Theo giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2 [11,Tr.142] một bài văn hay là một bài văn không những thể hiện được rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả: con người
Trang 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC RÈN KĨ NĂNG VIẾT VĂN MIÊU TẢ ĐỒ VẬT CHO HỌC
SINH LỚP 4
Cơ sở lí luận của việc rèn kĩ năng viết đoạn văn miêu tả cho học sinh lớp 4
Văn miêu tả
Thế nào là văn miêu tả?
Từ trước đến nay có rất nhiều quan điểm của các nhà nghiên về “miêu tả”
“Miêu tả” theo Từ điển Tiếng Việt có nghĩa là: “Dùng
ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệ thuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được sự vật, sự việc hoặc là thế giới nội tâm của con người” [15]
Theo Hán Việt tự điển, “Miêu tả là lấy nét vẽ hoặc
câu văn để biểu hiện cái chân tướng của sự việc xảy ra”.
[3,Tr.7]
GS.TS Đỗ Hữu Châu đưa ra khái niệm về miêu tả như
sau: “Miêu tả là một loại văn trong đó người viết (người
Trang 2nói) nêu lên các đặc điểm vốn có cảu sự vật, nhân vật trong thực tế đã sàng lọc qua chủ quan của người viết (người nói)” [3,Tr.7]
Tuy cách diễn đạt của mỗi tác giả đều có những điểm khác biệt nhưng nhìn chung có thể hiểu văn miêu tả là một loại văn mà người viết dung ngôn từ để ghi lại những nét tiêu biểu, đặc trưng của hiện thực thông qua nhận thức, tình cảm của mình Từ đó, người đọc có thể hình dung lại tất cả những gì đã được “vẽ ra”, đồng thời cảm nhận được tâm trạng, tình cảm của người viết.
Trong văn miêu tả, người ta không đưa ra những lời nhận xét chung chung, những lời đánh giá trừu tượng về sự vật như: cái cặp sách này cũ, cái áo này mỏng…mà văn miêu tả vẽ ra sự vật, sự việc, hiện tượng, con người bằng ngôn ngữ một cách cụ thể, sinh động Văn miêu tả giúp
người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang được tận
mắt chứng kiến, tận tay sờ và cảm nhận Tuy nhiên khi quan
sát, miêu tả về một dòng sông, một đồ vật, một phong cảnh, một cây đa, một người thân…người viết không chỉ tái hiện hay sao chép bức ảnh một cách vụng về mà nó là sự kết tinh của những quan sát, những nhận xét tinh tế, những rung
Trang 3động sâu sắc mà người viết đã thu lượm được trong quá trình quan sát cuộc sống.
Ví dụ: Đoạn văn miêu tả những hàng me:
“Me vốn đã đẹp với thân cây đều đặn, không cao lỏng khỏng như dầu, không lùn tịt như sanh, đẹp với vỏ cây cằn cỗi gợi nhớ những cội tùng già bên chùa cổ, bên một sườn non với rêu xanh non mơn mởn bám trên vỏ sạm đen, đẹp như non bộ dày sương dạn gió, với tán không thưa, không
xơ rơ như tán sầu riêng, không dày mịt như măng cụt, vốn
nó đã đẹp ở ngoài thiên nhiên rồi, mà trồng trên vỉa hè đá bên cạnh những ngôi nhà xi măng cốt sắt, khô, nóng và buồn thì nó còn đẹp hơn biết bao!
Ôi! Những hàng me chợ Cũ, những hàng me phố gia Long, những hàng me phố Tản Đà giao nhành rợp bóng Những hàng me bầu bạn với người đi bộ về trưa, những hàng me tò mò dòm vào cửa sổ tư gia, gởi vào nơi đó những lá me nhỏ li ti trên tóc cô gái bé, những hàng me tàn xanh sậm quyến luyến những tiếng dương cầm của ai trong vài cửa sổ vọng ra "
Bình Nguyên Lộc
Trang 4(Trích “Những bước lang thang trên hè phố”)
Ở đây, tác giả đã miêu tả cây me và cả những hàng me thật tinh tế Me không chỉ hiện lên trước mắt người đọc một cách rõ nét với những chi tiết cụ thể về thân cây, hình dáng,
vỏ cây, me còn hiện lên thật sinh động và thân thiết giống như một người bạn cảu những người đi đường Chính nhờ
sự quan sát tinh tế cùng với khả năng liên tưởng tài tình, tác giả đã giúp người đọc cảm nhận được mình như đang đứng trước cây me, đi dưới những hàng me và thấy nó vô cùng thân quen, gần gũi.
