Chương 3 SỰ PHÁT TRIỂN CÁC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN * Chương này thảo luận tại sao sự phát triển một cách vững chắc và hiệu quả của thị trường tài chính nông thôn lại quan trọng đố
Trang 1Chương 3
SỰ PHÁT TRIỂN CÁC THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH NÔNG THÔN *
Chương này thảo luận tại sao sự phát triển một cách vững chắc và hiệu quả của thị trường tài chính nông thôn lại quan trọng đối với khu vực nông thôn Châu Á, tóm tắt một số điểm chính yếu về vai trò của chính phủ trong việc tạo ra các thị trường này và đồng thời trình bày các chiến lược hoàn thiện nhằm phát triển các thị trường và định chế tài chính Sự phát triển tài chính nông thôn được đặt trong một bối cảnh rộng hơn của thị trường tài chính Chương này cũng đưa ra một khuôn khổ cho việc phân tích phương thức thúc đẩy tài chính nông thôn ở Châu Á mà nội dung chi tiết sẽ được trình bày ở chương sau, một khuôn khổ nghiên cứu tính huống của 6 quốc gia được trình bày ở Phần B, và hình thành các kiến nghị ở Chương 5
Chương này bao gồm 3 phần chính Phần 1 thảo luận về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và hệ thống tài chính Hệ thống tài chính sẽ được định nghĩa và những thách thức đặc biệt của việc cung cấp các dịch vụ tài chính ở khu vực nông thôn sẽ được xác định Sự can thiệp của chíng phủ vào thị trường tài chính sẽ được thảo luận ở Phần 2 Một số tranh cãi chủ yếu về vai trò thích hợp của chính phủ sẽ được làm rõ, những tranh cãi này bao gồm sự thay đổi mô hình đã diễn ra trong quá trình phát triển tài chính nông thôn Ở phần này cũng sẽ mô tả những ý tưởng mới về kiến thức và thông tin đóng góp như thế nào vào cuộc tranh luận về vai trò thích hợp của chính phủ và các nhà tài trợ đối với sự hình thành của thị trường tài chính Một khung phân tích theo 3 hướng khác nhau trong việc xây dựng thị trường tài chính nông thôn sẽ được trình bày ở phần 3, bao gồm việc xây dựng môi rường chính sách, xây dựng các cơ sở hạ tầng tài chính và phát triển các định chế Đề tài phát triển định chế bao gồm một phần nhỏ tóm tắt các kinh nghiệm từ tài chính vi mô và những lĩnh vực khác hỗ trợ cho việc giải quyết những rắc rối của các ngân hàng phát triển nông nghiệp Hai đề tài này đặc biệt quan trọng đối với nhiều nước Châu Á
HỆ THỐNG TÀI CHÍNH VÀ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
Tài chính và phát triển kinh tế
Sự hoạt động hiệu quả của thị trường tác động đến bước đi, tốc độ và chiều hướng phát triển kinh tế Các định chế tài chính chính thức, bán chính thức và phi chính thức là những bộ phận thiết yếu của một cơ sở hạ tầng về mặt định chế cần thết cho một nền kinh tế thị trường hiệu quả Hệ thống tài chính cung cấp các dịch vụ có
* Material translated with permission from the Asian Development Bank The Asian Development Bank accepts no responsibility for the accuracy of the translation For info related to development
in Asia and the Pacific, see www.adb.org
Trang 2tính chất sống còn cho nền kinh tế như đã trình bày (Levine, 1997; Ngân hàng Thế giới, 1989) Nó cung cấp dịch vụ thanh toán; huy động vốn và phân phối tín dụng; ngòai ra nó còn định giá, phân tán và hóan chuyển các rủi ro Bằng cách này, nó làm cho việc trao đổi các hàng hóa và dịch vụ, vay và cho vay trở nên rẻ hơn và ít rủi ro hơn Không có tài chính, nền kinh tế sẽ hoạt động không hiệu quả do phải trao đổi bằng hiện vật Các nhà đầu tư sẽ bị giới hạn trong việc tự bỏ vốn cho hoạt động đầu tư của mình Các hộ gia đình có tích lũy nhưng lại không có các phương án đầu tư tốt sẽ buộc phải cất giữ các khoản tiết kiệm của mình dưới gối hoặc giữ chúng dưới hình thức các tài sản ít có khả năng sinh lời Giới hạn trong việc tiếp cận các dịch vụ tài chính do thị trường tài chính không hiệu quả sẽ giới hạn sự phát triển kinh tế (Fry, 1988) Vì những lý do này, chính phủ và các nhà tài trợ phải dành nhiều nguồn lực để phát triển hệ thống tài chính ở các quốc gia có thu nhập thấp trong 3 thập niên vừa qua
Đã có nhiều tranh luận đáng chú ý về vai trò của thị trường tài chính đối với tăng trưởng kinh tế, và vai trò thích hợp của nhà nước trong việc điều tiết hệ thống tài chính Shaw (1973) và McKinnon (1973) là những người tiên phong trong quan điểm cho rằng hệ thốnng tài chính bị kìm hãm sẽ giới hạn phát triển kinh tế Các quốc gia giữ mức lãi suất thực thấp thường có tốc độ tăng trưởng thấp hơn so với các quốc gia chấp nhận mức lãi suất thị trường (Ngân hàng Thế giới, 1989) Mặc dù các quan điểm khác vẫn tồn tại, ưu thế về mặt lý thuyết và thực tế hiện nay đã thừa nhận một cách chắc chắn là có một mối quan hệ đồng biến giữa phát triển tài chính và tăng trưởng kinh tế (Levine, 1997) Trong những năm gần đây, đã có nhiều tranh luận về việc chính phủ nên và không nên làm điều gì, và nhiều tranh luận về tác động của chính sách tài chính đối với “sự thần kỳ Đông Á” Một quan điểm lập luận rằng những thất bại thị trường đáng nghi ngờ là lý do cơ bản của sự can thiệp của chính phủ nhằm cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng (Stiglitz, 1992) Một quan điểm khác lại cho rằng tình trạng của các chứng cớ thực tế đã làm khó khăn, nếu không muốn nói là không thể, trong việc xác định những tình huống mà ở đó sự can thiệp là chắc chắn có hiệu lực và những hậu quả của nó là có thể lường trước được
Phát triển nông thôn và nhu cầu đối với các dịch vụ tài chính
Dịch vụ tài chính rất quan trọng đối với sự phát triển của khu vực nông thôn Sự chuyển đổi ở nông thôn đã tạo ra cơ hội đầu tư vào các trang trại Sự thay đổi về công nghệ thường đòi hỏi sự đầy tư kèm theo và làm tăng nhu cầu vốn cố định và lưu động Một phần nhu cầu này được tự đáp ứng, phần khác được đáp ứng bởi nguồn tín dụng phi chính thức, nhưng vẫn còn một phần khác đòi hỏi các khoản vay dài hạn được cung cấp bởi các định chế chính thức Do đó, cung cấp các khoản vay với lãi suất phù hợp có thể thúc đẩy sự ứng dụng các công nghệ mới, mở rộng sản xuất lương thực và tăng thu nhập trong nông nghiệp Khi một nguồn cung cấp tài chính đáng tin cậy được hình thành, các chủ nông trại có thể thay đổi nhận thức của họ về những rủi ro trong đầu tư Họ có thể lựa chọn đầu tư nhiều hơn so với nguồn
