1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

216 5 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non
Tác giả Nguyễn Thị Hồng
Người hướng dẫn GS.TS Nguyễn Quang Uẩn, PGS.TS Trần Thị Mỵ Lương
Trường học Trường Đại Học Sư Phạm Hà Nội
Chuyên ngành Tâm lý học chuyên ngành
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 216
Dung lượng 2,53 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội (17)
    • 1.1.1. Những nghiên cứu ở nước ngoài (17)
    • 1.1.2. Nghiên cứu ở trong nước (36)
  • 1.2. Một số vấn đề lý luận tâm lý học về trí tuệ xã hội (39)
    • 1.2.1. Trí tuệ (39)
    • 1.2.2. Trí tuệ xã hội (43)
  • 1.3. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm mầm non (0)
    • 1.3.1. Sinh viên sư phạm mầm non (54)
    • 1.3.2. Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm mầm non (56)
    • 1.3.3. Những yêu cầu đối với sinh viên sư phạm mầm non (60)
  • 1.4. Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (0)
    • 1.4.1. Khái niệm trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (63)
    • 1.4.2. Cấu trúc trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (65)
    • 1.4.3. Biểu hiện trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (68)
    • 1.4.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (71)
  • Chương 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (17)
    • 2.1. Khái quát về địa bàn và khách thể nghiên cứu (77)
      • 2.1.1. Địa bàn nghiên cứu (77)
      • 2.1.2. Khách thể nghiên cứu (78)
    • 2.2. Tổ chức nghiên cứu (79)
      • 2.2.1. Giai đoạn 1: Xây dựng cơ sở lý luận và thiết kế công cụ đo lường mức độ trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (79)
      • 2.2.2. Giai đoạn 2: Nghiên cứu thực trạng biểu hiện và mức độ trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (80)
      • 2.2.3. Giai đoạn 3: Thực nghiệm biện pháp tác động tâm lý - sư phạm rèn luyện, phát triển TTXH của SV sư phạm mầm non (81)
      • 2.4.1. Phương pháp nghiên cứu tài liệu, văn bản (82)
      • 2.4.2. Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn (83)
      • 2.4.3. Phương pháp thực nghiệm tác động sư phạm (91)
      • 2.4.4. Phương pháp xử lý số liệu bằng thống kê toán học (96)
  • Chương 3. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN SƢ PHẠM MẦM NON (77)
    • 3.1. Đánh giá chung thực trạng trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (99)
      • 3.1.1. Qua thang đo tự đánh giá (99)
      • 3.1.2. Thực trạng trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non qua thang đo bài tập đo nghiệm (124)
    • 3.2. Thực trạng ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (132)
      • 3.2.1. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan (132)
      • 3.2.2. Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan (137)
      • 3.2.4. Dự báo mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non (139)
    • 3.3. Phân tích một số chân dung trí tuệ xã hội điển hình (140)
      • 3.3.1. Sinh viên Nguyễn Thị H.: mức độ trí tuệ xã hội ở mức cao (140)
      • 3.3.2. Sinh viên Vi Thị N.: mức độ trí tuệ xã hội ở mức trung bình (142)
      • 3.3.3. Sinh viên Hoàng Thanh Th.: mức độ trí tuệ xã hội ở mức thấp (144)
    • 3.4. Thực nghiệm tác động (146)
    • 1. Kết luận (154)
    • 2. Kiến nghị (155)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (158)
  • PHỤ LỤC (165)

Nội dung

Nghiên cứu về trí tuệ xã hội SI- Social Intelligence và mối quan hệ của nó đối với sự thành công trong nghề nghiệp và cuộc đời của một con người là một hướng nghiên cứu mới được các nhà

Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trí tuệ xã hội

Những nghiên cứu ở nước ngoài

Mặc dù có rất nhiều công trình nghiên cứu về TTXH, song có thể khái quát thành 4 hướng nghiên cứu như sau:

1) Hướng nghiên cứu xác định khái niệm của TTXH: Đó là những nghiên cứu theo hướng cấu trúc của định nghĩa

Mặc dù có nhiều nghiên cứu về TTXH, nhưng vẫn chưa có sự thống nhất về định nghĩa và phương pháp tiếp cận TTXH được hiểu khác nhau qua các thành phần như nhận thức và ứng xử của con người (E.L.Thorndike), hành vi hoặc nhận thức xã hội (M O'Sullivan), năng lực xã hội (M.Ford và M.Tisak), trí tuệ về người khác (H.Gardner), trí thông minh thực tế (R Sternberg) và trí tuệ cảm xúc (P.Salovay- J.D.Mayer) Ngoài ra, TTXH còn được coi là trí tuệ thể hiện trên bình diện xã hội (H.Eysenck).

Năm 1920, E.L Thorndike đã giới thiệu khái niệm "trí tuệ xã hội" trong bài viết "Trí tuệ và việc sử dụng nó" trên Tạp chí Harper, phân chia trí tuệ con người thành ba bộ phận.

- Trí tuệ trừu tượng (Abstract Intelligence): Năng lực để hiểu và quản lý các ý tưởng

- Trí tuệ cơ học (Mechanical Intelligence): Năng lực hiểu và quản lý đồ vật cụ thể

Trí tuệ xã hội là năng lực quan trọng giúp hiểu và quản lý con người hiệu quả Nó liên quan đến khả năng suy nghĩ và hành động trong các tình huống thực tế, đồng thời tương tác với những vấn đề và con người xung quanh.

