Kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trung vào một số nội dung quan trọng nhất như những vấn đề kinh tế cơ bản về thị trường, sản xuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp thị trường các yếu tố đầu vào, hạn chế của kinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ. Để có cơ sở nghiên cứu cụ thể về những vấn đề nêu trên, kinh tế vi mô trình bày những nội dung chủ yếu sau đây: Cầu và cung trên thị trường; hệ số co giãn và ý nghĩa của các loại co giãn đó; lý thuyết hành vi người tiêu dùng; lý thuyết hành vi người sản xuất; thị trường cạnh tranh và độc quyền; thị trường sức lao động; sự trục trặc của kinh tế thị trường và vai trò điều tiết của Chính phủ. Trong đó có vấn đề phân tích hành vi của người tiêu dùng.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA HỆ THỐNG THÔNG TIN KINH TẾ VÀ THƯƠNG MẠI ĐIỆN TỬ
- -BÀI THẢO LUẬN
KINH TẾ VI MÔ 1
Đề tài: Xây dựng tình huống và phân tích sự lựa chọn tiêu dùng
tối ưu của người tiêu dùng cụ thể.
Nhóm thực hiện: 6
Lớp học phần: 2140MIEC0111
Giáo viên hướng dẫn: Th.S Ninh Thị Hoàng Lan
Hà Nam – 2021
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Kinh tế vi mô là môn khoa học nghiên cứu hành vi của từng cá nhân, từng doanh nghiệpnhư người tiêu dùng, người sản xuất, các nhà đầu tư, các doanh nghiệp cũng như sự tươngtác giữa họ trên các thị trường cụ thể Nó giải thích tại sao các đơn vị và các cá nhân lại đưa
ra các quyết định về kinh tế và họ làm như thế nào để có các quyết định đó Đối tượngnghiên cứu của kinh tế vi mô là nghiên cứu các vấn đề kinh tế cơ bản của từng đơn vị kinh
tế, nghiên cứu tính qui luật và xu hướng vận động tất yếu của các hoạt động kinh tế vi mô,những khuyết tật của nền kinh tế thị trường và vai trò của Chính phủ Vì sao phải nghiên cứukinh tế học vi mô? Kinh tế học vi mô được coi là một phân ngành quan trọng nhất cung cấpcác kiến thức nền tảng cho những ai muốn hiểu về sự vận hành của nền kinh tế thị trường.Khác với Kinh tế vĩ mô nghiên cứu nền kinh tế như một tổng thể, Kinh tế vi mô tập trungvào việc phân tích các hành vi của các chủ thể kinh tế như người sản xuất, người tiêu dùng,thậm chí là chính phủ trên từng thị trường riêng biệt Những tương tác khác nhau của cácchủ thể này tạo ra những kết cục chung trên các thị trường cũng như xu hướng biến động củachúng Hiểu được cách mà một thị trường hoạt động như thế nào và ảnh hưởng lẫn nhaugiữa các thị trường, trên thực tế là cơ sở để hiểu được sự vận hành của cả nền kinh tế, cắtnghĩa được các hiện tượng kinh tế xảy ra trong đời sống thực, miễn đây là nền kinh tế dựatrên những nguyên tắc thị trường Đây là điểm xuất phát cực kỳ quan trọng để mỗi cá nhân,
tổ chức cũng như chính phủ có thể dựa vào để đưa ra những ứng xử thích hợp nhằm thíchnghi và cải thiện tình huống kinh tế Sự khan hiếm là việc xã hội với các nguồn lực hữu hạnkhông thể thỏa mãn tất cả mọi nhu cầu vô hạn và ngày càng tăng của con người Do nguồnlực có giới hạn, mỗi người mua hoặc bán đều phải tính toán lựa chọn cho mình phương ántiêu dùng tối ưu hoặc phương án tổ chức sản xuất kinh doanh tối ưu Giúp bạn lí giải đượcnhững hiện tượng diễn ra trong cuộc sống hàng ngày như tại sao ngày lễ người ta lại đi dulịch nhiều? Tại sao trái cây cứ đến mùa lại hạ giá? Kinh tế vi mô sẽ nghiên cứu tập trungvào một số nội dung quan trọng nhất như những vấn đề kinh tế cơ bản về thị trường, sảnxuất và chi phí, lợi nhuận và quyết định cung cấp thị trường các yếu tố đầu vào, hạn chế củakinh tế thị trường và sự can thiệp của chính phủ Để có cơ sở nghiên cứu cụ thể về nhữngvấn đề nêu trên, kinh tế vi mô trình bày những nội dung chủ yếu sau đây: Cầu và cung trênthị trường; hệ số co giãn và ý nghĩa của các loại co giãn đó; lý thuyết hành vi người tiêudùng; lý thuyết hành vi người sản xuất; thị trường cạnh tranh và độc quyền; thị trường sứclao động; sự trục trặc của kinh tế thị trường và vai trò điều tiết của Chính phủ Trong đó cóvấn đề phân tích hành vi của người tiêu dùng Sau đây nhóm chúng em sẽ làm rõ hơn về nộidung nghiên cứu này Để hiểu rõ lý thuyết cũng như cách áp dụng lý thuyết vào thực tế,