Trang 3quỹ của họ khi biết rằng khả năng vay mượn chưa sử dụng của họ sẽ sẵn sàng đáp ứng những nhu cầu về tiền mặt trong tương lai (Zeller et al., 1997)
Rất nhiều dạng doanh nghiệp phi nông nghiệp cũng nảy sinh từ những cơ hội mới và từ những nhu cầu về các hàng hóa và dịch vụ mới phát sinh trong quá trình chuyển đổi kinh tế (Rosegrant và Hazell, 1999) Trong trường hợp không có dịch vụ tài chính, thu nhập từ các doanh nghiệp phi nông nghiệp có thể cung cấp nguồn vốn cho việc đầu tư vào các trang trại, nhưng chúng cũng tạo ra nhu cầu vay mượn mà không phải lúc nào cũng có thể đáp ứng được bằng nguồn tiết kiệm hoặc tín dụng phi chính thức (Meyer, 1999) Kết hợp lại, các doanh nghiệp nông nghiệp và phi nông nghiệp với sự đa dạng về hoạt động kinh tế tạo ra một lượng lớn nhu cầu không đồng nhất về các khoản vay chính thức
Một nơi an toàn và đáng tin cậy cho tiết kiệm là một nhu cầu về dịch vụ tài chính khác ở khu vực nông thôn, không kém phần quan trọng nhưng hầu như bị bỏ qua (Vogel, 1984) Sự sử dụng phỗ biến nguồn tài chính phi chính thức, các nhóm tiết kiệm tương trợ ở cấp làng, xã và các quỹ tương tế (funeral funds) là các bằng chứng về nhu cầu đối với dịch vụ tiết kiệm Tất cả các nông hộ đều phải tiết kiệm, nếu không họ sẽ không thể sống sót trong những thời kỳ thiếu tiền mặt hoặc trong những giai đoạn tồi tệ vì mất mùa và gia súc chết Họ cũng phải dành dụm đề phòng tình huống nguy cấp khi gia đình có người bệnh hoặc chết Dành dụm để có một khoản đầu tư lớn cũng rất quan trọng Một nghiên cứu gần đây cho thấy bằng cách nào mà sự tiếp cận các khoản vay và những cách thức tiết kiệm có lợi lại ảnh hưởng đến quyết định của các nông dân nghèo ở Ấn Độ trong việc thực hiện các khoản đầu tư không thu hồi được để đào giếng phục vụ tưới tiêu (Fafchamps và Pender, 1997)
Thị trường bảo hiểm không tồn tại ở hầu hết các nước đang phát triển Do đó các nông hộ phải sử dụng rất nhiều biện pháp đối phó với rủi ro và ổn định tiêu dùng (Zeller et al., 1997) Vài hộ gia đình có được các tài sản đem lại các khoản lợi tức không tương xứng, và nắm giữ các tài sản vật chất dưới dạng vật nuôi rất dễ chuyển thành tiền Nhưng tính thanh khoản như thế lại hủy hoại khả năng phục hồi sau cơn nguy cấp Các hộ gia đình khác sử dụng các chiến lược giảm thiểu rủi ro như thuốc trừ sâu hoặc đa dạng hóa các hoạt động đem lại thu nhập Các hộ có thể tiếp cận các dịch vụ tài chính lại có nhiều lựa chọn trong việc giữ các khoản tiết kiệm dưới dạng tiền và có thể vay mượn trong trường hợp khẩn cấp Như chúng ta đã thấy ở Thái Lan, việc phân tán rủi ro được tiến hành thông qua hoạt động vay và cho vay không thính thức (Townsend, 1995), nhưng phương pháp truyền thống này không dễ dàng điều tiết được các cú sốc lớn, chẳng hạn như hạn hán kéo dài và bệnh dịch xảy ra một lượt làm ảnh hưởng đến tất cả mọi người dân trong làng
Một nhu cầu khác về dịch vụ tài chính ở khu vực nông thôn là việc chuyển các khoản chuyển nhượng một cách an toàn và tin cậy Các khoản chuyển nhượng từ những thành viên đã chuyển đi nơi khác là một nguồn thu quan trọng đối với rất nhiều nông hộ nhỏ Ví dụ, một cuộc khảo sát ở một làng nghèo ở Pakistan đã phát
Trang 4hiện ra rằng các khoản chuyển nhượng trong và ngoài nước chiếm từ 9 – 18% thu nhập bình quân đầu người hằng năm trong một giai đoạn 5 năm vào cuối thập niên
1980 Các khoản chuyển nhượng này góp một phần quan trọng vào đầu tư ở khu vực nông thôn (Richard Adams, 1998) Người ta ước tính rằng từ 1977 đến 1986, Bangladesh đã thu được khoảng 3,3 tỷ đô la thông qua các khoản chuyển nhượng Khoản này bằng 5,6% GDP, 43% các khoản viện trợ nhận được và 74% doanh thu từ xuất khẩu của cả nước Ba phần tư của khoản chuyển nhượng này có nguồn gốc từ các nước Trung Đông, nơi có hàng nghìn công nhân Bangladesh đang làm việc Cách thức chính để chuyển tiền về nước là thông qua hệ thống hundi Người di cư ở hải ngoại sẽ giao số tiền cho một nhân viên hundi Nhân viên này có cộng tác viên
ở Bangladesh và cộng tác viên này sẽ chuyển một số tiền tương đương cho người nhận Những thỏa thuận không chính thức này tỏ ra hấp dẫn vì nó được thực hiện với tỷ giá hối đoái cao hơn, giúp người nhận tránh được sự phức tạp và rắc rối của dịch vụ ngân hàng và đồng thời tránh được sự gian lận có thể từ phía các ngân hàng và bưu điện Các khoản chuyển nhượng này được dùng nhiều nhất vào việc xây nhà và mua đất (Bakht và Mahmood, 1988)
Những người sử dụng các dịch vụ tài chính ở nông thôn rất đa dạng, bao gồm các nông hộ, các đồn điền, các doanh nghiệp nông nghiệp, các doanh nghiệp phi nông nghiệp và các công nhân không có đất Các hộ gia đình và doanh ngiệp thuộc mọi mức thu nhập và tài sản đều cần các dịch vụ tài chính Các nhu cầu của họ bao gồm vốn vay lưu động ngắn hạn, vốn đầu tư dài hạn, các khoản vay nóng trong trường hợp khẩn cấp, vay tiêu dùng, nơi cất trữ tiền gửi an toàn và cần một cơ chế hoạt động ngân hàng hiệu quả để chuyển các khoản thanh toán và chuyển nhượng
Nông hộ sử dụng rất nhiều cách thức để quản lý các khoản thu chi tiền mặt theo thời gian (Meyer và Alicbusan, 1984) Một số nông hộ có thặng dư tài chính có thể ngay vào lúc số nông hộ khác phải đối đầu với thâm hụt Điều này tạo ra cơ hội cho các trung gian tài chính ở khu vực nông thôn bất chấp những sự tương đồng rõ ràng về thời vụ của các trang trại Tuy vậy, sự đồng biến về thu nhập của một số nông trại và tính không ổn định của các định chế tài chính địa phương đối với những rủi
ro có tính hệ thống mà các chủ trang trại phải đối mặt có thể cản trở các trung gian tài chính (Biswanger và McIntire, 1987)
Cấu trúc của hệ thống tài chính
Hệ thống tài chính bao gồm rất nhiều định chế, công cụ và thị trường (Ngân hàng Thế giới, 1989), kể cả những định chế và sự thỏa thuận tài chính chính thức, bán chính thức và phi chính thức Ở khu vực nông thôn Châu Á, các định chế tài chính chính thức bao gồm các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng tiết kiệm chuyên môn hóa, hệ thống tiết kiệm bưu điện, ngân hàng cổ phần, các đơn vị và ngân hàng nông thôn địa phương Hệ thống tài chính bán chính thức gồm các hội nông dân, hợp tác xã tín dụng, hiệp hội tín dụng, ngân hàng làng, các nhóm tương trợ, các chương trình phát triển nông thôn và các chương trình tài chính của