Mục đích của việc dạy văn miêu tả ở tiểu học là giúp học sinh có thói quen quan sát, biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xung quanh; biết truyền những rung cảm của mình vào đối tượng miêu tả; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm, những câu văn sáng rõ về nội dung, chân thực về tình cảm.
Theo giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2 [11,Tr.142] một bài văn hay là một bài văn
không những thể hiện được rõ nét, chính xác, sinh động đối tượng miêu tả: con người, cảnh vật, đồ vật,…được trí tưởng tượng, cảm xúc, đánh giá với đối tượng được miêu tả Bởi
Trang 5trong thực tế, không ai tả mà để tả, mà thường tả để gửi gắm những suy nghĩ, cảm xúc, sự đánh giá, những tình cảm yêu ghét cụ thể của mình Như vậy, có thể xem văn miêu tả
là một bức tranh về sự vật bằng ngôn từ Các bài văn miêu
tả ở tiểu học chỉ yêu cầu tả những đối tượng mà học sinh yêu mến, thích thú Và để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi học sinh phải vận dụng kinh nghiệm sống của bản thân, những kiến thức tổng hợp của các môn học Kiến thức của các môn học này cộng với vốn sống thực tế sẽ giúp học sinh trình bày suy nghĩ của mình một cách mạch lạc và sống động Qua đó, bồi dưỡng cho các em tình yêu quê hương đất nước, vốn sống, vốn ngôn ngữ và khả năng giao tiếp.
Đặc điểm của văn miêu tả
Văn miêu tả là một loại hình văn bản nghệ thuật nói chung nhưng nó cũng có những đặc trưng riêng biệt cả về nội dung lẫn hình thức.
Về nội dung
Các chi tiết của bài văn miêu tả mang ấn tượng cảm xúc chủ quan của người viết Đồ vật, cây cối, con vật, cảnh, người tồn tại trong thế giới khách quan với đầy đủ các bộ
Trang 6phận, chi tiết và đặc điểm của nó.Trong bài văn miêu tả, không phải tất cả các chi tiết đều được đưa vào bài miêu tả như nhau Việc lựa chọn các chi tiết của đối tượng để đưa vào miêu tả phụ thuộc vào vốn sống, hiểu biết, cảm xúc chủ quan của người viết Chính vì thế mà để lựa chọn được những chi tiết miêu tả được kĩ, được hay, người viết phải gắn bó, phải hiểu sâu cũng như có những kỉ niệm, tình cảm gắn bó với đối tượng miêu tả.
Ví dụ: “ Cái anh chào mào, dáng ăn chơi bạt mạng thế mà lại tử tế Không nên chỉ trông bề ngoài mà đặt tính nết ai được Lúc nào cũng thấy chào mào đỏm dáng và có phần lố lăng đấy Hai má bôi phấn đỏ hắt, lại dính một túm lông đỏ sau đít (người hay chế giễu đã đặt tên là chào mào
đỏ đít) Mắt mỏ chào mào nhốn nháo, đỉnh đầu lại chênh vênh đội cái mũ nhung đen nháy, cũng vì chiếc mũ lạ kiểu nhọn hoắt ấy mà chào mào lại được cái tên chế giễu nữa là: “Công tử chào mào”.
Tô Hoài
(Trích Chèo bẻo đánh Quạ)
Trang 7Đoạn văn trên miêu tả chim chào mào qua cảm nhận riêng của tác giả do đó mà chim chào mào đã trở nên sinh động và dí dỏm Nhà văn đã lựa chọn các chi tiết, bộ phận của chim chào mào theo hiểu biết, cảm nhận của riêng mình Nếu không có sự quan sát kĩ lưỡng, không có những hiểu biết sâu sắc, không gắn bó với loài chim này thì tác giả không chọn lọc được những chi tiết đặc sắc đến vậy.
Các chi tiết trong bài văn miêu tả sống động và có tính tạo hình: đây là phẩm chất của bài văn miêu tả hay Một bài văn miêu tả được coi là sinh động, tạo hình khi các sự vật,
đồ vật, phong cảnh, con người,…miêu tả trong đó hiện lên qua từng câu, từng dòng như trong cuộc sống thực tưởng có thể cầm nắm được, có thể nhìn ngắm được hoặc “sờ mó” được.