Trang 3nhóm chúng em nghiên cứu về vấn đề lựa chọn tối ưu của một người tiêu dùng cụ thể trong các mục sau của bài thảo luận
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1: 5
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ LỰA CHỌN CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG 5
1.1.SỞ THÍCH NGƯỜI TIÊU DÙNG 5
1.1.1 Một số giả thiết cơ bản 5
1.1.2 Lợi ích và quy luật lợi ích cận biên giảm dần 6
1.1.2.1 Lợi ích 6
1.1.2.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần 7
1.1.3 Đường bàng quan 8
1.1.3.1 Khái niệm đường bàng quan 8
1.1.3.2 Tính chất của đường bàng quan 9
1.1.4 Lợi ích cận biên và tỷ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng 11
1.1.4.1 Lợi ích cận biên (MU) 11
1.1.4.2 Tỉ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng 12
1.1.5 Một số trường hợp đặc biệt của đường bàng quan 13
1.2 SỰ RÀNG BUỘC VỀ NGÂN SÁCH 14
1.2.1 Khái niệm đường ngân sách 15
1.2.2 Tác động của sự thay đổi thu nhập đến đường ngân sách 16
1.2.3.Tác động của sự thay đổi giá cả đến đường ngân sách 16
1.3 SỰ LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU 17
1.3.1 Điều kiện lựa chọn tiêu dùng tối ưu 17
1.3.1.1 Tiếp cận từ khái niệm tổng lợi ích, lợi ích cận biên 17
1.3.1.2 Tiếp cận từ đường bàng quan và đường ngân sách 19
1.3.2.Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi có các yếu tố thay đổi 20
1.3.2.1.Khi giá cả thay đổi 21
1.3.2.2 Khi ngân sách thay đổi 21
CHƯƠNG 2: 23
NGHIÊN CỨU LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU CỦA MỘT NGƯỜI TIÊU DÙNG CỤ THỂ 23
2.1 TÌNH HUỐNGNGHIÊN CỨU 23
2.2 PHÂN TÍCH SỰ TIÊU DÙNG TỐI ƯU 23
2.3 PHÂN TÍCH SỰ THAY ĐỔI LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU 25
Trang 4CỦA NGƯỜI TIÊU DÙNG NÀY KHI GIÁ CẢ VÀ NGÂN SÁCH THAY ĐỔI 25
2.3.1 Phân tích sự thay đổi lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng này 25
khi giá cả thay đổi 25
2.3.2 Phân tích sự thay đổi lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng này 34
khi giá cả thay đổi 34
2.3.3 Phân tích sự thay đổi lựa chọn tiêu dùng tối ưu của người tiêu dùng này 37
khi cả giá cả và ngân sách thay đổi 37
CHƯƠNG 3: 41
KẾT LUẬN RÚT RA SAU KHI NGHIÊN CỨU 41
3.1 NHỮNG KẾT LUẬN RÚT RA SAU KHI PHÂN TÍCH TÌNH HUỐNG LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU CỦA MỘT NGƯỜI TIÊU DÙNG CỤ THỂ 41
3.2 Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU LÝ THUYẾT HÀNH VI 41
NGƯỜI TIÊU DÙNG 41
Trang 5Ta có thể lấy ví dụ như sau: Bạn thích một cái váy thì bạn sẽ sẵn sàng mua nó với giá đắt nhưng nếu bạn không thích thì thậm chí cho không bạn cũng không cần Nhưng sở thích là một khái niệm trừu tượng nên làm thế nào để đo được sở thích của người tiêu dùng để từ đó
có thể phân tích hành vi của họ? Giải quyết vấn đề này, Kinh tế học vi mô định nghĩa sở thích như sau: “Sở thích người tiêu dùng là mức độ ưu tiên lựa chọn giỏ hàng hóa này so vớigiỏ hàng hóa khác của người tiêu dùng khi mua hàng hóa”
Khái niệm sở thích người tiêu dùng được gắn chặt với khái niệm “giỏ hàng hóa” nhằm lượnghóa sở thích của người tiêu dùng Một giỏ hàng hóa là một tập hợp của một hoặc nhiều sản phẩm được bán trên thị trường Trên thực tế, với một số tiền nhất định trong tay, người tiêu dùng thường mua nhiều loại hàng hóa hơn là chỉ mua một loại hàng hóa Để đơn giản, chúng
ta sẽ lấy ví dụ về giỏ hàng hóa chỉ bao gồm 2 loại hàng hóa
Bảng 1.1 Các giỏ hàng hóa lựa chọn
Bảng 1.1 cho ta thấy các giỏ hàng hóa khác nhau (A, B, E, ) là sự kết hợp số lượng thức ăn
và quần áo khác nhau Quay lại định nghĩa, chúng ta có thể hiểu khái quát rằng nếu như giỏ
E có thể thỏa mãn người tiêu dùng hơn giỏ A thì người tiêu dùng sẽ thích giỏ E hơn giỏ A.Như vậy là, các giỏ hàng hóa này giúp chúng ta nhận thấy sự so sánh của người tiêu dùng