E.L.Thorndike là người nhấn mạnh đến việc không nên đồng nhất các loại trí tuệ, cần thiết phải mở rộng khái niệm IQ Bởi: “không có người nào giỏi tất cả mọi lĩnh vực Trí tuệ thay đổi tùy theo tình huống trong cuộc sống” Trong cuộc sống vẫn không hiếm gặp những trường hợp: “Một người kém thông minh ở hầu hết các vấn đề, có khi đang bị giam lỏng trong bệnh viện thần kinh, đang chơi trò chơi hạng nhất của cờ vua Một người đàn ông nổi tiếng cả nước với vai trò nhà biên tập, diễn giả và giám đốc điều hành nhưng lại không thể vượt qua kỳ thi toán khi là sinh viên năm thứ nhất” Hướng tiếp cận phát triển đa trí tuệ này của Thorndike đã tạo nên một cuộc tranh cãi với Spearman suốt 25 năm (1920- 1945) (Spearman đề xuất lý thuyết đơn trí tuệ).

Theo E.L Thorndike, trí tuệ xã hội (TTXH) là khả năng của cá nhân để hiểu và tương tác với người khác, tham gia và thích ứng trong các tình huống xã hội Ông chỉ ra rằng các biểu hiện của trí tuệ xã hội thường xảy ra trong môi trường tự nhiên như trường học, sân chơi, doanh trại, nhà máy và cửa hàng, mà không cần đến điều kiện phòng thí nghiệm Thorndike nhấn mạnh rằng sự tương tác hiệu quả giữa các cá nhân là yếu tố quyết định cho thành công trong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là trong lãnh đạo, khi ông nói rằng "người thợ máy giỏi nhất vẫn có thể thất bại nếu viên quản đốc thiếu trí thông minh xã hội."

E.L Thorndike định nghĩa TTXH là năng lực hiểu và quản lý con người, cũng như khả năng cư xử khôn ngoan trong các mối quan hệ giữa người với người Nhiều nhà tâm lý học sau này đã đồng thuận và kế thừa quan điểm này trong nghiên cứu về TTXH Hướng nghiên cứu khác coi TTXH là hành vi hoặc nhận thức xã hội, với các đại diện tiêu biểu như David Welchsler, J.F Kihlstrom, N Cantor, J.F Guilford và M O'Sullivan.

D.Welchsler (các năm 1939, 1958), nhà tâm lý học nổi tiếng thời bấy giờ, người đã tạo ra một trong những thước đo IQ được sử dụng phổ biến nhất, lại kiên quyết bác bỏ sự tồn tại của trí tuệ xã hội Theo ông, TTXH là trí tuệ chung được ứng dụng trong các tình huống xã hội Ông cho rằng test WAIS (bộ trắc nghiệm nổi tiếng dùng để đo IQ) có thể sử dụng để đo TTXH, cụ thể là đánh giá năng lực của cá nhân khi tiếp nhận tình huống xã hội [80] Nếu hiểu như vậy, thì nhận thức xã hội là thành phần duy nhất của trí tuệ xã hội Nhưng quan điểm này chỉ tập trung vào những gì chúng ta biết về thế giới giữa các cá nhân con người mà bỏ qua những gì chúng ta thật sự thực hiện khi giao tiếp với người khác Kết quả, những phương pháp đánh giá trí tuệ xã hội chỉ tập trung kiểm tra vào câu hỏi “chúng ta làm gì trong các tình huống xã hội” mà bỏ qua câu hỏi “chúng ta làm như thế nào trong những tình huống đó” Một người dù có nhận thức xã hội rất tốt những lại thiếu những yếu tố cơ bản của trí tuệ xã hội, vẫn có thể thất bại khi giao tiếp với người khác

J.F.Kihlstrom (Đại học Pennsylvania) và N.Cantor (Đại học Toronto- Canada) đã có nhiều công trình nghiên cứu khá công phu và sâu về trí tuệ xã hội Năm 1987, hai ông xuất bản cuốn sách “Nhân cách và trí tuệ xã hội” Năm 1989, hai ông nghiên cứu vấn đề “trí tuệ xã hội và đánh giá nhận thức của nhân cách” Năm 2000, hai tác giả viết “Trí tuệ xã hội” được in trong cuốn “Sổ tay trí thông minh” của Đại học Cambridge (Anh) Đây là công trình nghiên cứu rất công phu về các vấn đề của trí tuệ xã hội Kihlstrom và Cantor cho rằng, TTXH là vốn kiến thức của cá nhân về thế giới xã hội.Trí tuệ xã hội được sinh ra để giải quyết các vấn đề của xã hội, cụ thể là điều tiết các nhiệm vụ của cuộc sống, các mối quan tâm của xã hội hiện tại [63].

Năm 1965, trong tác phẩm “Phép đo lường trí tuệ xã hội”, M O'Sullivan, J.P Guilford và R.deMille đã chỉ ra rằng nhận định về hành vi là năng lực đánh giá con người, trong đó cảm xúc, động cơ, suy nghĩ, ý định, thái độ và các khuynh hướng tâm lý khác ảnh hưởng đến hành vi xã hội của cá nhân J.P Guilford và cộng sự đã phân chia trí tuệ xã hội thành hai năng lực độc lập: (1) Hiểu được hành vi của người khác và (2) Ứng phó với những hành vi của người khác Hai năng lực này hoạt động độc lập trong lĩnh vực hành vi và phi hành vi, mở ra hướng nghiên cứu trí tuệ xã hội như một năng lực xã hội đại diện.

