Chương trình giáo dục mầm non hiện hành quan tâm đến mục đích hình thành và giáo dục trẻ mầm non những năng lực và phẩm chất nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp lứa tuổi, khơi
Trang 1Nguyễn Thị Bích Thùy
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 2Nguyễn Thị Bích Thùy
BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO TRẺ 5 - 6 TUỔI
Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Mầm non)
Mã số : 60 14 01 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS NGUYỄN THỊ KIM ANH
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
Trang 3Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nào
Tác giả luận văn
Nguyễn Thị Bích Thùy
Trang 4Trước hết với tình cảm chân thành và lòng biết ơn, tôi xin gửi lời cảm ơn đến Quý thầy cô giảng dạy lớp Cao học GDMN Khóa 26, Phòng Sau Đại học, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh đã truyền đạt những kiến thức khoa học hữu ích Đó là những nền tảng quan trọng để tôi có thể làm tốt luận văn và cũng là cơ sở để ứng dụng vào thực tiễn làm việc
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn Ban Giám hiệu và tập thể giáo viên của 7 trường Mầm non trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã giúp đỡ, tạo điều kiện và cung cấp những số liệu, tài liệu cần thiết để tôi nghiên cứu và hoàn thành Luận văn này
Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS.Nguyễn Thị Kim Anh đã dành nhiều thời gian tâm huyết, trực tiếp hướng dẫn tận tình, chỉ bảo và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài
và hoàn chỉnh bản Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Giáo dục học (Giáo dục Mầm non) Sự động viên của Cô là nguồn lực để tôi thực hiện luận văn trong thời gian và khả năng cho phép
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn Quý hội đồng đánh giá đề cương và luận văn đã dành thời gian đọc và đưa ra ý kiến nhận xét giúp tác giả hiểu rõ và điều chỉnh luận văn hoàn thiện hơn
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày tháng năm 2018
Học viên
Nguyễn Thị Bích Thùy
Trang 5Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
PHẦN MỞ ĐẦU 1
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 8
1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 8
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới 8
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam 10
1.2 Các khái niệm công cụ 13
1.2.3 Giáo dục kĩ năng sống 19
1.2.4 Biện pháp giáo dục kĩ năng sống 21
1.3 Đặc điểm kĩ năng sống của trẻ 5 -6 tuổi 22
1.3.1 Đặc điểm chung của kĩ năng sống 22
1.3.2 Đặc điểm kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi 23
1.4 Phân loại kĩ năng sống 24
1.4.1 Phân loại kĩ năng sống 24
1.4.2 Phân loại kĩ năng sống của trẻ 5 - 6 tuổi 28
1.5 Tầm quan trọng của GDKNS cho trẻ 5 – 6 tuổi 29
1.6 Các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi 30
1.7 Quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi 32
1.7.1 Mục tiêu giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi 32
Trang 61.7.4 Hình thức giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 - 6 tuổi 40
1.7.5 Phương tiện giáo dục KNS cho trẻ 5-6 tuổi 43
1.8 Quá trình hình thành kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 47
1.9 Nguyên tắc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 48
Tiểu kết chương 1 52
Chương 2 THỰC TRẠNG VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI Ở MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG 54
2.1 Tổ chức khảo sát thực trạng về biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang 54
2.1.1.Mục đích khảo sát thực trạng 54
2.1.2 Nội dung khảo sát 54
2.1.3 Khách thể, đối tượng khảo sát thực trạng 54
2.1.4 Phương pháp khảo sát thực trạng 56
2.2 Thực trạng về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở các trường mầm non tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang 59
2.2.1 Thực trạng nhận thức của CBQL và GVMN về tầm quan trọng của việc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 59
2.2.2 Thực trạng về mục tiêu GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 62
2.2.3.Thực trạng về nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi 64
2.2.4 Thực trạng giáo viên sử dụng các phương pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 70
2.2.5 Thực trạng về hình thức GDKNS cho trẻ MG 5-6 tuổi 81
2.2.6 Thực trạng về phương tiện GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 87
2.2.7 Thực trạng về kĩ năng sống của trẻ tại lớp lá 1 và lá 2 trường mầm non Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang 88
Trang 7Tiểu kết chương 2 96
Chương 3 ĐỀ XUẤT VÀ THỬ NGHIỆM MỘT SỐ BIỆN PHÁP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5-6 TUỔI Ở CÁC TRƯỜNG MẦM NON TẠI HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TIỀN GIANG 98
3.1 Cơ sở đề xuất các biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 98
3.1.1 Cơ sở lý luận của vấn đề nghiên cứu 98
3.1.2 Cơ sở thực tiễn được dựa vào kết quả khảo sát thực trạng về biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang; 98
3.2 Các nguyên tắc đề xuất các biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 98
3.2.1 Đảm bảo tính mục đích 98
3.2.2 Đảm bảo nguyên tắc ”Lấy trẻ làm trung tâm, tạo cơ hội cho trẻ được trực tiếp hoạt động trải nghiệm, khám phá, giao tiếp 99
3.2.3 Đảm bảo tính thực tiễn 99
3.2.4 Đảm bảo tính khả thi 99
3.2.5 Đảm bảo tính phát triển 100
3.2.6 Nguyên tắc tôn trọng trẻ 100
3.2.7 Tính phù hợp 100
3.3 Đề xuất một số biện pháp GDKNS cho trẻ 5 – 6 tuổi 100
3.4 Tổ chức thử nghiệm một số biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 109
3.4.1 Mục đích thử nghiệm 109
3.4.2 Đối tượng, địa bàn và thời gian thử nghiệm 110
3.4.3 Nội dung thử nghiệm 110
3.4.4 Quy trình thử nghiệm 110
3.5 Kết quả thử nghiệm 112
Trang 8GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi của GVMN 114
3.6.2 Đánh giá tính khả thi và tính thực tiễn của các biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi của CBQL 116
Tiểu kết chương 3 119
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 120
TÀI LIỆU THAM KHẢO 124 PHỤ LỤC
Trang 9BGH Ban giám hiệu BGD&ĐT Bộ Giáo Dục và Đào tạo
Trang 10Platonov và G.G Golubev 16 Bảng 2.1 Thang đánh giá các mức độ khảo sát theo điểm trung bình 58 Bảng 2.2 Cơ cấu và trình độ chuyên môn của đối tượng khảo sát 59 Bảng 2.3 Nhận thức của CBQL và GVMN về kĩ năng sống của trẻ
5 - 6 tuổi 60 Bảng 2.4 Nhận thức của CBQL, GVMN về tầm quan trọng của việc
GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 61 Bảng 2.5 Nội dung GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non 64 Bảng 2.6 Mức độ thực hiện nội dung GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường
mầm non 65 Bảng 2.7 Kết quả khảo sát kế hoạch giáo dục của giáo viên 68 Bảng 2.8 Tỷ lệ GVMN được tập huấn các phương pháp GDKNS cho trẻ
5-6 tuổi 70 Bảng 2.9 Mức độ sử dụng các phương pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 71 Bảng 2.10 Thực trạng về tính hiệu quả của các phương pháp GDKNS cho
trẻ 5-6 tuổi 76 Bảng 2.11 Mức độ khó khăn khi sử dụng các phương pháp GDKNS cho trẻ