Về hình thức diễn đạt
Ngôn ngữ miêu tả giàu cảm xúc và hình ảnh Chỉ có như vậy, ngôn ngữ miêu tả mới có khả năng diễn tả cảm xúc của người viết, vẽ được sinh động, tạo hình đối tượng miêu tả Quan sát nhiều văn bản miêu tả, người ta thấy ngôn ngữ miêu tả giàu các tính từ, động từ, thường sử dụng các phép nhân hóa, so sánh, ẩn dụ Sự phối hợp của các tính từ
Trang 8(màu sắc, phẩm chất,…) của các động từ với các biện pháp
tu từ, ngôn ngữ miêu tả luôn tỏa sáng lung linh trong lòng người đọc, gợi lên trong lòng họ những cảm xúc, tình cảm,
ấn tượng, hình ảnh về các sự vật được miêu tả.
Các kĩ năng làm văn miêu tả
Phân môn Tập làm văn bên cạnh việc sử dụng các kĩ năng đã được các phân môn khác hình thành và phát triển (như nghe, nói, đọc, viết Tiếng Việt, dùng từ, đặt câu…) còn hình thành và phát triển một hệ thống các kĩ năng riêng.
Hệ thống kĩ năng này phải gắn liền với quá trình sản sinh
văn bản Như chúng ta đã biết, theo giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2 [11] việc sản sinh
một văn bản thường có ba giai đoạn: giai đoạn tiền sản sinh ngôn bản, giai đoạn sản sinh ngôn bản, giai đoạn kiểm tra điều chỉnh Mỗi giai đoạn trên đòi hỏi một số kĩ năng tương ứng Có thể thấy các nhóm kĩ năng như sau:
- Nhóm kĩ năng chuẩn bị cho việc sản sinh văn bản (phục vụ cho quá trình định hướng và lập chương trình) gồm: kĩ năng phân tích đề bài, kĩ năng tìm ý và kĩ năng lựa chọn ý, kĩ năng xây dựng dàn ý.
Trang 9- Nhóm kĩ năng viết văn bản (dùng trong giai đoạn hiện thực hóa chương trình) gồm các kĩ năng dùng từ, đặt câu, viết đoạn văn, liên kết đoạn thành bài Trong bốn kĩ năng trên, hai kĩ năng sau chủ yếu là của phân môn Tập làm văn Hai kĩ năng trước, phân môn tập làm văn một mặt thừa hưởng kết quả học tập và rèn luyện của các phân môn khác, một mặt sẽ góp phần củng cố và nâng cao chúng.
- Nhóm kĩ năng kiểm tra (dùng trong giai đoạn kiểm tra kết quả) gồm các kĩ năng phát hiện lỗi (từ lỗi dùng từ, lỗi chính tả, đặt câu đến lỗi viết văn, từ lỗi thuộc về kĩ năng đến lỗi thuộc về nội dung, tình cảm…được thể hiện trong bài) và sửa chữa lỗi.
Văn miêu tả đồ vật
Tả đồ vật là dùng lời văn có hình ảnh gợi cho người đọc như thấy cụ thể trước mắt đồ vật đó hình dạng như thế nào, kích thước to hay nhỏ, màu sắc ra sao, gắn bó với
người làm ra hoặc đang sử dụng nó như thế nào? Đối tượng
của văn miêu tả đồ vật là những vật học sinh thường thấy trong đời sống hàng ngày gần gũi với các em, vì vậy cũng
dễ trở thành thân thiết với các em Đó có thể là cái trống, cái bút, quyển vở, cái cặp sách, cái bàn, cái chổi, lịch treo
Trang 10tường hay những món đồ chơi, Chúng là những đồ vật vô tri vô giác nhưng gần gũi và có ích với học sinh
Mỗi đồ vật đều có một hình dáng, màu sắc, kích thước, chất liệu cụ thể Học sinh miêu tả những đặc điểm này trong bài văn của mình Với những đồ vật có nhiều bộ phận, các em cần tập trung tả những bộ phận quan trọng nhất Đó những là nét tiêu biểu để phân biệt đồ vật này với
đồ vật khác.
Đồ vật lại gắn liền với cuộc sống con người nên khi miêu tả phải nói tới công dụng, lợi ích của đồ vật cũng như tình cảm của con người đối với nó Tuy nhiên cũng chỉ chọn các lợi ích và công dụng cần thiết gắn với ý định miêu
tả Có như vậy đồ vật mới hiện lên một cách sinh động và
có hồn.