Trang 5các tổ chức phi chính phủ (NGO) Các câu lạc bộ tiết kiệm cộng đồng, các hội tương trợ, hiệp hội tiết kiệm hụi và tín dụng (RoSCAs), nhà cung cấp đầu vào cho sản xuất, những người tích trữ hàng hóa, những người cho vay là thương nhân, nông dân hay những người chuyên cho vay (money lenders), bạn bè hay người thân hợp lại tạo thành khái niệm được gọi là tài chính phi chính thức (Meyer và Nagarajan, 1992) trong thị trường tài chính, các tổ chức chuyên nghiệp như ngân hàng tiết kiệm chỉ huy động tiền gửi cùng tồn tạivới các cơ quan nhà nước chuyên phân phối tín dụng và các chương trình của NGO, các ngân hàng chuyên cung cấp dịch vụ, thành viên các hợp tác xã tín dụng và hiệp hội tín dụng và các nguồn tài chính phi chính thức
Những người cung cấp và sử dụng dịch vụ tài chính cùng đến với các thị trường và gặp gỡ thông qua nhiều công cụ khác nhau, công cụ thực hiện nhiều nhất là cho vay và gửi tiền Trong khi hầu hết những người cho vay chính thức chỉ cung cấp các khoản vay ngắn hạn cho mục đích sản xuất (nông nghiệp và phi nông nghiệp), một số ít cũng cho vay tiêu dùng và cho vay có kỳ hạn Hầu hết các tổ chức tài chính phi chính phủ chuyên cung cấp các khoản vay ngắn hạn mà người vay có thể sử dụng vào bất kỳ mục đích gì Phần lớn các ngân hàng truyền thống chỉ cung cấp các khoản vay có thế chấp, nhưng một số ngân hàng và hầu hết NGO cung cấp các khoản vay không cần thế chấp
Các thị trường thông thường bị phân khúc với một số nguồn chuyên cung cấp các công cụ có giới hạn cho một số loại khách hàng cụ thể (Yadav, Otsuka và David, 1992; Nagarajan, Meyer và Hushak, 1995) Những người sử dụng dịch vụ có thể thỏa mãn tất cả các nhu cầu của họ từ một nguồn, nhưng thường là họ sử dụng nhiều nguồn Các khoản vay chính thức thường có lãi suất thấp hơn nhưng lại có chi phí giao dịch cao hơn so với nguồn vay phi chính thức, do vậy mà những người vay tiền ở Châu Á thường vay các khoản nợ lớn cho sản xuất từ các nguồn chính thức và các khoản vay nhỏ cho tiêu dùng hoặc trong trường hợp khẩn cấp từ các nguồn phi chính thức Hệ thống chính thức và phi chính thức được liên kết khi một thương nhân vay của ngân hàng để cho các nhà sản xuất vay như giao ước, hay khi một nhóm tương trợ hoặc NGO huy động tiền tiết kiệm ở một làng và gửi ở một ngân hàng ở nơi khác
Nhiều nước đang cố gắng khai thác lợi thế tương đối của mỗi loại tài chính bằng cách củng cố sự liên kết giữa chúng Ví dụ như trường hợp nghiên cứu sẽ được trình bày sau về các dự án tài trợ của Đức được thiết kế nhằm liên kết các nhóm tương trợ và NGO với các tổ chức tài chính chính thức Vì những vấn đề về thông tin và chi phí giao dịch cao, người dân của một số vùng cụ thể chỉ có thể tiếp cận một ít các nhà cung cấp dịch vụ Các vùng xa với điều kiện giao thông kém có thể không tiếp cận được các tổ chức tài chính chính thức Điều này giải thích tại sao các nhà hoạch định chính sách ở Châu Á cố gắng thuyết phục các ngân hàng mở rộng phạm
vi hoạt động, và tại sao nhiều NGO nhắm vào các hộ gia đình ít hoặc không có khả năng tiếp cận nguồn tài chính chính thức
Trang 6Một rắc rối chủ yếu là phạm vi mà các khoản vay không chính thức, đặc biệt là người cho vay tiền, được khai thác Khái niệm cho vay nặng lãi thường được dùng để ám chỉ tài chính phi chính thức, nhưng lại có tương đối ít bằng chứng rõ ràng để đánh giá liệu lãi suất cho vay cao này có vượt quá chi phí và rủi ro của việc cho vay Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng một số lượng lớn người cho vay hoạt động trên một thị trường và mỗi người chỉ cho vay một khoản khá nhỏ (Aleem, 1993) Bằng chứng về việc có nhiều người cho vay thường được dùng để lập luận rằng có sự tồn tại các điều kiện cạnh tranh và do đó lãi suất mặc dù cao nhưng lại phản ánh chi phí thực Tuy nhiên, do sự phân khúc thị trường, bản thân số lượng người cho vay không thể chứng minh một cách thuyết phục rằng thị trường là cạnh tranh hoàn hảo Một người đi vay có thể bị giới hạn trong số một vài người cho vay phi chính thức, đó là những người có các khoản tiền sẵn có và thông tin đầy đủ về người vay (Esguerra, Nagarajan và Meyer, 1991)
Chi phí và rủi ro của việc cung cấp dịch vụ tài chính
Việc cung cấp các dịch vụ tài chính sẽ sử dụng nguồn lực của nền kinh tế Xây dựng một hệ thống tài chính hiệu quả là tốn kém, và việc cung cấp dịch vụ tạo ra chi phí cho cả người cung cấp và người sử dụng Chi phí hình thành một hệ thống tài chính chính thức bao gồm chi phí trực tiếp cho xây dựng, trang bị và cung cấp nhân lực cho hệ thống ngân hàng, hợp tác xã và các tổ chức tài chính Ngoài ra còn cá nhiều chi phí gián tiếp đáng kể trong việc hình thành và vận hành các tòa án, hệ thống pháp lý, các thể chế điều tiết và quản lý cũng như các hệ thống liên lạc, thông tin và vận chuyển cần thiết cho hệ thống ngân hàng và cho quan hệ giữa ngân hàng, khách hàng và các cơ quan quản lý
Chi phí giao dịch của người cung cấp và sử dụng dịch vụ
Tài chính là một ngành công nghiệp thâm dụng thông tin Cung cấp dịch vụ tài chính đòi hỏi nhiều chi phí cho thu thập, xử lý, lưu trữ và sử dụng một lượng lớn các thông tin về khách hàng, các khoản nợ và tài khoản tiết kiệm Các tổ chức phải học cách sử dụng các thông tin này một cách hiệu quả để quyết định cung cấp dịch vụ
gì, cho ai và với mức giá nào Họ phải thiết kế, theo dõi và đảm bảo hiệu lực của các hợp đồng tài chính, và đồng thời phải kiếm đủ thu nhập để trang trải các khoản chi phí nhân sự, vốn, thuế, đảm bảo sự tuân thủ các quy định và chi phí thất thoát các khoản nợ (Ngân hàng Thế giới, 1989) Các tổ chức chính thức phải thu thập và đánh giá một cách hệ thống các thông tin cần thiết để theo dõi khách hàng, ra các quyết định cho vay, giám sát tình trạng của người vay, và họ phải tuân theo các quy định được lập ra bởi những người sở hữu, điều hành và các nhà quản lý Những người cho vay phi chính thức và thương nhân có lợi thế hơn bởi vì họ có thể tiếp cận thông tin khách hàng một cách hiệu quả thông qua việc cùng sống và làm việc với người vay trong làng Họ có được sự tự do quyết định phục vụ ai và không phục vụ ai mà không cần phải giải thích với bất cứ ai
