Dạy thế nào cho hay, để đạt được hiệu quả cao, tạo sự hứng thú,say mê cho học sinh quả thực là cả một vấn đề lớn, đòi hỏi mỗi giáo viên dạyvăn phải không ngừng suy nghĩ, tìm tòi để có th
Trang 1MỤC LỤC
1.MỞ ĐẦU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Đối tượng nghiên cứu 3
1.4 Phương pháp nghiên cứu 3
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM 3
2.1 Cơ sở lý luận của sáng kiến kinh nghiệm 3
2.2 Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm 6
2.3 Sáng kiến kinh nghiệm 7
2.4 Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản thân, đồng nghiệp và nhà trường .17
3 KẾT LUẬN, KIẾN NGHỊ 18
3.1.Kết luận 18
3.2 Kiến nghị 19
TÀI LIỆU THAM KHẢO 20
Trang 2SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
KINH NGHIỆM SỬ DỤNG KẾT HỢPCÁC PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC VÀOGIẢNG DẠY BÀI “ĐỌC TIỂU THANH KÍ” (ĐỘC TIỂU THANH KÍ) CỦA
NGUYỄN DU - SGK NGỮ VĂN 10 - BAN CƠ BẢN
1.PHẦN MỞ ĐẦU
1.1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Hiện nay dạy văn trong nhà trường phổ thông đang là một thử thách lớn vớimỗi giáo viên Dạy thế nào cho hay, để đạt được hiệu quả cao, tạo sự hứng thú,say mê cho học sinh quả thực là cả một vấn đề lớn, đòi hỏi mỗi giáo viên dạyvăn phải không ngừng suy nghĩ, tìm tòi để có thể giúp học sinh không chỉ hiểuđúng văn bản, biết cách làm một bài văn nghị luận văn học mà còn phải đam
mê, yêu thích môn văn
Là người rất quan tâm đến sự nghiệp “trồng người”và đặc biệt là mônNgữ văn, cố thủ tướng Phạm Văn Đồng đã từng đưa ra ý kiến vô cùng giá trị
cho việc gợi mở, tìm tòi một cách thức dạy học mới: “Học sinh học nhiều, nhớ nhiều là điều đáng khuyến khích, nhưng đó không phải là điều chủ yếu Điều chủ yếu là dạy học sinh suy nghĩ, sáng tạo Chúng ta phải xem lại cách dạy văn trong nhà trường phổ thông của ta, không nên dạy như cũ Bởi vì dạy như
cũ thì không những việc dạy văn không hay, mà việc đào tạo con người mới cũng không có kết quả Vì vậy dứt khoát chúng ta phải có cách dạy khác, phải dạy cho học sinh biết suy nghĩ, suy nghĩ bằng trí óc của mình, và diễn tả sự suy nghĩ đó theo theo cách của mình thế nào cho tôt nhất” Dạy học nhằm tạo ra sự
tác động trong nhận thức và tình cảm, sự tích cực suy nghĩ, niềm đam mê hamthích sáng tạo, tìm tòi của học sinh chứ không phải tạo ra thói quen trông chờ vàbắt chước - đó là một tư tưởng quan trọng, kiên quyết và mạnh mẽ
Chủ trương đổi mới phương pháp dạy học của Bộ Giáo dục và Đào tạo làlấy học sinh làm trung tâm, nâng cao vai trò của học sinh trong giờ học Giáoviên chỉ có vai trò hướng dẫn, chỉ đường để học sinh tự nắm lấy tri thức Từ đógiúp học sinh phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo, rèn luyện thóiquen và khả năng tự học, tinh thần hợp tác, kĩ năng vận dụng kiến thức vàonhững tình huống khác nhau trong học tập và trong thực tiễn, tạo niềm tin, niềmvui và niềm hứng thú trong học tập Luật giáo dục số 38/2005/QH11, Điều 28
quy định: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Muốn đổi mới cách học, phải đổi mới cách dạy Cách dạy sẽ quyết địnhcách học Để học sinh có thể nắm bắt bài học một cách chủ động, giáo viênkhông chỉ sử dụng các tài liệu như SGK, SGV, các tài liệu tham khảo mà cònphải sử dụng đa dạng các phương tiện, thiết bị dạy học như tranh ảnh, bảng phụ,
Trang 3máy chiếu , băng thu thanh , băng ghi hình , đĩa CD , phần mềm máy vi tính, các
