Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ hay chính những tác giả, những nhà văn, trong quá trình sáng tác, cũng đưa ra cách nhìn của mình về miêu tả như sau: Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê
Trang 1CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC DẠY HỌC PHÂN MÔN TẬP LÀM VĂN LỚP 4 – KIỂU BÀI
MIÊU TẢ CON VẬT
Cơ sở lí luận
Miêu tả và văn miêu tả
Miêu tả
Có nhiều khái niệm, quan điểm về việc thế nào là
miêu tả Một số nhà nghiên cứu ngôn ngữ hay chính những
tác giả, những nhà văn, trong quá trình sáng tác, cũng đưa
ra cách nhìn của mình về miêu tả như sau:
Theo “Từ điển Tiếng Việt” do Hoàng Phê chủ biên:
“Miêu tả là dùng ngôn ngữ hoặc một phương tiện nghệthuật nào đó làm cho người khác có thể hình dung được cụthể sự vật, sự việc hoặc thế giới nội tâm của con người”
Theo Đào Duy Anh trong “Hán Việt từ điển”, miêu tả
là “lấy nét vẽ hoặc câu văn để biểu hiện cái chân tướng của
sự vật ra”
Các nhà văn Vũ Tú Nam, Phạm Hổ, Bùi Hiển, Nguyễn
Trang 2Quang Sáng, trong cuốn “Văn miêu tả và kể chuyện”, đã
đưa ra cách hiểu về miêu tả như sau: “Miêu tả là khi đọc
những gì chúng ta biết, người đọc như thấy cái đó hiện ratrước mắt mình, một con người, con vật, một dòng sông,người đọc có thể nghe được cả tiếng nói, tiếng kêu, tiếngnước chảy, thậm chí còn ngửi thấy mùi hôi, mùi sữa, mùinước hoa hay mùi rêu, mùi ẩm mốc Nhưng đó chỉ là miêu
tả bên ngoài, còn sự miêu tả bên trong nữa, là miêu tả tâmtrạng vui, buồn, yêu, ghét của con người, con vật và cả câycỏ.”
Miêu tả hay nói cách khác chính là tái hiện cho ngườinghe, người đọc một cách sinh động và chân thực về đốitượng được miêu tả; để người đọc, người nghe cảm nhậnđược vẻ đẹp bên ngoài lẫn vẻ đẹp bên trong của đối tượng
Văn miêu tả
Văn miêu tả là loại văn có vị trí quan trọng trongchương trình tập làm văn bậc Tiểu học Mục đích của việcdạy văn miêu tả ở tiểu học là giúp HS có thói quen quan sát,biết phát hiện những điều mới mẻ, thú vị về thế giới xungquanh; biết sử dụng những từ ngữ có giá trị biểu cảm,những câu văn sáng rõ và giàu hình ảnh để “vẽ lên” những
Trang 3điều quan sát một cách hình ảnh và giàu cảm xúc Một bàivăn hay là bài văn khiến người đọc thấy hiện ra trước mắtmình: những con người, con vật, cảnh vật, đồ vật,…nhưđược chứng kiến tận mắt những sự vật, hiện tượng đó Như
vậy, văn miêu tả vẽ ra các sự vật, sự việc, hiện tượng, con người,… bằng ngôn ngữ một cách sinh động, cụ thể Văn miêu tả giúp người đọc nhìn rõ chúng, tưởng như mình đang xem tận mắt, bắt tận tay Những hình ảnh do văn miêu
tả tạo ra là sự kết tinh của những nhận xét tinh tế, những rung động sâu sắc người viết đã thu lượm được khi quan sát cuộc sống (“Văn miêu tả và phương pháp dạy văn miêu
tả” – Nguyễn Trí) Chính vì thế, đối với học sinh bậc Tiểuhọc để làm tốt một bài văn miêu tả, đòi hỏi các em phải vậndụng kiến thức tổng hợp của các môn học và sự quan sátcuộc sống xung quanh Kiến thức của các môn học nàycộng với vốn sống thực tế sẽ giúp các em trình bày suy nghĩcủa mình một cách mạch lạc và sống động Văn miêu tả đòihỏi ở người viết khả năng quan sát cũng là vì lẽ đó