Bài văn miêu tả chỉnh thể bao gồm nhiều đoạn liên kết cấu thành để thể hiện thống nhất một nội dung, bộc lộ tư tưởng, “cái tôi” của người viết Một đoạn văn miêu tả có thể miêu tả một hoặc nhiều bộ phận của đồ vật; có đoạn miêu tả bao quát về hình dáng chất liệu của đồ vật; có đoạn miêu tả đặc điểm nổi bật của một bộ phận của đồ vật; có đoạn miêu
tả đồ vật đan xen với lợi ích của đồ vật, bộc lộ cảm xúc khi
Trang 11tả Những nội dung này tuỳ thuộc vào ý chủ quan và mạch cảm xúc của người viết.
Ngôn ngữ trong đoạn văn miêu tả đồ vật là ngôn ngữ giàu hình ảnh, màu sắc, nhịp điệu, âm thanh: từ láy, từ tượng thanh, tượng hình được sử dụng nhiều để miêu tả đồ vật một cách chính xác, chân thực Sử dụng linh hoạt các biện pháp so sánh, nhân hoá, liên tưởng khiến cho đồ vật được tả trở nên sinh động, gần gũi và gắn bó với con người Đồ vật là vô tri, vô giác Để tả cho sinh động người
ta thường sử dụng phép nhân hóa Người ta có thể sử dụng các đại từ hay từ xưng hô: anh, em, chú, bác khi đứng ngôi thứ 3 để miêu tả hoặc dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (Ví dụ Tớ là anh chàng đồng hồ rất điển trai, ) Kèm theo các đại từ xưng hô là hàng loạt các động từ, tính từ miêu tả hình dáng hoặc tâm trạng của con người để tả đồ vật.
Cũng như tất cả các thể loại văn khác, bài văn miêu tả
đồ vật gồm ba phần:
Phần mở bài có nhiệm vụ giới thiệu đồ vật định miêu
tả bằng cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Trang 12Phần thân bài có nhiệm vụ thể hiện các nội dung của đối tượng được miêu tả Đây là phần chính của bài văn, phần đi sâu miêu tả đối tượng đã được giới thiệu ở phần thân bài Phần này tập trung miêu tả những nét nổi bật, riêng biệt của đối tượng Các ý nghĩ phải được sắp xếp hợp
lí thành các đoạn văn Mỗi ý viết thành một đoạn.
Phần kết luận là phần đánh giá hoặc phát biểu cảm nghĩ của người viết với đối tượng được miêu tả Có thể kết bài theo kiểu mở rộng hay kết bài không mở rộng
Hệ thống bài tập rèn kĩ năng viết văn miêu tả
Giới thiệu chung
Tập làm văn là một phân môn thực hành Không có cách xây dựng nội dung dạy học Tập làm văn nào khác ngoài việc tạo ra một hệ thống bài tập Vì vậy, việc mô tả nội dung dạy học Tập làm văn không thể tách rời việc chỉ ra các kiểu dạng bài Tập làm văn Đây là một việc làm không đơn giản.
Giáo trình Phương pháp dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học 2 [11,Tr.132,133] có viết khi phân loại bài tập Tập làm
văn, chúng ta quan niệm bài tập Tập làm văn là tất cả những
Trang 13bài tập có trong sách giáo khoa của phân môn Tập làm văn, nghĩa là bao gồm cả những bài tập tiền tập làm văn và cả những bài tập kiểm tra, sửa chữa ngôn bản Chính vì quan niệm như vậy nên số lượng bài tập Tập làm văn rất nhiều và phong phú, đa dạng, quy mô của một số bài tập Tập làm văn cũng rất khác nhau và quan niệm về một đơn vị bài tập cũng rất tương đối: Từ một mệnh lệnh yêu cầu viết một bài văn đến những mệnh lệnh yêu cầu thực hiện nhữnh hành động khác để viết được một bài văn cũng đều được xem là một bài tập, nghĩa là về tính cấp độ, có những bài tập ôm trong lòng nó những bài tập khác Chính vì vậy nhìn từ góc
độ đơn vị ngôn ngữ, có thể gọi những bài tập Tập làm văn
là những bài tập dùng từ, nói (viết) câu, đoạn, bài Có nhiều cách phân loại, cũng là những cách để xem xét các bài tập Tập làm văn khác nhau
Trước hết, dựa vào mục đích, nội dung dạy học, bài tập Tập làm văn được chia thành bài tập luyện nói và bài tập luyện viết.