Trang 7Người sử dụng dịch vụ tài chính cũng phải chịu chi phí giao dịch bao gồm giá trị của thời gian bị mất đi, chi phí đi lại và các chi phí ngoài lãi suất kháctrong việc nhận và hoàn trả các khoản vay hoặc tiền gửi Người vay thường phải đến các ngân hàng ở xa để đăng ký vay, cung cấp các giấy tờ và thông tin do phía cho vay yêu cầu, và phải thanh toán các chi phí Tương tự, người gửi tiền cũng phải chịu chi phí
đi lại và chi phí cơ hội của thời gian chờ đợi gửi và rút tiền Các tổ chức tài chính đã thử nghiệm nhiều biện pháp cắt giảm chi phí Ví dụ, Việt Nam sử dụng dịch vụ ngân hàng lưu động và nhiều nước khác thử nghiệm việc cho vay thông qua các dây chuyền tín dụng (lines of credit) Nhiều NGO cho vay theo nhóm thay vì theo từng cá nhân để giảm chi phí giao dịch
Các cuộc khảo sát ở nhiều nước đang phát triển đã phát hiện ra rằng các khoản vay
ở nông thôn tạo ra một khoản chi phí giao dịch cho người vay từ 1% đến 30% trên lượng tiền vay (Meyer và Cuevas, 1992) Tỷ lệ cao nhất được ghi nhận ở Bangladesh đối với các khoản vay nhỏ Các tổ chức có sự hỗ trợ kém, các quy tắc tài chính, các tổ chức nhỏ, lượng vay nhỏ và thiếu sự đổi mới đều làm tăng các chi phí như vậy Một nghiên cứu đã phát hiện rằng những yêu cầu quá cao của các nhà tài trợ làm tăng chi phí giao dịch đối với người cho vay và người vay (Cuevas và Graham, 1984) Do chi phí giao dịch cao, người vay có xu hướng sử dụng các nguồn phi chính thức để vay cho các khoản tiêu dùng nhỏ mặc dù lãi suất cao hơn so với các khoản vay chính thức
Rủi ro của việc cung cấp và sử dụng các dịch vụ tài chính
Người cung cấp và sử dụng dịch vụ tài chính đối mặt với rất nhiều rủi ro và những rủi ro này làm tăng chi phí Người cho vay đối mặt với rủi ro tín dụng do người vay có thể không trả được nợ Họ phải đương đầu với rủi ro về giá cả do những thay đổi không thể lường trước về lãi suất và rủi ro về tỷ giá hối đoái nếu họ có những khoản nợ bằng ngoại tệ Ngoài ra còn có rủi ro hệ thống là tình huống mà ở đó sự vỡ nợ của một hoặc một vài con nợ lớn có thể làm nguy hại toàn bộ hệ thống tài chính (Ngân hàng Thế giới, 1989) Khủng hoảng tài chính và tiền tệ vừa qua ở Châu Á là một ví dụ cho rủi ro tác động minh hoạ mà ở đó các nhà đầu tư nghi ngờ những rủi ro trong kinh doanh ở một nước do những vấn đề ở một nước khác Những người cho vay ở địa phương với nhiều khoản cho vay tập trung ở khu vực địa lý ở nông thôn phải chịu những rủi ro do tính đồng biến của thu nhập: khách hàng của họ đồng thời bị tác động bởi hạn hán và dịch bệnh Các tổ chức tài chính chính thức với tầm hoạt động rộng hơn sẽ có nhiều khả năng chống lại các cú sốc có tính địa phương và có thể cung cấp các khoản vay mà các hộ gia đình và doanh nghiệp bị tác động cần đến
Sự không cân xứng về thông tin tạo ra những rủi ro cho vay bởi vì người vay có nhiều thông tin về những dự án và ý định của họ hơn người cho vay (Stiglitz và Weiss, 1981) Người cho vay cố gắng giảm thiểu những rủi ro tín dụng bằng cách cải thiện nghiệp vụ thu thập và xử lý thông tin về người vay và các dự án của họ Việc sử dụng thế chấp là phương thức phổ biến nhất để giảm rủi ro tín dụng Tuy
Trang 8nhiên điều này không hiệu quả đối với các quốc gia như Bangladesh, nơi mà khách hàng không có những tài sản thế chấp có thể chấp nhận được, và các thủ tục pháp lý tốn kém và mất thời gian đã ngăn cản việc áp dụng thế chấp Do đó, nhân hàng Grameen nổi tiếng và nhiều NGO ở Bangladesh đã sử dụng phương thức cho vay theo nhóm để buộc người vay sử dụng những thông tin địa phương để lựa chọn các cá nhân vào nhóm và cũng để gây áp lực lẫn nhau đối với các thành viên trong nhóm không trả đúng hạn
Những ràng buộc về pháp lý đang cản trở các giao dịch tài chính ở các nền kinh tế đang phát triển và chuyển đổi chỉ mới bắt đầu được nhận thức Luật về các động sản thế chấp là một ví dụ cản trở các doanh nghiệp dùng tài sản máy móc của mình để thế chấp Những giấy tờ có giá trị thanh toán cũng không được chấp nhận ở nhiều nước Điều này ngăn cản những người mua bán thiết bị vay mượn cho khách hàng của họ (Fleisig, 1995) Một kênh gián tiếp nối các tổ chức tài chính chính thức với người vay nhỏ bị phá vỡ, khả năng tiếp cận tín dụng bị giới hạn và lãi suất bị nâng cao
Người cho vay thông thường tăng lãi suất để trang trải cho các rủi ro, nhưng có nhiều hạn chế trong biện pháp này Một số nước có luật chống cho vay nặng lãi cấm quy định lãi suất ở mức đủ cao để phục vụ khách hàng nhiều rủi ro nhất Ví dụ, Ấn Độ quy định mức lãi suất danh nghĩa trần 4% đối với các khoản vay của phần thị trường yếu nhất trong dân cư, và các ngân hàng thương mại buộc phải dành 1% các khoản vay ưu đãi cho phần thị trường này Trong trường hợp cực đoan, nâng lãi suất có thể tự hủy diệt mình do sự lựa chọn ngược: lãi suất cao có thể là nản lòng các khách hàng đáng tin cậy, để lại các khách hàng nhiều rủy ro Hơn nữa, còn có rủi ro về hiện tượng tâm lý ỷ lại: khách hàng có thể chấp nhận các dự án nhiều rủi
ro hơn để trang trải tiền lãi cao (Ngân hàng Thế giới, 1989) Còn có thể có sự chống đối của xã hội đối với sự định mức lãi cao đối với các khách hàng nghèo để trang trải các chi phí giao dịch và rủi ro cao do phục vụ những khoản cho vay và tiền gủi nhỏ của họ Ví dụ, NGO ở Pakistan và các nước khác chống đối lãi suất cao đã sử dụng chi phí ẩn để giúp trang trải chi phí cho vay
Tiết kiệm tài chính cũng liên quan đến rủi ro Các tổ chức tài chính đối mặt với sự mất cân xứng tiềm năng về tính thanh khoản khi huy động các khoản cho vay ngắn hạn để thực hiện các khoản cho vay dài hạn Họ đối mặt với sự sụp đổ tiềm năng khi khả năng thanh khoản của một tổ chức tạo ra sự hoang mang cho người gửi tiền và sau đó đồng loạt rút tiền ở tất cả các tổ chức khác, như đã từng xảy ra gần đây trong cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính ở Châu Á Người gửi tiền phải đương đầu với khả năng mất tiều gửi ở những tổ chức không có bảo đảm Ngay cả khi các khoản tiền gửi được bảo đảm, người gửi tiền có thể phải đợi rất lâu trước khi họ thực sự nhận lại được số tiền một khi nhân hàng bị vỡ nợ Rủi ro tiềm tàng của người nghèo trong việc mất những khoản tiết kiệm là một vấn đề chính sách lớn ở Bangladesh và nhiều nước khác, nơi mà các NGO không bị kiểm soát bởi các điều luật trong việc huy động tiền gửi tiết kiệm Các tổ chức địa phương nhỏ có nhiều