M.S Tisak (1983) Theo Ford và Tisak (1983), TTXH là năng lực giải quyết các tình huống xã hội cụ thể [32]; tr.197] Qua công trình nghiên cứu của mình, hai tác giả đã kết luận: “Các biện pháp đánh giá về TTXH đã được thích nghi trong ứng xử xã hội nên được sử dụng như là yếu tố tiên đoán về sự thể hiện hành vi ứng xử xã hội được quan sát trực tiếp hơn là các biện pháp của trí tuệ hàn lâm”[32]

H.A Marlowe (1986) cho rằng trí tuệ xã hội (TTXH) là khả năng hiểu cảm xúc, suy nghĩ và hành vi của con người trong các tình huống tương tác, từ đó hành động đúng đắn Theo H Gardner, trí tuệ về người khác là một phần trong lý thuyết Đa trí tuệ, bao gồm khả năng nhận diện và phản ứng phù hợp với tâm trạng và động cơ của người khác, rất cần thiết cho các nghề như bác sĩ, giáo viên hay nhân viên bán hàng Thùy trán đóng vai trò quan trọng trong trí tuệ này, vì tổn thương ở khu vực này có thể làm giảm khả năng thấu hiểu và thay đổi nhân cách E.L Thorndike đã xác định đây là kiểu TTXH R Sternberg phân loại trí tuệ thành ba loại: phân tích, sáng tạo và thực tiễn, trong đó trí tuệ thực tiễn là khả năng áp dụng kiến thức và kỹ năng vào cuộc sống hàng ngày Nó dựa vào kiến thức ngầm, không chính thức, cho phép cá nhân hiểu và hành động phù hợp trong các tình huống cụ thể mà không cần qua đào tạo chính thức.

Manfred Amelang và Dieter Bartussek định nghĩa trí tuệ thực tiễn là khả năng vượt qua các thách thức trong cuộc sống hàng ngày Để thành công trong cộng đồng, con người cần phải hiểu và tuân thủ các quy luật xã hội, nhận thức được sự công nhận và đánh giá từ xã hội, cũng như có khả năng chẩn đoán hành động của người khác Điều này dẫn đến việc tổ chức, lập kế hoạch và quyết định hành động một cách hiệu quả Yêu cầu này nhấn mạnh tầm quan trọng của trí tuệ xã hội, được định nghĩa là "năng lực hoàn thành các nhiệm vụ trong bối cảnh tương tác với người khác", với trí tuệ cảm xúc là thành tố cốt lõi.

- Tự nhận thức về bản thân: hiểu về mình, đánh giá về mình

- Năng lực xã hội: Gồm ba tiểu thành tố: nhận thức, xúc cảm, vận động

Trí tuệ cảm xúc bao gồm bốn tiểu thành tố quan trọng: nhận diện cảm xúc, biểu đạt cảm xúc, quản lý cảm xúc một cách hiệu quả, và sử dụng thông tin cảm xúc để thúc đẩy, lập kế hoạch và thực hiện hành động thành công (Huỳnh Văn Sơn, 2011)

Paul Ekman đã chứng minh vai trò quan trọng của biểu lộ cảm xúc trên khuôn mặt và giao tiếp phi ngôn ngữ Các nhà tâm lý học lâm sàng chú ý đến những rối loạn liên quan đến việc khó khăn trong việc nhận diện và thể hiện cảm xúc.

Năm 1990, Salovey và Mayer đã giới thiệu khái niệm "trí tuệ cảm xúc", mô tả nó như một dạng trí tuệ xã hội liên quan đến khả năng điều khiển cảm xúc của bản thân Nghiên cứu về trí tuệ cảm xúc tập trung vào khía cạnh xã hội, thể hiện cách mà trí tuệ này ảnh hưởng đến các mối quan hệ và tương tác xã hội.

Nghiên cứu ở trong nước

Tại Việt Nam, nghiên cứu về TTXH còn khá mới mẻ, với số lượng công trình lý luận và thực tiễn ứng dụng còn hạn chế Một số nghiên cứu tiên phong đã được thực hiện, đóng góp vào sự phát triển của lĩnh vực này.

Năm 2005, tác giả Trần Kiều và cộng sự đã nghiên cứu đề tài cấp Nhà nước

Nghiên cứu về phát triển trí tuệ của học sinh, sinh viên và lao động trẻ trong bối cảnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa (mã số KX -05-06) nhấn mạnh rằng trí thông minh IQ chỉ chiếm khoảng 20% sự thành công của con người, trong khi trí tuệ xã hội đóng vai trò quyết định hơn Định nghĩa trí tuệ cần mở rộng để bao gồm trí thông minh, trí sáng tạo và trí tuệ xã hội, với trí tuệ xã hội được hiểu là khả năng hoàn thành nhiệm vụ trong bối cảnh tương tác với người khác, phát triển trong các điều kiện lịch sử, văn hóa và xã hội nhất định Mặc dù không nghiên cứu trực tiếp về trí tuệ xã hội, nhưng nghiên cứu cấp Nhà nước đã tạo nền tảng cho các công trình nghiên cứu tiếp theo.