Theo các dạng nói, các bài tập luyện nói được chia thành bài tập hội thoại và bài tập độc thoại.
Theo sản phẩm lời nói, bài tập luyện viết trước hết được chia ra thành bài tập viết lời hội thoại và bài tập viết thành đoạn bài Viết lời hội thoại được chia thành hai dạng:
Trang 14điền lời chọn phù hợp vào chỗ trống (chào hỏi, cảm ơn, xin lỗi, chúc mừng, yêu cầu) và viết câu trả lời câu hỏi Bài tập viết thành đoạn bài lại được chia ra thành bài tập viết văn bản nhật dụng và viết văn bản nghệ thuật Bài tập luyện văn miêu tả thuộc nhóm bài tập viết văn bản nghệ thuật.
Theo quá trình sản sinh ngôn bản, bài tập Tập làm văn
có thể được chia ra thành những bài tập tiền sản sinh ngôn bản, bài tập sản sinh ngôn bản và bài tập sửa chữa ngôn bản.
Dựa vào đặc điểm hoạt động của học sinh, bài tập Tập làm văn lại có thể chia ra thành ba nhóm: bài tập nhận diện, phân tích, bài tập theo mẫu và bài tập sáng tạo (đây chính là bài tập nói viết thành đoạn, bài)
Dựa vào cách thức tổ chức dạy học thì các bài học tập làm văn có thể chia thành hai loại: bài hình thành kiến thức (bài
lý thuyết) và bài luyện tập thực hành (bài thực hành)
Có rất nhiều cách phân loại bài tập, nhưng trong khóa luận này, chúng tôi tập trung nghiên cứu sâu vào sự phân loại theo quá trình sản sinh ngôn bản vì nó phản ánh đúng với quy trình viết một bài văn miêu tả.
Hệ thống bài tập gắn với quá trình sản sinh ngôn bản
Bài tập viết văn bản nghệ thuật cho phép học sinh có thời gian suy nghĩ, tìm cách diễn đạt, dùng từ, đặt câu, sử
Trang 15dụng các biện pháp tu từ như so sánh, nhân hoá thuận lợi hơn văn bản nói Tuy nhiên, học sinh cũng cần đạt được những yêu cầu rèn luyện kĩ năng sản sinh ngôn bản ở mức cao hơn: lời văn viết vừa cần rõ ý, vừa cần sinh động, bộc lộ được cảm xúc, bố cục bài văn cần chặt chẽ, hợp lý trong từng đoạn, từng bài để tạo thành một chỉnh thể
Các bài tập luyện viết văn bản nghệ thuật được xây dựng dựa trên quy trình sản sinh ngôn bản và chứa đựng trong nó nhiều bài tập hình thành những kĩ năng bộ phận (VD: xác định yêu cầu nói, viết, tìm ý, sắp xếp ý thành bài, viết đoạn văn, liên kết đoạn văn thành bài ) Kĩ năng viết của học sinh được rèn luyện chủ yếu qua các bài tập viết đoạn văn trước khi viết một bài văn hoàn chỉnh Do vậy, trong quá trình thực hiện các bài tập luyện kĩ năng viết, giáo viên cần giúp học sinh thực hiện tốt các những yêu cầu trong các nhóm bài tập sau:
- Nhóm bài tập tiền sản sinh ngôn bản
Gồm các bài tập phân tích đề bài, xác định nội dung viết
để thực hiện yêu cầu bài viết Việc phân tích, tìm hiểu đề giúp học sinh xác định được yêu cầu, nội dung, giới hạn của đề bài Với mỗi đề bài cụ thể, khi phân tích, tìm hiểu đề, các em phải trả lời được các câu hỏi: Viết để làm gì? Viết về cái gì? Viết cho ai? Thái độ cần được bộc lộ trong bài viết là thái độ như thế nào?
Trang 16Văn phải có tình nên học sinh cần phải tỏ rõ tình cảm của mình khi viết Nhưng tình cảm không phải lúc nào cũng thể hiện ở những câu nói trực tiếp như: em rất yêu, em rất quý mà phải thể hiện qua cách tả.