Trang 9bất lợi so với các tổ chức lớn có mạng lưới phân tán rộng khắp, do trong trường hợp xảy ra một vấn đề có tính địa phương như hạn hán, người tiết kiệm chỉ muốn rút tiền vào thời điểm mà người vay muốn vay (Binswanger và McIntire, 1987)
Chính phủ có thể thực hiện nhiều biện pháp để giảm thiểu chi phí thông tin và rủi
ro cho vay Ví dụ, tăng cường các yêu cầu kề kế toán và kiểm toán sẽ cải thiện chất lượng thông tin về các doanh nghiệp lớn Tạo ra các văn phòng tín dụng sẽ giúp ích cho sự trao đổi thông tin về người vay Đầu tư vào cơ sở hạ tầng giao thông và thông tin liên lạc sẽ giảm chi phí thu thập và chia xẻ thông tin Dự báo thông tin về giá cả các hàng hóa và các cơ hội thị trường là đặc biệt có lợi cho người cho vay nông nghiệp – người phải có kế hoạch về khả năng hoàn trả của người vay Sự điều tiết và giám sát thận trọng đối với các tổ chức tài chính sẽ làm giảm rủi ro cho người gửi tiền và tránh được những rủi ro có tính hệ thống cho toàn bộ hệ thống tài chính Các kế hoạch đảm bảo nợ thường được sử dụng để giảm những rủi ro cho vay, nhưng như chúng ta đã thấy ở Ấn Độ và Philippines, chúng thường không hiệu quả trong việc giảm thiểu rủi ro và thường chỉ thực hiện được khi có một lượng trợ cấp lớn (Meyer và Nagarajan, 1996) Chỉ trong những trường hợp cụ thể các kế hoạch này mới tỏ ra hiệu quả trong việc mở rộng cho vay ở khu vực nông thôn (Gudger, 1998)
Những chi phí và rủi ro cao ở khu vực nông thôn
Khu vực nông thôn tỏ ra là nơi có nhiều vấn đề khó khăn và tốn kém trong việc cung cấp các dịch vụ tài chính (FAO/GTZ, 1998) Khách hàng của các ngân hàng nông nghiệp có tính phân tán hơn so với khách hàng ở thành thị và thường có các khoản vay và tiền gửi nhỏ, tạo ra chi phí giao dịch trên đơn vị cao cho các tổ chức tài chính Chi phí thông tin cao cho người cung cấp và sử dụng dịch vụ cũng cao do
cơ sở hạ tầng về giao thông và liên lạc thường kém phát triển Các khoản vay nông nghiệp thường được coi là có tính rủi ro cố hữu do những rủi ro trong sản xuất và marketing nông nghiệp Hơn nữa, lợi nhuận của các khoản đầu tư trong nông nghiệp thường thấp do những chính sách nông nghiệp ưu tiên cho thành thị Việc hoàn trả vốn vay còn có thể phụ thuộc vào tình trạng thỏa mãn hay chưa của các nhu cầu tiêu dùng trong gia đình Nhiều khách hàng tiềm năng ít có tài sản thế chấp có thể chấp nhận được, và quyền sở hữu đất cầm cố có thể không chắc chắn và khó mà buộc các bên tuân thủ Mặc dù các nông hộ tham gia nhiều hoạt động, sự tập trung của các cây trồng, vật nuôi trong một vùng địa lý dẫn đến hậu quả là sự đồng biến cao trong thu nhập của các hộ gia đình, và làm cho các tổ chức tài chính địa phương dễ bị thương tổn đối với những thảm họa ở địa phương
Nhận thức đầy đủ những chi phí và rủi ro này sẽ cung cấp một lý do cơ bản cho chính phủ và các nhà tài trợ can thiệp vào thị trường tài chính nông thôn Tuy vậy, sự can thiệp này thường tập trung vào triệu chứng của các vấn đề hơn là nguồn gốc sâu xa của chúng Hầu hết các chính phủ đã đánh giá thấp những khó khăn, các chi phí và rủi ro của việc cung cấp dịch vụ tài chính nông thôn Hơn nữa, như đã lưu ý trong trường hợp nghiên cứu, các nhà chính trị lại dùng các chính sách can thiệp
Trang 10như là một cách để lấy lòng các cử tri Tình huống này thể hiện rõ ràng nhất trong các trường hợp nghiên cứu ở Bangladesh và Ấn Độ
DIỄN BIẾN CÁC CHÍNH SÁCH VÀ CÁCH TIẾP CẬN TÀI CHÍNH NÔNG THÔN: CHUYỂN DỊCH TỪ MỆNH LỆNH SANG THỊ TRƯỜNG
Sự can thiệp của chính phủ vào các thị trường tài chính
Các chính phủ cán thiệp vào thị trường tài chính bằng nhiều cách Về mặt lịch sử, họ đã kiểm soát các phương tiện thanh toán để bảo đảm sự vững chắc và nắm được đặc quyền phát hành tiền † (Ngân hàng Thế giới, 1989) Gần đây hơn, họ đã cố gắng gây ảnh hưởng qua phân phối tín dụng Đây sẽ là đề tài sẽ được thảo luận trong phần tiếp theo Sự quan tâm chủ yếu của họ thường là đảm bảo các ngân hàng hoạt động một cách thận trọng Tác động của sự vỡ nợ của các ngân hàng là đặc biệt quan trọng ở các nước đang phát triển bởi vì các nước này có rất ít nguồn tài chính cho các doanh nghiệp và hộ gia đình Khủng hoảng tài chính có thể xảy ra khi sự điều tiết của chính phủ thất bại như đã xảy ra trong cuộc khủng hoảng tài chính và tiền tệ ở Châu Á Người gửi tiền mất lòng tin vào hệ thống ngân hàng trong những tình huống như thế Do đó chính phủ đã đưa ra bảo hiểm tiền gửi và chức năng cho vay như là cứu cách cuối cùng của các ngân hàng, và bảo lãnh cho các tổ chức vỡ nợ nhằm tránh sự sụp đổ của hệ thống ngân hàng, giảm thiểu mất mát của người gửi tiền và khôi phục lòng tin đối với hệ thống ngân hàng Ví dụ, do thiếu lòng tin vào ngân hàng trong cuộc khủng hoảng bắt đầu vào năm 1997, người Indonesia đã chuyển các khoản tiền gửi sang các ngân hàng nhà nước và nước ngoài mà họ cho là mạnh hơn (McLeod, 1998) Chính phủ cuối cùng đã phải đồng
ý bảo vệ tất cả những người gửi tiền nhằm xoa dịu thị trường
Các chính phủ ảnh hưởng tốc độ tăng của lượng cung tiền và lãi suất như là một phần của chức năng quản lý kinh tế vĩ mô Những thủ tục điều tiết và giám sát thận trọng đã được thực thi nhằm ngăn chặn gian lận và sự chấp nhận rủi ro quá mức của các tổ chức tài chính Chúng bao gồm yêu cầu vốn tối thiểu, chế độ báo cáo và kiểm toán và sự giới hạn trong danh mục đầu tư Khó khăn của việc quản lý là đảm bảo sự cân bằng giữa hiệu quả và đổi mới, vốn đòi hỏi sự tự do hành động, và tính ổn định, vốn đòi hỏi sự điều tiết Một vấn đề được quan tâm gần đây là vấn đề tâm lý ỷ lại khi các ngân hàng không được phép phá sản Nếu các ông chủ và nhà quản lý ngân hàng không bị buộc phải trả giá cho những sai lầm của họ, họ có thể thực hiện những cuộc đầu tư mạo hiểm trong tương lai khi biết rằng chính phủ và các tổ chức quốc tế sẽ gánh chịu những khoản lỗ của họ
† Thuật ngữ này chỉ lợi nhuận thu được bằng cách phát hành tiền
Trang 11Tín dụng trực tiếp (Directed Credit)
Hầu hết các nước Châu Á coi sự kiểm soát tài chính là một phương tiện quan trọng để thúc đẩy sự phát triển công nghiệp, mở rộng xuất khẩu, khuyến khích các doanh nghiệp nhỏ, chống đói nghèo và đảm bảo nguồn cung lương thực rẻ cho khu vực thành thị Thay vì dựa vào các tổ chức tài chính để sử dụng cơ chế thị trường nhằm huy động tiền tiết kiệm và phân phối nguồn lực, họ can thiệp vào thị trường để hướng tín dụng vào các mục tiêu cụ thể Năm hình thức can thiệp chính đã được sử dụng: những yêu cầu và hạn mức cho vay bắt buộc đối với các ngân hàng, các kế hoạch tái tài trợ (refinance), cho vay với lãi suất ưu đãi, tín dụng có đảm bảo và cho vay của các tổ chức phát triển Những hoạt động này nhằm tăng lượng cho vay đối với những khách hàng hoặc khu vực ưu đãi bằng cách giảm chi phí và rủi ro Những chương trình xóa nợ cũng được sử dụng để giảm bớt gánh nặng của những người được ưu tiên vay