Năm 2011, Nguyễn Công Khanh cùng nhóm nghiên cứu đã thực hiện đề tài "Nghiên cứu chỉ số trí tuệ xã hội (SQ) của sinh viên trường ĐHSP", xây dựng trắc nghiệm đo lường chỉ số SQ với các tiêu chuẩn thiết kế và đo lường đảm bảo Họ đã tiến hành khảo sát 1389 sinh viên từ hai trường ĐHSP Hà Nội và ĐHSP Thái Nguyên Kết quả cho thấy khoảng 20-25% sinh viên có điểm SQ thấp (< 90 điểm), trong đó sinh viên ĐHSP thể hiện tốt hơn ở các năng lực nhận thức xã hội và giải quyết vấn đề trong tương tác xã hội, nhưng yếu hơn ở khả năng thiết lập và duy trì các quan hệ xã hội cũng như năng lực thích ứng hòa nhập Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như ngành học, giới tính và dân tộc có ảnh hưởng đến chỉ số trí tuệ xã hội.

Đề tài SV ĐHSP mang giá trị quan trọng trong việc đo lường chỉ số trí tuệ xã hội, đánh dấu công trình nghiên cứu đầu tiên về TTXH tại Việt Nam Tác giả đã áp dụng phương pháp đo lường TTXH, nhưng cần chuẩn hóa bộ trắc nghiệm trên mẫu quốc gia để đảm bảo tính tin cậy trong việc đánh giá chỉ số TTXH của sinh viên các trường ĐHSP.

- Năm 2011, tác giả Huỳnh Văn Sơn và các cộng sự đã nghiên cứu đề tài:

“Nhận thức về trí tuệ xã hội và các biện pháp phát triển trí tuệ xã hội cho trẻ từ 6 -

Nghiên cứu về nhận thức của 400 phụ huynh tại TP Hồ Chí Minh cho thấy họ chưa hiểu sâu về sự phát triển trí tuệ của trẻ từ 6-11 tuổi Mặc dù nhiều phụ huynh tin rằng có thể phát triển kỹ năng xã hội (TTXH) thông qua luyện tập, nhưng họ không rõ cách thức và mức độ ảnh hưởng của việc này Hơn một nửa số phụ huynh khảo sát cho rằng TTXH là yếu tố tự nhiên, sẽ tự phát triển mà không cần can thiệp Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố như thể chất, điều kiện sinh học, môi trường xung quanh, giáo dục từ người lớn, giao tiếp với bạn bè cùng trang lứa và hoạt động học tập đều ảnh hưởng đến sự phát triển TTXH của trẻ Từ kết quả này, nhóm tác giả đã đề xuất các biện pháp nhằm nâng cao TTXH cho trẻ từ 6-11 tuổi tại TP Hồ Chí Minh, góp phần tìm ra giải pháp phát triển toàn diện cho trẻ trong độ tuổi này Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào học sinh tiểu học tại TP HCM.

Năm 2017, Kiều Thị Thanh Trà đã thực hiện nghiên cứu về “Đặc điểm trí tuệ xã hội của sinh viên đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh” với 866 sinh viên tham gia, dựa trên mô hình S.P.A.C.E của K Albrecht Kết quả cho thấy, mức độ trí tuệ xã hội của sinh viên ở mức trung bình, trong đó “tạo sự tín nhiệm” là đặc điểm nổi bật nhất, trong khi “nhận thức xã hội” đạt mức thấp nhất Nghiên cứu chỉ ra rằng các yếu tố ảnh hưởng đến trí tuệ xã hội bao gồm yếu tố sinh học, tính tích cực cá nhân, gia đình, bạn bè, trường sư phạm và các yếu tố xã hội khác Công trình này đã đóng góp quan trọng vào việc nghiên cứu trí tuệ xã hội tại Việt Nam, đặc biệt trong nhóm đối tượng sinh viên đại học sư phạm TP HCM.

Nghiên cứu về trí tuệ xã hội (TTXH) tại Việt Nam còn hạn chế, với nhiều vấn đề lý luận và thực trạng chưa được khai thác Hiện chỉ có một công trình của Nguyễn Công Khanh tập trung vào lý luận TTXH và hai nghiên cứu thực tiễn của Huỳnh Văn Sơn và Kiều Thị Thanh Trà, nhưng chưa có nghiên cứu nào về sinh viên sư phạm mầm non, những người sẽ đào tạo thế hệ tương lai Việc tìm hiểu trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non sẽ làm phong phú thêm các hướng nghiên cứu và lý luận về TTXH trong tâm lý học.

Một số vấn đề lý luận tâm lý học về trí tuệ xã hội

Trí tuệ

Trí tuệ là một trong những lĩnh vực được quan tâm nghiên cứu từ rất sớm với nhiều góc nhìn đa dạng và phong phú

Theo từ điển Hán Việt của Nguyễn Lân, "trí" có nghĩa là hiểu biết và "tuệ" là thông minh, do đó, trí tuệ có thể được định nghĩa là sự kết hợp giữa thông minh và hiểu biết.

Trí tuệ được định nghĩa trong từ điển Tâm lý học là mức độ phát triển của hoạt động tư duy, cho phép cá nhân tiếp thu tri thức mới và áp dụng chúng hiệu quả trong cuộc sống Đây là khả năng thực hiện quá trình nhận thức và giải quyết vấn đề một cách hiệu quả.

Trong tâm lý học, trí tuệ được hiểu theo nhiều cách khác nhau, khiến việc định nghĩa một khái niệm chung trở nên khó khăn Tuy nhiên, có thể phân loại các quan niệm về trí tuệ thành ba nhóm cơ bản.