Trong cuốn sách “Một số kinh nghiệm viết văn miêutả”, nhà văn Tô Hoài dẫn lời một nhà văn người Pháp: “Mộttrăm cây bạch dương giống nhau cả trăm, một trăm ánh lửagiống nhau cả trăm Mới nhìn tưởng thế, nhưng nhìn kĩ thì
Trang 4thân cây bạch dương nào cũng khác nhau, ngọn lửa nàocũng khác nhau Trong đời ta gặp bao nhiêu người, phảithấy là mỗi người mỗi khác nhau không một ai giống ai.”Qua lời dẫn ấy, nhà văn vừa như gửi gắm tâm tư của mìnhkhi viết văn miêu tả, vừa như muốn chia sẻ với mọi người:
Sự vật, hiện tượng xung quanh chúng ta được tạo hóa bancho với muôn ngàn màu sắc, hình thức khác nhau và đều cónhững nét đặc sắc riêng biệt Để miêu tả một cách chân thực
và sinh động phải quan sát hiện thực thật tỉ mỉ Có quan sát
tỉ mỉ và tinh tế thì mới miêu tả đúng đối tượng và có những
so sánh, liên tưởng độc đáo có giá trị Bởi lẽ quan sát ở đây
“không chỉ là đứng ngắm” “mà quan sát bắt ta hòa mìnhvào cuộc sống, thấy ra những cái cần ghi chép” (“Một sốkinh nghiệm khi viết văn miêu tả” – Tô Hoài) Văn miêu tảchính là dùng con mắt quan sát tinh tế của mình để pháthiện ra cái hay, cái đẹp của đối tượng Để từ đó, khi đemnhững quan sát của mình vào viết văn miêu tả, người đọc,người nghe cũng có được những hình dung và cảm nhận về
đối tượng Sự miêu tả trong văn chương có ưu thế riêng so với sự miêu tả bằng màu sắc, đường nét của hội họa Văn miêu tả dùng ngôn ngữ để tả sự vật trong quá trình vận động, có thể là tả những thứ vô hình như âm thanh, tiếng động, hương vị, … hay tư tưởng tình cảm thầm kín cuả con
Trang 5người Như vậy, văn bản miêu tả chính là “bức tranh của
nghệ thuật ngôn từ” Chính ngôn từ đem lại cái hồn cho vănmiêu tả Viết văn miêu tả không thể tùy hứng, bởi lẽ đó là
cả sự quan sát và “ghi chép ngôn từ” đầy tính nghệ thuật vàmang bản sắc riêng của người viết
Đặc điểm chung của văn miêu tả
Theo tác giả Nguyễn Trí trong cuốn “Văn miêu tả vàphương pháp dạy văn miêu tả”, văn miêu tả có ba đặc điểm:
Văn miêu tả “mang tính thông báo, thẩm mĩ, chứa đựng tình cảm của người viết”.
Văn bản miêu tả chính là một “kiệt tác” của ngôn từ ngôn từ chứa đựng sự miêu tả cái đẹp, cái hay của sự vật,ngôn từ chứa đựng cả “bầu trời cảm xúc” của người viết vềđối tượng Trong bài văn miêu tả, dù là tả đối tượng nào,người viết cũng ít nhiều bộc lộ ý kiến đánh giá hay tình cảmcủa mình đối với đối tượng được miêu tả Đặc điểm nàykhiến cho miêu tả trong văn học khác miêu tả trong khoahọc Khi tả một số bộ phận của con mèo, em học sinhHoàng Đức Hải ở Hà Sơn Bình (tỉnh cũ trong giai đoạn từ
-1975 – 1991): “Đôi mắt Mèo Hung hiền lành nhưng banđêm đôi mắt ấy sáng lên giúp mèo nhìn rõ mọi vật Bộ ria
Trang 6mép vểnh lên có vẻ oai lắm; bốn chân thì thon thon, bước đimột cách nhẹ nhàng như lướt trên mặt đất” Hẳn là tác giảyêu mến Mèo Hung lắm thì mới tả đôi mắt nó “hiền lành”,phải tự hào lắm thì mới tả “Bộ ria mép vểnh lên trông oailắm” Những nhận xét, bình luận ấy làm cho đoạn văn mangdấu ấn cá nhân, chứa đựng cảm xúc của người viết Cái haycủa văn miêu tả chính là ở chỗ, giữa rất nhiều những conmèo, tác giả luôn tìm ra những chi tiết nổi bật để con MèoHung này chẳng hề giống con mèo hung nào khác vì chínhcách miêu tả, dùng từ ngữ và cảm xúc cả tác giả về con vật.