Các cơ quan tài trợ đã thực hiện nhiều khoản đầu tư quan trọng trong các dự án định hướng tín dụng và phát triển nông nghiệp với nhiều thành phần tín dụng ADB đã duyệt 72 dự án từ 1970 đến 08/1991 với tổng đầu tư 1,4 tỷ đô la Hơn 1 tỷ đô la được giải ngân cho các dự án cung cấp tín dụng cho nông dân và hợp tác xã để đầu
tư và trang thiết bị Hơn 60% các dự án tín dụng đã triển khai ở 13 nước có nền kinh tế thị trường trong khu vực (ADB, 1993)
Đã có rất nhiều nghiên cứu về tàc động của tín dụng trực tiếp nhưng không có nghiên cứu nào có thể chỉ ra một cách chính xác những tác động trong một tình huống cụ thể Mặc dù các ngành công nghiệp và doanh nghiệp được ưu đãi có thể nhận được nhiều khoản vay hơn so với trường hợp không có tín dụng trực tiếp, sẽ rất khó khăn trong việc xác định tăng trưởng chung bị tác động như thế nào Vấn đề là trợ cấp tín dụng không phải là miễn phí mà ai đó phải gánh chịu những chi phí này Nếu các quy định tạo ra sự tương trợ giữa các ngân hàng, những người vay không ưu tiên sẽ phải trả một phần chi phí do lãi suất cao hơn Chủ ngân hàng cũng có thể chịu mức lợi nhuận trên vốn đầu tư thấp hơn Hơn nữa, phân phối tín dụng có thể làm tồi tệ hơn sự phân phối thu nhập nếu tín dụng vô tình hay cố ý thiên vị các doanh nghiệp lớn Tác động rõ ràng nhất đã được quan sát qua những thiệt hại mà tín dụng trực tiếp giáng vào hệ thống tài chính (Ngân hàng Thế giới, 1989) Nhiều tín dụng trực tiếp trở thành các khoản nợ khó đòi có mức lãi suất thấp đã khuyến khích những khoản đầu tư không có lợi Trong một số trường hợp người vay cố tình vỡ nợ vì họ tin rằng chính phủ sẽ xóa nợ cho họ, hoặc sẽ không có những hành động chống lại người vỡ nợ thuộc lĩnh vực ưu tiên Kỷ luật tài chính bị tổn thương và các định chế trung gian sẽ bị suy yếu Vấn đề đặc biệt nghiêm trọng cho các tổ chức tài chính phát triển ở Châu Á và nhiều tổ chức không trả được nợ, bị đóng cửa hoặc phải được tái cấp vốn, đôi khi diễn ra nhiều lần Các kế hoạch tái cấp vốn sẽ không khuyến khích huy động vốn, làm suy giảm vai trò trung gian tài chính Do
Trang 12đó, bất kể nền kinh tế được lợi như thế nào, tín dụng trực tiếp cũng sẽ buộc hệ thống tài chính phải chịu một chi phí rất cao‡
Những nghi ngờ về mô hình tín dụng trực tiếp cho nông nghiệp
Các nhà hoạch định chính sách trong thập niên 1950 và 1960 đã giả định rằng nông dân thiếu khả năng tiếp cận tín dụng, rằng những người cho vay phi chính thức lấy mức lãi suất cắt cổ và rằng những khoản vay ngắn hạn phi chính thức với lãi suất cao là không thích hợp cho đầu tư sản xuất vốn được coi là cần thiết cho sự thay đổi về công nghệ và phát triển nông thôn bền vững Do đó, các chính sách cung cấp tín dụng trực tiếp cho nông nghiệp đã được thực hiện để khắc phục những khiếm khuyết nêu trên của thị trường tài chính Một vai trò quan trọng đã được giao cho các tổ chức tài chính để giải quyết nhiều vấn đề kinh tế và xã hội Mô hình này được dựa trên một ý tưởng sai lầm rằng sự nghèo đói ở nông thôn có thể được giải quyết chỉ bằng tín dụng (Adam, 1998) Các nhà tài trợ đã giúp phát biểu một cách có hệ thống những ý tưởng này và tài trợ nhiều dự án mở rộng dịch vụ tài chính và marketing ở khu vực nông thôn (Meyer và Larson, 1997)
Tổng kết mùa xuân của USAID và hội thảo của FAO
Hai sự kiện lớn đã thu hút sự quan tâm về mô hình tín dụng trực tiếp được sử dụng để hợp lý hóa các dự án tín dụng nông nghiệp ở các nước đang phát triển:Tổng kết mùa xuân năm 1972/73 của Cơ quan phát triển quốc tế Mỹ (USAID) và Hội thảo thế giới về Tín dụng cho nông dân ở các nước đang phát triển được tổ chức tại tổng hành dinh tại Rome của Tổ chức Lương nông (FAO) của Liên hiệp quốc
Tổng kết mùa xuân là một bài diễn thuyết đồ sộ Khoản 60 báo cáo về các chương trình tín dụng nông thôn ở các nước đang phát triển đã được soạn thảo và 20 bài phân tích đã được thực hiện Bảng tổng kết tổng cộng lên tới 6000 trang Bảng tổng kết đã tạo ra được sự tranh luận giữa các tác giả các nhà nghiên cứu, nhân viên USAID và các nhà hoạch định chính sách trong các cuộc hội thảo tổ chức ở các nước đang phát triển và cuộc hội thảo cuối cùng tổ chức tại Washington DC Cuối cùng, một cuốn sách đã được xuất bản tóm tắt những kết quả phân tích và thảo luận (Donald, 1976) Hội thảo của FAO bắt đầu bằng một nghiên cứu thực hiện bởi một nhóm các nhà nghiên cứu gồm nhân viên của FAO và Cassa di Risparmio delle Provincie Lombarde (CARIPLO) (FAO/CARIPLO, 1975) Nội dung của báo cáo này đã được thẩm định tại các cuộc hội thảo ku vực về tín dụng nông nghiệp, và đã trở thành tài liệu thảo luận chính tạo Hội thào FAO
‡ Cuối thập niên 1980, Egaitsu (1988) đã kết luận rằng tín dụng trực tiếp cho nông nghiệp đã tạo ra tác động tích cực trong việc mở rộng tầm hoạt động nhưng cũng nhận thức được rằng khả năng duy trì hoạt động thật sự là vấn đề
Trang 13Những phát hiện chủ yếu của hai sự kiện này là những thách thức tiềm ẩn của biện pháp định hướng tín dụng Hai sự kiện này đã mở rộng tầm nhìn qua 10 điểm then chốt:
• Các dự án tín dụng cho nông dân nhỏ là một phần của thị trường vốn nông thôn § Những người nông dân nhỏ có xu hướng tiếp cận nhiều hơn đến nguồn vốn phi chính thức, và phần lớn sự gia tăng trong nguồn tài chính chính thức sẽ về tay những người nông dân lớn
• Việc đưa ra các chương trình tín dụng nông nghiệp đặc biệt được trợ cấp ngăn cản những người cho vay thương mại mở rộng địa bàn hoạt động ở khu vực nông thôn Điều này sẽ duy trì sự tồn tại vĩnh viễn của tính hai mặt vốn vẫn hiện diện trên thị trường tài chính nông thôn
• Lãi suất thấp (cả danh nghĩa lẫn thực) là vấn đề rắc rối nhất Nhiều nhà phân tích lập luận rằng chính sách duy trì lãi suất thấp là nhân tố quan trọng bóp méo sự phân phối nguồn vốn