(1) Nhóm quan điểm thứ nhất cho rằng trí tuệ là khả năng hoạt động lao động và học tập của cá nhân

- B.G.Ananhiev xem trí tuệ là đặc điểm tâm lý phức tạp của con người mà kết quả của công việc học tập và lao động phụ thuộc vào nó

Ackerman xác định mối tương quan giữa kết quả học tập và năng lực chung cũng như các kỹ năng chuyên biệt Cụ thể, năng lực và thành tích học tập có mối liên hệ chặt chẽ, đặc biệt là trong giai đoạn đầu của quá trình học tập Tuy nhiên, khi gặp các nhiệm vụ mâu thuẫn với kiến thức đã học, việc luyện tập đầy đủ sẽ giúp hình thành thói quen và tự động hóa, dẫn đến sự giảm sút mối tương quan giữa thành tích học tập và năng lực chung Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng mặc dù có mối liên quan giữa trí tuệ và học tập, nhưng sự liên kết này không hoàn toàn đồng nhất.

(2) Nhóm quan điểm thứ hai đồng nhất khái niệm trí tuệ với thành phần cốt lõi của nó là năng lực tư duy trừu tượng

Trí tuệ được định nghĩa bởi Phạm Hoàng Gia là khả năng chủ động, linh hoạt và sáng tạo trong tư duy, thể hiện qua năng lực sử dụng các công cụ văn hóa vật chất và tinh thần của nhân loại để giải quyết hiệu quả các tình huống mới trong học tập và cuộc sống.

+ R.Sternberg lại cho rằng đặc tính cơ bản hàng đầu của trí tuệ là năng lực tâm thần ở mức độ cao chẳng hạn như suy luận trừu tượng [63]

Các tác giả trong nhóm nghiên cứu này đã xác định rằng trí tuệ không chỉ đơn thuần là tư duy trừu tượng hay khả năng sử dụng hiệu quả các khái niệm và hình ảnh tượng trưng Quan niệm này đã làm hạn chế định nghĩa về trí tuệ và thu hẹp phạm vi thể hiện của nó.

Quan niệm về trí tuệ ở hai nhóm này thực chất đồng nhất trí tuệ với trí thông minh, trong đó trí thông minh được hiểu là khả năng nhận thức và giải quyết các vấn đề phức tạp, chủ yếu trong quá trình học tập.

(3) Nhóm quan điểm thứ ba cho rằng trí tuệ là khả năng thích ứng của cá nhân

- Theo J.Piaget, bất kỳ trí tuệ nào cũng đều là một sự thích ứng [13]

Wechsler định nghĩa trí tuệ là khả năng tổng thể để hoạt động một cách có suy nghĩ, tư duy hợp lý và kiểm soát môi trường xung quanh.

+ F.Raynal và A.Rieunier cho rằng trí tuệ là khả năng xử lý thông tin để giải quyết vấn đề và nhanh chóng thích nghi với tình huống mới [13]

V.Stern định nghĩa trí tuệ là năng lực chung của cá nhân, giúp họ tư duy có ý thức để đáp ứng các yêu cầu mới khi giải quyết vấn đề, thể hiện khả năng thích ứng với nhiệm vụ và điều kiện sống mới Tương tự, D.Wechsler cũng cho rằng trí tuệ là năng lực chung của cá nhân, thể hiện qua các hoạt động có mục đích, khả năng phán đoán và hiểu biết đúng đắn, nhằm làm cho môi trường phù hợp với năng lực của bản thân.

Theo H Gardner, trí tuệ được định nghĩa là khả năng xử lý thông tin, giải quyết vấn đề và tạo ra sản phẩm có giá trị trong một hoặc nhiều môi trường văn hóa.

Theo N Sillamy, trí tuệ được định nghĩa là khả năng nhận thức các mối quan hệ giữa các yếu tố trong một tình huống và khả năng điều chỉnh hành vi để mang lại lợi ích cho bản thân.

Nhóm quan niệm này đã hình thành nền tảng cho khái niệm hiện đại về trí tuệ, được công nhận trong những năm gần đây, cho rằng trí tuệ cần được nghiên cứu như một hiện tượng tâm lý mang tính xã hội Các nhà nghiên cứu như Hofstactter, R Sternberg và H Gadner nhấn mạnh rằng trí tuệ phải gắn liền với thực tiễn Theo quan niệm mới, trí tuệ không chỉ thể hiện trong việc giải quyết các nhiệm vụ hàn lâm mà còn trong việc xử lý các tình huống trong cuộc sống Trí tuệ là kết quả của sự tương tác giữa con người và môi trường, đồng thời là tiền đề cho sự tương tác này Neisse cho rằng nếu áp dụng trí tuệ hàn lâm vào thực tế, sẽ xuất hiện một dạng trí tuệ thực tiễn trong các tình huống đời thường.

Trí tuệ được hiểu là sự kết hợp của năng lực nhận thức, khả năng sáng tạo và khả năng quản lý cảm xúc của con người trong xã hội Khái niệm này được hình thành và phát triển qua các hoạt động, chịu ảnh hưởng bởi các điều kiện văn hóa và lịch sử, từ đó đảm bảo sự tương tác phù hợp với thực tế cuộc sống.