Trong khi đó, văn bản khoa học, miêu tả mèo chỉ làcung cấp những thông tin khách quan, cụ thể về mèo, như:
“Mèo là loài vật đi trên đầu ngón chân: chúng bước trựctiếp trên các ngón, các xương bàn chân của chúng tạo thànhphần thấp nhìn thấy được của cẳng chân Khả năng nhìn củamèo được tăng lên khi ở trong bóng tối, tạo ra một mànglưới thị giác sắc sảo…” (theo Wikipedia) Ở đây, người viếtchỉ nêu ra những đặc điểm chung nhất về mắt và chân mèo
mà không hề có cảm xúc đan xen, không hề có hình ảnh sosánh, từ ngữ biểu cảm
Văn miêu tả có “tính sinh động và tạo hình”
Trang 7Bài văn miêu tả cần được trau truốt để trở nên sinhđộng và chân thật Từng câu, từng chữ như đang làm cho sựvật, hiện tượng, con người như hiển hiện ngay bên ta, khiến
ta như thấy mình nhìn được, sờ được sự vật đó Nói như nhàvăn Phạm Hổ thì chính là “người đọc như thấy cái đó hiện
ra trước mắt mình” Trong tác phẩm “Người lái đò sôngĐà”, nhà văn Nguyễn Tuân đã có những nét miêu tả đầy tàitình về con sông Đà tuy “hung bạo” nhưng cũng thật “trữtình”: “con sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữtình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bungnở hoa ban, hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói Mèođốt nương xuân” Hình ảnh con sông Đà lung linh, huyền ảovới nét nên thơ khiến bạn đọc khao khát một lần đặt chânđến nơi có con sông ấy cho thỏa ước nguyện được tận mắtchứng kiến “lần thứ hai” sau khi đọc câu văn của NguyễnTuân
Ngôn ngữ trong văn miêu tả “giàu cảm xúc và hình ảnh”
Trong văn miêu tả, những sự vật, hiện tượng được “vẽlên” sinh động, chân thật là bởi người viết đã dùng nhữ từngữ giàu hình ảnh và cảm xúc Bởi lẽ, chỉ có như vậy thì bàivăn miêu tả mới tròn trịa Sự vật trong mắt “kẻ mơ mộng”
Trang 8hay lắm, đẹp lắm và nó được truyền tải cho bạn đọc bằngnhững tính từ, động từ; phép nhân hóa, so sánh, ẩn dụ,…Thạch Lam từng miêu tả một buổi chiều hay một buổi đêmtrong phố huyện nghèo hết sức yên ả nhưng cũng buồn đếnnao lòng: “Chiều, chiều rồi Một chiều êm ả như ru…” “Trờiđã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảngqua gió mát Đường phố và các ngõ con dần chứa đầy bóngtối” Phố huyện đêm tĩnh mịch như hiện lên trước mắt khingười ta đọc từng câu, từng chữ ấy lên Cái tài của ngườiviết chính là như vậy.
Yêu cầu khi viết văn miêu tả
Đối tượng miêu tả:
Trong văn miêu tả con vật, đối tượng miêu tả chính lànhững con vật Những con vật này là những vật nuôi tronggia đình, người thân, hàng xóm; hay những con vật màngười viết có dịp quan sát, tiếp xúc Bài văn miêu tả con vậthay giúp người đọc như như tận mắt thấy và sống cùng vớinhững con vật đó; như đang ngắm nhìn say mê ngoại hình,
cử chỉ, điệu bộ của chúng Khi đối tượng miêu tả khôngdừng lại ở một con mà là đàn, bầy,… như: tả đàn gà controng sân thì khi miêu tả, học sinh cần nêu được những nét
Trang 9bao quát như: số lượng, màu sắc nổi bật, hoạt động thú vị,
… Trong bài “Đàn ngan mới nở” (trích từ sách giáo khoaTiếng Việt 4) tác giả Tô Hoài cũng đã tả đàn ngan theotrình tự từ bao quát đến chi tiết như sau: “Những con nganmới nở được ba hôm chỉ to hơn cái trứng một tí Chúng có
bộ lông vàng óng Một màu vàng đáng yêu như màu củanhững con tơ nõn mới guồng Nhưng đẹp nhất là đôi mắtvới cái mỏ Đôi mắt chỉ bằng hột cườm, đen nhánh hạthuyền”
Nội dung miêu tả:
Miêu tả con vật bao gồm hai điểm chính: tả ngoại hình
và tả hoạt động, thói quen Ngoài ra, còn nêu thêm về lợiích và tình cảm hay kỉ niệm của bản thân với con vật Khimiêu tả ngoại hình, người viết cần chú ý tới đặc điểm nổibật, riêng biệt của loài đó, con vật đó để chọn chi tiết cho
“đắt giá” Ví dụ như khi tả con cá vàng, đặc điểm ngoạihình nổi bật, dễ nhìn thấy nhất là bộ vảy và lông của cávàng rất lộng lẫy và bắt mắt Khi tả con mèo thì đôi mắtphát sáng vào ban đêm có thể để lại ấn tượng mạnh thì ta tả.Đối với con chó, có thể chọn chi tiết cái mũi ướt ướt, rấtthính nhạy Đây là những đặc điểm chung của từng giốngloài Tuy nhiên, khi tả một con vật cụ thể mà ta có dịp tiếp
Trang 10xúc thì những nét nổi bật của giống loài có thể lại chưa phảinét thú vị nhất Do đó, năng lực quan sát và chọn ý là cầnthiết khi miêu tả con vật để làm phong phú nội dung miêutả.