Từ đó chúng ta có thể miêu tả được sở thích của họ đối với thức ăn và quần áo
1.1.1 Một số giả thiết cơ bản
Lý thuyết về hành vi người tiêu dùng bắt đầu với ba giả thiết cơ bản về sở thích của ngườitiêu dùng về các giỏ hàng hóa khác nhau Chúng ta chấp nhận những giả định sau đúng vớitất cả mọi người trong mọi trường hợp
Trang 6• Giả định thứ nhất là sở thích đều mang tính hoàn chỉnh, nghĩa là người tiêu dùng có thể sosánh và xếp hạng được tất cả các rổ hàng hóa thị trường theo sở thích của họ Nói cách khác,
ví dụ như hai giỏ hàng hóa A và B, một người tiêu dùng sẽ thích A hơn thích B, hoặc thích Bhơn thích A, hoặc sẽ bàng quan với cả 2 giỏ hàng hoá (Bàng quan ở đây với nghĩa là ngườitiêu dùng sẽ cảm thấy thoã mãn như nhau khi dùng giỏ A hoặc B đó) Chú ý rằng khi nói sởthích là phân tích trong điều kiện mà người tiêu dùng chưa bị ảnh hưởng bởi giá cả hànghóa Sở thích chỉ đơn thuần là sở thích Ví dụ: Người tiêu dùng A sẽ thích ô tô hơn xe máynếu anh ta được chọn một trong hai hàng hoá mà không phải trả tiền
• Giả định quan trọng thứ hai là các sở thích có tính chất bắc cầu (hay tính nhất quán) Sựbắc cầu có nghĩa là nếu một người tiêu dùng thích giỏ A hơn giỏ B, và thích giỏ B hơn giỏ
C, thì người tiêu dùng đó sẽ thích giỏ A hơn giỏ C Ví dụ: nếu như người tiêu dùng thích xemáy Yamaha hơn xe Honda, và anh ta lại ưa chuộng chiếc xe Honda hơn xe Dream, thì cónghĩa là người tiêu dùng thích chiếc xe Yamaha hơn là chiếc Dream Giả định bắc cầu nàybảo đảm rằng những sở thích của người tiêu dùng luôn có tính nhất quán
• Giả thiết thứ ba là người tiêu dùng luôn thích nhiều hơn thích ít, mong muốn có được càngnhiều hàng hóa càng tốt (tất cả các hàng hóa đều “tốt”) Thực tế, một số hàng hóa, ví dụ nhưhàng hoá gây ra ô nhiễm (không khí ô nhiễm), sẽ không được ưa chuộng và người tiêu dùngluôn tìm cách tránh xa các hàng hóa loại này
Ba giả định trên là cơ sở cho xây dựng lý thuyết người tiêu dùng Các giả thiết này khônggiải thích sở thích của người tiêu dùng, nhưng lại giúp nhấn mạnh sự hợp lý của sở thíchngười tiêu dùng Hành vi của người tiêu dùng sẽ được phân tích dựa trên các giả định này
1.1.2 Lợi ích và quy luật lợi ích cận biên giảm dần
1.1.2.1 Lợi ích
Như chúng ta biết, mỗi một hàng hóa đều mang lại những lợi ích nhất định cho người tiêudùng Sử dụng khái niệm lợi ích cũng cho phép chúng ta phân tích được sở thích của ngườitiêu dùng Vậy lợi ích là gì?
Theo kinh tế học, lợi ích là mức độ thỏa mãn mà một người có được từ việc tiêu dùng mộthàng hóa và dịch vụ nào đó Lợi ích phản ánh mức độ đáp ứng thỏa mãn (kể cả về tâm lý)quan trọng bởi vì con người duy trì lợi ích bằng cách mang về cho mình những thứ khiến họthấy thoải mái và tránh xa những thứ gây cho họ khó chịu Tuy nhiên, trong phân tích kinh
tế học, lợi ích rất thường xuyên được sử dụng để tính tổng hợp mức thoã mãn khi người tiêudùng “dùng” các rổ hàng hóa Nếu mua ba quyển sách mà một người thấy hạnh phúc hơn làmua một cái áo, thì ta nói rằng những quyển sách đem lại cho người đó nhiều lợi ích hơn
Sở thích của người tiêu dùng có thể được thể hiện bằng hàm lợi ích Hàm lợi ích thể hiệnquan điểm của một cá nhân chỉ ra một sự nhận thức cá nhân về mức lợi ích có thể đạt được
từ việc tiêu dùng một giỏ gồm một loại hàng hóa hay dịch vụ hay nhiều loại hàng hóa hay
Trang 7dịch vụ được kết hợp theo nhiều cách khác nhau Một dạng đơn giản của một hàm lợi ích đốivới một người tiêu dùng hai loại hàng hóa X và Y, có thể có dạng:
TU=f (X,Y)
Chúng ta có thể xác định hàm lợi ích với nhiều hàng hóa và dịch vụ Hàm lợi ích lúc này sẽ
là: U=f( X 1 , X 2 ,….,X n ) Trong đó Xi với i=i,n là lượng hàng hóa và dịch vụ thứ i, và TU làtổng lợi ích phụ thuộc vào số lượng hàng hóa đã tiêu dùng X1 , X2 ,…Xn
Như vậy, hàm lợi ích được dùng để xem xét về lựa chọn mức độ thỏa mãn của người tiêudùng Sử dụng hàm lợi ích giúp chúng ta lượng hóa được các lựa chọn và sở thích của ngườitiêu dùng để tiện so sánh