đồ dùng thí nghiệm trực quan Tuy nhiên, phương tiện dạy học không chỉ dừng
ở mức minh họa nội dung dạy học mà phải trở thành công cụ nhận thức, là một
bộ phận hữu cơ của cả phương pháp và nội dung dạy học Do yêu cầu tăng hoạtđộng thực hành, nên khi xây xây dựng chương trình cần đặt đúng vị trí của thiết
bị dạy học bộ môn Có thể nói, thiết bị dạy học là điều kiện không thể thiếuđược cho việc triển khai chương trình sách giáo khoa nói chung và đặc biệt choviệc triển khai đổi mới phương pháp dạy học hướng vào hoạt động tích cực, chủđộng của học sinh Đáp ứng yêu cầu này, phương tiện, thiết bị dạy học phải tạođiều kiện thuận lợi cho học sinh thực hiện các hoạt động độc lập hoặc các hoạtđộng nhóm
Trong thời đại công nghệ thông tin phát triển như vũ bão, hầu hết các nhàtrường đều được trang bị hệ thống máy vi tính, máy chiếu để phục vụ cho côngtác giảng dạy đạt chất lượng tốt hơn Vì thế chúng ta cần tận dụng tối ưu cácthiết bị hiện đại này
Trong quá trình dạy học văn, chúng ta không chỉ dạy những tác phẩm vănhọc hiện đại mà còn dạy những tác phẩm văn học trung đại Và việc dạy các tácphẩm văn học trung đại luôn là vấn đề không hề dễ dàng đối với mỗi giáo viên,bởi những khác biệt về mặt chữ viết, quan niệm về cái đẹp, hoàn cảnh xã hội,
nội dung sáng tác…mà như Giáo sư Phan Trọng Luận từng nhấn mạnh: “Nội dung sáng tác xưa kia dù tiến bộ đến đâu vẫn cách xa chúng ta về thế giới quan,
về lí tưởng thẩm mĩ, về cuộc sống giữa nội dung và các sáng tác ngày xưa với tư tưởng, tình cảm của những con người ngày nay” Vì thế đòi hỏi mỗi người giáo
viên phải nỗ lực không ngừng để giờ dạy của mình trở nên hấp dẫn, dễ hiểu, dễcảm đối với học sinh
Sau nhiều năm giảng dạy, cùng với việc đổi mới phương pháp giảng dạythì việc sử dụng phương tiện đã giúp cho tôi có các tiết dạy trên lớp đạt hiệu quảcao hơn, đặc biệt là các tiết dạy về văn học trung đại Tôi đã tự tích lũy chomình một số kinh nghiệm nhỏ về việc sử dụng kết hợp các thiết bị, phương tiệndạy học và các phương pháp dạy học tích cực vào việc giảng dạy các tiết đọcvăn, cụ thể là bài học “Đọc Tiểu Thanh kí” (Độc Tiểu Thanh kí) của tác giảNguyễn Du Bài học này được học trong thời gian hai tiết học
1.2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Khi viết đề tài này tôi có mong muốn đóng góp một phần nhỏ bé của mìnhvào sự thành công chung của tiết dạy và vào lĩnh vực nghiên cứu này Đồngthời, qua đề tài này tôi muốn được lắng nghe, tham khảo ý kiến của các đồngnghiệp để đề tài của tôi hoàn thiện hơn, cũng như hoàn thiện hơn phương phápgiải dạy của mình
Đồng thời qua đề tài này tôi cũng mong muốn lồng ghép nội dung rất thực
tế là rèn luyện kĩ năng sống, tấm lòng trắc ẩn yêu thương con người cho họcsinh, hướng học sinh đến với Chân - Thiện - Mĩ
Cần cho học sinh thấy được Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhânvăn hóa thế giới với niềm cảm thông sâu sắc với số phận nàng Tiểu Thanh nóiriêng và thân phận những con người tài sắc mà bất hạnh nói chung Qua đây,
Trang 4thấy được một biểu hiện cơ bản của chủ nghĩa nhân văn ở thiên tài Nguyễn Du:lòng thương người, tiếc tài và tâm sự sâu kín của chính nhà thơ gửi gắm trongtác phẩm Chính ý thức nghệ sĩ hòa quyện với tấm lòng nhân ái sau sắc đã gópphần tạo nên vẻ đẹp của bài thơ Học sinh cần rèn luyện kỹ năng, phương pháptiếp cận một tác phẩm văn học chân chính.