5-6 tuổi 79 Bảng 2.12 Mức độ sử dụng các hình thức GDKNS cho trẻ MG 5-6 tuổi 81 Bảng 2.13 Mức độ hiệu quả của các hình thức GDKNS cho trẻ MG
5-6 tuổi 83 Bảng 2.14 Mức độ khó khăn của GVMN trong việc sử dụng các hình thức
GDKNS cho trẻ MG 5-6 tuổi 85 Bảng 2.15 Mức độ GVMN sử dụng các phương tiện GDKNS cho trẻ
5-6 tuổi 87
Trang 11Bảng 2.17 Thực trạng kĩ năng sống của trẻ tại lớp lá 1 và lá 2 trường mầm
non Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang 89 Bảng 2.18 Những yếu tố ảnh hưởng đến việc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 93 Bảng 3.1 So sánh mức độ KNS của trẻ lớp Lá 1 và Lá 2 sau thực nghiệm 112 Bảng 3.2 Đánh giá của GVMN về một số biện pháp GDKNS cho trẻ
5-6 tuổi 114 Bảng 3.3 Đánh giá của CBQL về các biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 116
Trang 12Sơ đồ 1.2 Quá trình hình thành kĩ năng sống cho trẻ 48 Biểu đồ 3.1 Đánh giá của GVMN về tính khả thi và tính thực tiễn của
các biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi 116 Biểu đồ 3.2 Tỉ lệ CBQL đánh giá tính hợp lí và áp dụng được của các
biện pháp 118
Trang 13PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Vào đầu thập kỷ 90 của thế kỉ XX, các tổ chức của Liên Hiệp Quốc như
tổ chức Y tế thế giới, Quỹ cứu trợ nhi đồng, Tổ chức giáo dục văn hóa khoa học cùng các nhà tâm lý học, giáo dục học trên thế giới và ở Việt Nam đã nghiên cứu phương thức giáo dục cho trẻ năng lực tâm lý xã hội, nhằm ứng phó với những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày Bởi lẽ trong xã hội hiện nay bên cạnh những tác động tích cực, còn có những tác động tiêu cực đã khiến trẻ dễ bị lôi kéo, kích động, gây nguy hại cho con người, đặc biệt là trẻ em Nếu mỗi người trong đó có trẻ em không có những kiến thức cần thiết để biết lựa chọn những giá trị sống tích cực, không có những năng lực để ứng phó, để vượt qua những thách thức mà hành động theo cảm tính thì rất dễ gặp trở ngại, rủi ro trong cuộc sống, dễ bị lôi kéo vào các hành vi tiêu cực, bạo lực, phát triển lệch lạc về nhân cách Do đó, việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em nói chung và trẻ 5-6 tuổi nói riêng là việc làm quan trọng, hết sức có ý nghĩa hiện nay
Chương trình giáo dục mầm non hiện hành quan tâm đến mục đích hình thành và giáo dục trẻ mầm non những năng lực và phẩm chất nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những tiềm năng, chuẩn bị tốt cho trẻ vào học ở tiểu học và sự phát triển của trẻ trong các giai đoạn sau Trong quá trình phát triển nhân cách nếu trẻ mầm non được sớm hình thành và tôn vinh các giá trị sống thì các em sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng thích ứng với mọi biến động của xã hội, biết tự khẳng định bản thân trong cuộc sống Đặc biệt vấn đề dạy kĩ năng sống cho trẻ mầm non là một trong những định hướng đổi mới trong giáo dục mầm non trên thế giới và ở Việt Nam thế kỷ XXI
Thực tế cho thấy, kĩ năng sống không chỉ cần thiết cho người lớn mà cần cho trẻ mầm non để tồn tại và phát triển Vì vậy, cần giáo dục sớm kĩ năng sống
cho trẻ theo mục tiêu giáo dục mầm non: “Giúp trẻ em phát triển về thể chất,
Trang 14tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, chuẩn bị cho trẻ em vào lớp một, hình thành và phát triển ở trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng, những kĩ năng sống cần thiết phù hợp với lứa tuổi, khơi dậy và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời”[3]
Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi sẽ giúp trẻ tự bảo vệ bản thân, hòa nhập nhanh vào cuộc sống xung quanh, biết cách phát triển các mối quan hệ xã hội, với tự nhiên và từ đó học hỏi, làm giàu vốn kinh nghiệm và kĩ năng sống của bản thân
Đối với trẻ mầm non trong quá trình phát triển nhân cách nếu trẻ được sớm hình thành và tôn vinh các giá trị đích thực của mình thì trẻ sẽ có một nhân cách phát triển toàn diện, bền vững, có khả năng thích ứng và chống chọi với mọi biến động xã hội, biết tự khẳng định mình trong cuộc sống Gần đây, một cuộc khảo sát được tiến hành ở Anh và Mỹ cho kết quả 90% những trẻ em được học
và bồi dưỡng kĩ năng sống từ độ tuổi trước khi đến trường sẽ có cơ hội thành công hơn so với những trẻ cùng trang lứa trong cuộc sống và nghề nghiệp sau này Điều đó cho thấy tầm quan trọng và sự cần thiết của việc rèn luyện, hình thành và phát triển kĩ năng sống cho trẻ ngay từ tuổi mầm non
Trong giai đoạn cuối tuổi mẫu giáo 5-6 tuổi, trẻ rất cần được trang bị các kĩ năng sống cần thiết để chuẩn bị học tập ở trường tiểu học, trẻ có thể độc lập giải quyết các tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Giáo dục kĩ năng sống giúp trẻ có khả năng ứng phó tích cực trong các tình huống nguy hiểm, tự bảo vệ bản thân, giúp các em xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với gia đình, bạn bè và mọi người, sống an toàn, lành mạnh và phát triển tốt
Tuy nhiên thực tế cho thấy nhiều trẻ em, đặc biệt trẻ 5-6 tuổi chuẩn bị học lớp một còn thiếu kĩ năng sống, lung túng, chưa độc lập, chưa tự tin giải quyết những tình huống xảy ra trong cuộc sống hàng ngày Việc giáo dục kĩ năng sống
Trang 15cho trẻ ở các trường mầm non hiện nay vẫn chưa được chú trọng và quan tâm đúng mức, giáo viên tích hợp lồng ghép nội dung giáo dục kĩ năng sống cho trẻ vào các hoạt động trong ngày còn rất mờ nhạt, thậm chí một số giáo viên chưa quan tâm đến nội dung này Điều này khiến không ít phụ huynh lo lắng, từ đó nhiều gia đình có kinh tế khá giả cho con đi học kĩ năng sống ở các trung tâm bên ngoài hoặc sử dụng các biện pháp bạo hành trẻ khi trẻ gặp sai lầm trong giao tiếp, hành vi ứng xử hoặc bất lực buông xuôi Ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nói chung và ở tỉnh Tiền Giang nói riêng thì việc giáo dục kĩ năng sống còn gặp nhiều khó khăn nên chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi chưa cao, dẫn đến trẻ vào học tiểu học chưa được chuẩn bị kĩ năng sống, chưa độc lập, tự tin trong giao tiếp, tương tác xã hội và gặp khó khăn trong kết bạn trong lớp Thực tế này đã làm cho các nhà tâm lý học, giáo dục học không khỏi
lo lắng, suy nghĩ: giáo dục kĩ năng sống trong trường mầm non đang diễn ra như thế nào và biện pháp nào đề giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi có hiệu quả
Với những lý do trên, đề tài nghiên cứu: “Biện pháp giáo dục kĩ năng
sống cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang” được xác lập
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi, từ
đó đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Hệ thống hóa một số vấn đề lý luận có liên quan đến đề tài như: một
số khái niệm công cụ như: kĩ năng sống, giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi; biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi; biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi; đặc điểm kĩ năng sống của trẻ 5- 6 tuổi; Phân lọại kĩ năng sống; tầm quan trọng của giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi; các yếu tố ảnh hưởng đến việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5- 6 tuổi; quá trình giáo dục kĩ