1.1.2.2 Quy luật lợi ích cận biên giảm dần
Khái niệm tổng độ thỏa dụng và độ thỏa dụng biên giải thích vì sau chúng ta lại tiêu dùngmột loại hàng hóa hay dịch vụ, cũng như vì sao chúng ta lại thôi tiêu dùng chúng vào mộtthời điểm nào đó Trái cam thứ nhất có thể gây cảm giác ngon miệng, nhưng đến trái camthứ hai ta cảm thấy không ngon bằng trái cam thứ nhất và tương tự đến trái cam thứ sáu, thứbảy có thể gây cảm giác buồn nôn Điều này có nghĩa là tiêu dùng với số lượng càng lớn thì
độ thỏa dụng biên càng nhỏ Hiện tượng này được các nhà kinh tế khái quát thành qui luậtgọi là qui luật lợi ích cận biên biên giảm dần
Qui luật lợi ích cận biên giảm dần được phát biểu như sau: lợi ích cận biên của một hànghóa có xu hướng giảm đi khi lượng hàng hóa đó được tiêu dùng nhiều hơn trong một thời kỳnhất định
Sở dĩ lợi ích cận biên ngày càng giảm đi là do sự thỏa mãn hay bằng lòng đối với một hànghóa ngày càng giảm đi khi tiêu dùng tăng thêm mặt hàng đó Qui luật lợi ích cận biên giảmdần nói lên khi ta tiêu dùng với số lượng ngày càng nhiều hơn một mặt hàng nào đó thì tổnglợi ích (độ thỏa dụng) tăng lên nhưng với tốc độ chậm dần
Qui luật lợi ích cận biên giảm dần chỉ đúng khi tiêu dùng một số lượng nào đó của cùng mộtloại hàng hóa hay dịch vụ trong cùng một thời điểm Nếu tiêu dùng đồng thời nhiều loạihàng hóa khác nhau thì chúng ta không có qui luật này
Ví dụ: Hãy tưởng tượng là bạn đang rất khát Bạn sẽ sẵn sàng uống hết cốc nước đầu tiên rất
nhanh và thấy rất sung sướng khi uống cốc nước đó Sau đó, đến cốc thứ 2, bạn sẽ ít kháthơn và sẽ uống chậm lại và phần gia tăng “thoả mãn” của bạn đã thấp hơn so với cốc đầutiên Nếu tiếp tục có lẽ chỉ đến cốc thứ 5 hoặc thứ 6 bạn sẽ dừng và không thể uống đượcnữa có nghĩa bạn sẽ dừng lại khi không thể có thêm thỏa mãn cho bạn
Quy luật lợi ích biên giảm dần phản ánh chân thực cuộc sống thực tế Bạn có thể bắt gặp quyluật này ở bất kỳ nơi nào và ở tất cả người tiêu dùng Quy luật lợi ích biên giảm dần đượcdùng để phân tích các vấn đề về thặng dư tiêu dùng, thậm chí cũng được sử dụng như mộtcách tiếp cận để phân tích về lựa chọn của người tiêu dùng
Trang 81.1.3 Đường bàng quan
1.1.3.1 Khái niệm đường bàng quan
Sở thích của một người tiêu dùng có thể được minh hoạ thông qua khái niệm đường bàngquan Một đường bàng quan (U) là tập hợp các điểm phản ánh những giỏ hàng hóa khácnhau nhưng được người tiêu dùng ưa thích như nhau (hay mang lại lợi ích như nhau đối vớingười tiêu dùng)
Ở tất cả các điểm trên cùng một đường bàng quan, người tiêu dùng không có bất kỳ sự phânbiệt nào giữa các giỏ hàng hóa
Với ba giả định trên, người tiêu dùng có thể chỉ ra rằng họ thích giỏ hàng hóa này hơn giỏhàng hóa khác, hoặc họ thích hai giỏ như nhau Để chứng minh điểm này, chúng ta vẽ đồ thịdựa vào số liệu trong bảng 1.2 để cung cấp một cách nhìn toàn cảnh về các lựa chọn và sởthích của người tiêu dùng
Hình 1.2.Sở thích cá nhân của người tiêu dung
Hình 1.2 vẽ lại các điểm đại diện cho các giỏ hàng hóa đã cho trong bảng 1.1 Trục tung là sốlượng các đơn vị quần áo được mua hàng tuần (Clothing – units per week), trục hoành thểhiện số lượng các đơn vị thực phẩm (Food – units per week) Giỏ A, với 20 đơn vị thựcphẩm, và 30 đơn vị quần áo sẽ được thích hơn giỏ G bởi vì giỏ A có nhiều quần áo và thựcphẩm hơn giỏ G (dựa trên giả thiết 3) Tương tự như vậy, giỏ E sẽ được thích hơn giỏ A Dovậy giỏ E sẽ được thích hơn giỏ G (dựa trên giả thiết 2)
Bởi vì nhiều hàng hóa hơn sẽ được ưa chuộng hơn là ít hàng hóa, do vậy có thể so sánh các
sở thích giữa các giỏ hàng hóa với nhau Giỏ A rõ ràng là được thích hơn giỏ G, trong khi
Trang 9giỏ E lại được thích hơn giỏ A Tuy nhiên không thể so sánh giỏ B, D và A với nhau vìkhông có đủ thông tin mà dựa vào đó có thể so sánh được mức độ khác nhau về sở thích.Giỏ B có nhiều quần áo hơn nhưng lại ít thức ăn hơn, trong khi giỏ D lại có nhiều thức ănhơn nhưng lại ít quần áo hơn giỏ A.