Qua tác phẩm học sinh tự rút ra bài học về cách sống để hoàn thiện bảnthân
1.3 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là bài học “Đọc Tiểu Thanh kí” (ĐộcTiểu Thanh kí) của tác giả Nguyễn Du trong chương trình Ngữ văn 10 - Ban cơbản Người nghiên cứu sau khi tham khảo tài liệu tìm hiểu về bài học đã viết đềtài này
1.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Từ việc tìm hiểu đặc điểm chung về một vài phương pháp dạy học tích cựclấy học sinh làm trung tâm, giáo viên áp dụng cụ thể vào một số tiết học cụ thểtrong chương trình Ngữ Văn 10- Ban cơ bản
Để đạt được kết quả nghiên cứu, tôi đã vận dụng tổng hợp các phươngpháp : phương pháp nghiên cứu xây dựng cơ sở lí thuyết, phương pháp điều trakhảo sát thực tế, thu thập thông tin, quan sát, tìm hiểu, phân tích, tổng hợp, quynạp, so sánh, thực nghiệm, xây dựng kế hoạch bài học, giảng dạy cụ thể trongmột giờ đọc văn “Đọc Tiểu Thanh kí” (Độc Tiểu Thanh kí) của tác giả Nguyễn
Du sau đó rút kinh nghiệm để triển khai đề này
2 NỘI DUNG SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1 CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
2.1.1 Khái niệm về phương tiện dạy học
- Phương tiện dạy học là những đối tượng vật chất được giáo viên sử dụngvới tư cách là những phương tiện tổ chức đều khiển hoạt động nhận thức củangười học nhằm đạt mục tiêu dạy học
- Phương tiện dạy học là toàn bộ các phương tiện mang tin, phương tiệntruyền tin và phương tiện tương tác trong sự hỗ trợ và điều khiển quá trình dạyhọc
Ví dụ: sách giáo khoa, bảng viết, tranh ảnh, phim, các đoạn clip, máychiếu
2.1.2 Vai trò của phương tiện dạy học
- Giúp học sinh dễ hiểu bài, hiểu bài sâu sắc hơn và nhớ bài lâu hơn.Phương tiện dạy học tạo điều kiện thuận lợi nhất cho sự nghiên cứu dạng bềngoài của đối tượng và các tính chất có thể tri giác trực tiếp của chúng
- Phương tiện dạy học giúp là sinh động nội dung học tập, nâng cao hứngthú học tập bộ môn
- Phương tiện dạy học còn giúp cho học sinh phát triển năng lực nhận thức,đặc biệt là khả năng quan sát, tư duy (phân tích, tổng hợp các hiện tượng, rút ranhững kết luận có độ tin cậy )
- Giúp giáo viên tiết kiệm được thời gian trên lớp trong mỗi tiết học Giúp
Trang 5giáo viên điều khiển được hoạt động nhận thức của học sinh, kiểm tra và đánhgiá kết quả học tập của các em được thuận lợi và có hiệu suất cao.