Trang 16năng sống cho trẻ 5 -6 tuổi; quá trình hình thành kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo; nguyên tắc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 -6 tuổi
3.2 Nghiên cứu thực trạng về giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
3.3 Đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục
kĩ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5 – 6 tuổi
- Khách thể nghiên cứu: Quá trình giáo dục tình cảm và quan hệ xã hội cho trẻ 5 -6 tuổi
5 Giả thuyết khoa học
Kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đạt ở mức độ trung bình và thấp Nếu GVMN nắm vững các biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý của trẻ, theo quan điểm giáo dục “lấy trẻ làm trung tâm”, tạo cơ hội cho trẻ thực hành trải nghiệm trong các tình huống thực tiễn thì KNS của trẻ 5-6 tuổi
sẽ được nâng cao
6 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
- Nội dung nghiên cứu:
Cơ sở lý luận: Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu các nội dung như: biện pháp giáo dục kĩ năng sống, quá trình giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi: mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện
Cơ sở thực tiễn (khảo sát thực trạng): Đề tài tập trung khảo sát nhận thức của GVMN, CBQL về GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi; mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện GD KNS cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Trang 17Thử nghiệm: Đề tài chỉ tập trung thử nghiệm 4/7 biện pháp đề xuất trên 33 trẻ 5-6 tuổi đang học tại lớp Lá 2, trường mầm non Tam Hiệp thuộc huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
- Địa bàn nghiên cứu:
+ Khảo sát thực trạng: 7 trường mầm non trên địa bàn huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang: Trường Mầm non Thạnh Phú, Trường Mầm non Tân Hiệp, Trường Mầm non Tam Hiệp, Trường Mầm non Đông Hòa, Trường Mầm non Vĩnh Kim, Trường Mầm non Kim Sơn, Trường Mầm non Bàn Long + Thực nghiệm sư phạm: Lớp Lá 1( đối chứng), lớp lá 2 (thực nghiệm) thuộc trường mầm non Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
- Đối tượng khảo sát thực trạng: 20 CBQL và 54 GVMN, 20 phụ huynh
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận
Chúng tôi tổng hợp các tài liệu lý luận, phân loại, hệ thống hóa lý luận của
7.2 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu thực tiễn sau:
7.2.1 Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp này được sử dụng để khảo sát thực trạng về biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi, đồng thời ghi nhận biểu hiện của trẻ trong các hoạt động ở 7 trường mầm non huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Quan sát biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày ở trường mầm non như: hoạt động ăn uống, sinh hoạt
Trang 18cá nhân (rửa mặt, lau mặt, đánh răng,…), hoạt động học, hoạt động chơi, hoạt động trực nhật
7.2.2 Phương pháp nghiên cứu hồ sơ
Nghiên cứu kế hoạch giáo dục năm, kế hoạch chủ đề, kế hoạch tuần, kế
hoạch ngày của giáo viên và sản phẩm của trẻ 5-6 tuổi có liên quan đến GDKNS
cho trẻ 5 – 6 tuổi
7.2.3 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng phiếu điều tra trên CBQL và GVMN ở 7 trường mầm non của
huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nhằm: Tìm hiểu nhận thức của GV về tầm quan trọng của việc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi; Tìm hiểu về mục tiêu, nội dung, phương pháp, hình thức, phương tiện GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi; Tìm hiểu các yếu
tố ảnh hưởng đến việc GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi và những khó khăn trong quá trình
GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi ở trường mầm non
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn
Bên cạnh việc điều tra bằng phiếu hỏi, chúng tôi sử dụng phương pháp phỏng vấn trực tiếp 14 GVMN, 7 CBQL và 20 phụ huynh của 7 trường mầm non ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang nhằm tìm hiểu sâu về biện pháp GDKNS, những thuận lợi/ khó khăn và những đề xuất biện pháp GDKNS cho trẻ 5 -6 tuổi
7.2.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Phương pháp thực nghiệm sư phạm được sử dụng để kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề tài Thực nghiệm sư phạm được tổ chức tại 2 lớp của trường mầm non Tam Hiệp, huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
Chúng tôi chọn 1 nhóm trẻ đối chứng và 1 nhóm thử nghiệm ở lớp Lá 1 và lớp Lá 2 của trường mầm non Tam Hiệp trên cơ sở cùng lứa tuổi, cùng mức độ phát triển Nhóm thử nghiệm là nhóm sẽ được tác động bởi các biện pháp thử nghiệm Nhóm đối chứng là nhóm trẻ không chịu sự tác động bởi các biện pháp
Trang 19thử nghiệm Từ đó, so sánh, đối chiếu mức độ biểu hiện KNS giữa nhóm đối chứng
và nhóm thử nghiệm trước và sau khi thử nghiệm
7.2.6 Phương pháp thống kê
Sử dụng phần mềm Microsoft Excel để xử lý kết quả khảo sát thống kê tỷ
lệ phần trăm (%) và giá trị điểm trung bình (ĐTB) cho các mức độ đánh giá theo nội dung khảo sát
8 Những đóng góp mới của đề tài
Kết quả nghiên cứu lí luận về việc giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trong trường mầm non cùng với những tư liệu thu thập được trong quá trình nghiên cứu sẽ góp phần bổ sung thêm vào tài liệu hướng dẫn GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi dành cho giáo viên mầm non ở huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang Việc khảo sát thực trạng, đề xuất và thử nghiệm một số biện pháp GDKNS
sẽ góp phần nâng cao chất lượng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi ở một số trường mầm non huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang
9 Cấu trúc luận văn
Phần kết luận và kiến nghị sư phạm
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 20Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN
VỀ GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO TRẺ 5 – 6 TUỔI 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các nghiên cứu trên thế giới
Trên thế giới, việc nghiên cứu kĩ năng sống (KNS) đã được quan tâm tìm hiểu, vì đây là trọng điểm trong việc phát triển con người Ở nhiều nước trên thế giới, trong hai thập kỷ qua, giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) đã được xem như một phần quan trọng không tách rời trong quá trình chuẩn bị thanh thiếu niên và người lớn đối phó với các thách thức và rủi ro hàng ngày để tham gia vào quá trình sản xuất trong xã hội Ở các nước phương tây, việc giáo dục kĩ năng sống
đã vận dụng tổng hợp quan điểm của các tài liệu toàn cầu, chẳng hạn như khuôn khổ Dakar cho Hành động Giáo dục cho mọi người (EFA) và Tuyên bố UNGASS về Cam kết về HIV và AIDS, các tổ chức như Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) và UNICEF Giáo dục kĩ năng sống (GDKNS) được thực hiện bằng sự kết hợp giữa giáo dục nhà trường và các tổ chức xã hội Trong nhà trường, GDKNS được coi là nhiệm vụ quan trọng trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước
UNICEF đã có một vai trò quan trọng trong phát triển kĩ năng sống (KNS), GDKNS ở cả cấp quốc gia và quốc tế Trong những năm 2006, 2007 GDKNS đã được triển khai thực hiện ở 156 quốc gia với sự hỗ trợ của UNICEF GDKNS được tích hợp qua 67 đến 70 chủ đề vào chương trình dạy ở cấp tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông ở 68 quốc gia trên thế giới [26]
Ở Nga, GDKNS cho trẻ mầm non được thực hiện thông qua: các trò chơi đóng vai, hoạt động thực tiễn, hoạt động sáng tạo, lời nói, … nhằm hình thành cho trẻ những kĩ năng cơ bản như: kĩ năng giải quyết vấn đề, kĩ năng tự học, kĩ năng tư duy sáng tạo, kĩ năng giao tiếp ứng xử và tạo lập mối quan hệ…Vấn đề GDKNS là vấn đề mới trong đào tạo giáo viên mầm non ở Nga, cho nên việc
Trang 21GDKNS cho trẻ vẫn chưa được chú trọng quan tâm, việc tổ chức các hoạt động
để GDKNS cho trẻ chưa được thường xuyên và còn mang tính chất loa qua, cách tổ chức các tiết học còn mang tính chất lý thuyết Phần giáo dục trẻ kĩ năng sống để ứng xử trong các tình huống, các mối quan hệ, các hoạt động cũng chưa được chú trọng [26]
Bộ Lao Động Mỹ cùng Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ đã nghiên cứu
13 kĩ năng cơ bản cần thiết để thành công trong cuộc sống và công việc như: kĩ năng học và tự học, lắng nghe, thuyết trình, giải quyết vấn đề, tư duy sáng tạo, quản lý bản thân và tinh thần tự tôn, đặt mục tiêu/ tạo động lực làm việc, phát triển cá nhân và sự nghiệp, giao tiếp ứng xử và tạo lập quan hệ, làm việc đồng đội, kĩ năng đàm phán, tổ chức công việc hiệu quả và kĩ năng lãnh đạo bản thân GDKNS cho trẻ mầm non được Hiệp hội Đào tạo và Phát triển Mỹ đưa vào chương trình giáo dục mầm non ở các bang từ những năm 60 của thế kỉ XX
Ở một số nước như Anh, Ấn Độ, Malaysia thì GDKNS nhằm tăng cường
sự lành mạnh về tinh thần và năng lực của con người nói chung và trẻ mầm non nói riêng như các kĩ năng giải quyết vấn đề, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, giao tiếp
Ở Lào, từ những năm 1997 - 2002, lần đầu tiên, GDKNS được thực hiện trong 5 trường trung học cơ sở tại Lào theo dự án tài trợ và sau đó mở rộng ra
700 trường Tiểu học và Trung học thuộc 8 tỉnh của Lào, chưa triển khai ở các trường mầm non [26]
Ở Campuchia, kĩ năng sống được xem như năng lực mà con người cần phải
có để nâng cao các điều kiện sống một cách hiệu quả nhằm phát triển quốc gia, phát triển kĩ năng tìm việc và nuôi sống bản thân cũng như gia đình họ
Tại Úc yêu cầu người lao động phải có kĩ năng hành nghề nên GDKNS cho trẻ mầm non gồm có các kĩ năng như: kĩ năng giao tiếp, làm việc nhóm, giải quyết vấn đề, sáng tạo và khám phá, lập kế hoạch, quản lý bản thân, học tập và
kĩ năng sử dụng công nghệ Chương trình GDKNS cho trẻ mầm non với các
Trang 22hoạt động mang tính trải nghiệm và các phương pháp thực hành, giúp trẻ khám phá và phát triển các kĩ năng như: giao tiếp, tôn trọng, yêu thương, trách nhiệm, hợp tác… Mục đích của chương trình là: Góp phần giúp cho trẻ nhận biết, hình thành các giá trị sống căn bản, phổ quát trong mối liên hệ giữa hoài bão cá nhân và ý tưởng chuẩn mực xã hội Từ đó, các em có thể đào sâu, xây dựng những phẩm chất, đức tính tốt của bản thân với việc lựa chọn và phát triển các KNS tích cực, theo những giá trị cốt lõi, để làm kim chỉ nam cho mọi ứng xử xã hội [26]
Singapore được đánh giá là một nước có nền kinh tế năng động bậc nhất của Châu Á và thế giới Hàng loạt chương trình giáo dục được xây dựng và tiến hành giảng dạy ở các trường đại học tổng hợp, đại học bách khoa của các nước này đã được tiến hành mạnh mẽ, linh hoạt, phù hợp với nhiều đối tượng học sinh Các bộ môn về KNS đóng vai trò trung tâm trong chương trình học tập ở các cấp học, với khẩu hiệu “Sống để học tập, vui chơi, giải trí và học tập để sống” Các hoạt động giáo dục trong nhà trường được kết hợp nhuần nhuyễn với các hoạt động cộng đồng Tuy nhiên, đối với bậc học mầm non, họ vẫn chưa tìm
ra những phương pháp hữu hiệu nhất giúp trẻ nắm được các KNS Ngoài ra, câu hỏi có nên đưa GDKNS là một môn học bắt buộc ở tất cả các cấp học, ngành học vẫn còn đang tranh luận, chưa có câu trả lời [26]
Khái quát về các tài liệu có liên quan đến giáo dục kĩ năng sống trên thế giới cho thấy khoảng trống của các công trình nghiên cứu về các biện pháp hữu hiệu trong giáo dục kĩ năng sống cho trẻ em lứa tuổi mầm non
1.1.2 Các nghiên cứu ở Việt Nam
Ở Việt Nam mặc dù khái niệm kĩ năng sống chưa được nêu ra hay những nghiên cứu về kĩ năng sống chưa có nhưng kĩ năng sống và GDKNS cho con người đã xuất hiện và được nhiều người quan tâm từ xa xưa như: học ăn, học nói, học gói, học mở, học để đối nhân xử thế, học để đối phó với thiên nhiên Đó
Trang 23là những kĩ năng đơn giản nhất mang tính chất kinh nghiệm, phù hợp với đời sống và giai cấp của xã hội ở những thời điểm khác nhau
Thuật ngữ “Kĩ năng sống” chỉ bắt đầu được quan tâm tại Việt Nam vào những năm 90, thế kỷ 20 Khi ấy, xã hội bắt đầu có những chuyển biến phức tạp, nền kinh tế thị trường và việc du nhập các nền văn hóa từ các nước bên ngoài vào Việt Nam đã tác động rất lớn đến con người, đòi hỏi mỗi người phải học cách thích nghi; ngoài trình độ học vấn, tư cách đạo đức Đây chính là điều kiện để giáo dục Việt Nam quan tâm đến thuật ngữ kĩ năng sống trong chương trình và triển khai một số dự án của các tổ chức khác trên thế giới
Năm 2009, Nhà xuất bản Giáo dục lần đầu tiên cho in quyển “Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ từ 5 đến 6 tuổi” của tác giả Lê Bích Ngọc nhằm phục vụ cho
các phụ huynh có con từ 5 đến 6 tuổi Trong đó tác giả phân loại thành 7 nhóm
kĩ năng sống có hướng dẫn về tên gọi, những điều cha mẹ cần hướng dẫn cho trẻ
và gợi ý các hoạt động, phương tiện, hình thức giáo dục [19]
Tại TP Hồ Chí Minh, tác giả Mai Hiền Lê năm 2010 đã nghiên cứu kĩ
năng sống của trẻ mầm non, với đề tài: “Một số biểu hiện kĩ năng sống của trẻ lớp mẫu giáo 5-6 tuổi ở trường mầm non Thực Hành thành phố Hồ Chí Minh”
Ưu điểm của đề tài này là tác giả đã bước đầu đi vào nghiên cứu về kĩ năng sống của trẻ mầm non và đã có cuộc khảo sát khá đầy đủ về các kĩ năng sống của trẻ 5-6 tuổi Nhưng giới hạn của đề tài là mới chỉ khảo sát ở một trường mầm non,
và việc thử nghiệm tác động nâng cao kĩ năng sống của trẻ chỉ dừng lại ở một kĩ năng giao tiếp [15]
Tác giả Nguyễn Hữu Long năm 2013 đã nghiên cứu về “Phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có chủ đích” Đóng góp của
đề tài này trong việc phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về phương pháp giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi trong hoạt động có chủ đích như: giờ học, hoạt động góc Tuy nhiên, các khuyến nghị về việc vận dụng các phương pháp
Trang 24giáo dục kĩ năng sống cho trẻ 5-6 tuổi chỉ trong hoạt động có chủ đích mà chưa vận dụng trong các hoạt động khác ở trường mầm non
Bên cạnh đó, có một số công trình nghiên cứu về GDKNS của trẻ mầm non
như: tác giả Trần Lệ Thùy (2012) đã hoàn thành luận văn Thạc sĩ “Thực trạng giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mầm non tại trường Mầm non Sao Mai, Đông Anh, Hà Nội”; Nguyễn Trương Hồng Loan (2017) đã bảo vệ luận văn thạc sĩ
“Giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động trải nghiệm”