1.2.1.2 Cấu trúc trí tuệ a) Cấu trúc trí tuệ theo mô hình hai thành phần

- Mô hình cấu trúc trí tuệ theo C.Spearman [13]

Theo C.S Spearman, trí tuệ của mỗi cá nhân bao gồm hai thành phần chính: thứ nhất, các yếu tố chung có ở mọi người, chẳng hạn như tính linh hoạt và sự mềm dẻo thần kinh, mà ông gọi là nhân tố.

Theo C Spearman, mỗi cá nhân sở hữu một khả năng trí tuệ tổng quát (G) và các yếu tố riêng biệt (S) đặc thù cho từng hoạt động chuyên môn, như làm toán hay chơi nhạc Khả năng trí tuệ tổng quát định hướng cho các hoạt động của cá nhân, trong khi các yếu tố riêng biệt đảm bảo sự thành công trong các lĩnh vực cụ thể.

- Mô hình trí tuệ theo N.A.Menchinxcaia

N.A.Menchinxcaia và E.N Canbanova - Menle cho rằng, trí tuệ cá nhân gồm

Trí tuệ xã hội

1.2.2.1 Khái niệm trí tuệ xã hội

E.Thorndike (1920) đã định nghĩa: “Trí tuệ xã hội là năng lực để hiểu và kiểm soát đàn ông, đàn bà, con trai, con gái, để hành động một cách khôn ngoan trong các mối quan hệ xã hội của con người” [75]; tr 228]

Năm 1927, F.A Moss và T Hunt định nghĩa trí tuệ xã hội là năng lực chung sống hòa thuận với người khác [49]; tr.108]

P.E Vernon (1933) đưa ra định nghĩa về trí tuệ xã hội theo cách hiểu rộng nhất về khái niệm này: Trí tuệ xã hội là năng lực của cá nhân chung sống hòa thuận với mọi người nói chung, với các kỹ năng xã hội, với các hiểu biết xã hội, có khả năng tương tác với các thành viên khác trong một nhóm [77]; tr.44] Các năng lực mà ông nói đến là năng lực hòa nhập với cộng đồng, với con người trong xã hội, và năng lực giải quyết các vấn đề xã hội cũng như hiểu sâu sắc cảm xúc và suy nghĩ của người khác

Theo R.L.Thorndike và S Stein (1937), TTXH là năng lực hiểu và quản lý con người [76]; tr 275]

Năm 1939, D Wechsler, một nhà tâm lý học nổi tiếng, đã bác bỏ khái niệm trí tuệ xã hội, cho rằng nó chỉ là trí tuệ chung được áp dụng trong các tình huống xã hội Ông nhấn mạnh rằng trí tuệ xã hội là khả năng thích ứng trong việc giải quyết các mối quan hệ giữa con người.

Karl Albrecht (2006) định nghĩa TTXH là khả năng hòa hợp và thành công trong hợp tác với người khác TTXH bao gồm sự nhạy cảm đối với nhu cầu và lợi ích của người xung quanh.

Ronald E Riggio (2014) nhấn mạnh rằng trí tuệ xã hội (TTXH) là yếu tố quyết định cho thành công trong sự nghiệp và cuộc sống Ông cho rằng trí tuệ (IQ) là bẩm sinh và chịu ảnh hưởng lớn từ di truyền, trong khi TTXH cần được học hỏi và phát triển qua kinh nghiệm sống TTXH hình thành từ những trải nghiệm và bài học rút ra từ thành công cũng như thất bại trong môi trường xã hội Ông định nghĩa TTXH là khả năng ứng biến tài tình, cảm nhận nhanh nhạy và sự thông minh trong các tình huống thực tế.

Nguyễn Công Khanh (2011) định nghĩa TTXH là sự kết hợp của nhiều năng lực, bao gồm khả năng hiểu, làm chủ và quản lý hiệu quả các hành vi tương tác xã hội Điều này thể hiện qua các năng lực nhận thức xã hội, khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, cũng như khả năng thích ứng và giải quyết vấn đề trong các tình huống tương tác xã hội.

Tony Buzan (2013) định nghĩa trí tuệ xã hội là khả năng giao tiếp hòa hợp với mọi người xung quanh, cho thấy rằng con người, với bản chất quần thể, cần khả năng tương giao để sống hòa thuận và hạnh phúc trong cộng đồng.

Ngoài ra, TTXH còn được định nghĩa là:

Năng lực giải quyết mối quan hệ giữa con người, hiểu rõ cảm xúc và tâm tư của người khác, cũng như khả năng hòa nhập vào cộng đồng là rất quan trọng (F.A Moss 1931).

Năng lực điều chỉnh các tình huống trong mối quan hệ giữa người với người là rất quan trọng, đặc biệt trong việc tiếp nhận và quản lý các hoạt động liên quan đến cảm xúc Điều này được nhấn mạnh bởi Hiệp hội Quản trị Nhân sự cộng đồng tại Mỹ, cho thấy vai trò của khả năng này trong môi trường làm việc và giao tiếp xã hội.

- Năng lực hiểu tâm tư sâu xa cũng như tâm trạng của người khác (R.Hoepfner và M O'Sullivan) [38]; tr.339 - tr.344]

- Năng lực hiểu suy nghĩ, cảm xúc và những dự định của người khác (M.O'Sullivan và J.Guilford [55]; tr.256]

- Năng lực giải quyết các tình huống xã hội cụ thể (M.E Ford & M.S Tisak) [32]; tr.197]

Năng lực hiểu cảm xúc, suy nghĩ và hành động của con người trong các tình huống liên nhân là yếu tố quan trọng giúp giải quyết thỏa đáng những tình huống này, theo H.A Marlowe.