- Nhóm bài tập sản sinh ngôn bản
Nhóm bài tập sản sinh ngôn bản gồm nhóm bài tập tìm ý, sắp xếp ý, viết đoạn và bài tập viết bài văn:
Bài tập viết đoạn: Rèn cho học sinh kĩ năng tạo lập được các đoạn văn đảm bảo sự liên kết chặt chẽ về ý Các đoạn văn được luyện viết là đoạn mở bài, đoạn thân bài, đoạn kết bài (mở rộng, không mở rộng) Các đoạn phải đảm bảo sao cho có sự liền mạch về ý (không rời rạc, lộn xộn), các ý trong đoạn được diễn tả theo một trình tự nhất định nhằm minh hoạ cụ thể hoá ý chính (có mở đầu, triển khai, kết thúc) Đoạn văn có thể được cấu trúc theo kiểu diễn dịch, quy nạp, tổng hợp, song song.
Để bồi dưỡng kĩ năng diễn đạt, học sinh sẽ thực hành một
số bài tập luyện viết như: với các từ cho sẵn viết thành câu, luyện dùng từ bằng cách sửa lỗi dùng từ, từ ý đã cho viết thành câu gợi tả, gợi cảm, viết có sử dụng biện pháp tu từ theo yêu cầu, làm các bài tập mở rộng thành phần câu để cách diễn tả được sinh động gợi tả, gợi cảm hơn.
Bài tập viết bài văn: Những bài tập viết bài văn thường được thực hiện trong cả một tiết học Chúng luyện cho học sinh triển khai nhiệm vụ giao tiếp thành một bài Bài văn phải
Trang 17có bố cục chặt chẽ, có lời văn phù hợp với yêu cầu, nội dung
và thể loại, các đoạn văn trong bài phải liên kết với nhau thành một văn bản hoàn chỉnh, được bố cục chặt chẽ theo ba phần: mở bài, thân bài, kết bài Có thể liên kết đoạn văn bằng cách dùng từ ngữ nối (VD: trong khi đó, tuy vậy, chẳng bao lâu ) hoặc bằng cách sắp xếp ý theo một trình tự nhất định Bài văn phải diễn đạt trôi chảy, có sử dụng biện pháp tu từ theo yêu cầu, các biện pháp nghệ thuật so sánh và nhân hóa để cách diễn tả được sinh động gợi tả, gợi cảm hơn.
- Nhóm bài tập sửa chữa ngôn bản
Những bài tập này yêu cầu học sinh đọc lại đoạn, bài đã viết, tự kiểm tra, đối chiếu với mục đích, yêu cầu đặt ra lúc ban đầu để tự đánh giá, sửa chữa bài viết của mình Giáo viên cần hướng dẫn học sinh xem xét cả nội dung và hình thức diễn đạt Nhiều khi các em phải luyện viết lại một đoạn, hay cả bài cho tốt hơn Nhóm bài tập kiểm tra điều chỉnh thường được thực hiện trong giờ viết bài hoặc giờ trả bài Bài tập này giúp học sinh kiểm tra và rà soát lại bài viết về nội dung, cách diễn đạt, cách trình bày, sửa được các lỗi mà bản thân mình cũng như các bạn khác đã mắc phải trong khi viết văn [11,Tr.144,145]
Đặc điểm về nhận thức, tâm sinh lí của học sinh lớp 4
Giáo trình tâm lí học tiểu học [5] đã nghiên cứu và chỉ ra
rất rõ đặc điểm của lớp học sinh cuối tiểu học.
*Tri giác
Trang 18“Tri giác là quá trình nhận thức phản ảnh một cách trọn vẹn các thuộc tính bên ngoài của sự vật, hiện tượng khi chúng đang trực tiếp tác động vào giác quan của ta.” [5,Tr.99]
Trong quá trình tri giác, học sinh thường tập trung vào một vài chi tiết nào dó của đối tượng và cho đó là tất cả Tri giác của các em phụ thuộc vào đặc điểm của chính đối tượng Tri giác của học sinh tiểu học mang tính đại thể, ít đi sâu vào chi tiết và nặng về tính không chủ định Do đó mà các em phân biệt các đối tượng còn chưa chính xác, dễ mắc sai lầm và đôi khi còn lẫn lộn.
Đối với trẻ, tri giác sự vật có nghĩa là phải làm cái gì đó với sự vật, như cầm nắm, sờ mó vào sự vật ấy Đối với nội dung của văn miêu tả và cụ thể là miêu tả đồ vật, tri giác của học sinh được thực hiện trong khi quan sát, các em cần vận dụng quan sát bằng mắt (thị giác) để thấy rõ về hình dáng, kích thước, màu sắc…, bằng tai (thính giác) để nghe âm thanh, tiếng động của vật khi ta sử dụng (đồng hồ kim, quạt máy chạy…), bằng xúc giác để cảm nhận bộ bóng, mịn, phẳng, nhám… của vật.