Đóng góp mới của các đề tài là làm sáng tỏ lý luận và thực tiễn giáo dục kĩ năng sống cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi trong hoạt động trải nghiệm ở một số trường mầm non tại Thành Phố Bến Tre
Năm 2017 lần đầu tiên, học sinh và giáo viên ở bậc tiểu học và THCS có một tài liệu chính thức về kĩ năng sống Đó là bộ sách Thực hành kĩ năng sống
từ lớp 1 đến lớp 9 của tác giả Huỳnh Văn Sơn, do Nxb Giáo dục Việt Nam biên soạn, phát hành; Bộ Giáo dục và Đào tạo thẩm định và phê duyệt Bộ sách gồm
9 tập, dành cho học sinh từ lớp 1 đến lớp 9, đưa ra những nhóm kĩ năng cơ bản như: kĩ năng bảo vệ và phát triển bản thân, kĩ năng ứng xử trong gia đình, kĩ năng học tập và giao tiếp trong trường học, kĩ năng giao tiếp và ứng xử trong xã hội, kĩ năng sinh tồn Các kĩ năng được thiết kế theo chuỗi hoạt động, tìm hiểu, khám phá, rèn luyện và thực hành Các bài học được đưa vào một cách tự nhiên, thiết thực, thông qua các câu chuyện, các bài tập, thảo luận, thậm chí là các trò chơi, nhập vai, từ đó học sinh có thể chủ động nắm bắt được vấn đề, ghi nhớ bài học và có giải pháp xử lý phù hợp
Qua các công trình nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống đã được khái quát
ở trên cho thấy việc nghiên cứu về biện pháp GDKNS cho trẻ 5-6 tuổi là cần thiết trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu đã công bố và phát triển theo hướng mới nhằm phát triển nhân cách của trẻ, tạo cơ hội cho trẻ học tập suốt đời và khảo sát một cách chi tiết thực trạng về giáo dục kĩ năng sống của trẻ 5-6 tuổi, đồng
Trang 25thời thử nghiệm một số biện pháp đề xuất tại huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang, địa bàn chưa có trong các nghiên cứu của các công trình
1.2 Các khái niệm công cụ
1.2.1 Kĩ năng
Theo Từ điển tiếng Việt, kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến thức
thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế [23]
Từ điển Oxford định nghĩa “skill” – kĩ năng là khả năng tìm ra giải pháp
cho một vấn đề nào đó và có được nhờ rèn luyện
Theo Từ điển Giáo dục học, kĩ năng là “khả năng thực hiện đúng hành động, hoạt động phù hợp với những mục tiêu và điều kiện cụ thể tiến hành hành động ấy, cho dù đó là hành động cụ thể hay hành động trí tuệ.”[12]
Theo Từ điển Tâm lý học do tác giả Vũ Dũng (Chủ biên), kĩ năng là
“năng lực vận dụng có kết quả những tri thức về phương thức hành động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện những nhiệm vụ tương ứng Ở mức độ kĩ năng, công việc được hoàn thành trong điều kiện hoàn cảnh không thay đổi, chất lượng chưa cao, thao tác chưa thuần thục và còn phải tập trung chú ý căng
thẳng, kĩ năng được hình thành qua luyện tập” [7]
Trong Từ điển Tâm lý học của A M Colman, “Kĩ năng là sự thông thạo, hiểu biết chuyên môn sâu, là khả năng đạt được thành tích cao trong một lĩnh vực nhất định; cụ thể là một cách thức thực hiện hành vi có sự phối hợp, có tổ
chức, đạt được thông qua sự huấn luyện và thực hành”
Quan điểm khác về kĩ năng
- Quan niệm thứ nhất: xem kĩ năng như là kĩ thuật thao tác
Tác giả Trần Trọng Thủy cho rằng: kĩ năng là mặt kĩ thuật của hành động, con người nắm được cách hành động tức là có kĩ thuật hành động, có kĩ năng
Từ điển Tâm lý học (1983) của Liên Xô (cũ) định nghĩa: “Kĩ năng là giai đoạn giữa của việc nắm vững một phương thức hành động mới – cái dựa trên
Trang 26một quy tắc (tri thức) nào đó và trên quá trình giải quyết một loạt các nhiệm vụ tương ứng với tri thức đó, nhưng còn chưa đạt đến mức độ kĩ xảo”
Tác giả Nguyễn Tiến Đạt cho rằng: “Kĩ năng là những hành động được hình thành do sự bắt chước trên cơ sở của tri thức mà có, chúng đòi hỏi sự tham gia thường xuyên của ý thức, sự tập trung chú ý, cần tiêu tốn nhiều năng lượng của cơ thể” Các tác giả cũng cho biết, kĩ năng có những đặc điểm khác nữa là
“hành động chưa được khái quát, do thao tác chưa chính xác nên vai trò kiểm soát của thị giác là quan trọng” [10]
Còn tác giả N.D Levitovxam xét kĩ năng gắn liền với kết quả hành động
- Quan niệm thứ hai: xem kĩ năng như là một năng lực của con người
Từ điển giáo dục học (1968) định nghĩa: Kĩ năng là khả năng làm một cái
gì đó, khả năng được hình thành bởi tri thức, kinh nghiệm [11].Hai nhà nghiên cứu K.K Platonov và G.G Golubev (1977) cũng cho rằng kĩ năng là năng lực của một người thực hiện công việc có kết quả với một chất lượng cần thiết trong những điều kiện mới và trong một khoảng thời gian tương ứng Đồng thời, “kĩ năng luôn được nhận thức Cơ sở tâm lý của nó là sự hiểu biết về mối quan hệ qua lại giữa mục đích hành động, các điều kiện và phương thức thực
hiện hành động” [12]
A.V Petrovxki cho rằng “Kĩ năng là cách thức cơ bản để chủ thể thực hiện hành động, thể hiện bởi tập hợp những kiến thức đã thu lượm được, những thói quen và kinh nghiệm” Cụ thể hơn, tác giả viết: “năng lực sử dụng các sự kiện, các tri thức hay kinh nghiệm đã có, năng lực vận dụng chúng để phát hiện những thuộc tính bản chất của các sự vật và giải quyết thành công
những nhiệm vụ lý luận hay thực hành xác định, được gọi là kĩ năng” [21]
Cùng quan điểm này, các tác giả Nguyễn Quang Uẩn, Nguyễn Ánh Tuyết, Trần Thị Quốc Minh cũng cho rằng, kĩ năng là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả
Trang 27Tác giả Huỳnh Văn Sơn cho rằng, kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh
nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép [26]
Như vậy, với những quan điểm trên, kĩ năng không chỉ là thao tác mà còn
là biểu hiện của năng lực
Trên cơ sở đó, chúng tôi rút ra được khái niệm sau: “Kĩ năng là khả năng thực hiện có kết quả một hành động nào đó bằng cách vận dụng những tri thức, những kinh nghiệm đã có để hành động phù hợp với những điều kiện cho phép”
* Mức độ kĩ năng
Theo quan điểm của V.B Bexpalko, có 5 mức độ kĩ năng: từ những kĩ năng ban đầu đến kĩ năng đạt ở mức độ hoàn hảo
- Mức độ 1: Kĩ năng ban đầu
Người học đã có kiến thức về nội dung một dạng kĩ năng nào đó, và trong những tình huống cụ thể khi cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động nhất định Tuy nhiên, ở mức độ kĩ năng ban đầu này thì người học thường chỉ thực hiện được yêu cầu của kĩ năng này dưới sự hướng dẫn của người dạy
- Mức độ 2: Kĩ năng thấp
Khác với mức độ 1, ở mức độ kĩ năng mức thấp, người học đã có thể tự thực hiện được những thao tác, hành động cần thiết, sẽ có thể tái hiện được những thao tác, hành động cần thiết theo một trình tự đã biết Song, ở mức độ
kĩ năng này, người học chỉ thực hiện được những thao tác, hành động trong những tình huống quen thuộc và chưa di chuyển được sang những tình huống mới
- Mức độ 3: Kĩ năng trung bình
Người học tự thực hiện thành thạo các thao tác trong những tình huống quen thuộc Tuy vậy, việc di chuyển của các kĩ năng sang tình huống mới còn
Trang 28hạn chế
- Mức độ 4: Kĩ năng nâng cao
Một sự khác biệt thể hiện kĩ năng ở mức độ cao là người học đã tự lựa chọn hệ thống các thao tác, các hành động cần thiết trong các tình huống khác nhau Bên cạnh đó, người học đã biết di chuyển kĩ năng trong phạm vi nhất định
- Mức độ 5: Kĩ năng hoàn hảo