• Lãi suất ưu đãi cho nông dân nhỏ đặc biệt bất lợi cho việc tiếp cận nguồn tín dụng chính thức, và không phải là một biện pháp hiệu quả để thực hiện các khoản chuyển nhượng cho nông dân nhỏ
• Lãi suất thấp góp phần quan trọng trong việc quyết định khả năng trang trải các chi phí và rủi ro hơn là tác động đến nhu cầu vay vốn của nông dân Đầu tư có lãi và công nghệ mới, nguồn cung các đầu vào cho nông nghiệp và giá cả mà người sản xuất nông nghiệp nhận được là quan trọng trong quyết định vay vốn hơn là mức lãi suất thấp
• Khi lãi suất và các khoản trợ cấp khác được cung cấp, chúng sẽ được dùng để xây dựng định chế hơn là chuyển cho nông dân dưới dạng các khoản vay có lãi suất thấp Huy động tiền tiết kiệm nên được chú ý hơn trong chính sách tài chính Mức lãi suất thấp trả cho các khoản tiết kiệm sẽ hủy hoại khả năng huy động tiền tiết kiệm ở nông thôn
• Tỷ lệ nợ quá hạn sẽ cao và đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn, nhưng bảo hiểm mùa màng và tín dụng và bảo đảm cho các khoản vay không phải là giải pháp tốt để giải quyết vấn đề
• Chi phí quản lý nợ vay sẽ cao và đòi hỏi các biện pháp đổi mới nhằm giảm thiểu chi phí như các chi nhánh dịch vụ ngân hàng cục bộ, ngân hàng lưu động, nhân viên ngân hàng ở cấp làng xã và sự thành lập của các ngân hàng nông thôn Việc cho vay theo nhóm góp phần giảm chi phí nhiều hơn là cải thiện khả năng thu hồi nợ
§ Khái niệm thị trường vốn được sử dụng lần đầu tiên trong phần thảo luận về tín dụng nông nghiệp Sau đó, khái niệm thị trường tài chính mới bắt đầu được sử dụng rộng rãi
Trang 14• Không có một hình thức tổ chức tốt duy nhất nào có khẳ năng cung cấp các dịch vụ tài chính tốt nhất Các ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển nông nghiệp và hợp tác xã đều có những thành công và thất bại trong việc phục vụ nông nghiệp
• Lợi ích của các dự án tín dụng cho nông dân nhỏ có thể không bù đắp nổi chi phí Khi những điều kiện để một dự án tín dụng thành công không được đáp ứng, các chương trình khác có thể nâng cao phúc lợi của nông dân với một chi phí thấp hơn
Trong những năm sau đó, nhiều nghiên cứu tiếp theo đã được thực hiện cho thị trường tài chính nông thôn nhìn chung, các kết quả nghiên cứu có khuynh hướng ủng hộ những nhận định của Bản tổng kết vào mùa xuân và Hội thảo của FAO Hiệp hội tín dụng nông nghiệp Châu Á Thái Bình Dương (APRACA) đã được thành lập vào tháng 10 năm 1977 Dưới sự bảo trợ của nó, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện trong khu vực và nhiều lớp tập huấn về các chính sách và chương trình tín dụng nông nghiệp đã được tổ chức Nhiều nghiên cứu quan trọng đã được tóm tắt và phát hành cho các khóa tập huấn của Viện nghiên cứu phát triển kinh tế của Ngân hàng thế giới (Von Pischke, Adams và Donald, 1983) Tất cả những nỗ lực này đã góp phần thu hút sự quan tâm trong việc suy xét lại mô hình cũ
Hội thảo chuyên đề về tài chính nông thôn
Sự kiện quan trọng tiếp theo đó về các chính sách và chương trình tín dụng nông thôn đã được tranh luận bởi các nhà nghiên cứu và hoạch định chính sách là Hội thảo chuyên đề về tài chính nông thôn ở các nước có thu nhập thấp được tài trợ bởi USAID và Ngân hàng thế giới tại Washington DC năm 1981 Một ấn phẩm phát hành tóm tắt những phát hiện được trình bày tại hội thảo chuyên đề đã trở thành trọng tâm cho các cuộc thảo luận và tranh luận trên toàn thế giới (Adams, Graham và Von Pischke, 1984) Những phát hiện này đã củng cố các luận điểm của thập niên trước và cung cấp nhiều kiến thức sâu sắc mới mẻ Chủ đề trung tâm là
“những quan niệm truyền thống thường dẫn đến các chính sách tốn kém và đôi khi phản tác dụng và thị trường tài chính có thể đóng góp nhiều hơn cho sự phát triển nông thôn nếu những thay đổi trong chính sách được thực hiện” (trang 6) Những vấn đề then chốt gồm (trang 1 – 7):
• Tín dụng nông nghiệp không phải là một đầu vào trực tiếp cho sản xuất nông nghiệp, nhưng lại được cung cấp như là kết quả của quá trình trung gian tài chính Các dịch vụ tài chính cũng quan trọng đối với các doanh nghiệp phi nông nghiệp ở nông thôn cũng như đối với nông nghiệp
• Tín dụng là có thể thay thế được và sẽ rất tốn kém và khó khăn để định hướng được một cách hiệu quả người tiêu dùng cuối cùng
• Duy trì lãi suất thực dương là yếu tố quan trọng nhất để cải thiện hoạt động của thị trường tài chính nông thôn
Trang 15• Cho vay vượt quá tiết kiệm sẽ làm giảm hoặc xóa bỏ mối quan hệ đỡ đầu đang tồn tại giữa người vay, các thể chế trung gian tài chính và các nhà quản lý tài chính
• Giảm thiểu sự phụ thuộc vào nguồn vốn nước ngoài sẽ làm giảm sự chính trị hóa thị trường tài chính nông thôn
• Mở rộng các trung gian tài chính sẽ làm tăng sự cạnh tranh giữa người cho vay chính thức và phi chính thức và làm giảm lợi nhuận do những độc quyền có thể đang tồn tại
• Sự phân tích nên nhắm vào việc xây dựng một sự hiểu biết tốt hơn về các yếu tố tác động đến hoạt động của các tổ chức tài chính hơn là cố gắng đo lường nhu cầu tín dụng hoặc đo lường tác động của tín dụng đối với nông nghiệp
• Những cải cách trong các chính sách về thị trường tài chính thường bị ngăn chặn bởi những trở ngại về chính trị hơn là các yếu tố kinh tế
Nhiều kết luận của hội thảo đã tương đồng với kết luận của những thảo luận 10 năm trước của USAID và FAO một cách đáng chú ý Tuy nhiên, có 2 đóng góp lớn của cuộc hội thảo này liên quan đến các chi phí và hoạt động chính trị Nhiều nghiên cứu được trình bày về đo lường chi phí giao dịch do người vay và người cho vay gánh chịu, và các tác giả đã giải thích những chi phí này tác động đến hành vi của cả hai như thế nào Nhiều nghiên cứu khác cũng đã trình bày về việc bằng cách nào mà các chương trình tín dụng được trợ cấp lại là một phần của hệ thống quyền lực chính trị , và tại sao lãi suất ưu đãi cho nông dân lại thất bại trong việc bù đắp sự thiên lệch của các chính sách khác bất lợi cho nông nghiệp Đáng tiếc là những
ý kiến sáng suốt trình bày trong các nghiên cứu này và được phổ biến tại hội nghị đã không gây được sự chú ý của các nhà hoạch định chính sách ở Châu Á, do đó các dự án tín dụng trong khu vực vẫn tiếp tục được thiết kế và thực thi theo mô hình định hướng tín dụng
Cuộc cách mạng tài chính vi mô: Xu hướng và Những nguyên tắc cơ bản