-Ngày trước, để minh họa nội dung bài giảng, thầy giáo chỉ có khả năng sửdụng lời nói giàu hình tượng và gợi cảm kèm theo những cử chỉ, điệu bộ biểuđạt nội tâm hoặc có thêm bộ tranh giáo khoa hỗ trợ Hiện tại có cả một loạtphương tiện để thầy giáo tuyển trạch sử dụng như: máy chiếu , băng thu thanh ,băng ghi hình , đĩa CD , phần mềm máy vi tính… Tiến tới mọi thầy giáo phải cókhả năng soạn bài giảng trên máy vi tính được nối mạng , biết sử dụng đầu máy
đa năng để thực hiện bài giảng của mình một cách sống động, hiệu qủa, phát huycao nhất tính tích cực học tập của học sinh
2.1.3 Khái niệm về phương pháp dạy học
- Thuật ngữ phương pháp bắt nguồn từ tiếng Hi Lạp (Methodos) có nghĩa
là con đường để đạt mục đích Theo đó, phương pháp dạy học là con đường đểđạt mục đích dạy học
- Phương pháp dạy học là một hệ thống hành động có mục đích của giáoviên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo họcsinh lĩnh hội nội dung học vấn
- Định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác định trongNghị quyết Trung ương 4 khóa VII (tháng 1-1993); Nghị quyết Trung ương 2khóa VIII (tháng 12 - 1996) được thể chế hóa trong Luật giáo dục (tháng 12-1998) , được thể chế hóa trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt
là chỉ thị số 15 (tháng 4 - 1999)
- Luật giáo dục, điều 28.2, đã ghi: “phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức và thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh”
- Phương pháp dạy học là cách thức hành động của giáo viên và học sinhtrong quá trình dạy học Cách thức hành động bao giờ cũng diễn ra trong nhữnghình thức cụ thể Cách thức và hình thức không tách nhau một cách độc lập.Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức hoạt động của giáo viên
và học sinh trong những điều kiện dạy học xác định nhằm đạt mục đích dạy học.Phương pháp dạy học là những hình thức và cách thức, thông qua đó và bằngcách đó giáo viên và học sinh lĩnh hội những hiện thực tự nhiên và xã hội xungquanh trong những điều kiện học tập cụ thể
2.1.4 Một số phương pháp dạy học trong nhà trường.
* Phương pháp vấn đáp:
- Vấn đáp (đàm thoại) là phương pháp trong đó giáo viên đặt ra những câuhỏi để học sinh trả lời, hoặc học sinh có thể tranh luận với nhau và với cả giáoviên; qua đó học sinh lĩnh hội được nội dung bài học
- Có ba cách vấn đáp: vấn đáp tái hiện, vấn đáp giải thích - minh họa, vấnđáp tìm tòi
* Phương pháp đọc sáng tạo:
- Đọc sáng tạo là phương pháp đặc biệt với bộ môn văn Đọc sáng tạo bao
Trang 6gồm cả đọc thầm, đọc thành tiếng Mỗi người đọc đem phần kinh nghiệm sống,vốn văn hóa riêng của mình vào việc tiếp nhận văn bản, tiếp nhận một cách chủđộng sáng tạo Đọc diễn cảm là một hình thức của đọc sáng tạo.
- Nếu hoạt động này làm tốt sẽ giúp học sinh hình dung, tưởng tượng nộidung ẩn chứa trong bài Chỉ khi nào thực sự hiểu, cảm nhận được cái hay cái đẹpcủa văn bản, lúc đó mới có thể đọc diễn cảm được và ngược lại, đọc diễn cảmvăn bản cũng chính là cách giúp học sinh hiểu sâu hơn về văn bản
* Phương pháp nêu vấn đề:
- Phương pháp dạy học nêu vấn đề là một trong những phương pháp dạyhọc mà ở đó giáo viên là người tạo ra tình huống có vấn đề, tổ chức, điều khiểnhọc sinh phát hiện vấn đề, học sinh tích cực, chủ động, tự giác giải quyết vấn đềthông qua quá trình đó mà lĩnh hội tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, nhằm đạt được mụctiêu dạy học