Trình tự miêu tả con vật có thể linh hoạt theo mạchviết Tả ngoại hình trước rồi tả thói quen, tính nết hoặc tảđan xen để làm nổi bật chi tiết nào đó Bên cạnh đó, khimiêu tả, người viết lồng ghép cảm xúc, tình cảm, đánh giácủa mình để bài văn thêm sinh động: “bộ lông của nó mớiđẹp làm sao!”, “dáng đi của nó oai vệ lắm!”,…
Ngôn ngữ miêu tả:
Văn miêu tả nói chung và văn miêu tả con vật nóiriêng hay và hấp dẫn ở chỗ, người viết sử dụng từ ngữ giàuhình ảnh, giàu tính biểu cảm để tái hiện con vật, để làm chongười đọc như đang sống cùng với con vật đó Những từláy, tư ghép, những tính từ, đặc biệt là tính từ chỉ màu sắc…góp phần “tô điểm” cho ngoại hình của con vật; những động
từ góp phần tái hiện sinh động hoạt động của con vật;những phép so sánh nhân hóa làm cho câu văn miêu tả gợihình, gợi tả hơn, giàu cảm xúc hơn
Phương pháp ra đề văn miêu tả
Trang 11Trong cuốn “Văn miêu tả và phương pháp dạy vănmiêu tả”, tác giả Nguyễn Trí có đưa ra bàn bạc một số cáchđưa ra đề bài như sau: đề bài không gợi ý, đề bài có gợi ý –nêu ý chủ đạo khi tả và đề bài gợi hứng thú Ba cách ra đềbài đều có những đặc điểm riêng Ví dụ:
Đề bài không gợi ý: Hãy tả một con vật
Đề bài gợi ý: Tả một vật nuôi trong gia đình em đểthấy được sự đáng yêu và tinh nghịch của nó
Đề bài gợi hứng thú: Con mèo nhà em rất khôn ngoan,đặc biệt là khi rình chuột Em hãy tả lại con mèo đó
Đề bài không gợi ý là kiểu đề bài chung chung, khôngđưa ra đối tượng cụ thể Vì thế, có thể dẫn tới trạng thái mơ
hồ khi đọc đề, gây khó khăn khi xác định đối tượng miêu tả
Đề bài có gợi ý – định hướng ý chủ đạo, chưa thể hiện sựtôn trọng và tính chân thực Vì ý chủ đạo của bài văn miêu
tả không thể do ai đặt trước mà sẽ nảy sinh từ những cảmxúc khi HS quan sát đối tượng miêu tả Kiểu đề này manghơi hướng khuôn mẫu khi “ép” học sinh phải tả con mèo màđáng yêu, tinh nghịch mà không phải con mèo hiền lành,bắt chuột giỏi,… theo như suy nghĩ của các em Kiểu đềthứ ba – đề bài gợi hứng thú, đây là kiểu đề có trích dẫn
Trang 12hoặc đựa ra gợi ý về con vật để dẫn dắt cho học sinh về đốitượng định tả Kiểu đề không yêu cầu học sinh tả con vậtđược cho sẵn như ở kiểu đề hai, cũng không chung chungkhái quát như ở kiểu đề một, mà nó gợi mở hơn, gây đượchứng thú và cảm hứng bài văn miêu tả con vật mang dấu ấn
cá nhân
Ra đề văn miêu tả cũng cần tỉ mỉ và cẩn trọng để đảmbảo đề văn phù hợp với điều kiện thực tế Bên cạnh đó,cũng có thể thiết kế những đề văn miêu tả con vật tưởngtượng để HS có dịp được sáng tạo, được “tự do” mà “vẽ” racon vật của riêng mình Những đề văn như thế sẽ gây đượchứng thú cho những tâm hồn đang tuổi mộng mơ
Đặc điểm tâm lí, nhận thức của học sinh tiểu học
Học sinh ở lứa tuổi lớp 4 đã bắt đầu bước vào tuổithiếu niên Hành vi và đời sống nội tâm đang có những thayđổi rõ rệt, rất dễ xúc động; các cảm xúc vui, buồn, yêu, ghétđược các em dễ dàng bộc lộ Bên cạnh đó, lớp 4 là giai đoạn