Đường bàng quan giúp giải quyết vấn đề này Trên Hình 1.3 nếu qua A, B, D ta vẽ mộtđường bàng quan U1, thì đường này chỉ ra rằng người tiêu dùng thích ba giỏ hàng hóa nàynhư nhau Đường bàng quan cho chúng ta biết rằng người tiêu dùng không cảm thấy thíchhơn hoặc ít thích hơn nếu tăng 20 đơn vị quần áo và giảm 10 đơn vị thực phẩm từ giỏ A sanggiỏ B Tương tự vậy, người tiêu dùng sẽ bàng quan giữa điểm A và D Nhìn đồ thị ta có thểsuy luận rằng, người tiêu dùng sẽ thích giỏ A hơn giỏ H vì điểm H nằm ở dưới đường U1
Hình 1.3 Đường bàng quan
Một đường bàng quan của một người, U1, là tập hợp tất cả các giỏ hàng hóa cùng có mứcthỏa mãn với giỏ A Người tiêu dùng thích giỏ E hơn vì giỏ E nằm phía trên đường bàngquan U1, và thích giỏ A hơn giỏ H, vì H nằm dưới đường U1
1.1.3.2 Tính chất của đường bàng quan
Đường bàng quan có những tính chất sau:
• Thứ nhất, đường bàng quan luôn có độ dốc âm (Hình 1.3) Để hiểu vì sao lại như vậy,chúng ta hãy giả định ngược lại, đường bàng quan có xu hướng đi lên từ A tới E Điều nàytrái với giả định rằng càng nhiều hàng hóa, người tiêu dùng sẽ càng thích hơn Thực vậy, rổ
E có nhiều hơn rổ A cả về thực phẩm và quần áo Trong khi đó, đường bàng quan lại chỉ ra
Trang 10B D
rằng A và E phải được yêu thích như nhau Trên thực tế, bất kỳ rổ hàng hóa nào nằm phíatrên đường bàng quan thì đều được yêu thích nhiều hơn các rổ hàng hoá nằm trên đườngbàng quan và ngược lại
Thứ hai, đường bàng quan là một đường cong lồi về phía gốc tọa độ Giả sử một người tiêudùng mong muốn lựa chọn thêm lượng hàng hóa X, nhưng vẫn duy trì một mức lợi íchkhông đổi Người này sẽ phải chấp nhận từ bỏ những đơn vị hàng hóa Y thì mới có thể thêmđược những đơn vị hàng hóa X, khi đó đường bàng quan sẽ dốc xuống và có độ dốc âm Khilượng hàng hóa Y đánh đổi để có thể thêm những đơn vị hàng hóa X ngày càng ít đi, hànghóa Y ngày càng khan hiếm Ngoài ra, sự lựa chọn tiêu dùng của người ngày tuân theo quyluật lợi ích cận biên giảm dần Tất cả những điều này giải thích tại sao đường bàng quan códạng cong lồi về phía gốc tọa độ
• Thứ ba, các đường bàn quan không bao giờ cắt nhau Để làm rõ điều này, chúng ta hãy giảđịnh rằng các đường này cắt nhau và chúng ta sẽ cùng xem vì sao điều này lại vi phạm cácgiả định về hành vi người tiêu dùng Hình 1.4 thể hiện 2 đường bàng quan U1 và U2 cắt nhautại điểm A Ta thấy rằng điểm A và B nằm trên cùng đường bàng quan U1, do vậy A đượcthích như B Tương tự như vậy, A cũng được thích như D Do có tính chất bắc cầu nên B và
D được thích như nhau Tuy nhiên điều này vi phạm giả định 3 vì B có nhiều quần áo vàthực phẩm hơn D, nên B phải được thích hơn D Như vậy, với việc vi phạm giả định về hành
vi người tiêu dùng, chúng ta có thể nói rằng các đường bàng quan không cắt nhau
Hình 1.4 Các đường bàng quan không thể cắt nhau
Nếu các đường U1 và U2 cắt nhau, một trong các giả định của lý thuyết hành vi người tiêudùng sẽ bị vi phạm
Thứ tư, đường bàng quan càng xa gốc tọa độ thể hiện cho mức lợi ích càng lớn và ngượclại Hình 1.5 cho thấy, các giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan U3 có lợi ích nhỏ hơncác giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan U1 và nhỏ hơn các giỏ hàng hóa nằm trên
Trang 11G A
B E
C D
F
U1U2U3
X Y
đường bàng quan U2 Ví dụ: Lợi ích của giỏ G lớn hơn lợi ích của giỏ A hoặc B hoặc C hoặc
E và lớn hơn lợi ích của giỏ D hoặc giỏ F
Hình 1.5 Đường bàng quan càng xa gốc tọa độ biểu thị lợi ích càng lớn
1.1.4 Lợi ích cận biên và tỷ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng
1.1.4.1 Lợi ích cận biên (MU)
Lợi ích cận biên (marginal utility) là sự thay đổi trong tổng lợi ích khi sử dụng hay tiêu
dùng thêm một đơn vị hàng hóa hay dịch vụ Chẳng hạn, tổng lợi ích (hay mức thỏa mãn)của một người tăng khi anh ta có thêm một đôi giày
Lợi ích cận biên được tính theo công thức:
Trang 121.1.4.2 Tỉ lệ thay thế cận biên trong tiêu dùng
Phần trên trình bày về sở thích của người tiêu dùng, các cách xác định định tính cũng nhưđịnh lượng về sở thích Trên thực tế, chúng ta gặp phải một vấn đề rất khó xử Ví dụ như,mặc dù người tiêu dùng đều thích hai rổ hàng hóa như nhau, nhưng họ lại cần nhiều thựcphẩm để ăn hơn là nhiều quần áo để mặc Khi đó họ sẽ phải quyết định nên chọn rổ nào, và
họ sẽ sẵn sàng bỏ đi bao nhiêu quần áo để đổi lấy lương thực Để giải quyết vấn đề này,Kinh tế vi mô đưa ra khái niệm “tỉ lệ thay thế cận biên” (viết tắt MRS)
Quay trở lại vấn đề, thông thường người tiêu dùng luôn đối mặt với việc đánh đổi giữa lựachọn hai, ba hay nhiều hàng hóa hơn nữa Đường bàng quan có thể chỉ ra rõ ràng sự đánhđổi này