Đây là mức độ cao nhất của kĩ năng Người học nắm được đầy đủ hệ thống các thao tác, hành động khác nhau, biết chọn lựa những thao tác, hành động cần thiết và ứng dụng chúng một cách thành thạo trong các tình huống khác nhau mà không gặp khó khăn gì [27]
Trong từ điển rút gọn các khái niệm Tâm lý học của Nga và cũng là quan niệm của K.K Platonov và G.G Golubev, năm mức độ hình thành kĩ năng như sau:
Bảng 1.1 Bảng phân chia các mức độ kĩ năng theo quan điểm của K.K Platonov
và G.G Golubev
Mức độ 1 Có kĩ năng sơ đẳng, hành động được thực hiện theo cách thử và
sai, dựa trên vốn hiểu biết và kinh nghiệm
Mức độ 2 Biết cách thực hiện hành động nhưng không đầy đủ
Mức độ 3 Có những kĩ năng chung nhưng còn mang tính chất rời rạc,
riêng lẻ
Mức độ 4 Có những kĩ năng chuyên biệt để hành động
Mức độ 5 Vận dụng sáng tạo những kĩ năng trong các tình huống khác
nhau
Còn có nhiều tác giả khác nữa đã đưa ra các phân loại trong lĩnh vực kĩ năng, như R.H Dave (1967), E.J Simpson (1972) và A.J Harrow (1972) Dưới
Trang 29đây sẽ giới thiệu cách phân loại của Dave, theo đó lĩnh vực kĩ năng được chia thành các mức độ hành vi từ đơn giản nhất đến phức tạp nhất như sau:
- Bắt chước thụ động (Imitation): Làm theo hành vi của một người khác một cách thụ động
- Thao tác theo (Manipulation): Thực hiện các thao tác theo một sự hướng dẫn quy trình từng bước
- Tự làm đúng (Precision): Thực hiện được một nhiệm vụ với sai sót nhỏ
và dần chính xác hơn mà không có nguồn hướng dẫn Thể hiện thao tác trơn tru, chính xác
- Khớp nối được (Articulation): Sắp xếp được một chuỗi thao tác bằng cách kết hợp hai hay nhiều kĩ năng, có thể cải tiến thao tác cho phù hợp để giải quyết một vấn đề gì đó
- Thao tác tự nhiên (Naturalisation): Chứng tỏ mức độ thực hiện thao tác một cách tự nhiên như bản năng (“không cần suy nghĩ”) Các kĩ năng được kết hợp, thao tác trình tự, thực hiện nhất quán dễ dàng, tức là mất ít năng lượng và thời gian [8]
Chúng tôi dựa trên sự phân chia các mức độ kĩ năng theo cách phân loại của Dave để đánh giá mức độ của mỗi tiêu chí thực hiện các kĩ năng đề tài nghiên cứu
1.2.2 Khái niệm kĩ năng sống
Kĩ năng sống được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau, tùy theo cách tiếp cận khác nhau, lý thuyết ứng dụng và đối tượng được giáo dục kĩ năng sống
Từ góc độ tâm lý học tác giả Nguyễn Quang Uẩn cho rằng: Kĩ năng sống là một tổ hợp phức tạp của một hệ thống kĩ năng nói lên năng lực sống của con người, giúp con người thực hiện công việc và tham gia vào cuộc sống hằng ngày
có kết quả, trong những điều kiện xác định của cuộc sống [34]
Tác giả Huỳnh Văn Sơn quan niệm: Kĩ năng sống là những kĩ năng tinh thần hay những kĩ năng tâm lý, kĩ năng tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại
và thích ứng với cuộc sống Tác giả cho rằng kĩ năng sống nhìn dưới góc độ năng
Trang 30lực tâm lý là những kĩ năng giúp con người tồn tại về mặt thể chất và mặt tâm lý [26]
Quan niệm của UNESCO cho rằng: Kĩ năng sống là năng lực cá nhân giúp cho việc thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào cuộc sống hằng ngày Theo UNICEF: “Kĩ năng sống" được định nghĩa là khả năng tâm lý xã hội thể hiện khả năng ứng phó một cách có hiệu quả, có hành vi thích ứng và tích cực, cho phép các cá nhân giải quyết hiệu quả với những đòi hỏi và thách thức của cuộc sống hàng ngày Kĩ năng sống được chia thành 3 loại như: kĩ năng nhận thức để phân tích và sử dụng thông tin, kĩ năng cá nhân để phát triển và quản lý bản thân
và kĩ năng giao tiếp và giao tiếp hiệu quả với người khác [26]
Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) định nghĩa kĩ năng sống là khả năng của một
cá nhân duy trì một trạng thái sức khỏe mạnh về tinh thần và xã hội, biểu hiện qua các hành vi phù hợp và tích cực khi tương tác với người khác, với nền văn hóa
và môi trường xung quanh “Kĩ năng sống" là một chương trình giáo dục con người - đặc biệt là trẻ em trong học tập và kĩ năng xã hội dưới sự lãnh đạo của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO) phối hợp với các tổ chức phi chính phủ (NGO) và các
tổ chức phát triển xã hội khác Đây là một chương trình có mục tiêu rõ ràng và phát triển năng lực xã hội tích cực cho mọi người
Chương trình này có các mục khác nhau bao gồm các lĩnh vực khác nhau của cuộc sống: Sức khỏe tâm thần; Sức khoẻ thể chất; Sự hòa hợp và khoan dung
xã hội
Các kĩ năng cơ bản của chương trình giáo dục kĩ năng sống như:
· Kĩ năng giải quyết vấn đề và ra quyết định
· Phát triển các kĩ năng tư duy sáng tạo và phê bình
· Kĩ năng giao tiếp
· Tự nhận thức và sự đồng cảm
· Đối phó với căng thẳng và cảm xúc
Trang 31Mục tiêu của chương trình giáo dục kĩ năng sống nhằm: Xử lý xung đột, sự căng thẳng, cảm xúc, và sự bất hòa về văn hoá và tôn giáo; Tạo mối quan hệ xuyên văn hoá và tình bạn giữa các xã hội và các quốc gia; Chịu áp lực, làm rõ giá trị và phong tục, đàm phán; Giải quyết thất vọng; Lập kế hoạch trước, sự quyết đoán và sự đồng cảm; Tôn trọng, lòng tự trọng, khoan dung, tin tưởng, chia
sẻ, nhân ái, Mục tiêu cơ bản của hệ thống giáo dục kĩ năng sống là phát triển một xã hội tinh thần và thể chất với lối sống và hành vi phù hợp với chuẩn mực
xã hội [3]
Theo quan niệm của một số tác giả thì kĩ năng sống là những năng lực tâm lý – xã hội cơ bản giúp cho cá nhân thích ứng và tồn tại trong cuộc sống, thể hiện năng lực thích ứng của bản thân với những thách thức trong cuộc sống để tồn tại
và phát triển Kĩ năng sống là khả năng con người thực hiện những hành vi thích ứng với những thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống Kĩ năng sống thể hiện năng lực sống của con người trong cuộc sống cá nhân, trong mối quan hệ xã hội
Từ những quan niệm trên đây, có thể thấy “Kĩ năng sống là kĩ năng tâm lí -
xã hội cơ bản giúp cho cá nhân tồn tại và thích ứng trong cuộc sống, giúp cho cá nhân thể hiện được chính mình cũng như tạo ra những nội lực cần thiết để giải quyết những vấn đề trong cuộc sống và phát triển”
Như vậy, có nhiều quan niệm khác nhau về KNS Trong nội hàm kết luận này, trên cơ sở tiếp thu, kế thừa quan điểm của các tác giả trên, chúng tôi tiếp nhận khái niệm kĩ năng sống như sau:
Kĩ năng sống là tập hợp các kĩ năng mà con người sử dụng để giao tiếp với những cá nhân khác trong xã hội, được hình thành và liên tục phát triển trong môi trường sống trên cơ sở các giá trị và quy định xã hội nhất định
1.2.3 Giáo dục kĩ năng sống
1.2.3.1 Giáo dục
Giáo dục (theo nghĩa rộng – nghĩa xã hội học) là một quá trình toàn vẹn hình thành nhân cách được tổ chức một cách có mục đích và có kế hoạch, thông
Trang 32qua các hoạt động và các quan hệ giữa người giáo dục và người được giáo dục nhằm truyền đạt và chiếm lĩnh những kinh nghiệm xã hội của loài người” [12]
Giáo dục (theo nghĩa hẹp) là bộ phận của quá trình sư phạm (quá trình giáo dục) là quá trình hình thành niềm tin, lý tưởng, động cơ, tình cảm, thái độ, những nét tính cách, những hành vi, và thói quen cư xử đúng đắn trong xã hội thuộc các lĩnh vực tư tưởng chính trị, đạo đức, lao động và học tập, thẩm mỹ, vệ sinh … [12]