Giáo viên là người không chỉ dạy cách nhìn, hình thành kĩ năng quan sát cho học sinh mà còn cần chú ý hướng dẫn các em biết xem xét, chú ý tổ chức hoạt động cho học sinh tri giác một đối tượng nào đó, nhằm phát hiện những dấu hiệu bản chất của
sự vật và hiện tượng.
Trang 19*Trí nhớ
“Trí nhớ là quá trình tâm lý giúp học sinh ghi lại, giữ lại những tri thức cũng như cách thức tiến hành hoạt động học mà các em tiếp thu được khi cần có thể nhớ lại được, nhận lại được.” [5,Tr.110]
Học sinh tiểu học có trí nhớ trực quan - hình tượng phát triển chiếm ưu thế hơn trí nhớ từ ngữ - logic, vì ở lứa tuổi này hoạt động của hệ thống tín hiệu thứ nhất ở các em chiếm ưu thế Các em nhớ những sự vật, hiện tượng cụ thể nhanh hơn, tốt hơn những định nghĩa, câu giải thích bằng lời Ở các lớp cuối bậc tiểu học, trí nhớ chủ định dần được chủ định dần dần được phát triển và năng lực ghi nhớ cũng tăng dần Tuy nhiên, các em vẫn
có khuynh hướng học vẹt Vì vậy, học sinh gặp khó khăn trong việc hiểu và vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn.
Nhiệm vụ của giáo viên tiểu học là hình thành cho học sinh tâm thế học tập, ghi nhớ, hướng dẫn các em cách (thủ thuật) ghi nhớ tài liệu học tập, chỉ cho các em biết đâu là điểm chính, điểm quan trọng của bài học để tránh tình trạng các em phải ghi nhớ quá nhiều, ghi nhớ máy móc, chỉ học vẹt.
*Chú ý
“Chú ý là một trạng thái tâm lý của học sinh giúp các em tập trung vào một hay một nhóm đối tượng nào đó để phản ánh các đối tượng này một cách tốt nhất.” [5.Tr.115]
Trang 20Ở giai đoạn đầu cấp tiểu học, chú ý có chủ định được hình thành nhưng chưa ổn định, chưa bền vững và tăng dần ở các lớp cuối cấp học.
Ở giai đoạn hai của cấp học, khối lượng chú ý được tăng lên, học sinh có khả năng phân phối chú ý giữa các hành động, biết định hướng chú ý của mình vào nội dung cơ bản của tài liệu.
Khi nắm chăc được các đặc điểm về khả năng chú ý của học sinh, người giáo viên có thể lợi dụng để thiết kế các bài tập trong phân môn tập làm văn, cụ thể là văn miêu tả đồ vật sao cho phù hợp với học sinh lớp 4 Những nội dung kiến thức cần được truyền đạt phải được trình bày một cách hấp dẫn để gây được sự chú ý ở học sinh Đi liền với hình thức trình bày kiến thức, người giáo viên nên chủ động đặt ra các câu hỏi gợi ý để hướng học sinh chú ý vào các nội dung trọng tâm của bài.
*Tưởng tượng
“Tưởng tượng của học sinh là một quá trình tâm lý nhằm tạo ra các hỉnh ảnh mới dựa vảo các hình ảnh đã biết.” [5,Tr.107]
Tưởng tượng là một trong những quá trình nhận thức quan trọng của học sinh tiểu học Nếu trí tưởng tượng của học sinh phát triển yếu, không đầy đủ thì sẽ gặp khó khăn trong hành động, trong học tập Tuy nhiên tưởng tượng của học sinh
Trang 21tiểu học ít có tổ chức, hình ảnh của tưởng tượng còn đơn giản, hay thay đổi, chưa bền vững.
Càng về những năm cuối tiểu học, tưởng tượng của học sinh càng gần hiện thực hơn, có tổ chức và bền vững hơn Sở dĩ như vậy là vì các em đã có kinh nghiệm phong phú hơn, đã lĩnh hội được tri thức khoa học từ quá trình học tập Trong dạy học
ở bậc tiểu học, giáo viên cần hình thành cho học sinh biểu tượng thông qua việc quan sát trực tiếp, trải nghiệm thực tế… điều này được xem như là phương tiện trực quan trong dạy học,
nó sẽ giúp các em rất nhiều khi các em quan sát các đặc điểm của sự vật, tưởng tượng rồi so sánh với các sự vật khác khiến cho bài văn của các em thêm sinh động, phong phú.