Bắt đầu vào thập niên 1970, một sự phát triển mới về tài chính đã xuất hiện ở các nước đang phát triển đã làm thay đổi quan niệm về chiến lược thích hợp phát triển thị trường tài chính nông thôn Đó là sự xuất hiện của tài chính vi mô, chủ yếu cung cấp các khoản cho vay nhỏ, bắt đầu như là một thí nghiệm nhỏ và nhanh chóng trở thành một xu hướng phát triển mới nhất Nhiều tổ chức, đặc biệt là các NGO, đã thực hiện các khoản cho vay nhỏ như là một phần trong các chương trình của họ nhằm tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người nghèo, cung cấp cứu trợ khẩn cấp sau các thảm họa và xung đột, và cải thiện tình trạng sức khỏe, giáo dục và dinh dưỡng Những kinh nghiệm của Bangladesh và Indonesia và đóng góp đáng kể vào sự hình thành của tài chính vi mô Phần này sẽ trình bày tóm tắt những điểm
Trang 16nổi bật của cách tiếp cận mới nà trong việc mở rộng những giới hạn trong tài chính, và rút ra các bài học cho thị trường tài chính nông thôn
Nguồn gốc của tài chính vi mô
Các chính sách tín dụng nông nghiệp bắt nguồn từ mong muốn cải thiện công nghệ trong nông nghiệp và thúc đẩy tăng trưởng trong nông nghiệp Lý do cơ bản của việc cung cấp các khoản cho vay nhỏ nảy sinh từ 3 sáng kiến phát triển khác nhau (Churchill, 1998) Một là nhiều nước đã thúc đẩy sự hình thành của các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) và nhiều dự án tài trợ đã đóng góp cho mục tiêu này Rất nhiều trong số các dự án này đã gặt hái thành công nhất định và sự bền vững vủa việc cung cấp các dịch vụ này cho doanh nghiệp đã là một vấn đề thâm căn cố đế Theo thời gian, một biện pháp đã nảy sinh giúp hỗ trợ sự phát triển của các doanh nghiệp nhỏ thông qua các khoản cho vay nhỏ, có hoặc không có sự huấn luyện kèm theo bởi vì đây là một cách bền vững đễ hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ
Hai là, cho vay nhỏ bắt nguồn từ các dự án xóa đói nghèo Mục đích của các dự án này thường là tạo thu nhập chứ không phải là phát triển doanh nghiệp Các kiểm định về thu nhập trung bình và nhiều tiêu chí khác đã được áp dụng để xác định những người nghèo nhất trong số những người nghèo, và xác định các nhóm mục tiêu chính Một lần nữa, các khoản vay nhỏ cho người nghèo đã đưa ra một hứa hẹn cho sự bền vững trong bối cảnh các khoản trợ cấp bị cắt giảm dần Ngân hàng Grameen và Ủy Ban phát triển nông thôn Bangladesh được xem là những nhà tiên phong ở Châu Á trong xu hướng này Một vài tổ chức đã cố gắng tự trang trải các phí tổn cho dịch vụ tín dụng của họ trong khi tìm kiếm trợ cấp cho giáo dục, đào tạo và các hoạt động hỗ trợ kỹ thuật
Ba là, nhiều tổ chức tài chính vi mô (MFO) đã ra đời, cung cấp các dịch vụ tài chính cho những doanh nghiệp và hộ gia đình mà khu vực tài chính truyền thống không phục vụ ASA ở Bangladesh và hệ thống unit desa của Ngân hàng Rakyat Indonesia (BRI) thuộc nhóm này Họ chuyên môn hóa vào các khoản cho vay nhỏ và các dịch vụ tài chính khác, nhưng không tập trung vào những người nghèo nhất vốn là những người có thể cần nhiều vốn hơn để thành lập và vận hành thành công một doanh nghiệp nhỏ (ADB, 1997f)
Những người cho vay nhỏ đầu tiên ra đời vào cuối những năm 70, và những nỗ lực của họ đã tạo được sức mạnh trong suốt những năm 80 Vào khoản trước giữa những năm 80 những nhà nghiên cứu bắt đầu đánh giá những kinh nghiệm này một cách có hệ thống, những kiến nghị về những cách thức nhất ra đời, nhiều nhà cho vay tiên phong đã đạt được những thành quả cao hơn nhiều so với những dự án tín dụng nông nghiệp trước đây xét về mặt tính vượt trội và khôi phục vốn vay thậm chí ở nhiều quốc gia như Bangladesh, nơi mà các điều kiện không thuận lợi thường xảy ra cho họat động tín dụng
Trang 17Các nguyên tắc cơ bản của tài chính vi mô: các bài học về tài chính nông thôn
Phân tích kinh nghiệm về tài chính vi mô là rất quan trọng vì nó cho các bài học có thể phục vụ cho việc thành lập hệ thống tài chính nông thôn bề vững Sự thật rằng phương pháp tài chính vi mô đem lại nhiều kết quả siêu việt hơn so với nhiều dự án tín dụng nông nghiệp theo mô hình cũ đã góp phần vào việc phát triển một mô hình mới Các tổ chức tài chính vi mô (MFOs) tìm cách phát triển những cải tiến quan trọng mà làm cho chúng có thể mở rộng giới hạn tài chính ở các nước đang phát triển Thoạt đầu, số lượng lớn những người nghèo vay mượn nhỏ tiếp cận được các dịch vụ tài chính chính thức vì những cải tiến như thế này làm giảm chi phí và rủi
ro khi cho vay, và cho phép MFOs phục vụ các khách hàng nghèo mà không cần thế chấp như các ngân hàng thường yêu cầu Các kỹ thuật góp phần vào sự thành công của họ gồm có **:
• Quy mô cho vay – các khoản tiền cho vay có quy mô nhỏ, và được thực hiện chỉ trong vài tuần hay vài tháng cho các mục đích vốn lưu động
• Các khoản cho vay lại – nhiều động cơ khuyến khích được đưa ra cho các khách hàng nhằm duy trì các hồ sơ hoàn trả tốt bằng cách thưởng họ với các khoản cho vay lại Đối với một số người cho vay, quy mô các khoản cho vay ban đầu và các khoản cho vay lại (repeat loans) được thực hiện theo một công thức được quy định trước
• Kế hoạch trả vốn vay – đòi hỏi các khoản trả thường xuyên, thường là hàng tuần hay hàng tháng, để có thể giám sát kỹ hoạt động của người đi vay
• Lãi suất – các mức lãi suất và phí cao, thường cao hơn nhiều so với mức mà những người cho vay thường, và thường là dương (tính theo lãi suất thực)
• Hiệu quả cán bộ cho vay – các cán bộ cho vay thường hướng dẫn/điều hành các nhóm vay từ 75 đến 100 người đi vay hay 200 đến 500 người vay riêng lẻ Kế hoạch khuyến khích tài chính đối với các nhân viên sẽ khích lệ mức hiệu quả cao
• Thế chấp vay mượn – nhiều tổ chức tài chính vi mô sử dụng kỹ thuật cho vay liên quan đến thông tin nhóm mục tiêu và giám sát mục tiêu như một cách thay thế cho việc thế chấp cho vay thông thường để giảm chi phí giao dịch và rủi ro Các tổ chức tài chính vi mô càng sử dụng công nghệ cho vay cá nhân nhiều hơn chấp nhận như hàng hóa hộ gia đình là thế chấp và các tài sản khác có giá trị cao đối với khách hàng
** Không thể có một danh sách các bài học duy nhất nào hay những thông lệ tốt nhất nào tồn tại Nhiều điểm liệt kê ở đây đã được thảo luận trong Chaves và Gonzalez-Vega (1996), Christen et al (1995), Churchill (1999), Donor Working Group (1995), Otero và Rhyne (1994), Rhyne và Roblatt (1994) và Yaron et al (1997)