mà các em chuyển từ nhận thức cảm tính sang nhận thức lítính Tư duy trực quan đã được hình thành và bắt đầuchuyển dần sang tư duy trừu tượng, khái quát Các em biếttổng hợp, phân tích, khái quát các sự vật, hiện tượng, tích
Trang 13lũy được nhiều kinh nghiệm, vốn sống hơn so với các lớpđầu bậc học; tư duy phản biện về các kiến thức, vấn đề xãhội,… cũng bắt đầu phát triển Ở lứa tuổi này, tưởng tượngtái tạo đã bắt đầu hoàn thiện, những hình ảnh cụ thể đượctái tạo ra những hình ảnh mới Đặc biệt, trí tưởng tượngtrong giai đoạn này bị chi phối mạnh mẽ bởi các xúc cảm,tình cảm, nên những hình ảnh, sự việc, hiện tượng đều gắnliền với các rung động tình cảm Các em có nhu cầu bộc lộcảm xúc của mình trước những sự vật, sự việc mà bản thânmình tiếp xúc hàng ngày Vì thế, một số em ở lứa tuổi nàybắt đầu phát triển khả năng làm văn, làm thơ Sự hứng thúvới việc dùng câu văn của mình để bộc lộ một sự vật, mộthiện tượng nào đó kích thích trí tưởng tượng Đối với họcsinh ở lứa tuổi lớp 4, hoạt động sáng tạo yêu thích củacác em được thể hiện rõ trong làm văn Chương trình Tậplàm văn ở Tiểu học nếu được giảng dạy bằng những hìnhthức, phương pháp phù hợp sẽ khiến lứa tuổi này muốn họcvăn, thích học văn, làm văn Sự mày mò, tìm kiếm thông tin
và mong muốn viết được những câu văn mang dấu ấn cánhân khiến các em nảy nở hứng thú viết Tuy nhiên, loại bàiviết đam mê của các em thuộc về chủ đề tự do Các em tự
do khám phá, tự do cảm nhận và cũng viết tự do nhưngnhững bài viết đó mang những nét hồn nhiên của lứa tuổi
Trang 14Các vấn đề về dạy học Tập làm văn
Dạy Tập làm văn theo lí thuyết hoạt động giao tiếp.Nói năng là một hoạt động, hoạt động lời nói Cũngnhư hoạt động tâm lý khác, hoạt động lời nói chỉ nảy sinhkhi có động cơ nói năng, bởi vì “chúng ta nói không phải đểnói mà để báo về một cái gì đó, tác động đến một đối tượngnào đó” (A.N Leonchep) Do đó, khi dạy TLV, cần giúphọc sinh tạo ra được động cơ nói năng hay nói cách khácchính là hứng thú, cảm hứng để nói; phải chú ý trau dồi vốnsống, cảm xúc cho các em để từ đó tạo lập văn bản nói vàviết Thực chất, dạy TLV là dạy một hoạt động
Dạy các kĩ năng làm văn theo cấu trúc lời nói
Giữa cấu trúc lời nói và hệ thống kĩ năng làm văn cómối liên quan với nhau Khi xem xét mối liên quan này, sẽgiải quyết được một số vấn đề đang đặt ra cho việc dạy họcTập làm văn
Hoạt động lời nói là một cấu trúc bao gồm 4 giai đoạn
kế tiếp nhau: định hướng, lập chương trình, hiện thực hóachương trình và kiểm tra Những nhà nghiên cứu phươngpháp đã vận dụng cấu trúc này khi xây dựng kĩ năng làmvăn Bảng sau đây thể hiện mối liên hệ đó:
Trang 15Cấu trúc hoạt động
lời nói
Hệ thông kĩ năng làm văn
1 Định hướng Kĩ năng xác định đề bài, yêu cầu