Hình 1.6 sẽ cho ta thấy rõ điều này: Đồ thị bắt đầu với điểm A, trượt dọc xuống từ trái quaphải là các điểm B, D, E và G Điểm B cho thấy người tiêu dùng sẵn sàng từ bỏ 6 quần áo đểlấy một đơn vị thực phẩm vì tổng lợi ích vẫn không thay đổi Tuy nhiên, ở điểm D cho thấy,người tiêu dùng chỉ sẵn sàng từ bỏ 4 đơn vị quần áo để lấy một đơn vị thực phẩm Càngxuống các điểm thấp hơn người tiêu dùng sẽ càng đánh đổi ít hơn số đơn vị quần áo để lấythực phẩm
Hình 1.6 Tỷ lệ thay thế cận biên
Độ dốc của đường bàng quan đo lường tỉ lệ thay thế biên giữa hai hàng hóa của người tiêudùng Trong đồ thị, tỉ lệ thay thế biên giữa quần áo (Y) và thực phẩm (X), giảm dần từ 6xuống 4, 2 và 1 Khi tỉ lệ thay thế biên giảm dần dọc theo đường bàng quan, đường này luôn
có hình dạng lõm
Trang 13Tỉ lệ thay thế biên (MRS) được sử dụng để lượng hóa số lượng của một hàng hóa mà mộtngười tiêu dùng sẽ từ bỏ để dành được nhiều hàng hóa khác hơn trong khi tổng lợi ích khôngđổi MRS của thực phẩm X thay cho quần áo Y là lượng quần áo tối đa mà một người sẽ sẵnsàng từ bỏ để giành được thêm một đơn vị thực phẩm Nếu MRS bằng 3, người tiêu dùng sẽ
từ bỏ 3 đơn vị quần áo để lấy một đơn vị thực phẩm, trong khi nếu MRS bằng 1/2, thì chỉ 1/2đơn vị quần áo bị từ bỏ để lấy thêm 1 đơn vị thực phẩm
Trên hình 1.6, chúng ta sẽ đề cập tới lượng quần áo (Y ) từ bỏ để giành thêm một đơn vịthức ăn (X) Nếu chúng ta ký hiệu sự thay đổi về lượng quần áo là ∆Y và lượng thay đổithực phẩm là ∆X, thì MRS có thể được viết lại là -∆Y/∆X Dấu âm thể hiện rằng tỉ lệ thaythế biên luôn là một số dương vì ∆Y luôn âm Như vậy, tỉ lệ thay thế biên ở bất kỳ điểm nàođều bằng giá trị tuyệt đối của độ dốc đường bàng quan tại điểm đó
Ngoài ra, như trên hình 1.6, điểm A và B nằm trên cùng một đường bàng quan nên có tổng
độ thỏa dụng TU là như nhau, do đó ta có:
TU=TUx + TUy ⇔ ∆TU=∆TUx + ∆TUy=0
⇔ (∆TUx/∆X).∆X + (∆TUy/∆Y).∆Y=0
⇔ MUx ∆X + MUY ∆Y=0
⇔ MUx\MUy =-∆Y/∆X
Do đó tỷ lệ thay thế cận biên còn có thể được viết như sau:
MRSX/Y= - ∆ X ∆ Y = MU x MUy = Độ dốc đường bàng quan
1.1.5 Một số trường hợp đặc biệt của đường bàng quan
Trường hợp X và Y là những hàng hóa thay thế hoàn hảo được cho nhau
X và Y được coi là những hàng hóa có thể thay thế cho nhau một cách hoàn hảo nếu mộtlượng nhất định hàng hóa Y luôn luôn có thể mang lại cho người tiêu dùng một độ thỏa dụngngang với một đơn vị hàng hóa X Nói cách khác, trong trường hợp này, khi hy sinh mộtlượng hàng hóa Y và bổ sung thêm một đơn vị hàng hóa X, độ thỏa dụng của người tiêudùng sẽ luôn luôn không thay đổi, dù điểm xuất phát mà chúng ta xem xét là điểm nào trênđường bàng quan Khi X và Y là những hàng hóa thay thế cho nhau một cách hoàn hảo,MRSx/y sẽ không đổi, các đường bàng quan sẽ là những đường thẳng song song như thểhiện trên hình 1.7
Trang 14X
U1U2U3
0
Hình 1.7 Đường bàng quan đối với hai loại hàng hóa thay thế hoàn hảo
Trường hợp X và Y là hai hàng hóa bổ sung hoàn hảo cho nhau
X và Y được coi là những hàng hóa bổ sung hoàn hảo cho nhau nếu việc tiêu dùng thêm mộtđơn vị hàng hóa X luôn luôn kéo theo việc tiêu dùng k đơn vị hàng hóa Y Ví dụ, cứ mỗi khiuống một cốc nước chè Lipton, một người tiêu dùng nào đó luôn luôn pha kèm theo 2 thìa đường và người này không uống chè Lipton hay sử dụng đường trong bất cứ trường hợp nàokhác Đối với người tiêu dùng này, chè Lipton và đường là những hàng hóa bổ sung hoàn hảo cho nhau Khi X và Y là những hàng hóa bổ sung cho nhau một cách hoàn hảo, MRS không tồn tại, các đường bàng quan sẽ là những đường chữ L như thể hiện trên hình 1.8
Hình 1.8 Đường bàng quan đối với hai loại hàng hóa bổ sung hoàn hảo
Trang 151.2.1 Khái niệm đường ngân sách
Giả sử người tiêu dùng có số tiền là I, sử dụng để mua hai loại hàng hóa là Px và Py Mốiquan hệ giữa thu nhập bằng tiền (I) và số lượng hàng hóa X và Y có thể được mua được diễn
tả bằng công thức: XPx + YPy≤ I Dấu bằng biểu thị ràng buộc chặt, chính là phương trìnhđường ngân sách Phương trình đường ngânn sách có thể được viết lại dưới dạng mộtphương trình tuyến tính như sau:
Y=Py I - Px Py XGiá I/Py cho biết số lượng tối đa hàng hóa Y mà người tiêu dùng có thể mua nếu như khôngmua một hàng hóa X nào Tỷ lệ giá -Px/Py là độ dốc của đường ngân sách
Hình 1.9.Đường ngân sách
Theo hình 1.9, độ đốc đường ngân sách bằng -tgα = ∆ X ∆ Y = - Px Py
Trang 161.2.2 Tác động của sự thay đổi thu nhập đến đường ngân sách
Như vậy, thu nhập (I) và giá của hàng hóa (Px và Py) xác định đường ngân sách của ngườitiêu dùng Nhưng trong thực tế, giá và thu nhập thường xuyên thay đổi Vậy nó ảnh hưởngtới đường ngân sách như thế nào?