Trí tuệ xã hội, mặc dù chưa có định nghĩa thống nhất, nhưng đã được các nhà tâm lý học nghiên cứu sâu sắc Hầu hết các định nghĩa đều nhấn mạnh đến yếu tố nhận thức xã hội và hành vi xã hội, trong đó nhiều quan điểm cho rằng trí tuệ xã hội là sự kết hợp của năng lực nhận thức và năng lực hành vi Nhận thức xã hội bao gồm hiểu biết về thông tin xã hội và đặc điểm tâm lý của bản thân và người khác, trong khi hành vi xã hội liên quan đến khả năng ứng phó hiệu quả trong các tình huống xã hội và quản lý cảm xúc Do đó, trí tuệ xã hội không chỉ đơn thuần là nhận thức xã hội hay năng lực hành vi mà là một năng lực toàn diện của cá nhân, bao gồm cả thái độ xã hội Đây chính là quan điểm mà nghiên cứu sinh áp dụng trong việc định nghĩa trí tuệ xã hội trong luận án của mình.

Trí tuệ xã hội là năng lực phức hợp, bao gồm khả năng nhận thức xã hội, thiết lập và duy trì mối quan hệ xã hội, hòa nhập, thích ứng với môi trường xã hội, và giải quyết hiệu quả các tình huống tương tác với người khác.

Từ khái niệm trên, có thể thấy:

Trí tuệ xã hội là một năng lực phức hợp, bao gồm sự kết hợp linh hoạt và có tổ chức của kiến thức, thái độ và kỹ năng.

Trí tuệ xã hội bao gồm năm năng lực chính: nhận thức xã hội, khả năng thiết lập và duy trì các mối quan hệ xã hội, hòa nhập, thích ứng, và giải quyết hiệu quả các tình huống trong tương tác xã hội.

(3) Các năng lực trong trí tuệ xã hội có mối quan hệ chặt chẽ với nhau

1.2.2.2 Mô hình cấu trúc trí tuệ xã hội a Mô hình cấu trúc TTXH của một số tác giả tiêu biểu

- Stanley I Greenspan (1979) đề xuất một mô hình thứ bậc của trí thông minh xã hội Trong mô hình này, trí tuệ xã hội bao gồm ba thành phần:

+ Sự nhạy cảm xã hội: phản ánh vai trò tương tác và suy luận xã hội

+ Hiểu biết xã hội: bao gồm nhận thức về xã hội, hiểu biết về tâm lý và đánh giá về đạo đức

+ Giao tiếp xã hội: gồm giao tiếp tham chiếu và giải quyết các vấn đề xã hội [34]

Theo M Amelang và D Bartussek (1990), trí tuệ xã hội bao gồm ba thành tố chính: tự nhận thức, năng lực xã hội và trí tuệ cảm xúc, trong đó trí tuệ cảm xúc đóng vai trò trung tâm.