- Ở phương pháp này, học sinh tích cực, chủ động, tự giác tham gia hoạtđộng học, tự mình tìm ra tri thức cần học chứ không phải được thầy giảng giảimột cách thụ động, học sinh là chủ thể sáng tạo ra hoạt động học Học sinhkhông những được học nội dung học tập mà còn được học con đường và cáchthức tiến hành dẫn đến kết quả đó Học sinh học được cách phát hiện và giảiquyết vấn đề
* Phương pháp phân tích, bình giảng:
- Phương pháp phân tích là phân chia các vấn đề cần bàn luận thành các
bộ phận để có thể xem xét một cách cặn kẽ và kĩ càng Trong việc giảng dạy đọchiểu văn bản văn học, cần phải có sự phân tích, chia nhỏ vấn đề để đi sâu vàotừng khía cạnh của tác phẩm nhằm mục đích hiểu được những tầng ý nghĩa củavăn bản và dụng ý của nhà văn gửi gắm trong tác phẩm
- Còn phương pháp bình giảng để thấy được cái hay, cái đẹp của tác phẩmvăn học, đem đến cho học sinh những xúc cảm thẩm mĩ, và thêm yêu, thêm quýtác phẩm văn học
- Có thể nói trong việc dạy học môn ngữ văn không thể thiếu đượcphương pháp phân tích, bình giảng bởi nếu không có phân tích, bình giảng sẽkhông thấy được ý đồ nghệ thuật của nhà văn cũng như những sáng tạo độc đáo
và tài năng của tác, thấy được những thành công của tác giả trong việc điềukhiển những “con chữ” để tạo nên những hình tượng nghệ thuật bất hủ và nhữngtrang chi tiết, hình ảnh in đậm mãi trong tâm trí người đọc
* Phương pháp hoạt động nhóm
- Lớp học được chia thành từng nhóm nhỏ từ 4 đến 6 người Tuỳ mụcđích, request của vấn đề học hỏi, các nhóm được phân chia không hẹn mà cóhay có chủ tâm, được duy trì yên ổn hay thay đổi trong từng phần của tiết học,được giao cùng một nhiệm vụ hay những nhiệm vụ khác nhau
- Nhóm tự bầu nhóm trưởng nếu thấy cần Trong nhóm có xác xuất phânviệc mỗi người một phần việc Trong nhóm nhỏ, mỗi thành viên đều phải làmviệc hăng hái, chẳng thể ỷ lại vào một đôi người hiểu biết và năng động hơn.Các thành viên trong nhóm giúp đỡ nhau tìm hiêu vấn đề nêu ra trong không khíthi đua với các nhóm khác Kết quả làm việc của mỗi nhóm sẽ đóng góp vào kết
Trang 7quả học hỏi chung của cả lớp Để trình diễn kết quả làm việc của nhóm trướctoàn lớp, nhóm có xác xuất cử ra một đại diện hoặc phân việc mỗi thành viêntrình diễn một phần nếu nhiệm vụ giao cho nhóm là khá phức tạp.
- Phương pháp hoạt động nhóm giúp các thành viên trong nhóm san sẻcác băn khoăn, kinh nghiệm của bản thân, cùng nhau xây dựng nhận thức mới.Bằng cách nói ra những điều đang nghĩ, mỗi người có xác xuất nhận rõ trình độhiểu biết của mình về chủ đề nêu ra, thấy mình cần học hỏi thêm những gì Bàihọc trở nên quá trình học hỏi lẫn nhau chứ không phải là sự tiếp thụ bị động từgiáo viên Thành công của bài học nước phụ thuộc vào sự nồng nhiệt tham giacủa mọi thành viên, vì vậy phương pháp này còn làm gọi là phương pháp cùngtham gia
2.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ TRƯỚC KHI ÁP DỤNG SÁNG KIẾN KINHNGHIỆM
- Một trong những trọng tâm của đổi mới chương trình và sách giáo khoa
giáo dục phổ thông là tập trung vào đổi mới phương pháp dạy học, thực hiện dạyhọc dựa vào hoạt động tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh với sự tổ chức
và hướng dẫn thích hợp của giáo viên nhằm phát triển tư duy độc lập, sáng tạogóp phần hình thành phương pháp và nhu cầu, khả năng tự học, bồi dưỡng hứngthú học tập, tạo niềm tin và niềm vui trong học tập Tiếp tục tận dụng các ưuđiểm của phương pháp truyền thống và dần dần làm quen với những phươngpháp mới
- Trước đây khi chưa sử dụng kết hợp các phương pháp dạy học tích cực