Điều gì sẽ xảy ra với đường ngân sách khi thu nhập thay đổi? Từ công thức của đường ngânsách, chúng ta thấy rằng sự thay đổi của thu nhập là một hằng số trong phương trình đườngngân sách – thì đồ thị đường ngân sách sẽ chuyển dịch từ trái qua phải (nếu tăng mức thunhập), hay chuyển dịch từ phải qua trái (nếu giảm mức thu nhập)
.Ví dụ: Thu nhập thay đổi (với giá không đổi) sẽ làm đường ngân sách (I1) dịch chuyển songsong Khi thu nhập = 80$, đường ngân sách là I1 Nếu thu nhập tăng lên 160$, đường ngânsách dịch chuyển sang vị trí I2 Nếu ngân sách giảm xuống 40$, thì đường ngân sách sẽ dịchchuyển vào trong I3
Hình 1.10.Ảnh hưởng của thu nhập lên đường lên đường ngân sách
1.2.3.Tác động của sự thay đổi giá cả đến đường ngân sách
Giá cả của các hàng hóa thay đổi cũng làm đường ngân sách dịch chuyển
Điều gì sẽ xảy ra với đường ngân sách nếu giá của một mặt hàng thay đổi, nhưng giá củamặt hàng khác không đổi ? Khi đó, đường ngân sách sẽ xoay song điểm mút của nó trên trụctung (hoặc trục hoành) được giữ nguyên Chẳng hạn, khi giá hàng hóa X tăng lên, tỷ số giágiữa hai hàng hóa Px/Py tăng Đường ngân sách trở nên dốc hơn Nó sẽ xoay vào trong vớiđiểm cố định là điểm mút trên trục tung Không khó để có thể nhận thấy điều này: vì giáhàng hóa Y giữ nguyên, nên lượng hàng hóa Y mua được khi không một đơn vị hàng hóa Xnào được mua vẫn giữ nguyên như trước (bằng I/Py) Vì giá hàng hóa X tăng, lượng hànghóa X có thể mua được sẽ giảm ở mỗi mức y (tức số lượng hàng hóa Y) khả thi cho trước
Trang 17I1
Y
X 0
1.11.Sự thay đổi đường ngân sách khi giá hàng hóa X tăng lên
Lưu ý:
Nếu giá của hai hàng hóa cùng tăng hay cùng giảm một tỷ lệ như nhau thì đường ngân sáchcủa người tiêu dùng sẽ dịch chuyển song song như trường hợp tăng thu nhập hay giảm thunhập đã phân tích ở trên
Nếu giá của hai hàng hóa thay đổi không cùng một tỷ lệ thì đường ngân sách của ngườitiêu dùng vẫn sẽ dịch chuyển nhưng không song song
1.3 SỰ LỰA CHỌN TIÊU DÙNG TỐI ƯU
Mục đích của người tiêu dùng là tối đa hóa lợi ích, nhưng họ không thể tiêu dùng tất cả hànghóa và dịch vụ mà họ mong muốn vì họ luôn bị giới hạn vì ngân sách Vấn đề đặt ra là họphải sử dụng quyết định của mình cho các sản phẩm sao cho tổng lợi ích thu được là lớnnhất Có nhiều cách lựa chọn để đạt được lợi ích mà chúng ta lựa chọn cách nào tốt hơn Tuynhiên vì sự khan hiếm đặt ra những ràng buộc cho việc lựa chọn cách thức để thỏa mãn tiêudùng nên người tiêu dùng phải lựa chọn phương án tối ưu cho cách thức tiêu dùng nhằm đạtđược mục tiêu tổng lợi ích tối đa trong giới hạn về ngân sách
Ví dụ: Nếu chúng ta có 50000 dùng để chi tiêu cho một bữa ăn thì chúng ta không thể ăntoàn món đắt tiền được Hay trong cùng một khoảng thời gian chúng ta không thể vừa xemphim vừa chơi bóng chuyền được
1.3.1 Điều kiện lựa chọn tiêu dùng tối ưu
1.3.1.1 Tiếp cận từ khái niệm tổng lợi ích, lợi ích cận biên
Để xây dựng được sự lựa chọn tối ưu của người tiêu dùng chúng ta dựa trên khái niệm tổnglợi ích (TU) và lợi ích cận biên (MU)
Khi đó chúng ta sẽ phải so sánh lợi ích thấy trước của mỗi sự tiêu dùng với chi phí của nó vàviệc lựa chọn tiêu dùng phải phù hợp nhất với lượng thu nhập hiện có.Muốn tối đa hoá lợiích, người tiêu dùng phải so sánh lợi ích cận biên trên 1 đơn vị tiền tệ (1VND,1$ ) chi mua
Trang 18của hàng hóa X lớn hơn lợi ích cận biên trên một đơn vị tiền tệ của hàng hóa Y thì ngườitiêu dùng lựa chọn tăng tiêu dùng hàng hóa X Khi lượng hàng hóa X tăng lên thì lợi ích cậnbiên của hàng hóa X có xu hướng giảm xuống làm cho lợi ích cận biên trên một đơn vị tiền