- Từ điển Từ và ngữ Hán Việt của tác giả Nguyễn Lân (1989) có nêu: “Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch, có tổ chức nhằm bồi dưỡng cho người học những phẩm chất đạo đức và tri thức cần thiết để họ có khả năng tham gia mọi mặt đời sống của xã hội”
- Theo tinh thần nghị quyết TW2 Khóa 8 của Đảng ta về giáo dục đào tạo thì nhà trường phải đào tạo ra những con người có đủ tri thức và kỹ xảo, năng lực
và phẩm chất với tinh thần trách nhiệm đầy đủ của người công dân tham gia vào cuộc sống lao động xã hội, tham gia vào cuộc Cách mạng trí tuệ, thúc đẩy kinh tế
xã hội phát triển; nhà trường phải đào tạo những con người học được cách chung sống, hợp tác với nhau, cùng nhau giải quyết những vấn đề chung của dân tộc, của quốc gia, của toàn cầu, của thời đại
1.2.3.2 Giáo dục kĩ năng sống
Giáo dục kĩ năng sống là phải giúp trẻ nâng cao năng lực để tự lựa chọn giữa những giải pháp khác nhau khi giải quyết tình huống nào đó trong cuộc sống Giáo dục kĩ năng sống là một quá trình tác động sư phạm có mục đích, có kế hoạch nhằm hình thành năng lực hành động tích cực, có liên quan tới kiến thức và thái độ, giúp cá nhân có ý thức về bản thân, giao tiếp, quan hệ xã hội, thực hiện công việc, ứng phó hiệu quả với các yêu cầu thách thức của cuộc sống hàng ngày [5]
Theo tác giả Nguyễn Thị Oanh: Giáo dục kĩ năng sống là trang bị những kiến thức, thái độ, hành động giúp cho người học hình thành được những kĩ năng sống
Trang 33cần thiết, phù hợp với từng lứa tuổi, điều kiện kinh tế - xã hội, môi trường sống [22]
Chúng tôi chọn định nghĩa giáo dục kĩ năng sống của tác giả Nguyễn Thanh
Bình để làm khái niệm công cụ như sau: Giáo dục kĩ năng sống là hình thành cách sống tích cực trong xã hội hiện đại, là xây dụng những hành vi lành mạnh và thay đổi những hành vi, thói quen tiêu cực trên cơ sở giúp người học có cả kiến thức, giá trị, thái độ và các kĩ năng thích hợp [4]
Quá trình GDKNS được xác định bởi các thành tố như: đối tượng tham gia, mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức và đánh giá
1.2.4 Biện pháp giáo dục kĩ năng sống
Theo từ điển Tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học thì biện pháp chính là cách
làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể
Trong dạy học, biện pháp được định nghĩa là một hệ thống cách thức hoạt động tương tác giữa người dạy và người học nhằm đạt được những mục đích đã đặt ra
Lý luận dạy học mẫu giáo định nghĩa biện pháp là cách thức làm việc của giáo viên nhằm giúp trẻ lĩnh hội tri thức, kĩ năng, đồng thời phát triển khả năng nhận thức
Biện pháp giáo dục là một bộ phận của phương pháp Ví như khi sử dụng phương pháp đàm thoại về hệ thống hóa các kiến thức của trẻ về các con vật sống trong rừng có thể dùng các biện pháp khác nhau như nghe tiếng kêu, đoán câu đố, xem tranh ảnh,
Trong việc giáo dục kĩ năng nói riêng cho trẻ mẫu giáo thì việc bổ sung thêm một số biện pháp mới để nâng cao hiệu quả giáo dục kĩ năng là việc làm cần thiết Nhưng việc lựa chọn biện pháp hay kết hợp với biện pháp nào còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác
Như vậy, biện pháp giáo dục là một trong các thành tố của quá trình giáo dục,
nó có quan hệ mật thiết với các thành tố khác, đặc biệt là với phương pháp giáo
Trang 34dục Các nhà giáo dục khẳng định: “Biện pháp giáo dục là những tác động riêng biệt của giáo viên trong mỗi phương pháp giáo dục cụ thể” [1]
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi xác định: “Biện pháp là cách làm, cách thức hoạt động tương tác giữa giáo viên và người học để đi tới một mục đích nhất định nhằm giải quyết một vấn đề cụ thể”
Vì vậy, theo chúng tôi: “Biện pháp giáo dục kĩ năng cho trẻ mẫu giáo 5-6 tuổi là tổ hợp những cách thức hoạt động tương tác giữa giáo viên và người học trong quá trình giáo dục nhằm đạt được mục tiêu giáo dục cụ thể đã đặt ra.”
1.3 Đặc điểm kĩ năng sống của trẻ 5 -6 tuổi
1.3.1 Đặc điểm chung của kĩ năng sống
Kĩ năng sống khác nhau theo giai đoạn lịch sử -xã hội, vùng miền, đối tượng được giáo dục Mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội nhất định, mỗi đặc trưng văn
hóa vùng miền, mỗi loại đối tượng đòi hỏi mỗi cá nhân có kĩ năng sống chung
và kĩ năng sống đặc thù khác nhau
Kĩ năng sống luôn gắn bó với giá trị Giá trị là sự có ích, có ý nghĩa tích
cực, đáng quý của đối tượng với chủ thể, được con người tạo ra, phục vụ cho sự
tiến bộ xã hội và mỗi cá nhân như: sự tự tin, tự trọng, trách nhiệm, yêu thương Các kĩ năng sống thường hỗ trợ lẫn nhau Các kĩ năng sống không độc lập
mà có liên quan và hỗ trợ cho nhau Ví dụ: tư duy sáng tạo góp phần giúp cho việc giải quyết vấn đề và ra quyết định hiệu quả hơn
Kĩ năng sống không tự nhiên mà có mà phải qua quá trình học tập, rèn luyện, thực hành trong cuộc sống Quá trình hình thành kĩ năng sống diễn ra cả trong và ngoài hệ thống giáo dục
Kĩ năng sống thúc đẩy sự phát triển cá nhân, nâng cao chất lượng cuộc sống và xây dựng các mối quan hệ tốt đẹp
Một kĩ năng sống có nhiều tên gọi Ví dụ: KN hợp tác còn gọi là KN làm việc nhóm; hoặc kĩ năng giải quyết vấn đề còn được gọi là kĩ năng xử lí tình
huống; KN thương lượng còn gọi là KN thương thuyết, đàm phán… [34]
Trang 351.3.2 Đặc điểm kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi
Trẻ em 5 – 6 tuổi đang trong quá trình phát triển mạnh mẽ về thể chất, tình cảm, trí tuệ, thẩm mỹ, hình thành những yếu tố đầu tiên của nhân cách, và trong giai đoạn quan trọng chuẩn bị cho trẻ em vào lớp Một Vì vậy, những kĩ năng sống của trẻ ở giai đoạn này cần có những đặc trưng như sau
Kĩ năng sống phải phù hợp với lứa tuổi, hình thành và phát triển cho trẻ em những chức năng tâm sinh lý, năng lực và phẩm chất mang tính nền tảng; khơi dậy
và phát triển tối đa những khả năng tiềm ẩn, đặt nền tảng cho việc học ở các cấp học tiếp theo và cho việc học tập suốt đời của trẻ
Do đặc thù của trẻ tuổi mầm non là đang làm quen với xã hội và thế giới xung quanh, nên những kĩ năng sống thường gần gũi với cuộc sống của trẻ và được mở rộng dần trong mối quan hệ qua lại giữa trẻ với gia đình, với trường mầm non, với cộng đồng xã hội và môi trường tự nhiên Nội dung kĩ năng sống của trẻ
5 – 6 tuổi phong phú và toàn diện để giúp các em thích ứng với cuộc sống Do vậy, đặc điểm kĩ năng sống của trẻ 5 – 6 tuổi cũng phù hợp với yêu cầu về nội dung giáo dục mầm non như sau:
- Đảm bảo tính khoa học, tính vừa sức và nguyên tắc đồng tâm phát triển từ
dễ đến khó; đảm bảo tính liên thông giữa các độ tuổi, giữa nhà trẻ, mẫu giáo và cấp tiểu học; thống nhất giữa nội dung giáo dục với cuộc sống hiện thực, gắn với cuộc sống và kinh nghiệm của trẻ, chuẩn bị cho trẻ từng bước hoà nhập vào cuộc sống
- Phù hợp với sự phát triển tâm sinh lý của trẻ, hài hoà giữa nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục; giúp trẻ p hát triển cơ thể cân đối, khoẻ mạnh, nhanh nhẹn; cung cấp kĩ năng sống phù hợp với lứa tuổi; giúp trẻ biết kính trọng, yêu mến, lễ phép với ông bà, cha mẹ, thầy giáo, cô giáo; yêu quý anh, chị, em, bạn bè; thật thà, mạnh dạn, tự tin và hồn nhiên, yêu thích cái đẹp; ham hiểu biết, thích đi học
Trang 361.4 Phân loại kĩ năng sống
1.4.1 Phân loại kĩ năng sống