*Tư duy
“Tư duy của học sinh tiểu học là quá trình các em hiểu được, phản ánh được bản chất của đối tượng, của sự vật hiện tượng được xem xét, nghiên cứu trong quá trình học tập của học sinh.” [5,Tr.102]
Càng về cuối bậc tiểu học, tư duy trừu tượng bắt đầu chiếm ưu thế so với tư duy cụ thể, nghĩa là học sinh tiếp thu tri thức của các môn học bằng cách tiến hành các thao tác tư duy với ngôn ngữ, với các loại kí hiệu quy tắc.
Quá trình học tập theo phương pháp nhà trường tạo cho học sinh tiểu học có sự phát triển về tư duy, từng bước chuyển
từ cấp độ nhận thức các sự vật và các hiện tượng chỉ vẻ bên
Trang 22ngoài, các biểu hiện dễ nhận biết bằng cảm tính đến nhận thức được những dấu hiệu bản chất của chúng
*Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học
“Nhu cầu nhận thức là một loại nhu cầu của hoạt động học hướng tới tiếp thu tri thức mới và phương pháp đạt được tri thức mới đó.” [5,Tr.129]
Nhu cầu nhận thức bao giờ cũng tồn tại trong đầu học sinh dưới dạng câu hỏi tại sao? Cái đó là cái gì?
Nhu cầu nhận thức được hình thành và phát triển mạnh ở học sinh tiểu học Nhu cầu nhận thức của học sinh tiểu học được hình thành qua hai giai đoạn: Giai đoạn đầu tiểu học có nhu cầu tìm hiểu những sự vật riêng lẻ Giai đoạn cuối tiểu học
có nhu cầu phát hiện ra nguyên nhân, quy luật của các sự vật, hiện tượng.
Đặc điểm tình cảm của học sinh cuối cấp tiểu học
Tình cảm của học sinh là thái độ cảm xúc đối với sự vật hiện tượng có liên quan tới sự thỏa mãn hay với nhu cầu, động
cơ học sinh Tình cảm được biểu hiện qua những cảm xúc, xúc cảm là những quá trình rung cảm ngắn và tình cảm được hình thành qua những xúc cảm do sự tổng hợp hóa, động lực hóa và khái quát hóa.
Đối với học sinh tiểu học, tình cảm có vị trí đặc biệt vì nó
là khâu trọng yếu gắn nhận thức với hoạt động của trẻ em Xúc cảm, tình cảm của học sinh tiểu học thường nảy sinh từ các tác
Trang 23động của những người xung quanh, từ các sự vật, hiện tượng cụ thể, sinh động Nhìn chung, học sinh tiểu học dễ bị kích thích bởi hệ thống tín hiệu thứ nhất (sự vật, hiện tượng với các thuộc tính của nó) hơn là hệ thống tín hiệu thứ hai (tiếng nói, chữ viết) Như vậy, văn miêu tả trong phân môn làm văn sẽ tạo ra cho các em cơ hội thực hiện các hoạt động thực tiễn, cảm nhận thế giới xung quanh, các sự vật hiện tượng thông qua mọi giác quan của mình để tình cảm trong các em phát triển hài hòa và sâu sắc hơn.
*Học sinh tiểu học rất dễ xúc cảm, xúc động và khó kìm hãm xúc cảm của mình.
Tính dễ xúc cảm được thể hiện trước hết qua các quá trình nhận thức: quá trình tri giác, tưởng tượng, tư duy Hoạt động trí tuệ và tư duy của các em đượm màu sắc xúc cảm Dễ xúc cảm, đồng thời học sinh tiểu học cũng hay xúc động Từ bản tính này
mà trẻ em yêu mến một cách chân thực đối với cây cối, chim muông, cảnh vật, những con vật nuôi, đồ vật, vật dụng trong nhà Vì thế mà trong các bài văn, các em thường nhân cách hóa chúng Do đó, văn miêu tả sẽ giúp các em thêm yêu các đồ dùng, các con vật cũng như thiên nhiên, vạn vật quanh mình.
Trên đây, chúng tôi đã trình bày những cơ sở lý luận về văn miêu tả, bài tập và mối quan hệ giữa đặc điểm nhận thức, tình cảm của học sinh với nội dung dạy học văn miêu tả trong phân môn Tập làm văn Những nội dung này là cơ sở quan