cùng với việc sử dụng các phương tiện dạy học, trong mỗi tiết dạy đọc văn, tôivẫn thường xuyên sử dụng nhiều phương pháp khác nhau đặc biệt là phươngpháp đàm thoại phát vấn, nêu vấn đề để học sinh trả lời Song tôi vẫn nhận thấykết quả đạt được chưa cao bởi chưa thực sự phát huy được tính tích cực của họcsinh, kết của giờ dạy được phản ánh như sau:
+ 65 % học sinh nắm được nội dung ngay tại lớp và có thể làm đúng bàitập, biết vận dụng vào các bài tập khác
+ 35 % hiểu rất lơ mơ về bài học và không thể làm được các bài tập ứngdụng
+ 25 % học sinh tham gia phát biểu ý kiến xây dựng bài
+ 10 % học sinh khi giáo viên gọi lên mới trả lời và thường trả lời chưa đạtyêu cầu
Số còn lại chỉ ngồi nghe và ghi theo hướng dẫn của giáo viên, giờ học thiếusôi nổi
Điều tra bất kỳ 10 em thì có: 4 em hiểu bài, 3 em không rung động với nộidung bài học, 3 em cho rằng câu hỏi giáo viên đặt ra rất khó
- Bài thơ “Đọc Tiểu Thanh kí” (Độc Tiểu Thanh kí) của tác giả Nguyễn Du
là bài thơ còn tồn tại nhiều cách hiểu khác nhau từ hoàn cảnh ra đời, thời điểmsáng tác đến nội dung tư tưởng Dịch thơ cũng rất khó, thơ càng hay dịch càngkhó và Độc Tiểu Thanh kí là một bài thơ hay, có những câu rất khó dịch cho sát.Ngay cả bản dịch nghĩa cũng còn những chỗ chưa nhất trí về cách hiểu ý nghĩatrong bản chữ Hán Vì vây, tôi thiết nghĩ cần phải giúp các em từ chỗ còn hiểu
Trang 8biết, mơ hồ, nông cạn về bài thơ cần phải hiểu thật đúng, thật sâu sắc về tácphẩm này để thấy được tính chất cô đọng, hàm súc, “lời ít ý nhiều”và cách biểuhiện tư tưởng, tình cảm của nhà thơ trong tác phẩm cũng như nghệ thuật tinh tế,điêu luyện của tác giả.
- Để tiết học được sinh động hấp dẫn hơn, học sinh học bài được hứngthú, say mê và nắm bắt tinh thần của bài học một cách đúng đắn và sâu sắc nhất,tôi đã suy nghĩ và quyết định sử dụng phương tiện điện tử có sử dụng các hìnhảnh minh họa kết hợp với việc sử dụng linh hoạt các phương pháp giảng dạy vàotừng phần, từng mục của bài để soạn bài học này để giúp học sinh có thể vừakhắc sâu kiến thức về lý thuyết, vừa củng cố kiến thức bằng các dẫn chứng sinhđộng, cụ thể, vừa có thể giúp học sinh biết cách phân tích hoặc bình giảng mộtvăn bản văn học theo đặc trưng thể loại
- Bài học được phân phối thời gian trong 2 tiết, nội dung bài học thì nhiều
mà thời gian lại có hạn với biết bao điều cần khai thác, cần hỏi, cần để học sinhtìm hiểu, nắm bắt Đối tượng tiếp nhận bài học lại là học sinh trường trung du,điều kiện kinh tế còn khó khăn nên nhiều em chưa thực sự chú tâm vào họchành, còn hạn chế nhiều về năng lực cảm thụ, lỗ hổng kiến thức còn nhiều nênkhông phải em nào cũng yêu thích học văn và hơn nữa không phải em nào cũng
có khao khát tìm kiếm khám phá về bài học
2.3 SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
TÊN BÀI DẠY: ĐỌC TIỂU THANH KÍ (ĐỘC TIỂU THANH KÍ) CỦATÁC GIẢ NGUYỄN DU
- Mức độ cần đạt của bài học này là:
* Về kiến thức:
- Cảm nhận được niềm cảm thương mà Nguyễn Du dành cho Tiểu Thanh, chotất cả những kiếp người tài hoa trong xã hội và tâm sự khao khát tri âm hướng
về hậu thế của nhà thơ
- Hình ảnh thơ mang ý nghĩa biểu trưng sâu sắc
- Thấy được nghệ thuật đặc sắc của thơ trữ tình Nguyễn Du
- Phẩm chất: Bồi đắp tình yêu văn học dân tộc; gia đình, hương đất nước, trântrọng và gìn giữ giá trị tinh thần vô giá của dân tộc
Trang 9NỘI DUNG CỤ THỂ HOẠT ĐỘNG 1: KHỞI ĐỘNG
- Giáo viên cho học sinh xem phim tài liệu về Nguyễn Du và đặt câu hỏi:
- Em hãy cho biết nội dung đoạn phim?
