Yêu cầu về câu hỏi:
- Câu hỏi khác với những câu hỏi trong bài giảng trực tiếp
- Đưa ra những kỹ năng liên quan đến bài tập
- Sử dụng những lựa chọn đáng tin cậy
Yêu cầu về phản hồi của người hướng dẫn
- Phân tích các câu trả lời và trả lời lại những phản hồi cụ thể
- Luôn luôn trả lời câu hỏi “tại sao câu trả lời đúng hoặc không đúng?”
- Luôn luôn chú ý tới kiểm tra lại cả quá trình
- Luôn luôn thông báo với học viên đã đạt được mục đích nào và cái nào chưa đạt được
- Đưa ra lựa chọn, dù có hay không học viên nào đạt mục tiêu đề ra
Học liệu điện tử cho bài giảng trực tuyến
Dựa trên kịch bản sư phạm xây dựng học liệu đáp ứng được các hoạt độngdạy học, hình dung ra từng loại tư liệu cho mỗi hoạt động Học liệu điện tử là “tậphợp các phương tiện điện tử phục vụ dạy và học, bao gồm: sách giáo trình, sáchgiáo khoa, tài liệu tham khảo, bài kiểm tra đánh giá, bản trình chiếu, bảng dữ liệu,các tệp âm thanh, hình ảnh, video, bài giảng điện tử, phần mềm dạy học, thí nghiệmảo ”[7]
2.3 Các giải pháp đã sử dụng để giải quyết vấn đề
Trong phạm vi SKKN này tôi chỉ trình bày những vấn đề liên quan đến việc
sử dụng ứng dụng Shubclassroom để tạo bài tập luyện tập, bài kiểm tra đánh giá học sinh mà tôi đã sử dụng có hiệu quả trong giai đoạn các em nghỉ tránh dịch Covid – 19
2.3.1 Giới thiệu về ứng dụng Shubclassroom
SHub Classroom là ứng dụng miễn phí hỗ trợ việc quản lý bài tập giữa họcsinh và giáo viên trở nên dễ dàng và thú vị hơn bao giờ hết Đặc biệt, kết quả bàilàm của học sinh được phân tích chi tiết, từ đó giúp quý thầy cô và phụ huynh chỉdạy con em mình một cách hiệu quả hơn
Trang 10Thầy cô giáo có thể gửi các bài học, bài tập lên SHub Classroom để các emhọc sinh có thể học và làm bài, các em học sinh nếu đang gặp phải những bài tậpkhó chưa biết cách giải thì có thể chụp ảnh gửi lên để bạn bè, những bạn học sinhkhác có thể giúp đỡ giải bài tập Ứng dụng này đặc biệt hữu ích trong việc giáoviên giao bài online cũng như việc kiểm tra trắc nghiệm, đánh giá trực tuyến chohọc sinh mình đang giảng dạy Ngoài ra còn có tính năng dành cho phụ huynh theodõi quá trình làm bài và kết quả của con em mình)
Điểm nổi bật
Học sinh: Đặt câu hỏi về bài tập để được các chuyên gia, giáo viên giải đáp
Xem nhật ký chi tiết các câu hỏi của mình, các câu hỏi của người khác kèm lời giải đáp
Tham gia các lớp học do giáo viên tạo ra
Nhận thông tin về điểm số ngay lập tức khi hoàn thành 1 bài kiểm tra nào đó.Nhận thông báo khi có bài tập mới
Giáo viên: Tạo lớp học, quản lý bài tập, trình độ điểm số mỗi học sinh
Chia sẻ bài tập với học sinh nhanh chóng
Thông tin về ứng dụng
Website: shub.edu.vn
Nền tảng: iOS 9.0 trở lên, Android 4.1 trở lên
Dung lượng: iOS: ~40MB và Android: ~20MB
Trang 11Chọn loại tài khoản là giáo viên: "Tôi là giáo viên".
Điền thông tin đầy đủ theo yêu cầu của app