Một số đặc điểm tâm lý của sinh viên sư phạm mầm non

Trí tuệ xã hội của sinh viên sư phạm mầm non

TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU THỰC TIỄN TRÍ TUỆ XÃ HỘI CỦA SINH VIÊN SƢ PHẠM MẦM NON

Ngày đăng: 20/05/2021, 16:52

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Bộ Giáo dục và Đào tạo, Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non, Quyết định số 02/2008/QĐ-BGDĐT ngày 22-1- 2008. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non
[3] Vũ Dũng (chủ biên) (2008), Từ điển Tâm lý học, NXB Từ điển Bách khoa, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Tâm lý học
Tác giả: Vũ Dũng (chủ biên)
Nhà XB: NXB Từ điển Bách khoa
Năm: 2008
[4] Ngô Công Hoàn (chủ biên)(2011), Tâm lý học khác biệt, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học khác biệt
Tác giả: Ngô Công Hoàn (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2011
[5] Phạm Hoàng Gia (1979), Bản chất của trí thông minh và cơ sở lý luận của đường lối lĩnh hội khái niệm, Luận án Tiến sỹ, Viện Khoa học giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của trí thông minh và cơ sở lý luận của đường lối lĩnh hội khái niệm
Tác giả: Phạm Hoàng Gia
Năm: 1979
[6] Hồ Lam Hồng (2012), Giáo trình Nghề giáo viên mầm non, NXB Đại học Huế [7] Howard Gardner(1998), Cơ cấu trí khôn - Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn, NxbGiáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Nghề giáo viên mầm non", NXB Đại học Huế [7] Howard Gardner(1998), "Cơ cấu trí khôn - Lý thuyết về nhiều dạng trí khôn
Tác giả: Hồ Lam Hồng (2012), Giáo trình Nghề giáo viên mầm non, NXB Đại học Huế [7] Howard Gardner
Nhà XB: NXB Đại học Huế [7] Howard Gardner(1998)
Năm: 1998
[8] Trần Kiều (chủ nhiệm đề tài), “Nghiên cứu phát triển trí tuệ (chỉ số IQ, EQ, CQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa”, Báo cáo kết quả đề tài cấp Nhà nước KX 05- 06 (2011- 2005) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu phát triển trí tuệ (chỉ số IQ, EQ, CQ) của học sinh, sinh viên và lao động trẻ đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa
[9] Nguyễn Công Khanh (2011),“Trí tuệ xã hội và các mô hình cấu trúc trí tuệ xã hội”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số71, trang 14 - 17 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trí tuệ xã hội và các mô hình cấu trúc trí tuệ xã hội
Tác giả: Nguyễn Công Khanh
Năm: 2011
[10] Nguyễn Công Khanh (chủ nhiệm đề tài) (2011). “Nghiên cứu chỉ số trí tuệ xã hội (SQ) của sinh viên trường ĐHSPHN”. Báo cáo kết quả đề tài cấp Bộ, mã số B2009- 17-176, Trường ĐHSPHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu chỉ số trí tuệ xã hội (SQ) của sinh viên trường ĐHSPHN”
Tác giả: Nguyễn Công Khanh (chủ nhiệm đề tài)
Năm: 2011
[12] Lê Minh Nguyệt (Chủ biên) (2015), Giáo trình Tâm lý học, NXB ĐHSP, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học
Tác giả: Lê Minh Nguyệt (Chủ biên)
Nhà XB: NXB ĐHSP
Năm: 2015
[13] Phan Trọng Ngọ (chủ biên) (2001), Tâm lí học trí tuệ, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lí học trí tuệ
Tác giả: Phan Trọng Ngọ (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
[14] Huỳnh Văn Sơn (chủ nhiệm đề tài ) (2011), Nhận thức về trí tuệ xã hội và các biện pháp phát triển trí tuệ xã hội cho trẻ từ 6 - 11 tuổi của phụ huynh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài KH &amp; CN cấp Trường, mã số CS.2011.19.01.DA, ĐHSP TP Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nhận thức về trí tuệ xã hội và các biện pháp phát triển trí tuệ xã hội cho trẻ từ 6 - 11 tuổi của phụ huynh trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
Tác giả: Huỳnh Văn Sơn (chủ nhiệm đề tài )
Năm: 2011
[15] Nguyễn Đức Sơn, Lê Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Huệ, Đỗ Thị Hạnh Phúc, Trần Quốc Thành, Trần Thị Lệ Thu (2015), Giáo trình Tâm lý học giáo dục, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Tâm lý học giáo dục
Tác giả: Nguyễn Đức Sơn, Lê Minh Nguyệt, Nguyễn Thị Huệ, Đỗ Thị Hạnh Phúc, Trần Quốc Thành, Trần Thị Lệ Thu
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2015
[16] Thomas Armstrong (2007), 7 loại hình trí thông minh, NXB Lao Động Sách, tạp chí
Tiêu đề: 7 loại hình trí thông minh
Tác giả: Thomas Armstrong
Nhà XB: NXB Lao Động
Năm: 2007
[17] Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên) (2015), Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non, NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học trẻ em lứa tuổi mầm non
Tác giả: Nguyễn Ánh Tuyết (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm Hà Nội
Năm: 2015
[18] Nguyễn Thạc (chủ biên) (2008), Tâm lý học Sư phạm đại học, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tâm lý học Sư phạm đại học
Tác giả: Nguyễn Thạc (chủ biên)
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2008
[19] Tony Buzan (2014), Sức mạnh của trí tuệ xã hội, NXB Tổng hợp TP HCM [20] Kiều Thị Thanh Trà (2017), Đặc điểm trí tuệ xã hội của sinh viên đại học sưphạm TP Hồ Chí Minh, Luận án tiến sỹ tâm lý học, Học viện khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức mạnh của trí tuệ xã hội", NXB Tổng hợp TP HCM [20] Kiều Thị Thanh Trà (2017), "Đặc điểm trí tuệ xã hội của sinh viên đại học sư "phạm TP Hồ Chí Minh
Tác giả: Tony Buzan (2014), Sức mạnh của trí tuệ xã hội, NXB Tổng hợp TP HCM [20] Kiều Thị Thanh Trà
Nhà XB: NXB Tổng hợp TP HCM [20] Kiều Thị Thanh Trà (2017)
Năm: 2017
[21] Nguyễn Quang Uẩn (2010), Tuyển tập nghiên cứu về tâm lý - giáo dục, NXB Đại học Sư Phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tuyển tập nghiên cứu về tâm lý - giáo dục
Tác giả: Nguyễn Quang Uẩn
Nhà XB: NXB Đại học Sư Phạm
Năm: 2010
[22] Nguyễn Khắc Viện (chủ biên) (1991), Từ điển tâm lý, NXB ngoại văn, Trung tâm nghiên cứu tâm lý trẻ em Hà Nội.B. Tiếng Anh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tâm lý
Tác giả: Nguyễn Khắc Viện (chủ biên)
Nhà XB: NXB ngoại văn
Năm: 1991
[23] Ahmad Abdulhameed Aufan Al-Makahleh, AyedHanna Ziadat (2012), Social intelligence and personal characteristics of talented secondary school students in King Abdullah II-schools for excellence, Jordan, Educational Research Vol.3(10) pp.785-798 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social intelligence and personal characteristics of talented secondary school students in King Abdullah II-schools for excellence
Tác giả: Ahmad Abdulhameed Aufan Al-Makahleh, AyedHanna Ziadat
Năm: 2012
[24] Albrecht, K.(2006), Social intelligence: the new science of success, Jossey- Bass, AWileyImprint Sách, tạp chí
Tiêu đề: Social intelligence: the new science of success
Tác giả: Albrecht, K
Năm: 2006

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w