- Học sinh suy nghĩ, thảo luận; Giáo viên quan sát, hỗ trợ học sinh
- Học sinh trả lời câu hỏi Giáo viên nhận xét, chuẩn hóa kiến thức
Giáo viên dẫn dắt vào bài: Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du từng tâm sự:
“Trải qua một cuộc bể dâu/ Những điều trông thấy mà đau đớn lòng” Một trong “những điều trông thấy” khiến trái tim ông thổn thức không nguôi chính
là số phận khổ đau của những người phụ nữ trong xã hội cũ, đặc biệt là nhũng
người phụ nữ tài sắc mà bạc mệnh Ông từng cất tiếng kêu thương “Đau đớn thay phận đàn bà/ Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung” Ông đã khóc thương cho nàng Kiều, cảm thương cho cô Cầm mà “nước mắt thấm áo” Có thể thấy
rằng chủ nghĩa nhân đạo như một sợi chỉ đỏ xuyên xuốt trong các sáng tác củaNguyễn Du, không chỉ trong thơ chữ Nôm mà cả trong thơ chữ Hán Không chỉthương xót cho số phận bất hạnh của người phụ nữ Việt Nam, mà tấm lòng ấycủa nhà thơ còn vượt qua thời gian và không gian để xót thương cho nàng TiểuThanh - người con gái có tài, có sắc sống vào khoảng đầu đời Minh – TrungQuốc
HOẠT ĐỘNG 2: HÌNH THÀNH KIẾN THỨC
I.TÌM HIỂU CHUNG
1 Tìm hiểu về tác giả Nguyễn Du
- Giáo viên đặt câu hỏi: Anh/chị hãy cho biết những hiểu biết của mình vềtác giả Nguyễn Du
- Học suy nghĩ, tái hiện kiến thức và trả lời:
Vì ở học kì 2 chương trình Ngữ văn lớp 10 đã có một bài học về tác giảNguyễn Du nên ở phần tác giả của bài học này, giáo viên có thể trình chiếu chohọc sinh tham khảo một số hình ảnh về quê hương, con người, mộ phần của đạithi hào Nguyễn Du và những sáng tác của ông để tạo tâm thế học tập
-Giáo viên nhấn mạnh một số ý cơ bản về tác giả:
+ Nguyễn Du là đại thi hào dân tộc, danh nhân văn hóa thế giới
+ Các sáng tác của ông chứa chan nội dung nhân đạo sâu sắc và mới mẻ
2.Tìm hiểu về nàng Tiểu Thanh:
- Giáo viên yêu cầu học làm việc cá nhân, đọc phần tiểu dẫn SGK (kĩthuật đọc sáng tạo) và trả lời câu hỏi: Phần tiểu dẫn trong SGK cung cấp chochúng ta những tri thức nào liên quan đến việc đọc tác phẩm?
- Học sinh đọc sau đó trả lời câu hỏi: Cuộc đời số phận nàng Tiểu Thanh:
đó là một cô gái Trung Quốc, sống đầu thời nhà Minh, có nhan sắc và có tài năng nghệ thuật - thi ca, âm nhạc Năm 16 tuổi, cô phải làm vợ lẽ một nhà quyền quý Cô bị người vợ cả hay ghen hành hạ, bắt phải sống riêng trên núi
Cô Sơn cạnh Tây Hồ Vì đau buồn, cô sinh bệnh rồi chết ở tuổi 18 Người vợ cả
Trang 10kia không chỉ hành hạ Tiểu Thanh đến chết mà còn cho đốt những bài thơ của
cô, may mắn có một số bài thơ còn sót lại.