tệ của hàng hóa X giảm đi cho đến khi bằng với lợi ích cận biên trên một đơn vị tiền tệ củahàng hóa Y Tổng lợi ích tăng theo chiều hướng chậm dần và đến thời điểm này không tăngthêm được nữa, nó đã đạt giá trị lớn nhất Lúc này người tiêu dùng không còn phải so sánh,cân nhắc việc mua thêm hàng hóa này hay hàng hóa kia là có lợi hơn Trạng thái cân bằngtiêu dùng đạt được khi lợi ích cận biên trên một đồng chi tiêu cho hàng hoá này phải bằnglợi ích cận biên trên một đồng chi tiêu cho mỗi hàng hoá khác
Maxi (MU i Pi )
Trong đó: MUi là lợi ích cận biên của hàng hóa i, Pi là giá của hàng hoá i Đây là quy tắccung cấp cho người tiêu dùng khuôn mẫu để phân bổ tối ưu thu nhập của mình cho các loạihàng hoá khác nhau Quy tắc này nói lên rằng người tiêu dùng có lý trí sẽ mua mỗi loại hànghoá cho đến khi tỷ lệ giữa lợi ích tăng thêm thu được so với giá phải trả là bằng nhau chomỗi loại hàng hoá Hay nói cách khác, lợi ích cận biên phát sinh do mỗi đơn vị tiền tệ chi raphải là như nhau đối với mỗi loại hàng hoá Tất nhiên hạn chế cơ bản của tiếp cận này vẫn làdựa vào khái niệm lợi ích đo được mà trên thực tế đây là một giả định rất không thực và quáhạn hẹp
KẾT LUẬN : Điều kiện cần và đủ để tối đa hóa lợi ích:
{MUx Px =
MUy Py I=XPx+YPy
Ví dụ: Một người có thu nhập 55 nghìn đồng dùng để chi tiêu cho hai loại hàng hóa X và Yvới giá của X là 10 nghìn/1 đơn vị hàng hóa và giá của Y là 5 nghìn/1 đơn vị hàng hóa
Ta có bảng số liệu sau :
Trang 19X TUx MUx MUx
Bảng 1.12 Tổng lợi ích và lợi ích cận biên
Phương trình đường ngân sách : 55 =10X + 5Y
Các cặp hàng hóa thõa mãn điều kiện MUx Px = MUy Py
1.3.1.2 Tiếp cận từ đường bàng quan và đường ngân sách
Do các giỏ hàng hóa mà muốn tối đa lợi ích của người tiêu dùng thì phải thỏa mãn hai điềukiện: Thứ nhất là phải nằm trên đường ngân sách và thứ hai là giỏ hàng phải đem lại sự thảomãn tối ưu cho người tiêu dùng Vì vậy, chúng ta có thể dựa vào đường ngân sách (I) vàđường bàng quan (U) để xác định được điểm lựa chọn tối ưu (giỏ hàng hoá mang lại thỏamãn cao nhất trong khả năng ngân sách của người tiêu dùng)
Muốn có lợi ích lớn nhất: nằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độ nhất có thể
Do giới hạn ngân sách : phải là tập hợp hàng hóa mà người tiêu dùng có thể mua được.Giả sử một người tiêu dùng có một mức ngân sách nhất định là I0 tiêu dùng hai loại hàng hóa
X và Y, với giá tương ứng là Px và Py, được biểu thị bới đường ngân sách trên hình 1.13
Trang 20C D
B
U3 U2 U1 1 1
Y
X 0
Hình 1.13.Xác định tập hợp hàng hóa tối ưu
Do nằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độ nhất nên D được yêu thích nhất nhưng ngườitiêu dùng không thể mua được do không thuộc đường ngân sách
A, B người tiêu dùng có thể mua được nhưng không nằm trên đường bàng quan xa nhất cóthể
Tại A :Tiêu dùng X có lợi hơn => Tăng X, giảm Y
Tại B :Tiêu dùng Y có lợi hơn => Tăng Y, giảm X
C là tập hợp hàng hóa đem lại lợi ích lớn nhất (tập hàng hóa tối ưu) vì C vẫn nằm trên đườngngân sách (người tiêu dùng có thể mua được) và nằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độnhất có thể
Tại C : Tiêu dùng X hay Y đều đem lại lợi ích như nhau
Kết luận :Tập hợp tiêu dùng tối ưu xảy ra ở điểm tiếp xúc giữa đường bàng quan và đường
ngân sách Điểm đó sẽ cho người tiêu dùng một sự thỏa mãn lớn nhất khi dùng toàn bộ thu
nhập để mua hàng hóa Khi đó {MUx Px =
MUy Py I=XPx+YPy
1.3.2.Sự lựa chọn tiêu dùng tối ưu khi có các yếu tố thay đổi
Sự phân tích ở trên cho thấy: với mục tiêu tối đa hóa độ thỏa dụng, người tiêu dùng sẽ lựachọn giỏ hàng hóa nằm trên đường bàng quan xa gốc tọa độ nhất và trong giới hạn ngân sách