Tùy theo quan niệm khác nhau về kĩ năng sống mà số lượng và tên gọi của những kĩ năng sống sẽ khác nhau Có thể đề cập đến những cách phân loại sau
a Theo Tổ chức Y tế thế giới (WHO)
WHO xác định các kĩ năng cơ bản có thể được chấp nhận ở nhiều nền văn hóa khác nhau như: Ra quyết định; - Giải quyết vấn đề; - Suy nghĩ sáng tạo; - Suy nghĩ có phán đoán; - Truyền thông có hiệu quả; - Giao tiếp giữa người và người; -
Ý thức về bản thân; - Khả năng thấu cảm; - Ứng phó với cảm xúc; - Ứng phó với stress
Kĩ năng ra quyết định giúp con người chọn những quyết định tích cực liên quan đến cuộc sống của bản thân
Kĩ năng giải quyết vấn đề giúp ta xử lý những khó khăn gặp phải một cách tích cực nhất Những vấn đề gặp phải nếu không quan tâm giải quyết sẽ gây ra stress, dẫn theo những xáo trộn về cuộc sống và sức khoẻ
Giao tiếp có hiệu quả là khi chúng ta diễn đạt suy nghĩ của mình bằng lời nói hay không bằng lời nói, một cách phù hợp với hoàn cảnh hay bối cảnh văn hóa Kĩ năng giao tiếp giúp ta quan hệ một cách tích cực với những người tương tác với chúng ta Có nghĩa là kết bạn, gìn giữ tình bạn vì điều này có thể rất quan trọng cho sức khỏe tinh thần và xã hội của ta, có nghĩa là giữ mối quan hệ tốt với gia đình và cũng có nghĩa là hạn chế các mối quan hệ một cách xây dựng
Kĩ năng sáng tạo góp phần vào việc lấy quyết định và giải quyết vấn đề, bằng cách giúp chúng ta xem xét tất cả các biện pháp khác nhau và suy nghĩ về các hậu quả khác nhau của việc ta hành động hay không hành động
Ý thức về bản thân bao gồm sự nhìn nhận về bản thân, tính tình, mặt mạnh, mặt yếu, ước muốn của chúng ta cũng như những điều mà chúng ta không thích
Ý thức về bản thân giúp chúng ta nhận ra stress hay tình trạng bị áp lực để ứng
Trang 37phó kịp thời Ý thức về bản thân là một tiền đề quan trọng để truyền thông tin và giao tiếp có hiệu quả cũng như để thấu cảm với người khác
Khả năng đồng cảm là khả năng hình dung hoàn cảnh sống của người khác
mà có khi họ còn xa lạ với ta Đồng cảm giúp ta chấp nhận người kia dù họ rất khác với chúng ta Điều này sẽ giúp cải thiện các mối tương tác xã hội Đồng thời, đồng cảm còn giúp ta có thái độ phù hợp với những người cần sự giúp đỡ, chăm sóc chúng ta [4]
Ứng phó với cảm xúc giúp ta cảm nhận được các cảm xúc nơi ta và người khác, ý thức rằng cảm xúc ảnh hưởng đến hành vi như thế nào và có khả năng ứng phó với cảm xúc một cách phù hợp
Ứng phó với căng thẳng là biết nhận ra các nguyên nhân gây căng thẳng trong đời sống chúng ta, nhận ra căng thẳng tác động đến chúng ta như thế nào
và hành động để giảm bớt các nguồn gây căng thẳng, giữ căng thẳng ở mức độ chấp nhận được, hoặc học cách thư giãn để giữ sự căng thẳng không hại đến sức khỏe
b Theo Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục Liên hợp quốc (UNESCO) thì kĩ năng phải được phân chia dựa trên những kĩ năng chung cũng như những
kĩ năng chuyên biệt trong đời sống cá nhân của con người ở những mối quan hệ khác nhau cũng như ở những lĩnh vực khác nhau Theo đó, có thể có những nhóm
kĩ năng sống như sau:
Nhóm kĩ năng chung bao gồm những kĩ năng cơ bản mà mỗi cá nhân đều có thể có để thích ứng với cuộc sống chung bao gồm các kĩ năng nhận thức, kĩ năng liên quan đến cảm xúc và các kĩ năng cơ bản về xã hội
Nhóm kĩ năng chuyên biệt gồm các kĩ năng được thể hiện trong các lĩnh vực
cụ thể khác nhau của đời sống xã hội như: kĩ năng về sức khỏe và dinh dưỡng, kĩ năng liên quan đến giới và giới tính, kĩ năng về các vấn đề xã hội như ma túy, HIV- AIDS, kĩ năng liên quan đến môi trường thiên nhiên, các vấn đề bạo lực, rủi
Trang 38ro, kĩ năng liên quan đến cuộc sống gia đình, môi trường cộng đồng, hòa bình và giải quyết xung đột, phòng tránh buôn bán trẻ em và phụ nữ
c Theo Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF)
Tổ chức này nghiên cứu sâu về kĩ năng sống dưới góc độ tồn tại và phát triển của cá nhân Theo đó, các kĩ năng phân loại theo các mối quan hệ như sau: Nhóm những kĩ năng tự nhận thức và sống với chính mình, bao gồm các
- Đương đầu với cảm xúc
- Đương đầu với căng thẳng
Nhóm kĩ năng nhận thức và sống với người khác Nhóm này có các kĩ năng:
- Thiết lập quan hệ - tương tác liên nhân cách
- Tư duy phê phán
- Tư duy sáng tạo
- Ra quyết định
- Giải quyết vấn đề
Trang 39d Tổ chức ESCAP (Hội đồng kinh tế xã hội Châu Á Thái Bình Dương của Liên Hợp Quốc) phân loại kĩ năng sống thành 3 dạng: KNS để phát triển cá nhân; KNS để tạo mối quan hệ với người khác; kĩ năng công nghệ thông tin [10]
đ Theo tác giả Nguyễn Quang Uẩn thì KNS được chia thành 3 nhóm chính: Nhóm thứ nhất: KN về cuộc sống cá nhân, bao gồm các K N ; sinh hoạt cá nhân, rèn luyện giữ sức khỏe, tự nhận thức bản thân, KN tự ý thức và có trách nhiệm với bản thân, KN tự xác định mục đích, kế hoạch cuộc sống
Nhóm thứ hai: KN quan hệ với người khác, với cộng đồng, xã hội, bao gồm các KN: KNgiao tiếp, ứng xử, KN thiết lập và duy trì các mối quan hệ liên nhân cách, KN thực hiện các hành vi văn hóa xã hội, KN thích ứng xã hội Nhóm thứ ba: KN thực hành công việc bao gồm các K N : KN xác định mục tiêu công việc, KN lựa chọn và xác định các giá trị, KN năng hoạch định công việc, KN giải quyết các vấn đề nảy sinh trong công việc, KN tổ chức thực hiện công việc có kết quả, KN đánh giá công việc và rút kinh nghiệm về công việc, KN chuẩn bị cho các công việc tiếp theo [34]
e Một số tác giả nước ngoài cũng đề cập đến mô hình kĩ năng sống 4 – H như mô hình dưới đây sau một thời gian dài nghiên cứu
Sơ đồ 1.1 Mô hình kĩ năng sống 4-H (Steve McKinley)
Trang 401- HEAD (Nhận thức – trí não); 2- HEART (Tâm thức); 3- HAND (Cân bằng); HEALTH (Thể chất) [12]
f Ở Việt Nam, KNS được chia thành 3 nhóm chính là:
- Nhóm các KN nhận biết và sống với chính mình: Tự nhận thức, xác định giá trị, ứng phó với căng thẳng, tìm kiếm sự hỗ trợ, tự trọng, tự tin,
- Nhóm các KN nhận biết và sống với người khác: Giao tiếp có hiệu quả, giải quyết mâu thuẫn, thương lượng, từ chối, bày tỏ sự cảm thông, hợp tác,
- Nhóm các KN ra quyết định một cách có hiệu quả: Tìm kiếm và xử lí thông tin, tư duy phê phán, tư duy sáng tạo, ra quyết định, giải quyết vấn đề,
Kĩ năng sống thay đổi theo nền văn hoá và hoàn cảnh xã hội Vì vậy, trong quá trình dạy kĩ năng sống, cần xem xét các yếu tố văn hoá và xã hội có ảnh hưởng đến việc ra quyết định hay lựa chọn hành động
Trong GDKN ở Việt Nam đã đưa ra một số kĩ năng sống cốt lõi như sau: tự nhận thức, tự trọng, thể hiện cảm thông, có trách nhiệm, ứng phó với sự căng thẳng, kiểm soát cảm xúc, giao tiếp hiệu quả, quan hệ của cá nhân với người khác,
suy nghĩ sáng tạo, ra quyết định và kĩ năng qiải quyết vấn đề [11]
1.4.2 Phân loại kĩ năng sống của trẻ 5 - 6 tuổi
Căn cứ vào chương trình giáo dục mầm non hiện hành và bộ chuẩn phát triển trẻ em 5 tuổi Việt Nam, có thể phân thành các nhóm kĩ năng cho trẻ 5-6
tuổi như sau:
-Kĩ năng hiểu biết và chăm sóc sức khỏe, dinh dưỡng
- Kĩ năng tự chăm sóc vệ sinh cá nhân
- Kĩ năng tự bảo vệ
- Kĩ năng nhận thức về bản thân
- Kĩ năng tự tin và tự trọng
- Kĩ năng cảm nhận và thể hiện cảm xúc
- Kĩ năng thiết lập các mối quan hệ tích cực với bạn và người lớn
- Kĩ năng hợp tác với người khác