- Giáo viên yêu cầu học sinh suy nghĩ, liên hệ thêm: Ngoài tác phẩm này
ra, Nguyễn Du còn có những tác phẩm nào viết về những người tài sắc mà bấthạnh?
- Học sinh suy nghĩ, liên hệ và trả lời: Ngoài nhân vật Tiểu Thanh, Nguyễn Du còn viết về một số nhân vật “hồng nhan bạc mệnh” khác như Thúy Kiều, Đạm Tiên (Truyện Kiều).
-Giáo viên mở rộng: Thực ra vấn đề “hồng nhan bạc mệnh” không phải làvấn đề mới mẻ mà đã được nói đến từ trước (bất hạnh của người cung nữ cũng
là bất hạnh của người tài sắc và Cung oán ngâm khúc có câu: Oan chi những khách tiêu phòng/ Mà xui phận bạc nằm trong má đào) Nhưng dẫu sao người
cung nữ cũng không phải là trường hợp phổ biến cho số phận tài sắc Chỉ đếnNguyễn Du, ông mới chú ý đến một lớp người có thân phận thấp trong xã hộinhư nàng Tiểu Thanh, Thúy Kiều, Đạm Tiên Họ đều có tài năng và sắc đẹp,nhất là tài năng nghệ thuật tức là những người đại diện cho giá trị, là tinh hoacủa giới phụ nữ nhưng cuộc đời họ đều bất hạnh vẫn là đối tượng có nhiều vấn
đề hơn để nhà thơ quan tâm đến
3 Tìm hiểu về văn bản Đọc Tiểu Thanh kí (Độc Tiểu Thanh kí) của tác giả Nguyễn Du
a, Hoàn cảnh sáng tác
- Giáo viên hỏi: qua những tìm hiểu của anh/chị, hãy cho biết hoàn cảnhsáng tác của bài thơ
- Học sinh suy nghĩ, trả lời:
- Đây là một câu hỏi khó nên giáo viên cung cấp cho học sinh: Hoàn cảnhsáng tác của bài thơ còn nhiều ý kiến khác nhau Chẳng hạn: Bài thơ được sángtrong hoàn cảnh cụ thể nào? Khi trên đường đi sứ hay khi ở Việt Nam, ở ThăngLong hay ở Huế?
+ Cụ Đào Duy Anh viết: “Do hai câu phá và thừa thấy hình như Nguyễn Du viếtbài này sau khi được đọc Tiểu Thanh kí chính ở Tây Hồ, nơi có mộ của TiểuThanh, khi ông đi qua Hàng Châu Vì thế chúng tôi đặt bài ấy ở đây, trong Bắchành tạp lục”
+ Còn nhà nghiên cứu Trương Chính thì cho rằng: “Bài này không phải làm khiqua mộ Tiểu Thanh ở Tây Hồ, nên không ở trong Bắc hành tạp lục”
+ Mai Quốc Liên lại cho rằng: “Với đầu đề Độc Tiểu Thanh kí - tức nhân đọctruyện Tiểu Thanh, cảm xúc mà làm thơ, thì việc đọc này có lẽ xảy ra vào lúcNguyễn Du ở nhà phải hơn Ở nhà, thong dong đọc Tiểu Thanh kí trước songcửa, còn “vất vả như đi sứ” (thời xưa), đâu dễ có ngày giờ ngồi đọc sách”
Trong tình hình tư liệu hiện nay, chúng ta đành chấp nhận theo một cáchhiểu tạm cho là có lí nhất, có thể xem như gần với sự thật nhất mà thôi Nghĩa là
chúng ta tạm giả định: Nguyễn Du viết bài thơ này ở Việt Nam, khi ông đang làm quan với nhà Nguyễn Nhà thơ ngồi viết bên cửa sổ, cảm hứng khi đọc tập truyện kí ghi chép về cuộc đời ngàn Tiểu Thanh (Chứ không phải là đọc tập thơ – phần dư của Tiểu Thanh).