và giới hạn đề bài viết (kĩ năngtìm hiểu đề)
2 Kĩ năng xác định tư tưởng cơbản của bài viết
2 Lập chương trình
nội dung biểu đạt
Kĩ năng tìm ý (thu thập tài liệucho bài viết)
4 Kĩ năng lập dàn ý (hệ thốnghóa, lựa chọn tài liệu)
3 Hiện thực hóa
chương trình
5 Kĩ năng diễn đạt (dùng từ, đạtcâu) thể hiện chính xác, đúng đắnphong cách bài văn, tư tưởng bàivăn
6 Kĩ năng viết đoạn, viết bàitheo các phong cách khác nhau(miêu tả, kể chuyện, viết thư,…)
4 Kiểm tra 7 Kĩ năng hoàn thiện bài viết
(phát hiện và sửa lỗi)
Trang 16Từ bảng trên, có thể thấy:Các kĩ năng làm văn đều có
sự tương ứng với một giai đoạn sản sinh lời nói
Ứng với giai đoạn định hướng của cấu trúc hoạt độnglời nói là việc xác định nhiệm vụ giao tiếp – tìm hiểu đề.Trong đó, việc tìm hiểu đề phải trả lời cho các câu hỏi: Viết,nói cái gì? Viết, nói cho ai nghe?,… Nhiệm vụ này đặt rayêu cầu cho đề tập làm văn là phải rõ ràng, đủ thông tinnhưng cũng cần tạo được hứng thú nói, viết cho học sinh thìmới tạo ra nhu cầu giao tiếp
Ứng với giai đoạn lập chương trình ứng là kĩ năng tìm
ý và lập dàn ý Theo quan điểm của đề tài, việc quan sát đốitượng cũng có thể nằm trong giai đoạn này Nếu không cóquan sát, các ý tìm được, hay bài văn khi hoàn thành sẽthiếu đi sự chân thực và cảm xúc như yêu cầu đặt ra với mộtbài văn miêu tả Bước này giúp học sinh biết cách quan sát,cách ghi chép và chọn lọc và sắp xếp ý vào dàn bài để họcsinh trình bày bài nói, viết một cách đầy đủ, mạch lạc vàlogic
Ứng với giai đoạn hiện thực hóa chương trình là kĩnăng nói, viết thành các đoạn, bài Nó đòi hỏi các kĩ năngnhư: kĩ năng đặt câu, viết đoạn,viết bài Đây là giai đoạn
Trang 17cần tới sự hỗ trợ của vốn từ, vốn thông tin đã được sắp xếptrong dàn ý Bên cạnh đó, nó đòi hỏi ở người nói, viết khảnăng vận dụng từ ngữ, biện pháp tu từ linh hoạt để bài viết,nói giàu hình ảnh, giàu cảm xúc.
Ứng với giai đoạn kiểm tra kết quả là các kĩ năng kiểmtra kết quả: kĩ năng phát hiện lỗi – lỗi chính tả, lỗi dùng từ,lỗi đạt câu,… và kĩ năng chữa lỗi Học sinh khi làm vănthường quên bước này và nhiệm vụ này mặc nhiên là củagiáo viên Tuy nhiên, hiện nay, hướng tới sự tích cực hóacủa học sinh trong quá trình dạy học, người nói, viết – họcsinh được tạo cơ hội để nhìn nhận và sửa lỗi nhiều hơn
Mối liên hệ của các kĩ năng làm với với cấu trúc hoạtđộng lời nói là một cắn cứ khoa học để đề tài xây dựng mộtquy trình dạy tập làm văn cho học sinh lớp 4 kiểu bài miêu
tả con vật HS được phát triển đầy đủ các kĩ năng làm văntương ứng với từng bước trong quy trình
Dạy Tập làm văn gắn với nhân tố giao tiếp
Giao tiếp là hoạt động trao đổi tư tưởng, tình cảm,thông tin giữa con người với con người trong xã hội Giaotiếp được thực hiện bằng nhiều loại phương tiện, trong đóngôn ngữ là phương tiện quan trọng nhất Để giao tiếp hiệu